1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014

69 470 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 827,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó vẫn tồn tại mặt trái của thuốc - phản ứng có hại của thuốc, gây ra bất lợi cho quá trình điều trị, để lại dị tật nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong cho người dùng thuốc.Do đó

Trang 1

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PH

ỦA THUỐC TẠI MỘT SỐ BỆ

ĐA KHOA TUYẾN TỈNH GIAI ĐOẠN 2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC S

Trang 2

TRẦN THỊ TÚ ANH

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG

CÓ HẠI CỦA THUỐC TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN

ĐA KHOA TUYẾN TỈNH GIAI ĐOẠN 2010-2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 3

Giảng viên Bộ môn Dược lực, Phó giám đốc Trung tâm DI&ADR Quốc gia đã cho tôi nhiều ý kiến nhận xét quí báu trong quá trình tôi thực hiện khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Trần Thị Lan Anh - Giảng viên Bộ môn

Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội, cô là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn DS Trần Ngân Hà, cán bộ Trung tâm

DI&ADR Quốc gia vì sự quan tâm, sự nhiệt tình và cả sự nghiêm khắc chị dành cho tôi Chị đã luôn sát cánh bên tôi từ những bước đầu tiên, khóa luận này sẽ không thể được hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của chị

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Bộ môn Quản lý và kinh tếDược cùng tập thể các thầy cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội, những người

đã tận tâm dạy dỗ, trang bị cho tôi các kiến thức và kỹ năng trong học tập, nghiên

cứu Cảm ơn các cán bộ Trung tâm DI&ADR Quốc gia đã tạo mọi điều kiện giúp

đỡ tôi thực hiện đề tài này

Chân thành cảm ơn những người bạn của tôi vì những ngày tháng sát cánh cùng tôi vượt qua khó khăn khi thực hiện đề tài Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc nhất dành cho gia đình của tôi, những người thân yêu đã luôn quan tâm, tin tưởng, động viên và chăm sóc tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Tú Anh

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN……….3

1.1 Cảnh giác Dược và phản ứng có hại của thuốc 3

1.1.1 Hệ thống Cảnh giác Dược trong bệnh viện 3

1.1.2.Phản ứng có hại của thuốc 9

1.2 Tổng quan về báo cáo tự nguyện 11

1.2.1 Giới thiệu về báo cáo tự nguyện 11

1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của báo cáo tự nguyện 12

1.2.3 Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR 13

1.2.4 Một số biện pháp nâng cao hoạt động báo cáo ADR ở bệnh viện 14

1.3 Một vài nét về dự án “Hỗ trợ hệ thống Y tế” - Hợp phần 2.1 "Tăng cường các hoạt động Cảnh giác Dược" 16

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Phương pháp nghiên cứu 19

2.4 Phương pháp xử lí số liêu 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 22

3.1 Khảo sát hoạt động báo cáo ADR của 3 bệnh viện giai đoạn 2010-2012 22 3.1.1 Thông tin về báo cáo: 22

3.1.2 Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR 25

3.1.3 Thông tin về ADR 28

3.1.4 Đánh giá chất lượng báo cáo 29

Trang 5

3.2.1.Thông tin về báo cáo 32 3.2.2.Đánh giá chất lượng báo cáo ……….36

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 38 4.1.Bàn luận về hoạt động báo cáo ADR của 3 bệnh viện giai đoạn 2010-2012 38 4.2 Đánh giá tác động của một số can thiệp tới hoạt động báo cáo ADR của 3 bệnh viện 43 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

ADR : Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction)

BVGĐ : Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

BVQN : Bệnh viện Đa khoa Quảng Ninh

ICD - 10 : Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (International

Classification of Diseases – 10) SOP : Quytrìnhđiềuhànhchuẩn (Standard Operating Procedure)

Trung tâm

DI&ADR Quốc gia

: Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc

WHO : Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 7

1 Bảng 3.1.Số lượng báo cáo và tỉ lệ báo cáo ADR /1000 bệnh nhân

2 Bảng 3.2.Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng giai đoạn

3 Bảng 3.3.Đối tượng tham gia báo cáo ADR giai đoạn 2010 - 2012 24

4 Bảng 3.4.Các khoa phòng tham gia báo cáo giai đoạn 2010 - 2012 25

5 Bảng 3.5 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng 25

6 Bảng 3.6.Các họ dược lí được báo cáo nhiều nhất 26

7 Bảng 3.7 Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất 27

8 Bảng 3.8 Phân loại báo cáo ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh

9 Bảng 3.9 Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc - ADR 29

10 Bảng 3.10 Điểm chất lượng báo cáo trung bình giai đoạn

11 Bảng 3.11 Tỷ lệ các thông tin bị thiếu /không hợp lí trong báo cáo

12 Bảng 3.12 Số lượng báo cáo ADR trong 2 giai đoạn 33

13 Bảng 3.13 Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng trong 2 giai đoạn 33

14 Bảng 3.14 Cán bộ y tế tham gia báo cáo ADR tại 3 bệnh viện

15 Bảng 3.15.Khoa phòng tham gia báo cáo tại 3 bệnh viện trong 2

16 Bảng 3.16 Điểm chất lượng trung bình của báo cáo ADR tại 3

17 Bảng 3.17.Tỷ lệ báo cáo ADR có chất lượng tốt của 3 bệnh viện

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH ST

2 Hình 2.1.Sơ đồ tóm tắt các chỉ tiêu nghiên cứu 19

3 Hình 3.1.Thời gian trì hoãn gửi báo cáo giai đoạn 2010 - 2012 24

4 Hình 3.2 Tỉ lệ báo cáo có chất lượng tốt tại 3 bệnh viện giai đoạn 2010

5 Hình 3.3.Thời gian trì hoãn gửi báo cáo 2 giai đoạn 34

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự tiến bộ của Y học và ngành công nghệ dược phẩm đã mang lại rất nhiều lợi ích trong phòng ngừa và điều trị bệnh Bên cạnh đó vẫn tồn tại mặt trái của thuốc - phản ứng có hại của thuốc, gây ra bất lợi cho quá trình điều trị, để lại dị tật nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong cho người dùng thuốc.Do đó công tác Cảnh giác Dược luôn được các nước trên thế giới cũng như Việt Nam coi trọng.Việc giám sát ADR trong bệnh viện không chỉ giúp các cán bộ y tếkịp thời xử trí từng tình huống cụ thể cho bệnh nhân, mà thông tin về ADR khi được gửi về trung tâm DI&ADR Quốc gia còn có thể đóng góp vào dữ liệu của hệthống Cảnh giác dược Quốc gia, từ đógiúp phân tích các tín hiệu an toàn thuốc phản hồi cho cơ quan quản

lí, hệ thống điều trị,cộng đồng, đảm bảo việcsử dụng thuốc hợp lý, an toàn

Trong các phương pháp dịch tễ học để phát hiện và theo dõi ADR đang áp dụng trong Cảnh giác dược, báo cáo ADR tự nguyện hiện là phương pháp được áp dụng phổ biến nhất Hệ thống này được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới do

ưu điểm là cơ cấu đơn giản và ít tốn kém Tuy nhiên, vấn đề báo cáo báo cáo thiếu (under-Reporting) và báo cáo kém chất lượng vẫn còn tồn tại.Nghiên cứu tại các bệnh viện của Việt Nam (giai đoạn 2011-2012) chothấy có đến 65,5% báo cáo ADR thiếu các thông tin quan trọng để đánh giá mối quan hệ nhân quả thuốc-ADR[1] Do vậy, việc thúc đẩy hoạt động báo cáoADR cả về số lượng cũng như chất lượng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tácCảnh giác dược, đòi hỏi những biện pháp thích hợp để đảm bảo hiệu quả

Công tác theo dõi phản ứng có hại của thuốc tại Việt Nam được bắt đầu từ năm 1994 với sự thành lập của Trung tâm theo dõi ADR tại Hà Nội Năm 1998, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 56 của Hệ thống giám sát thuốc toàn cầu của

Tổ chức Y tế thế giới Tháng 3/2009, Trung tâm DI & ADR Quốc gia được thành lập và kể từ tháng 01/2010 bắt đầu hoạt động thu nhận, xử lý, thẩm định và lưu trữ tất cả các báo cáo ADR tự nguyện được gửi về từ các cơ sở điều trị và các đơn vị khác trong cả nước Số báo cáo gửi về và lưu trữ tại trung tâm liên tục tăng, cụ thể

Trang 10

là năm 2010 có 1807 báo cáo gửi đến trung tâm thì đến năm 2014 đã có 8513 báo cáo gửi về trung tâm [14],[15].

