1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới phương thức huy động vốn trong các mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam

95 543 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới phương thức huy động vốn trong các mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Tác giả Lê Quang Vinh
Người hướng dẫn TS. Đặng Ngọc Đức
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX, ban chấp hành Trung ương Đảng đã chủ trương nghiên cứu xây dựng một số tập đoàn kinh doanh nhà nước mạnh, làm nòng cốt cho lực lượng doanh nghiệp nhà nước.

Trang 1

KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH

-CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Đề tài:

Đổi mới phương thức huy động vốn trong các

mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam

Sinh viên : Lê Quang Vinh

Giáo viên hướng dẫn : TS Đặng Ngọc Đức

Hà nội, tháng 5 năm 2006

Trang 2

Lời mở đầu

1- Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX, ban chấp hành Trung ương Đảng đã chủtrương nghiên cứu xây dựng một số tập đoàn kinh doanh nhà nước mạnh, làmnòng cốt cho lực lượng doanh nghiệp nhà nước Việc chuyển đổi hoạt động theo

mô hình công ty ‘mẹ’ - công ty ‘con’, phát triển theo mô hình tập đoàn sẽ khắcphục được các nhược điểm của mô hình tổng công ty trước đây

Việc thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh là vấn đề không mới ởcác nước phát triển nhưng hoàn toàn mới ở Việt nam Hiện nay, trong phươngthức quản lý tài chính nói chung và phương thức huy động vốn nói riêng của cáctổng công ty nhà nước phát triển theo mô hình tập đoàn đã có những cải thiện và

có tác động tích cực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, so sánhvới yêu cầu và đặc trưng của mô hình tập đoàn kinh doanh, phương thức huyđộng vốn hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa huy động được nguồn vốn

đủ lớn và phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mô hình tập đoàn kinh doanh

Do đó về mặt lý luận, cần có những đề tài nghiên cứu sâu hơn về mô hìnhtập đoàn kinh doanh phát triển từ các tổng công ty nhà nước Một trong nhữngvấn đề quan trọng hàng đầu và phải được tập trung nghiên cứu đi sâu là phươngthức huy động vốn của tập đoàn, vấn đề mà hiện nay ở Việt nam còn nhiều yếukém

2- Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và những kinh nghiệmthực tiễn về mô hình tập đoàn kinh doanh và phương thức huy động vốn của các

mô hình tập đoàn kinh doanh đã và đang hoạt động ở các nước trên thế giới

- Làm rõ mô hình và thực trạng của cơ chế huy động vốn hiện nay của cáctổng công ty hoạt động theo mô hình công ty ‘mẹ’ - công ty ‘con’ phát triển theo

mô hình tập đoàn kinh doanh Chỉ ra những ưu điểm và tồn tại của phương thức

Trang 3

- Đề xuất đổi mới phương thức huy động vốn của các tổng công ty pháttriển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt nam nhằm nâng cao hiệu quả huyđộng vốn, phù hợp với mô hình tập đoàn kinh doanh

3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Chuyên đề là phương thức huy động vốntrong các tổng công ty phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở ViệtNam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong các tổng công tynhà nước phát triển theo mô hình tập đoàn Trong đó, tập trung nghiên cứucác tổng công ty thành lập theo quyết định 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ,gọi tắt là các tổng công ty 91, có tiềm lực kinh tế lớn trong các ngành quantrọng, đã và đang phát triển thành các tập đoàn kinh doanh hiện nay như tậpđoàn Bưu chính viễn thông; tập đoàn Than - Khoáng sản; tổng công ty Dầukhí, tổng công ty Điện lực, Xây dựng, Dệt may, Công nghiệp Tàu thủy.v.v 4- Kết cấu của Chuyên đề

Ngoài phần mở đầu, kết luận, Chuyên đề được chia làm 3 chương:

- Chương 1: Mô hình tập đoàn kinh doanh và phương thức huy động vốn của

tập đoàn kinh doanh

- Chương 2: Thực trạng về phương thức huy động vốn của các tổng công typhát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam trong thời gian qua

- Chương 3: Giải pháp đổi mới phương thức huy động vốn phù hợp với mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam

Trang 4

Chương 1

MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH DOANH VÀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG

VỐN CỦA TẬP ĐOÀN KINH DOANH

1.1 MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH DOANH

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn kinh doanh

1.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Từ khoảng thế kỷ 18, dưới tác động của Cách mạng công nghiệp, cáccông ty thi nhau tăng thêm vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mởrộng thị trường sang các nước khác Quá trình tích tụ và tập trung tư bản thựchiện bằng những hoạt động sáp nhập, thôn tính lẫn nhau đã tạo thành những tổhợp lớn diễn ra mạnh mẽ vào những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.Cho đến nay, hàng loạt các công ty công ty đa quốc gia, các tập đoàn kinh doanhkhổng lồ đã xuất hiện, lớn mạnh và có mặt trên khắp các quốc gia và khắp cácChâu lục Tập đoàn kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển là tuân theo quy luậtkhách quan, đáp ứng yêu cầu tích tụ và tập trung tư bản

Ở Châu Âu, do điều kiện tự nhiên và xã hội khá tương đồng, nền kinh tếcác nước Châu Âu sớm mở cửa thông thương và phát triển theo mô hình cộngđồng Các công ty ở đây dễ dàng hoạt động ở các vùng lãnh thổ khác nhau, xâmchiếm thị trường của nhau, tạo điều kiện cho các công ty phát triển lớn mạnhnhanh chóng và sớm hình thành các mô hình liên kết kiểu tập đoàn Tại đây, cácCácten (Carten - hình thức liên minh độc quyền về giá cả và thị trường thôngqua các bản cam kết), Tơrơt (Trust-tổ chức độc quyền của các công ty cổ phần)

và Côngxoocxiom (Consocsion- loại hình liên minh độc quyền có tổ chức cao,

là tiền thân của các tập đoàn đa ngành Conglomerate hiện nay)… lần lượt ra đời

và phát triển mạnh mẽ theo xu hướng liên kết sản xuất kinh doanh với quy môlớn và có thế lực mạnh trên thị trường Ngày nay, các tập đoàn kinh doanh củaChâu Âu đã và đang xuất hiện ở khắp các nước trên thế giới với qui mô rất lớn

và danh tiếng lâu đời trong giới kinh doanh

Trang 5

Tại Mỹ, ngay từ năm 1879 đã xuất hiện hàng loạt các công ty có số vốnlớn hàng triệu USD như Standart Oil, Rockefeller, Aromovar… các công ty nàynhanh chóng lớn mạnh và bành trướng thế lực kinh tế Với nền kinh tế khuyếnkhích tự do phát triển và đề cao quy luật tự nhiên của nền kinh tế thị trường, cáccông ty dễ dàng sáp nhập, hợp nhất hay thôn tính lẫn nhau để cho ra đời nhữngcông ty ngày càng lớn hơn, hình thành ngày càng nhiều những tập đoàn khổng

lồ, các công ty đa quốc gia với qui mô vô cùng lớn Cùng với Microsoft, GeneralMotors, General Electric các tập đoàn của Mỹ đang đứng đầu trong các bảngxếp hạng và chiếm lĩnh hầu hết các ngành quan trọng trên thé giới

Ở Châu Á:Tại Nhật bản, các tập đoàn lớn (gọi là các zaibatsu haykeiretsu) hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 20 Năm 1885, Chính phủNhật bản đã khuyến khích thành lập nhiều công ty cổ phần có quy mô lớn nhằmkhắc phục nguồn vốn hạn chế của cá nhân Công ty Mitsubishi thành lập năm

1870 và đến cuối thế kỷ 19 nó đã có dáng dấp của một tập đoàn theo dạngConglomerate Đến khoảng năm 1918-1919 Mitsubishi đã có tới 7 công ty thànhviên hoạt động trong các lĩnh vực đóng tàu, thép, thương mại, khai thác mỏ, khovận, bảo hiểm và ngân hàng Chính sách của Chính phủ Nhật bản có tác động rấtlớn đối với sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh

Tại Hàn quốc, các tập đoàn kinh doanh (gọi là các Chaebol) bắt đầu pháttriển mạnh từ những năm 1950-1960 và ngày càng được chú ý do những ảnhhưởng to lớn của chúng Nét đặc biệt của các Chaebol ở Hàn quốc là sở hữu giađình và sự bành trướng thế lực kinh tế và chính trị của các tập đoàn đó Công tySam sung được thành lập năm 1938, lúc đầu chỉ là một doanh nghiệp nhỏ, đếnthập kỷ 80 đã trở thành 1 tập đoàn đa quốc gia lớn mạnh, có vị trí quan trọngtrong nền kinh tế - chính trị của Hàn quốc

Quá trình tích tụ, tập trung sản xuất và tập trung vốn phát triển mạnh mẽnhững năm sau Chiến tranh Thế giới II, tạo ra một làn sóng hợp nhất chưa từng

có Quy mô và phạm vi hoạt động của các tập đoàn kinh doanh đã vượt ra ngoài

Trang 6

biên giới mỗi nước để biến thành những tổ chức kinh doanh quốc tế, các công tyxuyên quốc gia Các tập đoàn kinh doanh đã trở thành trung tâm thu hút, thâutóm hàng loạt các công ty khác xung quanh nó để trở nên ngày càng hùng mạnh,

có sức sống mãnh liệt và tăng trưởng không ngừng

1.1.1.2 Các xu thế khách quan hình thành các tập đoàn kinh doanh

Các tập đoàn kinh doanh được hình thành và liên tục phát triển là do nóphù hợp với các xu thế khách quan và quy luật phát triển của thời đại, đó là:

-Quy luật tích tụ và tập trung vốn: Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị

trường, các doanh nghiệp luôn phải không ngừng mở rộng sản xuất, quá trìnhtích tụ và tập trung vốn dẫn đến các doanh nghiệp mạnh thôn tính, sáp nhập,mua lại các doanh nghiệp yếu, từ đó dẫn đến hình thành các tập đoàn kinhdoanh

-Quy luật cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận: Trong cuộc cạnh tranh khốc

liệt giữa các doanh nghiệp, để đứng vững các doanh nghiệp phải nâng cao nănglực cạnh tranh, một số doanh nghiệp sẽ tự liên kết với nhau nhằm tăng khả năngcạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận

-Tiến bộ khoa học công nghệ : Một trong những yếu tố quyết định giúp

các doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh và thu lợi nhuận cao là việcnghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra sức ép đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải liên tục đổi mới, nghiên cứu ứng dụng các dây chuyền côngnghệ cao, thực tế này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hợp tác với nhau, tập trungnguồn lực về vốn và lực lượng cán bộ khoa học công nghệ Tập đoàn kinhdoanh được hình thành với quy mô lớn, trường vốn đã đáp ứng yêu cầu đó vàthúc đẩy trở lại quá trình nghiên cứu triển khai khiến nó trở nên nhanh chóng vàmạnh mẽ hơn Các tập đoàn kinh doanh đã tạo ra những sản phẩm khoa họccông nghệ tiên tiến nhất, có sức cạnh tranh trên toàn thế giới

Trang 7

-Xu thế toàn cầu hoá: Thị trường tiêu thụ và các nguồn lực sản xuất trong

phạm vi quốc gia ngày càng trở nên nhỏ bé đối với các doanh nghiệp lớn, vì vậyphát sinh các hoạt động kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá Các tập đoàn,công ty đa quốc gia mở rộng hoạt động bằng việc thành lập các chi nhánh liênkết nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào ở cácnước khác nhau, kết hợp với thương quyền khai thác và chia sẻ thị trường đểcùng tồn tại và tăng trưởng

1.1.2 Mô hình tập đoàn kinh doanh

1.1.2.1 Khái niệm tập đoàn kinh doanh

Dựa trên những giác độ nghiên cứu và phân tích khác nhau, người ta đưa

ra một số định nghĩa khác nhau về tập đoàn kinh doanh Có tác giả nêu địnhnghĩa về tập đoàn kinh doanh như sau: “Một thực thể kinh tế thực hiện sự liênkết kinh tế giữa các thành viên là doanh nghiệp có quan hệ với nhau về côngnghệ và lợi ích được gọi bằng các tên gọi khác nhau như: hiệp hội, liên hiệp xínghiệp, tổng công ty theo mô hình tập đoàn, tập đoàn kinh doanh…” (PhạmQuang Trung - Giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính tập đoàn kinh doanh ở ViệtNam)

Theo quan niệm trên, tập đoàn kinh doanh được thể hiện bởi các liên kếtkinh tế giữa các chủ thể kinh doanh dựa trên sự liên kết công nghệ và lợi íchgiữa các chủ thể thành viên

Theo các tác giả của Từ điển thương mại "Anh - Pháp - Việt”, khái niệm

“group” - tập đoàn có thể hiểu như sau: “Một nhóm là một tập đoàn kinh tế vàtài chính gồm một công ty ‘mẹ’ và các công ty khác mà nó kiểm soát hay trong

đó nó có tham gia Mỗi công ty bản thân nó cũng có thể kiểm soát các công tykhác hay tham gia tổ hợp khác”

Theo quan điểm này, đặc trưng chủ yếu của tập đoàn kinh doanh là sự liênkết về kinh tế và tài chính, trong đó có sự kiểm soát lẫn nhau giữa các công ty,trong đó có một công ty kiểm soát các công ty còn lại gọi là công ty ‘mẹ’

Trang 8

Công ty ‘mẹ’ (Holding company) theo từ điển tài chính có nghĩa là: “Mộtcông ty kiểm soát một hoặc nhiều công ty khác, thông thường bằng cách nắmgiữ đa số cổ phiếu của các công ty ‘con’ hay công ty chi nhánh” Đối với mộtcông ty ‘mẹ’, có thể có trường hợp nó kiểm soát một số lượng rất lớn các công

ty với tổng số vốn tập hợp lại lớn hơn rất nhiều vốn của chính nó vì công ty ‘mẹ’chỉ cần nắm giữ một nửa thậm chí ít hơn một nửa số cổ phần của công ty ‘con’hay chi nhánh của nó

Như vậy, có thể hiểu Mô hình tập đoàn kinh doanh là tổ hợp có tổ chứccủa các công ty hoạt động trong cùng một ngành hay những ngành khác nhautrong phạm vi một hay nhiều nước Trong tập đoàn kinh doanh có một công ty

‘mẹ’ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty ‘con’ về mặt tàichính và chiến lược phát triển Mô hình tập đoàn kinh doanh là một cơ cấu tổchức vừa có chức năng kinh doanh vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăngcường tích tụ, tập trung tư bản, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận

1.1.2.2 Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh doanh

Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh doanh là hình thức liên kết kinh tếtrong tập đoàn Sự liên kết chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các thành viên trong tậpđoàn tuỳ thuộc vào mức độ liên kết về tài chính và lợi ích kinh tế Theo quanđiểm đó, trong lịch sử và hiện tại có ba mô hình tổ chức sau:

-Mô hình thứ nhất: Quan hệ liên kết giữa các thành viên tương đối lỏng

lẻo thông qua các thoả thuận hoặc các cam kết hợp tác Trong hình thức này, cáccông ty thành viên tham gia tập đoàn chỉ chịu sự ràng buộc tương đối lỏng lẻo

và có tính độc lập cao Thông thường, cơ sở tồn tại của loại hình tập đoàn này làcác thoả thuận hoặc hợp đồng tạo ra liên kết “mềm” giữa các thành viên để tăngthêm lợi thế cho nhóm các thành viên đó Về mặt lịch sử, hình thức này đã xuấthiện rất sớm từ thế kỷ 19 Loại hình Carten là thuộc hình thức này

Carten là hình thức liên kết giữa các công ty hoạt động trong cùng mộtlĩnh vực, một ngành, thậm chí có cùng sản phẩm giống nhau Thực ra, mối liên

Trang 9

kết giữa các công ty trong Carten chỉ thuần tuý là sự cam kết đối với một số điềukhoản nhất định nhằm tranh cạnh tranh trực tiếp với nhau Các công ty tham giaCarten vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân và tính độc lập của chúng Thời kỳđầu của Chủ nghĩa tư bản độc quyền, rất nhiều tập đoàn dạng Carten được hìnhthành Tuy nhiên, để đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường, hầu hết các nước

có luật chống độc quyền, chống những liên minh kinh tế kiểu Carten ngăn cảncạnh tranh gây ra ảnh hưởng tiêu cực

Sự liên kết giữa các thành viên trong kiểu mô hình này có thể tạo ra ưuthế kinh tế của hợp tác và lợi dụng được tính kinh tế nhờ qui mô Do đó, cáccông ty thường tìm kiếm những sự liên kết có lợi cho từng công ty và cho cảnhóm để có thể tồn tại và cùng phát triển Hình thức liên kết rất đa dạng, có thểtrên các lĩnh vực như: chính sách giá cả; khối lượng sản phẩm cung cấp; tiêuchuẩn kỹ thuật; hợp tác về công nghệ; thị trường tiêu thụ (phân chia để tránhcạnh tranh trực tiếp); v.v…

-Mô hình thứ hai: Mối liên kết giữa các công ty thành viên rất chặt chẽ,

mức độ phụ thuộc lẫn nhau rất cao, các thành viên bị hạn chế tính độc lập Nóichung với hình thức này, cơ sở kinh tế của sự liên kết chặt chẽ trong nội bộ tậpđoàn là quyền sở hữu, giữa các công ty có sự nắm giữ cổ phiếu của nhau hoặc cómột công ty mạnh nhất chi phối cả tập đoàn Về mặt cấu trúc có thể chia thành

ba dạng hình thức khác nhau:

Một là: Các công ty thành viên có liên kết dọc về công nghệ và sử dụng

sản phẩm (đầu ra) của nhau Chẳng hạn như tập đoàn Mitshubishi (Nhật Bản) làmột tập đoàn gồm các công ty sử dụng liên tiếp các sản phẩm đầu ra của nhaunhư khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy và sản xuất linh kiện kim loại Môhình tập đoàn theo hình thức này gọi là ‘mô hình liên kết dọc’

Hai là: Tập đoàn có liên kết theo chiều ngang: Trong loại này, các công ty

có quan hệ với nhau về sản phẩm hay dịch vụ bổ trợ cho nhau hoặc các sảnphẩm cho cùng một nhóm khách hàng hoặc cùng một nhóm mục tiêu sử dụng

Ví dụ, trong tập đoàn LG (Hàn Quốc) có tổ hợp các công ty sản xuất máy tính,

Trang 10

công ty sản xuất máy in, máy photocopy và thiết bị văn phòng, công ty sản xuấtgiấy, hay tổ hợp sản xuất máy phục vụ gia đình như tivi, máy giặt, tủ lạnh,điều hoà,.v.v các công ty này liên kết lại với nhau để tạo ra lợi thế chung Môhình tậo đoàn theo hình thức này gọi là ‘mô hình liên kết ngang’

Ba là: Tập đoàn có ‘mô hình liên kết hạt nhân’: Giữa các công ty thànhviên có sự liên kết về công nghệ, hoặc thị trường nhưng xoay quanh một nhómsản phẩm mũi nhọn Ví dụ tập đoàn Ganeral Motors (Mỹ) cung cấp các sảnphẩm và dịch vụ khác nhau nhưng sản xuất ôtô là hạt nhân của cả tập đoàn Rấtnhiều các tập đoàn mạnh trên thế hiện nay đều theo mô hình này hoặc kết hợp

mô hình này với hai mô hình trên

-Mô hình thứ ba: Do sự phát triển cao của thị trường tài chính , hình

thành kiểu tập đoàn có hạt nhân liên kết là công ty tài chính Công ty ‘mẹ’ làcông ty tài chính nắm giữ cổ phần chi phối các công ty ‘con’ Sự phát triển caocủa thị trường tài chính cho phép một công ty có thể kiểm soát tổng số vốn vàtài sản lớn hơn nhiều so với số vốn của bản thân nó bằng cách sở hữu trên 50%

số cổ phần của công ty khác Do đó các công ty trong tập đoàn không nhất thiết

có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay kỹ thuật Hình thức công ty ‘mẹ’thuộc loại này đang trở nên phổ biến

Conglomerate là hình thức liên kết giữa các công ty không cùng ngành

Từ điển thương mại Anh - Pháp - Việt đã định nghĩa conglomerate là: “Một tổchức kinh doanh, nói chung, bao gồm một công ty mẹ và một nhóm các công tychi nhánh liên kết với nhau trong những hoạt động không giống nhau”