Trong giai đoạn 2012-2016, Dự án “Hỗ trợ hệ thống Y tế” do Quỹ Toàn cầu phòng chống HIV/AIDS, Lao và Sốt rét tài trợ, Hợp phần 2.1 “Tăng cường các hoạt động Cảnh giác Dược” đã được triển khai tại 29 bệnh viện và 31 tỉnh trọng điểm trên phạm vi toàn quốc, trong đócó bệnh viện Đa khoa Quảng Ninh, Đa khoa Đà Nẵng và Nhân Dân Gia Định Trong 2 năm 2011,2012cả 3 viện đều nằm trong số10 bệnh viện có số lượng báo cáo cao nhất cả nước [16],[17].Sau một thời gian triển khai các hoạt động can thiệp của dự án tại các bệnh viện trên, liệu có sự thay đổi gì trong hoạt động báo cáo ADR của các bệnh viện hay không ? Trong bối cảnh

đó,chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viên đa khoa tuyến tỉnh giai đoan 2010-2014” với 2 mục

Trang 11

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN 1.1.Cảnh giác Dược và phản ứng có hại của thuốc

1.1.1.Hệ thống Cảnh giác Dược trong bệnh viện

1.1.1.1.Định nghĩa và mục tiêu của Cảnh giác Dược

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa “Cảnh giác Dược là khoa học và các tác động liên quan đến phát hiện, đánh giá, hiểu biết và phòng tránh các phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reactions – ADR) và các vấn đề liên quan đến quá trình sử dụng thuốc” [44],[47]

Mục tiêu của Cảnh giác Dược là:

- Cải thiện việc chăm sóc bệnh nhân và an toàn liên quan đến việc sử dụng các loại thuốc điều trị và hỗ trợ điều trị trên người bệnh

- Cải thiện sức khỏe cộng đồng và an toàn liên quan đến việc sử dụng thuốc

- Phát hiện các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc và đưa ra cảnh báo kịp thời

- Góp phần đánh giá lợi ích, nguy cơ, hiệu quả và độ an toàn của thuốc, khuyến khích sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả (bao gồm các yếu tố kinh tế)

- Thúc đẩy sự hiểu biết, giáo dục và đào tạo lâm sàng trong Cảnh giác Dược

và tuyên truyền hiệu quả cho cộng đồng[44]

1.1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động Cảnh giác Dược trong bệnh viện

Bệnh viện với vai trò là nơi điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, là nơi tập trung số lượng bệnh nhân lớn, sử dụng nhiều loại thuốc trong quá trình điều trị trên nhiều đối tượng người bệnh khác nhau Sự xuất hiện phản ứng có hại của thuốc không những ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân mà còn làm k điều trị, tăng chi phí khám chữa bệnh từ đó tăng áp lực lên hệ thống chăm sóc

y tế[49]

Báo cáo ADR trong bệnh viện đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát hiện các ADR của thuốc mới được đưa vào sử dụng, các ADR nghiêm trọng và các ADR có thể phòng tránh được[41].Giám sát phản ứng có hại của thuốc là một yếu tố cần thiết cho việc sử dụng thuốc hiệu quả và hệ thống chăm sóc y tế chất

Trang 12

lượng cao Nó tạo niềm tin giữa bệnh nhân và các chuyên gia y tế về thuốc và góp phần nâng cao các tiêu chuẩn hành nghề y[47]

Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định nhờ các hoạt động tăngcường Cảnh giác Dược cho cán bộ y tế trong bệnh viện bao gồm đào tạo tập huấn, cungcấp thông tin thuốc, phản hồi kết quả thẩm định báo cáo…đã giúp cải thiện tích cực số lượng cũng như chất lượng báo cáoADR [24], [25], [33]

1.1.1.3.Cơ sở pháp lý cho hoạt động Cảnh giác Dược ở Việt Nam

Trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống theo dõi phản ứng có hại của thuốc, một số văn bản tài liệu là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho việc khuyến khích công tác thực hiện báo cáo của cán bộ y tế đã được ban hành Những cơ sở pháp lý này đã góp phần tăng cường số lượng và chất lượng báo cáo ADR Một số văn bản pháp quy phục vụ cho công tác Cảnh giác Dược tại Việt Nam được liệt kê sau đây:

 Luật Dược Việt Nam - Điều 51 của Luật quy định:

“Cơ sở khám chữa bệnh, cán bộ, nhân viên y tế có trách nhiệm theo dõi và báo cáo cho người phụ trách cơ sở, cơ quan có thẩm quyền quản lý thuốc về các phản ứng có hại của thuốc”

“Trong quá trình lưu hành thuốc, cơ sở sản xuất, phân phối thuốc phải theo dõi, báo cáo cho người phụ trách cơ sở và cơ quan có thẩm quyền quản lý thuốc các phản ứng có hại của thuốc do cơ sở mình sản xuất, phân phối”

“Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức hệ thống thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc nhằm đảm bảo việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn cho nhân dân, quy định về hoạt động thông tin thuốc tại các cơ sở.”[10]

 Thông tư 23/2011/TT-BYT quy định:

“Thầy thuốc phải thông báo tác dụng không mong muốn của thuốc cho điều dưỡng chăm sóc theo dõi và người bệnh (hoặc gia đình người bệnh) Theo dõi đáp ứng của người bệnh khi dùng thuốc và xử lý kịp thời các tai biến do dùng thuốc Báo cáo phản ứng có hại của thuốc cho khoa Dược ngay khi xảy ra.”

Trang 13

“Khoa Dược làm đầu mối trình Lãnh đạo bệnh viện báo cáo phản ứng có hại của thuốc và gửi về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng

có hại của thuốc ngay sau khi xử lý.”

“Bác sĩ điều trị có trách nhiệm theo dõi tác dụng của thuốc và xử lý kịp thời các tai biến do dùng thuốc, ghi sổ theo dõi phản ứng có hại của thuốc.”[5]

 Thông tư 21/2013/TT-BYT cũng quy định một trong những nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và Điều trị là giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị, cụ thể là:

“ - Xây dựng quy trình phát hiện, đánh giá, xử trí, dự phòng ADR và các sai sót trong chu trình sử dụng thuốc tại bệnh viện từ giai đoạn chẩn đoán, kê đơn của thầy thuốc, chuẩn bị và cấp phát thuốc của dược sĩ, thực hiện y lệnh và hướng dẫn

sử dụng của điều dưỡng, sự tuân thủ điều trị của người bệnh nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh trong quá trình điều trị

- Tổ chức giám sát ADR, ghi nhận và rút kinh nghiệm các sai sót trong điều trị + Triển khai hệ thống báo cáo ADR trong bệnh viện

+ Thông tin cho cán bộ y tế trong bệnh viện về ADR, sai sót trong sử dụng thuốc để kịp thời rút kinh nghiệp chuyên môn

+Cập nhật, sửa đổi, bổ sung danh mục thuốc của bệnh viện, hướng dẫn điều trị và các quy trình chuyên môn khác dựa trên thông tin về ADR và sai sót trong sử dụng thuốc ghi nhận tại bệnh viện

+ Tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế về ADR và sai sót trong sử dụng thuốc.”[3]

 Quyết định 1088/QĐ - BYT về việc ban hành hướng dẫn hoạt động giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại các cơ sở khám, chữa bệnh Bộ Y tế ban hành hướng dẫn này với mục tiêu:

“- Nâng cao nhận thức về vấn đề an toàn trong sử dụng thuốc và khuyến khích cán bộ y tế báo cáo phản ứng có hại của thuốc như là nhiệm vụ chuyên môn trong thực hành lâm sàng và là một phần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp

Trang 14

- Phát hiện sớm các vấn đề an toàn thuốc, kịp thời xử trí và chủ động thực hiện các biện pháp dự phòng các biến cố bất lợi xảy ra trong quá trình sử dụng thuốc trên người bệnh, tăng cường việc sử dụng thuốc hợp lý, giảm tỷ lệ mắc bệnh

và tỷ lệ tử vong liên quan đến thuốc trong thực hành.” [2]

1.1.1.4.Hoạt động giám sát ADR trong bệnh viện

Việc giám sát phản ứng có hại của thuốc gồm các bước: phát hiện, xử trí, đánh giá, báo cáo và dự phòng ADR [2],[45]

 Phát hiện ADR

Điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên trong bệnh viện có trách nhiệm theo dõi và phát hiện những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường trên người bệnh, thông báo cho bác sĩ điều trị và khoa Dược, ghi lại các thông tin liên quan tới thuốc mà người bệnh đã sử dụng

Bác sĩ phát hiện và ghi nhận những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường của bệnh nhân vào bệnh án; kiểm tra lại tất cả các thuốc thực tế bệnh nhân

đã sử dụng; kiểm tra chất lượng mẫu thuốc lưu lại về cảm quan; kiểm tra tính hợp lý trong sử dụng thuốc như: tình trạng bệnh lý, liều dùng, tiền sử dị ứng và thời điểm dùng thuốc có phù hợp với thời điểm xuất hiện ADR không

Trong quá trình hoạt động chuyên môn, thông qua giám sát sử dụng thuốc trong bệnh án hoặc duyệt thuốc tại Khoa Dược, dược sĩ phát hiện ADR dựa trên các thuốc chỉ điểm để xử trí phản ứng có hại của thuốc, biểu hiện lâm sàng và kết quả xét nghiệm cận lâm sàng bất thường Ưu tiên xem xét bệnh án các đối tượng đặc biệt, sử dụng thuốc có nguy cơ cao xảy ra ADR[2]

 Xử trí ADR

Điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên thực hiện xử trí ADR theo đúng y lệnh của bác sĩ; theo dõi bệnh nhân và thông báo kịp thời cho bác sĩ điều trị nếu có diễn biến bất thường Trường hợp khẩn cấp có thể ngừng sử dụng thuốc nghi ngờ gây ảnh hưởng tới tính mạng người bệnh trước khi thông báo cho bác sĩ

Bác sĩ có nhiệm vụ đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR để quyết định hướng xử trí lâm sàng phù hợp: giảm liều hoặc ngừng thuốc nghi ngờ gây ADR, kịp

Trang 15

thời thực hiện các biện pháp điều trị triệu chứng, điều trị hỗ trợ, đảm bảo chức năng sống còn cho người bệnh, thực hiện theo các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế có liên quan nếu việc xử trí ADR thuộc phạm vi các hướng dẫn đó Trường hợp cần thiết, có thể trao đổi hướng xử trí với đồng nghiệp, tổ chức hội chẩn chuyên môn, tham khảo thêm thông tin về ADR từ dược sĩ, Đơn vị thông tin thuốc bệnh viện hoặc các Trung tâm về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc Giám sát chặt chẽ người bệnh trong trường hợp bắt buộc sử dụng lại thuốc nghi ngờ gây ADR khi không có thuốc thay thế hoặc khi lợi ích của thuốc vượt trội hơn nguy cơ

Dược sĩ lâm sàng cần phải trao đổi với bác sĩ điều trị nếu phát hiện ADR khi thực hiện hoạt động dược lâm sàng tại khoa phòng để có biện pháp xử trí phù hợp, cũng như cung cấp thông tin về thuốc trong quá trình xác định và xử trí ADR theo yêu cầu của cán bộ y tế[2]

 Đánh giá ADR

Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện cần phải kiểm tra các trường hợp nghi ngờ là ADR, cử một thành viên chuyên điều tra và phân tích các báo cáo, họp định

kì để thảo luận và đánh giá các báo cáo và thông báo cho các nhân viên y tế trong

bệnh viện Nhiệm vụ đánh giá ADR bao gồm các bước cụ thể sau đây:

- Đánh giá bản chất của ADR

Nhân viên y tế cần xem xét tiền sử người bệnh, kiểm tra chi tiết mô tả ADR, tra cứu tài liệu về mô tả này và các thuốc nghi ngờ, tra cứu xem ADR đã được ghi nhận trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc hay các tài liệu y văn về thuốc chưa Phân loại mức độ nguy hiểm của phản ứng, và đánh giá mối liên hệ giữa thuốc nghi ngờ

và ADR xuất hiện trên người bệnh

- Xác định nguyên nhân gây ADR

Sau khi nhận định các triệu chứng lâm sàng cấu thành ADR, nhân viên y tế cần quan sát thuốc bị nghi ngờ và kiểm tra việc mua, bảo quản thuốc, hạn dùng của thuốc Tính tần suất xảy ra ADR trong các khoa khác nhau và kiểm tra xem giữa các khoa có tỷ lệ mắc ADR cao nhất và thấp nhất với cùng một loại thuốc có điểm khác nhau nào không, thăm các khoa phòng có tỷ lệ ADR cao để quan sát thuốc bị

Trang 16

nghi ngờ được kê đơn, cấp phát và sử dụng như thế nào Trong trường hợp cần thiết, có thể liên hệ với các cơ quan, bệnh viện khác hoặc cơ quan quản lý để tìm hiểu thông tin về ADR tương tự, hoặc gửi mẫu thuốc đi kiểm tra chất lượng[2],[45]

 Báo cáo ADR

Người trực tiếp viết báo cáo ADR có thể là bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên,

hộ sinh, kỹ thuật viên và các nhân viên y tế khác, sử dụng mẫu báo cáo do Bộ Y tế quy định

Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện cần xây dựng hệ thống giám sát, theo dõi, điều tra và báo cáo ADR ngay trong bệnh viện, bất kì phát hiện nghiêm trọng nào cũng cần phải báo cáo với cơ quan quản lý dược phẩm quốc gia và/hoặc với nhà sản xuất

Báo cáo cần được gửi trong thời gian sớm nhất có thể sau khi xảy ra phản ứng, ngay cả khi thông tin thu được chưa đầy đủ Có thể bổ sung báo cáo nếu thu thập được thêm thông tin[2],[45]

 Dự phòng

Hội đồng Thuốc và Điều trị có thể tăng cường việc sử dụng thuốc an toàn và

dự phòng các trường hợp ADR thông qua xây dựng quy trình báo cáo ADR trong bệnh viện và xây dựng danh mục các thuốc có nguy cơ cao cần giám sát Bên cạnh

đó, hội đồng cần tổ chức thảo luận để đưa ra hướng xử trí và đề xuất biện pháp dự phòng trong trường hợp xảy ra các phản ứng có hại nghiêm trọng Một hoạt động khác cần được quan tâm là tổ chức tập huấn cho nhân viên y tế về kỹ năng phát hiện, xử trí ADR và kỹ năng điền báo cáo ADR đúng và đầy đủ thông tin Định kỳ tổng kết công tác báo cáo ADR trong bệnh viện, từ đó sử dụng thông tin an toàn thuốc thu được để cập nhật, sửa đổi danh mục thuốc của bệnh viện, các hướng dẫn điều trị, quy trình chuyên môn trong bệnh viện