Dưới hình thức Conglomerate, tập đoàn có đặc điểm đa ngành, đa lĩnhvực Các công ty thành viên chịu sự chi phối và kiểm soát của công ty ‘mẹ’nhưng giữa chúng có thể có sự khác nhau lớn về kỹ thuật và công nghệ Nhữngnăm gần đây, các công ty ‘mẹ’ còn thường xuyên thay đổi hệ thống của tập đoànthông qua việc bán hoặc mua quyền sở hữu các công ty khác Sự thôn tính, sápnhập hoặc bán bớt các công ty chi nhánh đã trở nên phổ biến

Trang 11

Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện hìnhthành những tập đoàn đa ngành kiểu conglomerate Thông thường, công ty ‘mẹ’

là công ty tài chính hoặc gắn liền với công ty mẹ là các công ty tài chính và cácngân hàng thương mại, do đó thế lực của loại tập đoàn này là rất lớn Rất nhiềucác tập đoàn trên thế giới hiện nay như Siemen, Mitshubishi, Mitsui , thuộcdạng này

Ngoài ra, các Kozern (Concern) - một hình thức có nguồn gốc từ Đứctrước Chiến tranh thế giới II- cũng có mô hình thuộc dạng này Đóng vai trò hạtnhân trong Konzern cũng có một công ty ‘mẹ’ nắm quyền kiểm soát về tài chínhbằng cách nắm giữ cổ phần của các công ty thành viên Tên của tập đoàn thườnglấy theo tên của công ty ‘mẹ’

1.1.2.3 Đặc trưng của các mô hình tập đoàn kinh doanh

Mặc dù có nhiều mô hình tập đoàn kinh doanh khác nhau như vậy nhưnggiữa chúng có những đặc trưng chung, đó là:

-Hình thức tổ chức và mối quan hệ kinh tế: Các tập đoàn kinh tế là các tổ

chức liên kết về kinh tế Sự liên kết chặt hay lỏng giữa các thành viên tuỳ thuộcvào mức độ liên kết về tài chính và lợi ích kinh tế Về hình thức tổ chức, trongtập đoàn có một công ty ‘mẹ’ và các công ty thành viên Các công ty thành viênvẫn giữ tính độc lập về mặt pháp lý Mối quan hệ giữa các thành viên chủ yếudựa trên mối quan hệ liên kết về lợi ích kinh tế và được thực hiện thông qua cáchợp đồng hoặc thoả thuận kinh tế

-Phương thức quản lý và chiến lược kinh doanh: Thông thường các tập

đoàn kinh doanh có Hội đồng quản trị để quản lý tập đoàn và trụ sở thường nằm

ở công ty ‘mẹ’ Hội đồng quản trị này được hình thành theo nguyên tắc số vốn

cổ đông đóng góp của các thành viên Hội đồng quản trị tập đoàn (hay công ty

‘mẹ’ của tập đoàn) chỉ kiểm soát về mặt tài chính, chiến lược đầu tư thông quacác đòn bẩy kinh tế, còn các thành viên hoàn toàn tự chủ trong quyết định hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình Ở các công ty thành viên có hội đồng quản

Trang 12

trị và ban giám đốc riêng để lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động sảnxuất kinh doanh của từng công ty đó

-Nguyên tắc hoạt động: Tối đa hoá lợi nhuận là nguyên tắc luôn được

khẳng định trong mọi trường hợp

Trong quá trình phát triển và chọn lọc lâu dài của các tập đoàn, các ưuđiểm của từng mô hình tập được học tập và đúc rút kinh nghiệm để ngày mộthoàn thiện và phát triển mạnh mẽ hơn Một số đặc trưng được xem là ưu điểm

và phổ biến hiện nay của các mô hình tập đoàn kinh doanh là:

Một là, sự chuyên môn hoá về tài chính của công ty ‘mẹ’ Trong mô hình

tập đoàn kinh doanh kinh doanh đa ngành (mô hình thứ ba - các Conglomerate).các công ty ‘mẹ’ (holding company - holding theo tiếng Anh có nghĩa là “nắmgiữ”) chuyên môn hoá trong lĩnh vực đầu tư nắm giữ cổ phiếu của các công ty

‘con’, thay đổi cấu trúc và hoạt động của tập đoàn kinh doanh thông qua việcmua bán quyền sở hữu các công ty

Trong mô hình này các tập đoàn kinh doanh thường có các công ty tàichính thành viên, công ty bảo hiểm và ngân hàng thành viên trợ giúp quản lý tàichính cho tập đoàn Vai trò của các công ty này là rất lớn, đặc biệt là công ty tàichính trong việc huy động vốn và điều hoà và luân chuyển vốn giữa các thànhviên trong tập đoàn Bên cạnh đó các công ty bảo hiểm, các ngân hàng thànhviên cũng trợ giúp rất lớn cho công ty ‘mẹ’ trong việc điều hành và kiểm soát tàichính của tập đoàn

Hai là, tính chất đa ngành của các mô hình tập đoàn đang ngày càng trở

nên phổ biến Các tập đoàn kinh doanh sau khi phát triển lớn mạnh đều mở rộnghoạt động của mình sang nhiều lĩnh vực khác nhau Các tập đoàn hầu hết đều cóngành kinh doanh chiến lược và ngành kinh doanh phụ trợ, trong đó lĩnh vực tàichính, ngân hàng và bảo hiểm được ưu tiên phát triển trong điều kiện thị trườngtài chính phát triển cao như hiện nay Trong điều kiện nền kinh tế và thị trườngtài chính chưa phát triển hoặc đối với các tập đoàn kinh doanh mới hình thành

Trang 13

thì việc tập trung vào lĩnh vực mũi nhọn phải được chú trọng hơn vì đây làngành kinh doanh đem lại hiệu quả chắc chắn cho tập đoàn

Ba là, tính chất đa sở hữu của tập đoàn kinh doanh Có thể nói đây là đặc

điểm gần như của tất cả các tập đoàn kinh doanh trên thế giới Không thể có tậpđoàn kinh doanh nào chỉ có một chủ sở hữu mà có thể huy động được nguồn vốnđáp ứng được nhu cầu phát triển không có giới hạn của các tập đoàn Đa sở hữulàm tăng hiệu quả quản lý của tập đoàn do cơ chế kiểm soát bởi nhiều chủ sởhữu, trong đó có bản thân các nhà quản lý trong tập đoàn

Bốn là, về quản trị tập đoàn: cấu trúc phân quyền, sự tham gia của Nhà

nước, người lao động và các chủ sở hữu trong mô hình quản trị tập đoàn kinhdoanh Hiện nay, không có quy luật chung nào là ưu điểm cho các đặc trưngnày, các tập đoàn kinh doanh của mỗi nước đều có một cách thức riêng phù hợpvới điều kiện môi trường và thói quen kinh doanh của nước đó Trong mỗi thời

kỳ, mỗi giai đoạn nổi lên một cách thức quản lý được xem là có ưu thế hơn Một

số đặc trưng trong mô hình quản trị tập đoàn của các nước có thể thấy như sau:

- Mỹ: là mô hình thống nhất ngang trong cấu trúc phân quyền Thành lậpHội đồng Giám đốc, bao gồm nhiều Giám đốc phụ trách theo các tiêu thức khácnhau về khách hàng, khu vực, bộ phận Nhà nước ít tham gia mà chỉ tạo môitrường ổn định cho nền kinh tế, mức độ luật định thấp Công đoàn tham gia tựnguyện, nhỏ và yếu, quyền của người lao động bị hạn chế, hầu như không đượctham gia điều hành hoạt động công ty

- Nhật bản: Là mô hình thống nhất ngang giống như mô hình của Mỹnhưng mở rộng hơn Cũng có Ban giám đốc hay Hội đồng Giám đốc nhưng cóthêm Uỷ ban quản lý Người lao động có nhiều ảnh hưởng bởi họ làm việc lâudài và gắn bó với công ty, tuy nhiên công đoàn hoạt động yếu và chịu ảnh hưởngcủa chính trị Chính phủ can thiệp mạnh vào nền kinh tế, thực thi chính sách ủng

hộ và định hướng phát triển cho các tập đoàn kinh doanh, các quan chức chínhphủ và giới kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ

Trang 14

- CHLB Đức: Là loại mô hình tách rời ngang trong việc phân chia quyềnlực Thành lập hội đồng quản trị và Ban điều hành, có sự phân biệt tách rời giữaHội đồng quản trị và Ban điều hành với chức năng và nhiệm vụ khác nhau.Chính phủ điều tiết và duy trì độc quyền một số dịch vụ công ích Quyền củangười lao động có nhiều ảnh hưởng thông qua Công đoàn hay Hội đồng côngnhân và được quy định trong điều lệ về quyền tham gia của người lao độngtrong các vấn đề quan trọng của công ty.

- Trung Quốc: Là mô hình tách rời ngang giống của Đức nhưng có nhiềuchủ thể tham gia quản lý hơn Thành lập Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc vàBan giám sát, xử lý hài hoà mối quan hệ giữa HĐQT, Ban Giám đốc, Ban giámsát với Ban chấp hành Đảng bộ, Ban chấp hành Công đoàn và Đại hội Côngnhân viên chức Bí thư Đảng uỷ và Chủ tịch Hội đồng quản trị do một ngườiđảm nhiệm, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc về lý thuyết phảiriêng biệt Chính phủ phi tập trung hoá quyền lực, xoá bỏ sự can thiệp thái quácủa nhà nước, hỗ trợ cho sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh và địnhhướng thị trường theo xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc v.v

Cách đây một vài thập kỷ, các tập đoàn của Mỹ còn học hỏi văn hoá quản

lý của người Nhật, giờ đây họ lại coi đó là nguyên nhân gây ra sự chậm pháttriển Các tập đoàn Đức thường được ca ngợi bởi cấu trúc chặt chẽ, tính phápluật cao, thì nay bị phê phán là không thích nghi với sự thay đổi của môi trườngkinh doanh Các tập đoàn Hàn Quốc còn được coi là sự kết hợp hiệu quả của các

mô hình trên và tập trung quyền lực cho những người thân trong gia đình, thìsau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, đã bộc lộ những yếu kém về quản lýtập đoàn theo hình thức gia đình trị, gây thất thoát vốn Các tập đoàn của Mỹgiai đoạn hiện nay đang thắng thế và có khả năng trở thành khuôn mẫu cho cácnước phát triển