Khoa Dược, Đơn vị Thông tin Thuốc của bệnh viện cần cập nhật thông tin về

an toàn thuốc; gửi đến cán bộ y tế và người bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; giám sát chất lượng trước khi cấp phát thuốc về các khoa phòng; hướng dẫn

và hỗ trợ cán bộ y tế trong công tác báo cáo ADR

Trang 17

Đối với nhân viên y tế cần phải tuân thủ chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, liều dùng của thuốc, quy trình bảo quản và sử dụng thuốc trên bệnh nhân, chú ý tương tác thuốc trong kê đơn[2],[45]

1.1.2.Phản ứng có hại của thuốc

1.1.2.1.Định nghĩa

Tổ chức Y tế thế giới (2002) đã đưa ra định nghĩa về phản ứng có hại của thuốc (ADR) như sau: “Phản ứng có hại của thuốc là một phản ứng độc hại không được định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh,chẩn đoán bệnh hoặc chữa bệnh, hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý” Định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao,

có chủ định hoặc vô tình [7],[29]

Luật Dược năm 2005 qui định, phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reactions - ADR) là những tác dụng không mong muốn có hại đến sức khỏe, có thể xuất hiện ở liều dùng bình thường [10]

1.1.2.2 Phân loại

Năm 1977, Rawlins và Thompson đưa ra một hệ thống phân loại ADR đầu tiên trên thế giới Theo đó, ADR được chia làm 2 nhóm cơ bản là type A (ADR liên quan đến liều) và type B (ADR không liên quan đến liều) Sau đó, 2 nhóm phản ứng nữa được bổ sung vào bao gồm: phản ứng liên quan đến liều và thời gian (ADR type C), và các phản ứng muộn (ADR type D) Một vài tác giả đề xuất chia nhóm C

ra thành 2 nhóm: ADR type C liên quan đến thời gian (continuous) và ADR type E liên quan đến các phản ứng sau khi ngừng thuốc (end of use) Gần đây, nhóm thứ 6 được đề xuất thêm vào gồm: những thất bại không mong muốn trong điều trị[35],[37],[39]

1.1.2.3 Các phương pháp theo dõi phát hiện ADR

Cảnh giác Dược là môn khoa học nghiên cứu việc sử dụng, tác dụng của thuốc trên một số lượng lớn người sử dụng, vì thế cần phải sử dụng các phương pháp dịch tễ học Như vậy Cảnh giác dược là một nhánh của dịch tễ dược học, tập

Trang 18

trung chủ yếu vào nghiên cứu dịch tễ các biến cố bất lợi (adverse event) hay các phản ứng có hại của thuốc

Các phương pháp trong y tế công cộng đã được sử dụng để phát hiện những dấu hiệu mới có thể xảy ra của các ADR Nghiên cứu trong dịch tễ dược học thường thuộc các dạng “hình thành giả thuyết” (hypothesis-generation) hoặc “kiểm định giả thuyết” (hypothesis-testing) hoặc kết hợp 2 loại trên Nghiên cứu phát hiện giả thuyết được tiến hành trên các thuốc mới nhằm mục đích phát hiện các ADR không mong muốn Trong khi đó, nghiên cứu kiểm định giả thuyết lại được thiết kế để chứng minh một nghi ngờ nào đó là đúng hay sai[39]

Hình 1.1 Các phương pháp giám sát ADR [39]

Các phương

pháp giám

sát ADR

Các phương pháp giám sát thụ động Hình thành giả thuyết

Các phương pháp giám sát tích cực Kiểm định giả thuyết

Báo cáo tự nguyện

Báo cáo tự nguyện

có chủ đích

Giám sát trọng điểm

Hồ sơ đăng ký (Registries)

Theo dõi biến cố

kê đơn

Các nghiên cứu huần tập, bệnh chứng

Trang 19

1.2 Tổng quan về báo cáo tự nguyện

1.2.1 Giới thiệu về báo cáo tự nguyện

Hiện nay, Cảnh giác Dược áp dụng rất nhiều phương pháp dịch tễ học để phát hiện và theo dõi ADR Trong đó, báo cáo tự nguyện vẫn là phương pháp được

áp dụng phổ biến và chủ đạo trên thế giới [19],[27]

“Hệ thống báo cáo tự nguyên là hệ thống thu thập các báo cáo về phản ứng

có hại của thuốc, được các cán bộ y tế cũng như các công ty sản xuất kinh doanh dược phẩm báo cáo một cách tự nguyện về cơ quan có thẩm quyền quản lý về các phản ứng có hại của thuốc”[35]

Năm 1961, tạp chí Lancet đã đăng tải bức thư của một bác sĩ người Úc McBride WG Trong bức thư này, ông chia sẻ sự quan sát của mình trên những đứa trẻ mà mẹ của chúng sử dụng thalidomid trong suốt quá trình mang thai Những đứa trẻ này có tần suất mắc những dị tật bẩm sinh cao hơn những đứa trẻ khác không phơi nhiễm với thalidomide trong giai đoạn bào thai Nhiều năm sau, phát hiện này trở thành bằng chứng chứng minh cho việc hàng nghìn trẻ em được sinh ra với dị tật chân tay là do quá trình sử dụng thalidomide của người mẹ Nhằm mục đích ngăn chặn các thảm họa tương tự có thể xảy ra, nhiều hệ thống đã được xác lập trên toàn thế giới để theo dõi và giám sát sự an toàn của thuốc Hệ thống báo cáo tự nguyện được thiết lập và đã trở thành phương pháp chủ đạo trong việc thu thập thông tin về tính an toàn của thuốc trong giai đoạn hậu marketing Chức năng chính của hệ thống này là phát hiện sớm các dấu hiệu của các ADR mới, hiếm và nghiêm trọng Hệ thống báo cáo tự nguyện cho phép bác sĩ, dược sĩ, và bệnh nhân báo cáo các ADR nghi ngờ cho các trung tâm Cảnh giác Dược và/ hoặc các trung tâm theo dõi ADR Nhiệm vụ của các trung tâm này là thu thập và phân tích báo cáo để thông báo cho các đối tác liên quan về nguy cơ tiềm ẩn khi các dấu hiệu của ADR xuất hiện Báo cáo tự nguyện cũng được các nhà sản xuất dược phẩm áp dụng để thu thập thông tin

về sản phẩm của mình Như vậy, hệ thống báo cáo tự nguyện có thể theo dõi tất cả các thuốc trên thị trường trong suốt vòng đời của chúng với chí phí tương đối thấp so với các phương pháp khác[27]

Trang 20

Hệ thống báo cáo ADR tự nguyện đã được triển khai tại hầu hết các quốc gia trên thế giới Ở mỗi quốc gia, hoạt động này được tiến hành bởi một hoặc một số trung tâm Cảnh giác Dược dưới sự chỉ đạo của cơ quan quản lý thuốc quốc gia Một

số quốc gia có hoạt động cảnh giác dược phát triển còncó các trung tâm khu vực hoạt động như một cơ sở tại địa phương để tiếp nhận, xử lý báo cáo ADR, hỗ trợ trong việc báo cáo và truyền thông giáo dục về sử dụng thuốc hợp lí an toàn cho cán

bộ y tế và cộng đồng Tại Pháp, cả nước có tổng cộng 31 trung tâm được xây dựng với các hoạt động nói trên Tuy nhiên tại Anh, các trung tâm khu vực chỉ được xây dựng ở một số địa phương [35]

1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của báo cáo tự nguyện

 Những ưu điểm của báo cáo tự nguyện

- Cơ cấu đơn giản, chi phí thực hiện thấp hơn so với các phương pháp theo dõi ADR khác

- Ngoài việc xác định các mối nguy hiểm của các loại thuốc mới,hệ thống báo cáo tự nguyện còn phân loại được các đặc điểm lâm sàng của nhiều phản ứng phát hiện bằng các phương tiện khác

- Phạm vi áp dụng rộng rãi với tất cả các thuốc, tất cả các thời điểm, với số lượng dân số lớn, không phân biệt các đối tượng, áp dụng được cho cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú

- Khả năng nắm bắt nhanh các nghi ngờ lâm sàng mà có thể chưa được ghi nhận, đặc biệt là các ADR hiếm và nghiêm trọng Do đó hỗ trợ tốt cho hệ thống cảnh báo sớm

- Ít có khả năng ảnh hưởng bởi thói quen kê đơn của cán bộ y tế

Vì những ưu điểm trên nên nhiều hệ thống báo cáo tự nguyện đã hình thành tại hầu hết các quốc gia trên thế giới tham gia chương trình giám sát thuốc toàn cầu của WHO Tuy nhiên hệ thống này tại nhiều nước còn hoạt động chưa thực sự hiệu quả như mong đợi doáp dụng theo khuôn mẫu, chưa được sửa đổi cho phù hợp với hoàn cảnh của từng quốc gia[35], [38]

 Những hạn chế của báo cáo tự nguyện

Trang 21

-Báo cáo không đầy đủ với số lượng khó kiểm soát, nội dung trong báo cáo

có thể thiếu dữ quan trọng, thiếu kiểm soát và ghi chép còn hạn chế

-Nhận thức chưa đúng về báo cáo ADR của cán bộ y tế như đã nhận diện được phản ứng nhưng không báo cáo, đặc biệt là các phản ứng nghiêm trọng, không chắc liệu thuốc có gây ra ADR hay không, báo cáo không được hỗ trợ trên nền kiến thức y khoa

- Tử vong do ADR có thể được ghi nhận không đầy đủ nếu tai biến này không xảy ra ở các cơ sở khám, chữa bệnh

- Khó phát hiện những ADR xuất hiện muộn, với những ADR hiếm gặp trong khi những ADR phổ biến có khả năng được phát hiện sớm hơn trong quá trình phát triển thuốc trong các thử nghiệm lâm sàng

-Tỷ lệ báo cáo có xu hướng giảm theo thời gian sau khi sản phẩm đã được lưu hành rộng rãi trên thị trường[21],[35],[38]

1.2.3 Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo ADR

Một hệ thống báo cáo ADR tự nguyện hoạt động có hiệu quả phải đảm bảo được cả 2 yếu tố: số lượng và chất lượng báo cáo Hiện tượng số lượng và chất lượng báo cáo thấp hơn so với thực tế (under-reporting) vốn là một thách thức lớn của hệ thống báo cáo ADR tự nguyện ở khắp nơi trên thế giới[28],[30]

Vấn đề quản lý chất lượng nói chung đã được đưa ra thảo luận từ nhiều năm nay và đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng của Cảnh giác Dược và Dịch tễ Dược học Một số công cụ đã được đề xuất để đánh giá chất lượng các báo cáo tự nguyện

về phản ứng có hại của thuốc, trong đó các phương pháp được đề xuất bởi Tổ chức

Y tế Thế giới và Trung tâm giám sát UMC (Uppsala Monitoring Center) được sử dụng rộng rãi nhất với các phiên bản được đề xuất vào các năm 1996, 2012 và 2013 Ngoài ra, mỗi quốc gia đều có cách thức thẩm định, xây dựng cũng như lựa chọn các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo tự nguyện riêng phù hợp với cơ cấu, quy mô của trung tâm Cảnh giác Dược và phù hợp với mô hình, đặc điểm ADR của từng quốc gia [23],[34]

Trang 22

Năm 2012 trung tâm WHO-UMC đã đề xuất phương pháp nhằm đánh giá chất lượng nội dung thông tin trong báo cáo, tuy nhiên phương pháp này vẫn có những hạn chế nhất định[48] Năm 2013 trung tâm WHO-UMC tiếp tục đề xuất phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo mang tên VigiGrade, so với phương pháp năm 2012, vigiGrade thể hiện những điểm mạnh nhất định về mức độ toàn diện, sự đơn giản trong cách tính toán và tính ứng dụng cao[11] Trong nghiên cứu này, phương pháp vigiGrade đã được sử dụng để đánh giá chất lượng báo cáo ADR

Trong phương pháp vigiGrade, sự đầy đủ và phù hợp của thông tin trong báo cáo vẫn đóng vai trò quan trọng như phương pháp đánh giá được đề xuất bởi trung tâm WHO-UMC năm 2012 nhưng có sự mở rộng số lượng tiêu chí Một thuật toán cũng được sử dụng để tính điểm báo cáo bằng cách gán trọng số với trường dữ liệu cụ thể trong báo cáo Điểm xuất phát cho mỗi trường dữ liệu trong báo cáo là 1, căn cứ theo mức độ đầy đủ và phù hợp của thông tin trong trường dữ liệu này, điểm số sẽ được giảm đi tương ứng với trọng số (Cách đánh giá chi tiết xin xem phụ lục 2) [40]

Phương pháp có ưu điểm là đã bổ sung được một trường thông tin quan trọng liên quan đến liều sử dụng của thuốc nghi ngờ và cách tính điểm đơn giản hơn so với phương pháp đánh giá công bố năm 2012

Hạn chế của phương pháp là vẫn chưa bao hàm được các trường thông tin quan trọng như thông tin về các thuốc sử dụng đồng thời, bệnh mắc kèm của bệnh nhân và tiền sử - các trường thông tin này không có mặt trong hệ thống VigiBase và theo tác giả, các trọng số cho từng trường thông tin vẫn cần tiếp tục được hiệu chỉnh dựa trên phản hồi của các nhân viên y tế về mức độ quan trọng của các trường thông tin này [40]

1.2.4.Một số biện pháp nâng cao hoạt động báo cáo ADR ở bệnh viện

1.2.4.1.Tăng cường đào tạo, tập huấn để nâng cao nhận thức và kỹ năng của cán

bộ y tế

Nghiên cứu tại nhiều quốc gia trên thế giới đã kết luận rằng việc đàotạo và tập huấn cho các cán bộ y tế bằng nhiều biện pháp có thể giúp cải thiện được số lượng báo cáo ADR và chất lượng báo cáo ADR[24],[25],[33] Nhiều cán bộ y tế,

Trang 23

đặc biệt là đối tượng điều dưỡng cũng cho rằng họ gặp khó khăn trong việc báo cáo ADR do chưa được tập huấn đầy đủ[12].Tuy nhiên, công tác này đòi hỏi sự triển khai định kì và liên tục, do kết quả từ mộtsố nghiên cứu cho thấy hiệu quả của can thiệp thông qua đào tạo và tập huấn cho cán bộ y tế bắt đầu giảm đi sau 1 năm và không còn được duy trì sau 2 năm nếu không được tiến hành định kỳ[22],[25]

1.2.4.2.Củng cố hệ thống báo cáo tự nguyện và thiết lập cơ chế phản hồi có hiệu quả

Nhằm củng cố hệ thống báo cáo ADR tự nguyện trong bệnh viện,nhiều biệnpháp đã được đề xuất bao gồm tăng cường hoạt động của dược sĩ lâm sàng tại bệnh viện,tiến hành can thiệp nhiều mặt theo thỏa thuận giữa ban giám đốc bệnh

viện và cácbác sĩ[26],[36]