1.1.3 Các ưu thế của tập đoàn kinh doanh trong phát triển kinh tế xã hội.

Trang 15

Một là, Sự liên kết của Tập đoàn kinh doanh sẽ làm tăng sức mạnh kinh tế

và khả năng cạnh tranh của cả tập đoàn cũng như của từng công ty thành viên.Quá trình tích tụ và tập trung vốn diễn ra nhanh và mạnh trong các tập đoàn vìvậy cho phép các tập đoàn liên tục đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnhtranh, thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường

Hai là, Tập trung điều hoà vốn, việc hình thành tập đoàn kinh doanh là

một đòi hỏi khách quan nhằm khắc phục những hạn chế về vốn của từng công ty

cá biệt Các công ty cá biệt thường hạn chế về vốn trong khi đó nhu cầu pháttriển kinh tế thị trường đòi hỏi các công ty phải thay đổi công nghệ liên tục và

có đội ngũ nhân viên kỹ thuật cao có nghĩa là phải có vốn lớn và trường vốn mớiđáp ứng được Do đó việc ra đời các tập đoàn đã khác phục được tình trạng thiếuvốn của các công ty nhỏ lẻ

Ba là, Thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ, thành lập tập đoàn còn

là giải pháp hữu hiệu, tích cực cho đẩy mạnh nghiên cứu triển khai, ứng dụngkhoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên.Công ty ‘mẹ’ là nơi định hướng chiến lược phát triển, tập trung nguồn vốn đểnghiên cứu triển khai những tiến bộ khoa học mới cho cả tập đoàn, có nhiều tậpđoàn trong đó công ty ‘mẹ’ chỉ chi phối tập đoàn thông qua bí quyết công nghệ

Do đó sự hình thành tập đoàn sẽ tạo điều kiện thúc đẩy quá trình nghiên cứu vàứng dụng những khoa học công nghệ mới vào quá trình sản xuất của tập đoànnói riêng và nền kinh tế nói chung

Bốn là, Ứng dụng và chuyển giao công nghệ có hiệu quả Các tập đoàn

lớn phát triển thành các công ty đa quốc gia sẽ thiết lập được các mối quan hệthương mại với nhiều nước trên thế giới.Thông qua các tập đoàn đó, những côngnghệ tiên tiến ở các nước phát triển sẽ được chuyển giao một cách có hiệu quảnhất, bởi vì quá trình ứng dụng và chuyển giao sẽ trở nên dễ dàng thông quahoạt động sản xuất kinh doanh giữa các công ty ‘con’ của tập đoàn trên lãnh thổcủa nhiều nước

Trang 16

Năm là, Tập đoàn kinh doanh tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh

quốc gia khi tham gia cạnh tranh quốc tế và thực hiện các mục tiêu xã hội Mộtđất nước có nền kinh tế mạnh nhất thiết phải có các doanh nghiệp lớn mạnh, khảnăng cạnh tranh của nền kinh tế được thể hiện thông qua sự lớn mạnh của cácdoanh nghiệp Do đó, để có thể cạnh tranh được trên trường quốc tế thì quốc gia

đó phải có những tập đoàn kinh tế mũi nhọn, lớn mạnh để gia nhập vào nền kinh

tế thế giới cũng như thực hiện được các mục tiêu xã hội của đất nước

Như vậy, các tập đoàn kinh doanh có ưu thế rất lớn cho sự phát triển kinh

tế xã hội của một đất nước Đối với Việt Nam, việc hình thành và phát triển cáctập đoàn kinh tế mạnh là một hướng đi đúng đắn trong phát triển kinh tế xã hội

và gia nhập kinh tế quốc tế Chủ trương này đang được Đảng và Nhà nước ta hếtsức quan tâm

1.2 PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN TRONG TẬP ĐOÀN KINH DOANH

1.2.1 Khái niệm về phương thức huy động vốn

Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp vàtiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốnđược đầu tư vào sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, tức là làm tăng thêmgiá trị cho chủ sở hữu doanh nghiệp.Quá trình cung ứng các nguồn vốn cho hoạtđộng của các doanh nghiệp được gọi là sự tài trợ (financing), bao gồm cácphương thức huy động vốn, tạo nguồn và đảm bảo các nguồn lực tài chính đểdoanh nghiệp hoạt động một cách có hiệu quả Khái niệm phương thức huyđộng vốn của doanh nghiệp có thể hiểu như sau:

Phương thức huy động vốn của doanh nghiệp là hệ thống các phươngpháp và công cụ để khai thác, huy động các nguồn vốn phục vụ cho sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và đảm bảo nguồn vốn cho doanh nghiệp hoạtđộng một cách có hiệu quả nhất

Trang 17

Hiệu quả của phương thức huy động vốn có thể được đánh giá theo cáctiêu chí sau: Chi phí huy động vốn thấp; thời gian và số lượng vốn huy động đápứng đầy đủ và tốt nhất cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ; cáccông cụ vay vốn được sử dụng linh hoạt và cơ cấu các kênh huy động vốn đadạng.v.v

Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanhnghiệp có thể có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau Trongđiều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệpđược đa dạng hoá, giải phóng các nguồn tài chính trong nền kinh tế, thúc đẩy sựthu hút vốn vào các doanh nghiệp Tuy nhiên, đối với nền kinh tế của Việt nam,

do thị trường tài chính phát triển chưa đầy đủ nên việc khai thác vốn có nhữngnét đặc trưng đáng chú ý

Đối với tập đoàn kinh doanh, huy động vốn có những nét khác biệt đặctrưng so với các doanh nghiệp thông thường khác Các tập đoàn kinh doanh cóthể thu hút vốn từ rất nhiều nguồn khác nhau thông qua sự trợ giúp của công tytài chính hoặc ngân hàng thành viên Mô hình liên kết giữa công ty ‘mẹ’ và cáccông ty ‘con’ tạo nên nét đặc trưng riêng trong phương thức huy động vốn nội

bộ và điều hoà vốn giữa các thành viên trong tập đoàn Bên cạnh đó, do quy môlớn của các tập đoàn kinh doanh nên khiến cho việc huy động vốn trở nên khókhăn và phức tạp

1.2.2 Vai trò của phương thức tạo lập và huy động vốn trong tập đoàn kinh doanh

Trong quản lý tài chính của các tập đoàn kinh doanh, việc huy động vốn

có vai trò đặc biệt quan trọng vì khả năng tài chính của tập đoàn phụ thuộc trướchết vào các nguồn vốn huy động được Nếu hoạt động huy động vốn và cơ chếtạo vốn không đáp ứng được yêu cầu về tài chính của từng doanh nghiệp thànhviên thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn

Trang 18

Bên cạnh đó, phương thức huy động vốn còn có vai trò quan trọng trongviệc thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính.

Với tư cách là một bộ phận của cơ chế quản lý tài chính, phương thức huyđộng vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế - xã hội vàphản ánh cơ chế quản lý kinh tế qua mỗi thời kỳ ở một mức độ nào đó Tấtnhiên, mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào tính chất của từng nhân tố kinh tế,chính trị, xã hội và không giống nhau

Các hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp phản ánh mối quan hệtài chính giữa doanh nghiệp và thị trường tài chính, ở một mức độ bao quát hơn

là quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh doanh Do đó, cơ chế huyđộng vốn vừa là sản phẩm của cơ chế quản lý kinh tế vừa là một nhân tố thúcđẩy sự phát triển của thị trường tài chính Nếu thị trường tài chính phát triểnmạnh và đa dạng thì sẽ tạo điều kiện đa dạng hoá các hình thức và kênh thu hútvốn cho doanh nghiệp Qua kinh nghiệm của nhiều nước cũng như thực tiễnphát triển kinh tế nước ta cho thấy: mối quan hệ giữa cơ chế hoạt động huy độngvốn và hệ thống tài chính là mối quan hệ biện chứng phụ thuộc lẫn nhau, tácđộng bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia

Đối với các tập đoàn kinh doanh, các tổng công ty cũng như các doanhnghiệp nhà nước khác ở nước ta, cơ chế huy động vốn đã có những thay đổi nhấtđịnh và được điều chỉnh phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế qua các thời kỳ khácnhau Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, các chính sách, quy định

về huy động vốn đã từng bước được điều chỉnh

1.2.2 Nội dung phương thức huy động vốn của tập đoàn kinh doanh

a) Huy động vốn bằng đầu tư từ ngân sách Nhà nước:

Đối với tập đoàn kinh doanh, Nhà nước đóng vai trò như một cổ đông củatập đoàn, thực hiện đầu tư vốn cho tập đoàn, thông qua đó quyết định mức độ sởhữu của Nhà nước đối với tập đoàn kinh doanh

Trang 19

Ở một số nước trong đó có Việt Nam, một số tập đoàn kinh doanh có tínhchất chiến lược trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân thì Nhà nước chiếm sởhữu 100% hoặc trên 50% giá trị cổ phần của tập đoàn Nhà nước thường tiếnhành đầu tư vốn cho các tập đoàn kinh doanh thông qua công ty ‘mẹ’, sau đócông ty ‘mẹ’ tiếp tục huy động thêm vốn và đầu tư cho các công ty ‘con’ Vốn

mà công ty ‘mẹ’ đầu tư cho các thành viên không chỉ có vốn Nhà nước mà còn

là vốn đi vay, vốn của các chủ sở hữu khác Vì vậy, Nhà nước không quản lývốn trong các công ty ‘con’ mà chỉ quản lý vốn nhà nước trong công ty ‘mẹ’.Nhà nước nắm giữ công ty ‘mẹ’ thông qua sở hữu đa số cổ phiếu và đầu tư vốncho tập đoàn thông qua công ty ‘mẹ’

b)Huy động vốn từ thị trường chứng khoán:

Các tập đoàn kinh doanh có thể huy động vốn bằng cách phát hành chứngkhoán ra thị trường tài chính.Tuỳ theo nhu cầu và mục đích của việc huy độngvốn và tuỳ theo mô hình công ty mà các tập đoàn có thể phát hành các loạichứng khoán ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn Loại chứng khoán phát hành là cổphiếu hoặc trái phiếu công ty Để lựa chọn hình thức huy động vốn bằng pháthành trái phiếu hay cổ phiếu cần căn cứ trên những yếu tố sau (tất nhiên việcphát hành cổ phiếu chỉ được thực hiện đối với công ty cổ phần):

Khái niệm:

Cổ phiếu là giấy xác nhận sự

tham gia góp vốn của một chủ thể

(gọi là cổ đông) vào một công ty, tức

là xác nhận cổ đông có quyền sở hữu

một phần đối với công ty theo tỷ lệ

phần trăm cổ phiếu của cổ đông đó

Trái phiếu công ty là giấy tờ ghi nợ dodoanh nghiệp phát hành nhằm huy độngvốn trung và dài hạn với các điều kiện vềmệnh giá, lãi suất và thời hạn xác định.Khi công ty phát hành trái phiếu tức làcông ty đó thực hiện một quan hệ tín dụngthông qua việc mua bán các công cụ tài

Trang 20

chính ra thị trường chứng khoán.