Một quy trình cũng như một mẫu báo cáo đơn giản hơn cũng cần được quan tâm xây dựng do tính chất bận rộn chuyên môn của các cán bộ y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh[35]

Thêm vào đó việc thiết lập hệ thống Cảnh giác Dược để nhân viên y tế có thể liên hệ dễ dàng và nhanh chóng hơn cũng đã được đề xuất từ các kết quả nghiên cứu.Các cách báo cáo đề nghị để thực hiện báo cáo ADR bao gồm: điện thoại, fax hoặc công nghệ thông tin trên internet (web trên toàn thế giới hoặc e-mail),hay để tạo thuận lợi cũng như nhắc nhở nhân viên y tế làm báo cáoADR như poster, leaflet[41]

Gửi phản hồi chi tiết kết quả thẩm định mối quan hệ nhân quả giữa ADR cũng như cung cấp các thông tin liên quan đến phản ứng cho các bác sĩ đã thực hiện báo cáo hoặc thông qua hoạt động tư vấn của đơn vị Thông tin thuốc khi xảy ra ADR trên người bệnhlà các biện pháp đã chothấy hiệu quả làm tăng số lượng báo cáo ADR được gửi đi [42] Xuất bản định kỳbản tin thông tin thuốc/ADR trong

thuốc-đó tóm tắt các báo cáo ADR xảy ra tại bệnh viện,tổ chức hội chẩn và giao ban chuyên môn về các trường hợp đặc biệt theo sự quan tâm của từng chuyên khoa cũng là những biện pháp giúp tăng cường hoạt động báo cáo ADR[41]

1.2.4.3 Phát triển hoạt động thông tin và hỗ trợ cho báo cáo ADR

Trang 24

Tạo điều kiện cung cấp thông tin và hỗ trợ khi có nghi ngờ về ADR trên từng người bệnh cụ thể là một biện pháp được đề xuất bởi một số bác sĩ Theo đó dược sĩ hoặc cán bộ cảnh giác dược trong bệnh việncó thể cung cấp thông tin liên quan đến phản ứng đã được báo cáo, đưa ra ý kiến tư vấn chuyên môn về điều trị và sử dụng thuốc đồng thời cung cấp kết quả đánh giá mối quan hệ nhân quả và nguyên nhân gây ADR[41]

Thông tin liên quan đến ADR có thể được gửi đến cho người báo cáo qua thư hoặc thưđiện tử Việc gửi email bao gồm thông tin về ADR cho cán bộ y tế cũng giúp tăng tỷ lệ báo cáo Phương pháp này có tính khả thi cao do ít tốn kém,dễthực hiện và quản lý, tuy nhiên vẫn có hạn chế liên quan đến thói quen chung của cán bộ

-Xây dựng quy trình báo cáo ADR tại các cơ sở khám, chữa bệnh: Sản phẩm của hoạt động này chính là Quyết định 1088/TT-BYT về hướng dẫn báo cáo ADR tại các bệnh viện - tạo cơ sở pháp lý trực tiếp nhất cho hoạt động báo cáo ADR trong cả nước

- Xây dựng Hướng dẫn Cảnh giác Dược Quốc gia: Hiện nay hoạt động thông tin thuốc và cảnh giác dược tuy đã được quan tâm phát triển nhưng vẫn còn thiếu hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn triển khai hoạt động tại cấp cơ sở Để đảm bảo phát triển được hệ thống Cảnh giác dược hướng tới an toàn thuốc, cần thiết phải có

hệ thống văn bản hướng dẫn xuyên suốt, tạo hành lang pháp lý để các đơn vị triển khai hoạt động Trước nhất, một cuộc khảo sát trên quy mô toàn quốc được tiến hành (năm 2013) nhằm đánh giá thực trạng, nhu cầu và năng lực quốc gia về cảnh giác dược nói riêng và an toàn thuốc nói chung Trên cơ sở đó xây dựng hướng dẫn

Trang 25

an toàn thuốc chuẩn quốc gia – làm nền tảng cho các hoạt động an toàn thuốc trong

hệ thống y tế

- Xây dựng và phát triển phần mềm lưu trữ, xử lý, khai thác các báo cáo phản ứng có hại trong hệ thống Cảnh giác dược với mục đích phát triển cơ sở dữ liệu báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) hướng tới hệ thống báo cáo tự nguyện trực tuyến toàn quốc

- Thành lập và triển khai hoạt động của các nhóm tư vấn Cảnh giác Dược tại trung tâm DI&ADR quốc gia và trung tâm khu vực thành phố Hồ Chí Minh các Đơn vị kỹ thuật về Cảnh giác Dược trong các Chương trình y tế quốc gia và hỗ trợ hoạt động tại các cơ sở y tế và các bệnh viện trọng điểm tham gia dự án

- Biên soạn tài liệu đào tạo để trang bị kiến thức và kỹ năng chuyên môn về Cảnh giác Dược, đào tạo kỹ năng thực hành tại cơ sở: theo dõi, báo cáo ADR, giám sát và đánh giá các hoạt động CGD và an toàn thuốc cho cán bộ y tế các tuyến

- Tổ chức các lớp tập huấn kiến thức và kỹ năng Cảnh giác Dược cho cán bộ

y tế tại 31 tỉnh/thành phố và 29 bệnh viện trọng điểm

- Tăng cường các hoạt động trao đổi, phản hồi thông tin về báo cáo ADR tới cán bộ y tế và cơ sở khám, chữa bệnh tham gia báo cáo: phản hồi cho cán bộ y tế tham gia báo cáo, báo cáo tình hình phản ứng có hại hàng quý và báo cáo tổng kết năm gửi tới hơn 1000 bệnh viện và Sở Y tế trong cả nước, phát hành bản tin Cảnh giác Dược, tờ rơi, tờ gấp về sử dụng thuốc hợp lý an toàn [4],[18]

Trong giai đoạn 1 (2012-2013) các mục tiêu đề ra của dự án, các chỉ số chính bao gồm số lượng báo cáo ADR và tỉ lệ số báo cáo ADR được thẩm định và phản hồi đã được hoàn thành vượt mức đã cam kết Đây là lý do Nhà tài trợ tiếp tục

hỗ trợ dự án triển khai các hoạt động trong giai đoạn 2 (2014-2016) Kết quả của dự

án giai đoạn 1 đã góp phần tích cực trong việc xây dựng hệ thống Cảnh giác Dược tại Việt Nam, (1) tăng cường năng lực của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc

và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc, (2) xây dựng hệ thống báo cáo tự nguyện phản ứng có hại của thuốc, (3) xây dựng và phát triển chương trình theo dõi tích cực hay giám sát chủ động biến cố bất lợi trong các chương trình mục tiêu Quốc gia, (4)

Trang 26

thành lập hệ thống phản hồi thúc đẩy việc theo dõi ADR và sử dụng thuốc an toàn, (5) xây dựng mạng lưới quảng bá tầm quan trọng và thực hiện các hoạt động Cảnh giác Dược[13]

Để duy trì và phát triển các hoạt độngCảnh giác Dược đã được triển khai trong giai đoạn 1, Ban quản lý Hợp phần 2.1 đã xác định kế hoạch năm 2014-2016 tập trung vào các mục tiêu chính sau: (1) tăng cường năng lực chuyên môn và kiện toàn các văn bản pháp quy về Cảnh giác dược; (2) tăng cường hệ thống báo cáo tự nguyện và phản hồi thông tin về an toàn thuốc; (3) triển khai giám sát ADR trong các Chương trình y tế mục tiêu Quốc gia[13]