Quan hệ sở hữu và quyền quản lý:

Cổ phiếu là công cụ quan trọng

để kiểm soát tập đoàn thông qua sở

hữu Thông qua nắm giữ cổ phiếu, cổ

đông có quyền tham gia điều hành

công ty, nếu tỷ lệ cổ phiéu nắm giữ là

đa số thì cổ đông đó sẽ nắm quyền

kiểm soát công ty Huy động bằng cổ

phiếu là tăng thêm vốn chủ sở hữu,

tăng mức độ an toàn và giảm nguy cơ

phá sản khi doanh nghiệp gặp khó

khăn

Trái phiếu không làm thay đổi quan

hệ sở hữu trong công ty, tức là không ảnhhưởng đến quyền quản lý và kiểm soátcông ty, do đó nó được coi là biện pháp antoàn về mặt sở hữu để huy động vốn Tuynhiên, nó có liên quan mật thiết với khảnăng tín dụng của công ty Khi phát hànhthêm trái phiếu mà không thay đổi vốn chủ

sở hữu thì tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu vớivốn vay sẽ giảm, phản ánh độ tin cậy tíndụng giảm

Chi phí vốn của việc phát hành:

Chi phí vốn của việc phát hành

cổ phiếu gồm cổ tức chia cho người

nắm giữ cổ phiếu (cổ đông) và các

chi phí phát hành Cổ tức trả cho cổ

đông lấy từ lợi nhuận sau thuế nên

không được đưa vào chi phí tài chính

của doanh nghiệp

Chi phí vốn của việc phát hành tráiphiếu bao gồm lợi tức trái phiếu phải trảcho người mua trái phiếu (trái chủ) và cácchi phí phát hành Chi phí này thuộc nhómchi phí lãi vay, được hạch toán vào chi phítài chính của doanh nghiệp và có đượckhoản tiết kiệm nhờ thuế

Tính linh hoạt:

Đối với công ty, sử dụng công

cụ cổ phiếu thì tính linh hoạt thấp hơn

so với trái phiếu

Trái phiếu có thời hạn xác định và cóthể điều chỉnh khối lượng phát hành tuỳtheo nhu cầu về vốn và tình hình thực tế.Chia sẻ rủi ro:

Các cổ đông đều tham gia chia sẻ

rủi ro với công ty vì họ là những chủ

Các trái chủ thì được công ty bảođảm quyền được nhận lợi tức trái phiếu 1

Trang 21

sản thì cổ tức se được phân chia san

khi đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho

Đối với tập đoàn kinh doanh, phát hành trái phiếu và cổ phiếu là công cụquan trọng để huy động vốn cho sản xuất kinh doanh Đặc biệt, cổ phiếu là công

cụ quan trọng để kiểm soát tập đoàn thông qua sở hữu Để nghiên cứu cấu trúc

sở hữu cổ phần của các tập đoàn kinh doanh có thể tham khảo trường hợp củacác tập đoàn kinh doanh ở Hàn Quốc như trong bảng:

Bảng 1.1: Quyền sở hữu của các TĐKD Hàn Quốc phân theo thành viên trong

nội bộ (tỷ lệ % so với các cổ phần hiện có)

sáng lập

Cổ đông khác

Các công ty thành viên Tổng số

(Nguồn: Đông Á - Con đường dẫn đến hồi phục,WorldBank 1999)

Có thể thấy, nhờ cơ chế sở hữu cổ phiếu đan xen lẫn nhau nên các giađình của Hàn Quốc có thể kiểm soát chặt chẽ toàn bộ tập đoàn kinh doanh lớn

mà không nhất thiết phải nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu lớn trong tập đoàn Người sánglập công ty và những người thân trực tiếp có thể nắm một tỷ lệ nhỏ của các cổphần (từ 3-15%) của Cheabol, nhưng quyền sở hữu liên công ty của các công tythành viên Cheabol làm tăng tổng sở hữu nội bộ có thể lên tới 60% như trongbảng

Trang 22

Tuy nhiên, vấn đề thâu tóm quyền kiểm soát các công ty là một vấn đềphức tạp Việc cho phép sử dụng vốn của chính các công ty ‘con’ để sở hữu lạicông ty ‘mẹ’ có thể làm thay đổi trật tự trong việc kiểm soát Công ty ‘con’ cóthể lớn mạnh và dành quyền kiểm soát tập đoàn và trở thành công ty ‘mẹ’, làmthay đổi chủ sở hữu nắm quyền kiểm soát tập đoàn kinh doanh

Bên cạnh đó, có thể sử dụng sở hữu nội bộ khiến cho các nhà quản lý có

cổ phần trong công ty tích cực hơn trong việc tạo ra lợi nhuận, tuy nhiên, việc sửdụng vốn vay để mua cổ phần của các công ty nhằm nắm quyền kiểm soát sẽlàm cho hệ số nợ của tập đoàn tăng lên Nếu hệ số nợ tăng quá mức dễ dẫn đếnnguy cơ phá sản khi công ty gặp khó khăn, mất khả năng thanh toán hoặc trongđiều kiện nền kinh tế suy thoái “Lực đòn bẩy tăng lên - kết quả của những vụnắm quyền kiểm soát hay LBO (Leveraged by out: mua hết cổ phần bằng vaynợ) có thể khiến cho nền kinh tế dễ đổ vỡ và mất ổn định” (F.Mishkin)

Với xu hướng hiện nay, hầu hết quá trình tín dụng trong các tập đoàn kinhdoanh được phân cấp và tự do hoá; trong đó mở rộng vai trò của các công tythành viên để nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh Trong tậpđoàn, các công ty thành viên được chủ động vay vốn và phát triển theo địnhhướng chiến lược của tập đoàn

Trang 23

Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hạn chế của nguồn vốn tín dụng làmức độ rủi ro và khả năng gây tổn thất khi không đáp ứng được khả năng thanhtoán khi đến hạn Vì thế, để đảm bảo sự an toàn chung của cả hệ thống , các tậpđoàn kinh doanh phải thực hiện những biện pháp nhằm kiểm soát hoạt động vayvốn tín dụng, nhất là tín dụng ngân hàng và việc phát hành trái phiếu công ty

Một trong những vấn đề trọng tâm của cơ chế kiểm soát tín dụng là: mốiquan hệ giữa tính chủ động, linh hoạt, hiệu quả và sự an toàn về tín dụng của tậpđoàn Một số biện pháp thường được áp dụng là:

- Tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ của các công ty thành viên và hệthống kiểm soát quản trị của toàn bộ tập đoàn

- Thiết lập các giới hạn tín dụng và các chỉ tiêu kiểm tra ngăn ngừa việcvay vốn không có hiệu quả hoặc không an toàn

- Hệ thống quản lý toàn bộ quy trình tín dụng của mỗi doanh nghiệp baogồm việc xây dựng luận chứng vay vốn và sử dụng vốn có hiệu quả

Đối với tập đoàn kinh doanh, để huy động bằng hình thức tín dụng thì vaitrò của công ty ‘mẹ’ và công ty tài chính là rất quan trọng Để vay được vốnngân hàng với lãi suất thấp, tín dụng thương mại với các đối tác kinh doanh, vayvốn từ các tổ chức tài chính trong và ngoài nước thì công ty ‘mẹ’ thường sửdụng uy tín và tiềm lực của mình để vay vốn về cho tập đoàn sau đó thông quacông ty tài chính cho các công ty ‘con’ vay lại

Thương hiệu và sức mạnh tài chính của công ty ‘mẹ’ sẽ giúp công ty nàyvay vốn dễ dàng hơn các công ty ‘con’, đó chính là ưu điểm của mô hình tậpđoàn kinh doanh Với cơ chế lãi suất thoả thuận, công ty mẹ có thể vay vốn củacác tổ chức tín dụng với các lãi suất thấp trong thời gian dài, sau đó đầu tư chocác công ty ‘con’ hoặc cho các công ty ‘con’ vay lại thông qua công ty tài chính.Bên cạnh đó, công ty tài chính của tập đoàn dựa vào uy tín của công ty ‘mẹ’, kếthợp với khả năng chuyên môn để tiến hành huy động vốn dưới nhiều hình thứctín dụng khác nhau Công ty tài chính sử dụng khả năng của mình liên kết vớicác tổ chức tài chính - tín dụng trong và ngoài nước để huy động nguồn vốn tín

Trang 24

dụng về cho tập đoàn kinh doanh Vì vậy công ty ‘mẹ’ và công ty tài chính củatập đoàn kinh doanh có vai trò quan trọng là tạo nguồn, tạo kênh dẫn vốn chocác công ty ‘con’ của tập đoàn.

d)Huy động vốn bằng hình thức khai thác nguồn vốn nội bộ:

Tự huy động nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn vốn củacác tập đoàn kinh doanh được áp dụng khá phổ biến, nhờ đó các công ty pháthuy được năng lực của chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, nhất

là khi có các biến động trên thị trường tài chính Tự huy động bằng nguồn vốnnội bộ gồm hai hình thức chính đó là nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại vàlưu chuyển vốn nội bộ

Nhiều công ty coi trọng biện pháp tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, trong kếhoạch hàng năm công ty đặt ra mục tiêu tỷ lệ phần trăm vốn tái đầu tư cần đạtđược nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng Tuy nhiên đối với các công

ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận có liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm.Khi công ty để lại lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư tức là không dùng số lợinhuận đó để chia lãi cổ phần Các cổ đông không nhận được tiền lãi nhưng bùlại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng thêm của công ty

Lưu chuyển vốn giữa công ty ‘mẹ’ với các công ty ‘con’, hoặc giữa cáccông ty chi nhánh với nhau có các hình thức khác nhau như: Tín dụng nội bộ,trao đổi các tài sản, đầu tư nội bộ, điều hoà và cấp phát vốn.v.v Trong đó hìnhthức tín dụng nội bộ được áp dụng phổ biến nhất Sự lưu chuyển vốn nội bộ tạo

ra khả năng điều hoà và sử dụng tối ưu nguồn lực tài chính của tập đoàn Đây làmột trong những đặc trưng tài chính chỉ có ở tập đoàn kinh doanh mà các doanhnghiệp khác không có

Đối với thức tín dụng nội bộ, các tập đoàn kinh doanh thường có các công

ty tài chính làm nhiệm vụ điều hoà vốn giữa các thành viên trong tập đoàn Cáccông ty tài chính sẽ điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu trên cơ sở quan hệtín dụng bình đẳng giữa các thành viên của tập đoàn Lãi suất vay vốn nội bộ làlãi suất thoả thuận và là nhân tố kích thích sự di chuyển có hiệu quả nguồn vốn

Trang 25

từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn Vì thế nguồn vốn trong tập đoàn sẽ đượcphân phối điều hoà và sử dụng có hiệu quả hơn.