Trang 27

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C2.1 Đối tượng nghiên c

Tất cả các báo cáo ADR c

Đa khoa Đà Nẵng và B

Quốc gia giai đoạn từ

31/5/2014

2.2 Địa điểm nghiên c

Trung tâm DI&ADR Qu

các báo cáo ADR của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Qu

ng và Bệnh viện Nhân Dân Gia Định đã gửi tới Trung tâm DI&ADR

ừ tháng 01/2010 đến tháng 12/2012 và từ

m nghiên cứu

Trung tâm DI&ADR Quốc gia và Bộ môn Quản lý và kinh t

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Phương pháp thu thập số liệu: Hồi cứu dữ liệu từ Cơ s

i Trung tâm DI & ADR Quốc gia từ năm 2010 đ

n tháng 31/5/2014

tiêu nghiên cứu bao gồm:

Hình 2.1.Sơ đồ tóm tắt các chỉ tiêu nghiên c

ỨU

nh Quảng Ninh, Bệnh viện

i Trung tâm DI&ADR

Trang 28

1)Thông tin về báo cáo

- Số lượng và tỷ lệ báo cáo ADR/1000 bệnh nhân điều trị nội trú

- Tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng: các báo cáo ADR nghiêm trọng là các báo cáo có ADR được phân loại ở mức độ 3 (phản ứng nặng yêu cầu nhập viện hoặc kéo dài thời gian nằm viện) và mức độ 4 (phản ứng gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng) theo thang phân loại mức độ nghiêm trọng của ADR của Tổ chức Y tế thế giới (Phụ lục 1) [46]

- Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR: là thời gian từ ngày xảy ra phản ứng đến ngày Trung tâm DI & ADR nhận được báo cáo

- Các khoa phòng tham gia báo cáo

- Đối tượng tham gia báo cáo: tỷ lệ báo cáo theo trình độ chuyên môn

2) Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

- Các đường dùng thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo

- Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất

- Các thuốc nghi ngờ được báo cáo nhiều nhất

3) Thông tin về ADR

Biểu hiện ADR được mô tả bằng bộ thuật ngữ WHO-ART 2012 (Adverse Reaction Terminology)[43] Mỗi biểu hiện ADR được chuẩn hóa ở mức PT (Prefered term) và mỗi PT được mã hóa bằng mã SOC (System Organ Classes - mã phân loại tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng) [43]

- Phân loại tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng theo bộ thuật ngữ trên

4) Chất lượng báo cáo ADR

Chất lượng báo cáo được được đánh giá trên 2 chỉ tiêu: Tính điểm hoàn thành báo cáo theo thang điểm VigiGrade và mức quy kết quan hệ nhân quả thuốc - ADR

 Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoànthành báo cáo (report completeness score) theo thang điểm VigiGrade của hệ thống Documentation grading thuộc Trung tâm theo dõi Uppsala của Tổ chức Y tế thế giới WHO (Trung tâm WHO - UMC) [20]

Trang 29

+ Điểm hoàn thành một báo cáo được tính bằng trung bình cộng điểm của các cặp thuốc - ADR trong báo cáo, với điểm hoàn thành báo cáo của một cặp thuốc

- ADR được tính theo công thức:

+ Điểm hoàn thành của một báo cáo thấp nhất là 0 và cao nhất là 1 Báo cáo

có điểmhoàn thành < 0,8 là báo cáo kém chất lượng và báo cáo có điểm hoàn thành

từ 0,8 đến 1 điểm là báo cáo chất lượng tốt

- So sánh chất lượng báo cáo ADR giữa các năm thông qua điểm hoàn thành báo cáo trung bình

 Mức quy kết quan hệ nhân quả thuốc – ADR: là kết quả đánh giá của Hội đồng chuyên gia thẩm định theo thang điểm của WHO[50]

ra phản ứng/tổng số khoa phòng lâm sàng,tỉ lệ các đối tượng tham gia báo cáo theo

trình độ chuyên môn, tỷ lệ báo cáo có chất lượng tốt trong 2 giai đoạn

Trang 30

CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ 3.1.Khảo sát hoạt động báo cáo ADR của 3 bệnh viện giai đoạn 2010-2012 3.1.1.Thông tin về báo cáo:

3.1.1.1 Số lượng báo cáo ADR

Số lượng báo cáo ADR của BVQN, BVĐN và BVGĐ đã gửi tới Trung tâm DI&ADR Quốc gia trong 3 năm từ năm 2010 đến 2012 lần lượt là 354, 267 và 115 báo cáo.Số lượng báo cáo ADR của các năm và tỷ lệ báo cáo ADR/1000 bệnh nhân nội trú các bệnh viện được trình bày trong bảng 3.1

Bảng 3.1.Số lượng báo cáo và tỉ lệ báo cáo ADR /1000 bệnh nhân nội trú

giai đoạn 2010-2012

báo cáo

Tỉ lệ số báo cáo/1000 bệnh nhân nội trú

Trang 31

số báo cáo/1000 bệnh nhân nội trú cao thứ 2 trong số 3 bệnh viện với số báo cáo tăng từ năm 2010 đến 2011 nhưng đến năm 2012 lại giảm, còn BVGĐ tuy số báo cáo cũng như tỉ lệ báo cáo/1000 bệnh nhân nội trú là thấp nhất trong 3 viện nhưng

số báo cáo có xu hướng tăng rõ rệt từ 2010 đến 2012

3.1.1.2 Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng

Báo cáo ADR nghiêm trọng là những báo cáo có các biểu hiện ADR ở mức

độ nghiêm trọng theo thang phân loại ADR của WHO Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng từ năm 2010 đến 2012 của 3 bệnh viện được trình bày trong bảng 3.2

Bảng 3.2.Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng giai đoạn 2010-2012

Tại BVGĐ tỷ lệ này có thấp hơn (2010-2012: 66,08%) và cũng có xu hướng giảm từ năm 2011 đến năm 2012 (riêng 2010 không có báo cáo nào nghiêm trọng trong số 2 báo cáoADR) Tại BVĐN tỉ lệ báo cáo nghiêm trọng thấp nhất trong 3 viện(2010-2012: 26,30%), tỷ lệ này giảm từ năm 2010 đến 2011 nhưng có tăng lên trong năm 2012

3.1.1.3 Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR

Kết quả thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR từ BVQN,BVĐN, BVGĐ đến Trung tâm DI&ADR Quốc gia trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012 được thể hiện trong hình 3.1

Trang 32

Hình 3.1.Thời gian trì hoãn gửi báo cáo giai đoạn 2010 - 2012

Thời gian trì hoãn gửi báo cáo của BVĐN và BVGĐ có trung vị gần bằng nhau (72 ngày và 69 ngày) tuy nhiên mức độ dao động về số ngày trì hoãn giữa các báo cáo ở BVGĐ lớn hơn BVQN Trong khi đó, thời gian trì hoãn gửi báo cáo của BVQN là dài nhất (trung vị bằng 121 ngày) đồng thời mức dao động về số ngày trì

hoãn giữa các báo cáo cũng rất cao

3.1.1.4 Đối tượng tham gia báo cáo ADR

Quyết định 1088/QĐ-BYT quy định người trực tiếp viết báo cáo ADR có thể

là bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên và các cán bộ y tế khác[2] Kết quả khảo sát trên cơ sở dữ liệu về đối tượng tham gia báo cáo tại 3

bệnh viện được thể hiện ở bảng 3.3

Bảng 3.3.Đối tượng tham gia báo cáo ADR giai đoạn 2010 – 2012

Số lượng

Số lượng

121

(Ngày)

Trang 33

Kết quả cho thấy, tại BVQN có 7 nhân viên y tế tham gia báo trong đó đối tượng tham gia báo cáo chủ yếu là bác sĩ (99,71%), BVĐN có 65 nhân viên y tế tham gia báo cáo và đối tượng báo cáo chủ yếu là điều dưỡng (68,16%) và BVGĐ 100% đối tượng tham gia báo cáo là Dược sĩ và có 8 dược sĩ tham gia báo cáo