Trong các tập đoàn đa quốc gia, do phạm vi phân bố và hoạt động ở nhiềuquốc gia khác nhau nên các hoạt động khai thác và lưu chuyển các nguồn tàichính nội bộ rất phức tạp và có ý nghĩa quan trọng Giữa các công ty thành viênvới nhau và công ty mẹ phải thiết lập được một hệ thống trao đổi các nguồn tàichính (được gọi là Internal financial transfer-IFT) Hệ thống IFT cho phép thựchiện các hoạt động lưu chuyển, điều hoà vốn trong nội bộ tập đoàn với chi phíthấp và có hiệu quả cao Một số tập đoàn nguồn tài chính nội bộ có thể chiếm tỷtrọng rất cao từ 40% đến 50% thậm chí đến 70% trong tổng nguồn vốn của cáccông ty

1.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN ĐỐI VỚI CÁC TẬP ĐOÀN KINH DOANH TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1 Kinh nghiệm từ các mô hình quản trị của một số tập đoàn kinh doanh trên thế giới

a) Kinh nghiệm của tập đoàn France Telecom (FT) của Cộng hoà Pháp

Năm 1987, cộng hoà Pháp thực hiện mở cửa thị trường viễn thông Saukhi thực hiện chính sách này, trên thị trường của Pháp có tới trên 900 doanhnghiệp với tư cách là nhà cung cấp hoặc là nhà khai thác dịch vụ bưu chính viễnthông

Sau 3 năm chuẩn bị, tháng 3 năm 1991, Tập đoàn FT của Cộng hoà Phápđược thành lập trên cơ sở tách biệt quản lý Nhà nước và kinh doanh về bưuchính viễn thông FT được tách riêng hoạt động theo luật doanh nghiệp và cácquy định về bưu chính viễn thông do một tổ chức quản lý thống nhất tất cả cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông: Asiciate RegulationsTelecom (ART-Trực thuộc hạ viện Pháp) Tổ chức này ban hành các quy địnhquản lý thống nhất tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông,

Trang 26

các quy định dựa trên cơ sở luật ban hành và các quyết định của Liên minh Châu

Âu về bưu chính viễn thông

FT là tập đoàn kinh doanh sở hữu chủ yếu của Nhà nước, có nhiều doanhnghiệp thành viên trực thuộc, phạm vi hoạt động trên toàn bộ lãnh thổ Pháp vàkinh doanh tại nhiều nước trên thế giới, tổ chức sản xuất kinh doanh của FT tạiPháp được chia theo sự quản lý theo các trung tâm vùng gồm có 5 vùng

Huy động vốn của France Telecom: FT huy động vốn từ nhiều nguồnkhác nhau, trong đó nguồn vốn góp của Chính phủ Pháp với tư cách là một nhàđầu tư chiếm 69% Năm 1996, FT thực hiện phát hành cổ phiếu, cổ phần hoámột số doanh nghiệp hoạt động tương đối độc lập như lĩnh vực thông tin diđộng, bưu chính, công nghiệp viễn thông và phần lớn khai thác các dịch vụ điệnthoại truyền thống Bên cạnh đó FT chú trọng đến phát triển mạng lưới các nhàkhai thác dịch vụ để thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp thuộc thành phầnkinh tế tư nhân Chính nhờ thực hiện đa dạng hoá sở hữu, FT đã khai thác được

số vốn lớn cho đầu tư kinh doanh.(gần 12 tỷ USD bằng phát hành cổ phiếu)

Từ kinh nghiệm quản lý của FT cho thấy, đối với lĩnh vực bưu chính viễnthông Nhà nước phải tách biệt rõ ràng giữa quản lý hành chính và kinh doanh.Các quy định về bưu chính viễn thông do một tổ chức đứng ra quản lý, còn hoạtđộng kinh doanh thì tư cách của nhà nước hoàn toàn là tư cách của một chủ đầu

tư Để huy động được nhiều vốn thì phải thực hiện cổ phần hoá, thực hiện đadạng hoá sở hữu Ở đây, nhà nước vẫn nắm quyền kiểm soát FT nhưng chỉchiếm 60% vốn cổ phần Mở cửa thị trường viễn thông, đa dạng hoá sở hữu đãgiúp tập đoàn huy động được rất nhiều vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

b) Kinh nghiệm của tập đoàn General Motors (GM) của Mỹ.

General Motors Corporation thành lập năm 1916 tại Mỹ GM được thànhlập trên cơ sở hợp nhất các công ty sản xuất ô tô ở Mỹ Sau đó GM liên tục mởrộng hoạt động sang các lĩnh vực như thương mại, xuất nhập khẩu, nghiên cứukhoa học và chuyển giao công nghệ GM có mặt tại hầu hết các thị trường trên

Trang 27

thế giới như Bắc Mỹ, Mỹ La tinh, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Trung Đông.General Motors là một trong những tập đoàn kinh doanh kinh doanh ôtô hàngđầu trên thế giới, các sản phẩm của GM được bán ở hơn 200 nước trên thế giới,bên cạnh đó GM còn cung cấp một số dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, viễnthông, vui chơi giải trí Tổng thu nhập năm 2000 khoảng 190 tỷ USD, tổng tàisản khoảng 350 tỷ USD với khoảng hơn 400.000 nhân viên trên khắp thế giới.

Đặc trưng trong phương thức quản lý vốn của tập đoàn GM là có công tytài chính đóng vai trò là ngân hàng nội bộ cho tập đoàn Năm 1919, GM thànhlập công ty tài chính trực thuộc tập đoàn - General Motors AcceptantCorporation (GMAC), với mục đích ban đầu là cung cấp tài chính cho các đại lýbán hàng của GM, hiện nay công ty tài chính này đã hoạt động mạnh trên 4 lĩnhvực là cung cấp tín dụng cho khách hàng mua ôtô, bảo hiểm, cầm cố và tài trợthương mại GMAC điều tiết vốn cho hoạt động của tập đoàn, tạo cầu nối giữa

GM và thị trường tài chính trong và ngoài tập đoàn, khai thác nguồn vốn từ cácthị trường vốn giá rẻ để tập trung cho các dự án đầu tư lớn của GM Việc chuyểnvốn giữa các công ty thành viên không thực hiện bằng biện pháp hành chính màtheo cơ chế tín dụng thông qua GMAC, lãi suất do tập đoàn điều tiết để đảm bảohài hoà lợi ích của bên vay và bên cho vay Điều này đã tạo ra một sự công bằngtrong kinh doanh đối với các đơn vị thành viên của tập đoàn GM

Kinh nghiệm rút ra từ tập đoàn GM là vai trò của công ty tài chính trongviệc huy động vốn Công ty tài chính tập trung tìm kiếm và huy động nguồn vốngiá rẻ từ các thị trường ở các nơi trên thé giới để tài trợ cho các dự án của tậpđoàn kinh doanh Công ty tài chính hiểu rõ các hoạt động kinh doanh của tậpđoàn, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh mũi nhọn của tập đoàn nên việc đầu tưhiệu quả và chuyên môn hơn Ở tập đoàn GM, trong lĩnh vực kinh doanh ô tô,công ty tài chính thực hiện các chức năng hỗ trợ về vốn để xúc tiến thương mại,đẩy mạnh bán hàng như tín dụng trả góp, bảo hiểm, thế chấp và cầm có tài sảncủa khách hàng để thúc đẩy bán hàng, hỗ trợ vốn cho các đại lý để thực hiện ưuđãi, hỗ trợ khách hàng v.v

Trang 28

c) Kinh nghiệm của tập đoàn Volvo Thuỵ Điển.

Tập đoàn Volvo được thành lập năm1927 với chức năng ban đầu là sảnxuất ô tô khách và hiện nay đang là một tập đoàn công nghiệp hàng đầu Bắc Âuvới các lĩnh vực sản xuất thiết bị vận tải, máy xây dựng, ô tô tải, ô tô buýt, động

cơ vận tải biển, máy bay.v.v Bên cạnh đó Volvo còn thực hiện mở rộng sangmột số lĩnh vực khác như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm và nhiều lĩnh vực khác.Hoạt động nghiên cứu của Volvo được thực hiện tại Thuỵ Điển nhưng các nhàmáy, công ty chế tạo lại được phân bố rộng khắp các nước khác như Bỉ, Hà Lan,Canada và một số nước thuộc vùng Nam Á 80% doanh thu của tập đoàn là từthị trường nước ngoài

Trong tập đoàn Volvo, cũng giống như General Motors, công ty tài chínhđóng vai trò quan trọng, là ngân hàng nội bộ tập đoàn Công ty tài chính củaVolvo trợ giúp huy động và sử dụng vốn, giúp tập đoàn điều hoà lượng vốn, tìmkiếm các nguồn vốn phục vụ cho đầu tư của các chi nhánh Ngoài ra, công ty tàichính này còn thực hiện cung cấp một số dịch vụ quan trọng khác như chuyểntiền, đổi ngoại tệ, cung cấp các giải pháp tài chính cho tập đoàn và các đơn vịthành viên.Trong cơ chế quản lý tài chính, phần lợi nhuận sau thuế khi công tycon trích vào quỹ đầu tư phát triển trên cơ sở các dự án được tập đoàn phê duyệtnếu thừa thì thực hiện chuyển toàn bộ về công ty ‘mẹ’ để phân chia cổ tức vàđầu tư cho công ty khác, trường hợp nếu chi nhánh thiếu vốn đầu tư thì công ty