3.1.1.5 Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR

Các khoa phòng liên quan đến hoạt động báo cáo ADR có sự khác nhau giữa

3 bệnh viện, kết quảđược trình bày ở bảng 3.4

Bảng 3.4.Các khoa phòng tham gia báo cáo giai đoạn 2010 - 2012

Kết quả cho thấy, tại BVGĐ có 10 khoa phòng đã ghi nhận ADR nhưng chỉ

có 1 khoa phòng tham gia báo cáo (100% báo cáo do khoa Dược thực hiện) Trong khi 2 bệnh viện còn lại, số khoa phòng ghi nhận phản ứng và số khoa phòng báo cáo gần tương đương nhau.Ở BVQN có 4 khoa phòng ghi nhận được phản ứng và tỉ lệ khoa phòng báo cáo/tổng khoa phòng lâm sàng là 4/22 còn BVĐN có 14 khoa phòng ghi nhận được phản ứng và 15 khoa phòng đã tham gia báo cáo trên tổng số

23 khoa lâm sàng

3.1.2.Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

3.1.2.1 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng thuốc

Kết quả tổng hợp và phân loại các thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng thuốc được trình bày trong bảng 3.5

Bảng 3.5 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng

Khoa phòng báo cáo nhiều nhất

lượng

Tỷ lệ (%)

Trang 34

Tại 2 bệnh viện BVĐN và BVGĐ các báo cáo ADR được ghi nhận chủ yếu khi bệnh nhân sử dụng thuốc theo đường tiêm truyền (87,75% và 86,07%), trong khi đó tại BVQN ghi nhận chủ yếu là đường uống (95,48%)

3.1.2.2 Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất

Các báo cáo ADR được tổng hợp phân loại theo họ dược lý của thuốc nghi ngờ gây ADR dựa vào mã ATC của thuốc 10 họ dược lý ghi nhận nhiều nhất được

Tỷ lệ(%) n=354

Số lượng

Tỷ lệ(%) n=267

Số lượng

Tỷ lệ (%) n=115

B05X Dịch truyền tĩnh mạch bổ

(*) Kháng khuẩn beta – lactam khác bao gồm các cephalosporin, monobactam vàcarbapenem

(**) Thuốc giảm đau và hạ sốt khác bao gồm acid salicylic và dẫn chất, các anilid (***) Các thuốc kháng khuẩn khác bao gồm các kháng sinh glycopeptid, các polymixin, cáckháng sinh steroid, các dẫn chất imidazol, các dẫn chất nitrofuran và các kháng sinh khác

Ngày đăng: 27/07/2015, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Y Tế (2011), " Quyết định số 4514/QĐ-BYT ngày 30/11/2011 về việc Phê duyệt kế hoạch hoạt động năm 2012-2013 của Dự án “Hỗ trợ hệ thống y tế” do Quỹ Toàn Cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét tài trợ&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 4514/QĐ-BYT ngày 30/11/2011 về việc Phê duyệt kế hoạch hoạt động năm 2012-2013 của Dự án “Hỗ trợ hệ thống y tế” do Quỹ Toàn Cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét tài trợ
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2011
8. Ong Thế Vũ (2014), "Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2013", Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2013
Tác giả: Ong Thế Vũ
Năm: 2014
9. Quách Dương Tùng (2014), "Phân tích hoạt động báo cáo tự nguyện phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại Bệnh viện Đà Nẵng từ năm 2010 đến năm 2013", Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động báo cáo tự nguyện phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại Bệnh viện Đà Nẵng từ năm 2010 đến năm 2013
Tác giả: Quách Dương Tùng
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2014
11. Trịnh Thị Hồng Nhung (2014), đánh giá chất lượng báo cáo adr trong cơ sở dữ liệu báo cáo tự nguyện của việt nam giai đoạn 2011-2013, Khoá luận tốt nghiệp Dược sĩ, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá chất lượng báo cáo adr trong cơ sở dữ liệu báo cáo tự nguyện của việt nam giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Trịnh Thị Hồng Nhung
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2014
1. Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược trường Đại học Dược Hà Nội, Dự án Hỗ trợ hệ thống Y tế do Quỹ Toàn Cầu phòng chống Lao, Sốt rét và HIV/AIDS tài trợ, (2013), Nghiên cứu tỷ lệ phần trăm các biến cố bất lợi liên quan đến thuốc đã báo cáo được xử trí phù hợp tại các bệnh viện trọng điểm Khác
2. Bộ Y Tế (2013), "Quyết định 1088/QĐ-BYT quyết định về việc ban hành hướng dẫn hoạt động giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại các cơ sở khám, chữa bệnh&#34 Khác
3. Bộ Y Tế (2013), "Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện&#34 Khác
5. Bộ Y Tế (2011), "Thông tư số 23/2011/TT-BYT Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh&#34 Khác
6. Đỗ Ngọc Trâm (2013), Khảo sát tình hình báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2011 - 2012, Trường Đại học Dược Hà Nội Khác
12. Trung tâm DI và ADR Quốc gia (2009), "Khảo sát đánh giá năng lực Quốc gia về Thông tin thuốc và Cảnh giác dược&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Hình 1.1. Các phương pháp giám sát ADR   10 - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
1 Hình 1.1. Các phương pháp giám sát ADR 10 (Trang 8)
Hình 1.1. Các phương pháp giám sát ADR [39]. - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Hình 1.1. Các phương pháp giám sát ADR [39] (Trang 18)
Bảng 3.1.Số lượng báo cáo và tỉ lệ báo cáo ADR /1000 bệnh nhân nội trú - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.1. Số lượng báo cáo và tỉ lệ báo cáo ADR /1000 bệnh nhân nội trú (Trang 30)
Bảng 3.2.Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng giai đoạn 2010-2012 - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.2. Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng giai đoạn 2010-2012 (Trang 31)
Hình 3.1.Thời gian trì hoãn gửi báo cáo giai đoạn 2010 - 2012 - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Hình 3.1. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo giai đoạn 2010 - 2012 (Trang 32)
Bảng 3.4.Các khoa phòng tham gia báo cáo giai đoạn 2010 - 2012 - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.4. Các khoa phòng tham gia báo cáo giai đoạn 2010 - 2012 (Trang 33)
Bảng 3.5. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.5. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng (Trang 33)
Bảng 3.6.Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.6. Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất (Trang 34)
Bảng 3.7. Các thuốc ghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.7. Các thuốc ghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất (Trang 35)
Bảng 3.8. Phân loại báo cáo ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.8. Phân loại báo cáo ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng (Trang 36)
Hình 3.2. Tỷ lệ báo cáo có chất lượng tốt tại 3 bệnh viện giai đoạn 2010 - 2012 - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Hình 3.2. Tỷ lệ báo cáo có chất lượng tốt tại 3 bệnh viện giai đoạn 2010 - 2012 (Trang 39)
Bảng 3.11. Tỷ lệ các thông tin bị thiếu/không hợp lý trongbáo cáo ADR - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.11. Tỷ lệ các thông tin bị thiếu/không hợp lý trongbáo cáo ADR (Trang 40)
Bảng 3.12. Số lượng báo cáo ADR trong 2 giai đoạn  Bệnh viện  Giai đoạn  Số lượng  Tỉ lệ tăng (%) - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.12. Số lượng báo cáo ADR trong 2 giai đoạn Bệnh viện Giai đoạn Số lượng Tỉ lệ tăng (%) (Trang 41)
Hình 3.3.Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR trong2 giai đoạn - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Hình 3.3. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR trong2 giai đoạn (Trang 42)
Bảng 3.16.Điểm chất lượng trung bình của báo cáo ADR tại 3 bệnh viện trong - Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010 2014
Bảng 3.16. Điểm chất lượng trung bình của báo cáo ADR tại 3 bệnh viện trong (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w