‘mẹ’ sẽ điều hoà vốn qua công ty tài chính hoặc thực hiện vay vốn theo dự án tạinước sở tại

Kinh nghiệm rút ra từ tập đoàn Volvo là việc điều hoà nguồn vốn nội bộ

và tìm kiếm các nguồn vốn hỗ trợ phát triển cho các thành viên tại các nước màtập đoàn có chi nhánh Công ty ‘mẹ’ của tập đoàn chỉ chuyên môn hoá vào việcnghiên cứu công nghệ ứng dụng và quản lý tài chính tập đoàn còn việc sản xuấtgiao cho các công ty chi nhánh nằm tại các nước khác Lợi nhuận của các công

ty con được tập trung về công ty mẹ để tập trung nghiên cứu triển khai ứng dụng

Trang 29

công nghệ và phân phối, điều hoà vốn trong tập đoàn Vai trò của c tài chínhtrong hoạt động huy động và điều hoà vốn của tập đoàn là rất lớn, công ty tàichính là đầu mối trung tâm trong các hoạt động tài chính của tập đoàn.

d) Kinh nghiệm tập đoàn China Telecom (CT) của Trung Quốc

Tập đoàn CT được thành lập cuối năm 1997 tại Hồng Kông dưới dạngcông ty cổ phần do 2 cổ đông là Tổng cục viễn thông và công ty phát triển thôngtin Trung Quốc, trong đó 51% vốn là của Tổng cục Viễn thông và 49% là củaCông ty phát triển thông tin Trung Quốc Hai cổ đông này đều là công ty 100%vốn nhà nước và chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Bưu điện Trung Quốc Tậpđoàn CT khi thành lập được giao nhiệm vụ khai thác mạng thông tin di động tạihai tỉnh Quảng Đông và Triết Giang Đến tháng 10/1997, công ty cổ phần ChinaTelecom của tập đoàn đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán ở HồngCông và Thượng Hải với trị giá ban đầu khoảng 4 tỷ USD Sau đó tập đoàn này

đã bán 29,9% giá trị công ty cho những nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc cổphần hoá một công ty ‘con’ và đã thu được gần 1 tỷ USD cho công ty ‘mẹ’ làtập đoàn CT

Huy động vốn của tập đoàn kinh doanh này được dựa trên việc lượng hoágiá trị của công ty trên thị trường vốn quốc tế và phát hành cổ phiếu của cáccông ty khai thác cho những nhà đầu tư nước ngoài để bổ sung vốn trực tiếp chocông ty Thông qua hình thức này mà CT đã huy động được lượng vốn đầu tưlớn cho các vùng mà vẫn giữ được quyền quyết định của công ty ‘mẹ’ đối vớicác công ty ‘con’

Trong thị trường viễn thông Trung Quốc, bên cạnh CT, Chính phủ cònthành lập tập đoàn China Unicom cạnh tranh với tập đoàn CT China Unicomcũng là một doanh nghiệp nhà nước nhưng tỷ lệ cổ phần nhà nước nắm giữ chỉchiếm 8-13% với 3 cổ đông quan trọng là: Bộ Điện tử, Bộ Điện lực và BộĐường sắt Công ty China Unicom cung cấp tài chính và tư vấn trong việc xâydựng mạng lưới đối với các nhà khai thác nước ngoài (cũng đồng thời là nhà đầu

Trang 30

tư) dưới dạng phân chia doanh thu Với các hình thức huy động vốn đa dạngnày, Trung Quốc đã huy động được nguồn vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn nướcngoài để phát triển thị trường viễn thông trong nước.

Như vậy, kinh nghiệm của các tập đoàn trong lĩnh vực viễn thông củaTrung Quốc là việc cổ phần hoá, bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài đểhuy động vốn Nhà nước thực hiện cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông và giảm

tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của nhà nước trong các công ty hoạt động trong lĩnh vựcnày Bên cạnh đó, với đặc trưng của Trung Quốc là phân tán quyền lực, việcquản lý và sở hữu vốn nhà nước tại các công ty viễn thông do nhiều cơ quan nhànước tham gia, phối hợp hài hoà cùng nhau quản lý và giám sát hoạt động củacác công ty này

e) Kinh nghiệm của tập đoàn Sam sung Hàn Quốc

Công ty Samsung được thành lập ngày 1/03/1938 tại Taegu - Hàn Quốc.Người chủ đầu tiên xây dựng nền tảng doanh nghiệp của Samsung là ByungChull Lee Ông quyết định đặt tên Samsung vì theo ngôn ngữ Hàn Quốc

Samsung có nghĩa là ba ngôi sao, hàm ý “lớn, mạnh và trường tồn”

Công ty Samsung bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực thương mại, buôn bánnông sản và thuỷ sản, chủ yếu quan hệ thương mại với Trung Quốc Sau chiếntranh thế giới II, công ty chuyển về Seoul với tên chính thức là SamsungCorporation và bắt đầu vươn ra thị trường quốc tế Năm 1969 công ty Điện tửSamsung (Samsung Electrics Co Ltd) được thành lập Trong chiến lược pháttriển, chủ tịch công ty đã nhận xét “ Điện tử là ngành mà Hàn Quốc cần tronggiai đoạn kinh tế hiện nay, có tiềm năng phát triển cả trong và ngoài nước” Sựlớn mạnh trong lĩnh vực điện tử, đặc biệt là lĩnh vực bán dẫn và vi mạch hiệnnay đã chứng minh cho nhận định trên

Với vị thế là một công ty hàng đầu của Hàn Quốc, trong chiến lược pháttriển của công ty, Samsung rất chú trọng xây dựng thương hiệu của tập đoàn.Samsung tích cực đóng góp vào các chương trình xã hội nhằm giành được sự

Trang 31

mến mộ trong công chúng Công ty đã dầu tư nhiều tiền cho các trường đại họcTaegu và Sung Kyun Kwan Ngay từ những năm 1960 công ty đã xây dựng quỹhọc bổng để hỗ trợ dào tạo cán bộ quản lý tương lai của đất nước, quỹ văn hoáSamsung để khuyếch trương văn hoá nghệ thuật Hàn Quốc ở trong nước và trênthế giới Uy tín và thương hiệu của Samsung đã giúp công ty rất nhiều trong lĩnhvực đối ngoại Công ty được ưu đãi vay vốn các ngân hàng và được sự đầu tưlớn từ phía Chính phủ Hàn Quốc

Tháng 11/1988, công ty điện tử và công ty bán dẫn - viễn thông hợp nhất

mở ra cho Samsung một tiềm năng mới trong lĩnh vực khai thác viễn thông diđộng, làm tối đa hoá năng lực công nghệ đa ngành của Samsung Kể từ năm

1990, để tăng cường chất lượng quản lý tập đoàn, Samsung xây dựng một hệ

thống quản lý mới có tên là New Management trong đó chú ý các yếu tố: Coi

trọng nguồn vốn chất xám; Tạo ra tính sáng tạo của tổ chức; Đổi mới công nghệ;Trao quyền rộng rãi hơn cho người lao động

Như vậy, để đảm bảo cho sự phát triển vững chắc và hiệu quả cao, tậpđoàn Samsung đã rất chú trọng trong việc hoàn thiện hệ thống quản lý Có thểtóm lược một số kinh nghiệm trong cách thức quản lý của tập đoàn này như sau:

- Tập đoàn luôn giữ vững sự liên kết rất chặt chẽ giữa các đơn vị thànhviên trong tập đoàn, sự liên kết đó tạo ra khả năng tối đa hoá sức mạnh tổng hợpcủa tập đoàn Vai trò kiểm soát của tập đoàn là rất quan trọng để định hướngphát triển hợp lý nhất cho tất cả các thành viên

- Có chiến lược phát triển tối ưu và tận dụng được các cơ hội phát triểncủa các lĩnh vực mới cũng như điều kiện thay đổi của đất nước, nhất là hệ thốngchính trị Hàn Quốc

- Trong lĩnh vực huy động vốn, tập đoàn Samsung đã khai thác đa dạngcác nguồn lực trong nền kinh tế Công ty ‘mẹ’ của tập đoàn Samsung luônkhuyếch trương hình ảnh và thương hiệu của tập đoàn và nhờ đó đã huy độngđược dễ dàng các nguồn vốn lớn từ phía các nhà đầu tư, ngân hàng, thị trườngchứng khoán và các đối tác kinh doanh

Trang 32

Đặc trưng của Hàn Quốc các tập đoàn kinh doanh lớn và các ngân hàngthương mại liên kết với nhau thành một “tổ hợp tập đoàn kinh doanh” Tập đoànSamsung kết hợp với các tập đoàn lớn khác như Daewoo, Huyndai và cácngân hàng, các công ty tài chính thành một tổ hợp tập đoàn kinh doanh đồ sộ,quyết định sự phát triển của cả nền kinh tế Hàn quốc Sự liên kết thông qua nắmgiữ cổ phiếu của nhau trên thị trường chứng khoán Thông qua sự liên kết nàycác tập đoàn - trong đó có Samsung - dễ dàng huy động huy động nguồn vốn lớnđầu tư cho các dự án của tập đoàn, các ngân hàng liên kết cũng đồng thời giámsát tính hiệu quả của việc sử dụng vốn trong tổ hợp tập đoàn kinh doanh này

1.3.3 Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm về phương thức huy động vốn của các tập đoàn kinh doanh trên thế giới

Qua nghiên cứu một số tập đoàn kinh tế trên thế giới có thể rút ra một sốbài học thực tiễn sau:

Một là, Cần có nhận thức đúng đắn về tập đoàn kinh doanh với các đặc

điểm về mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của nó

Tập đoàn kinh doanh hình thành qua một giai đoạn phát triển lớn mạnhchứ không phải bởi các quyết định thành lập mang tính hình thức Cơ chế vậnhành của tập đoàn kinh doanh là sự gắn kết với nhau bởi lợi ích kinh tế Mô hìnhhoạt động là mô hìnhcông ty ‘mẹ’ (holding company) và các công ty ‘con’ (haycác chi nhánh), trong đó công ty ‘mẹ’ đầu tư vốn và kiểm soát hoạt động củacông ty ‘con’ thông qua số vốn cổ phần chi phối Mô hình tổ chức tập đoànthường là đa cấp và đa sở hữu Chiến lược quản lý đa dạng, mức độ phân quyềnkhác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận

Trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình tập đoàn kinh doanh khác nhau,mỗi mô hình đều có ưu nhược điểm riêng, thích hợp với từng môi trường vàtừng giai đoạn, vì thế phải biết chọn lọc và rút kinh nghiệm để áp dụng mô hìnhtập đoàn kinh doanh thích hợp vào điều kiện phát triển kinh tế ở nước ta

Trang 33

Hai là, Huy động vốn được xem là một yếu tố quan trọng hàng đầu trong

việc phát triển các tập đoàn kinh doanh trên thế giới Để có vốn cho phát triểnsản xuất kinh doanh thì phương thức huy động vốn gồm công cụ huy động vốn

và nguồn huy động vốn phải đa dạng và phù hợp với đặc điểm kinh doanh của

mô hình tập đoàn Các tập đoàn kinh doanh trên thế giới dựa vào nhiều nguồnkhác nhau để huy động vốn, trong đó quan trọng nhất là vai trò của ngân hàng

và thị trường chứng khoán Trong mô hình tập đoàn kinh doanh đa ngành, chứcnăng huy động vốn được chuyên môn hoá tập trung cho công ty ‘mẹ’ hoặc công

ty tài chính thành viên, ngân hàng thành viên thuộc công ty mẹ của tập đoàn

Ba là, Các tập đoàn kinh doanh trên thế giới hầu hết đều có các công ty

tài chính, công ty bảo hiểm hoặc ngân hàng thành viên Các công ty này, đặcbiệt là công ty tài chính, giúp điều hoà vốn giữa các thành viên và kết nối tạokênh dẫn vốn linh hoạt từ thị trường vốn bên ngoài vào các thành viên của tậpđoàn Hoạt động của các công ty này vừa độc lập vừa liên kết là thành viên trợgiúp cho tập đoàn Điều chuyển vốn trong tập đoàn thường là dựa vào quan hệtín dụng nội bộ thông qua công ty tài chính, lãi suất của các khoản vay chính lànhân tố kích thích tính hiệu quả của việc sử dụng vốn

Bên cạnh vai trò trợ giúp cho tập đoàn kinh doanh thì hoạt động của cáccông ty tài chính, bảo hiểm, hay ngân hàng này chủ yếu là hoạt động kinh doanhthu lãi, là một lĩnh vực kinh doanh của tập đoàn Đối với các tập đoàn kinhdoanh đa quốc gia thì vai trò của công ty tài chính là hết sức quan trọng, nó làmắt xích không thể thiếu trong hệ thống chuyển tiền nội bộ, giúp tập đoàn có thểluân chuyển vốn dễ dàng giữa các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới

Bốn là, Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gián tiếp nâng cao khả năng

huy động vốn của tập đoàn kinh doanh, công ty ‘mẹ’ phải có khả năng thiết lậpcác mục tiêu tài chính cụ thể, giám sát và đánh giá kết quả quá trình hoạt độngcủa các công ty ‘con’ Công ty ‘mẹ’ giám sát công ty con bằng cách gửi nhân sựvào cơ quan quyết định của công ty con (Hội đồng quản trị, hội đồng thành viên,ban giam đốc ), và thông qua đó chi phối các hoạt động của công ty con Cơ

Trang 34

chế kiểm soát và chi phối hoạt động cụ thể của các tập đoàn được thực hiện chủyếu thông qua hệ thống tài chính và theo nguyên tắc hiệu quả Công ty ‘mẹ’giám sát thường xuyên liên tục các công ty chi nhánh bằng cách xây dựng hệthống chỉ tiêu định kỳ hàng tháng hàng quý kiểm tra và có các giải pháp giúpcông ty con hoạt động có hiệu quả và chấn chỉnh kịp thời sự phát triển sai hướnghoặc lệch so với mục tiêu chiến lược tập đoàn đề ra.

Năm là, Hoạt động huy động vốn của tập đoàn kinh doanh dựa vào uy tín

và tiềm lực tài chính của công ty ‘mẹ’ để khai thác và tìm kiếm các nguồn vốn

rẻ về cho các công ty ‘con’ và cả tập đoàn Công ty tài chính của tập đoàn đóngvai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho các công ty thành viên của tậpđoàn Nhờ hiểu rõ về hoạt động kinh doanh của tập đoàn và nghiệp vụ chuyênmôn trong lĩnh vực khai thác nguồn vốn, các công ty tài chính thành viên dễdàng huy động các nguồn vốn với số lượng và kênh huy động phù hợp với các

dự án đầu tư của các thành viên trong tập đoàn Đối với tập đoàn kinh doanh đaquốc gia thì việc huy động vốn được tìm kiếm trên thị trường các nước mà tậpđoàn đặt chi nhánh, huy động các nguồn vốn từ nơi nhiều vốn và chi phí thấpđến nơi thiếu vốn và chi phí cao, kết hợp với việc xác định tỷ giá hối đoái vàkinh doanh ngoại tệ

Việc tạo lập vốn của các công ty ‘con’, công ty liên kết của tập đoànthường thông qua các hình thức:

-Tạo lập vốn thông qua hình thức đầu tư vốn của công ty ‘mẹ’ vào công ty

‘con’ và công ty liên kết

-Huy động vốn trong nội bộ tập đoàn, giữa công ty ‘mẹ’ và công ty ‘con’

ở nước ngoài thực hiện thông qua các hợp đồng vay mượn giữa các công ty

-Chu chuyển vốn trong nội bộ tập đoàn: Chu chuyển vốn của các công ty

đa quốc gia có nhiều phương thức, trong đó chủ yếu là phương thức thông quachuyển giá hàng hoá

-Huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán, thị trường tài chính, tíndụng thương mại

Trang 35

Sáu là, Các tập đoàn kinh doanh có thể liên kết với các ngân hàng và các

tập đoàn kinh doanh khác để tạo ra tổ hợp các tập đoàn kinh doanh nhằm pháthuy sức mạnh tổng hợp và huy động tối đa các nguồn vốn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh Ở Hàn Quốc, nền kinh tế được quyết định bởi các tập đoànmạnh trong nước, hình thành một khối liên minh liên kết lẫn nhau để tạo ra sứcmạnh tổng hợp, sử dụng ưu thế chuyên môn hoá của từng ngành để phát triểnnền kinh tế quốc gia Hiện nay ở Việt Nam có thể xem xét trường hợp liên kếtgiữa Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Ngoại thương và các Tổng công

ty, các tập đoàn kinh tế mạnh trong các lĩnh vực công nghiệp mũi nhọn để cùngnhau phát triển và tạo nên sức mạnh chung cho tổ hợp tập đoàn và cho cả nềnkinh tế Việt Nam

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ VỐN ĐỐI VỚI

CÁC TẬP ĐOÀN KINH DOANH Ở VIỆT NAM

TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC TỔNG CÔNG TY VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH DOANH Ở VIỆT NAM

2.1.1 Quá trình hình thành các Tổng công ty 91 và định hướng phát triển các tập đoàn kinh doanh ở Việt nam

Quá trình thí điểm xây dựng các Tổng công ty nhà nước theo mô hình tậpđoàn kinh doanh ở nước ta đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội tronggiai đoạn mới Sự hình thành và phát triển tập đoàn kinh doanh phản ánh xu thếphát triển của lực lượng sản xuất, quá trình tập trung hoá và tích tụ sản xuấttrong nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp liên kết lại để tăng cường thế vàlực trong cuộc cạnh tranh gay gắt trước sức ép của quá trình toàn cầu hoá

Theo định hướng đó, nhằm thực hiện một bước đổi mới trong quá trìnhquản lý kinh tế, ngày 22/3/1989 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã banhành Nghị định 27/HĐBT (hiện nay không còn hiệu lực mà thay bằng Nghị định199/CP) về điều lệ của các liên hiệp xí nghiệp quốc doanh Thời kỳ sau đó,trong những năm 1992 -1993 cả nước có khoảng 250 liên hiệp xí nghiệp và tổngcông ty

Tuy nhiên, do hiệu quả hoạt động thấp và sự phân tán trong sản xuất kinhdoanh, ngày 7/3/1994 Nhà nước thực hiện sắp xếp lại các liên hiệp xí nghiệp vàcác tổng công ty theo chủ trương mới Theo đó, đã có 17 Tổng công ty đượcthành lập thí điểm mô hình tập đoàn kinh doanh theo quyết định 91/TTg và 74Tổng công ty Nhà nước thành lập theo quyết định 90/TTg của Thủ tướng Chínhphủ Việc hình thành các Tổng công ty đặc biệt là các Tổng công ty 91 phát triển

Trang 37

theo mô hình tập đoàn kinh doanh phù hợp với quy luật tất yếu trong quá trìnhphát triển kinh tế ở nước ta.

Bảng 2.1: Các Tổng công ty được thành lập theo Quyết định 91/TTg

Công ty Tài Chính

Số vốn KD (triệu đồng)

Số lao động (người)

1 TCT Bưu chính Viễn

thông Việt Nam

Bộ Bưu chính Viễn thông 84 Đã có 31.241.889 597.386

2 TCT Hàng không Việt

Nam

Cục Hàng không dân dụng VN 19 Chưa có 7.037.119 10.817

3 TCT Than Việt Nam Bộ Công nghiệp 42 Chưa có 4.561.172 85.599

4 TCT Dệt may Việt Nam Bộ Công nghiệp 48 Đã có 6.875.447 90.575

5 TCT Điện lực Việt Nam Bộ Công nghiệp 31 Chưa có 53.412.663 63.212

6 TCT Dầu khí Việt Nam Văn Phòng CP 18 Đã có 34.933.125 85.599

7 TCT Cao su Việt Nam Bộ NN & PTNT 33 Đã có 10.125.807 81.425

8 TCT Cà phê Việt Nam Bộ NN & PTNT 60 Chưa có 1.422.103 21.560

9 TCT Thuốc lá Việt Nam Bộ Công nghiệp 14 Chưa có 1.752.672 9.019

10 TCT Hàng hải Việt Nam Bộ GTVT 27 Chưa có 5.476.792 21.692

11 TCT Hoá chất Việt Nam Bộ Công nghiệp 40 Chưa có 8.071.959 31.100

12 TCT Xi măng Việt Nam Bộ Xây dựng 13 Chưa có 18.334.158 16.608

13 TCT Giấy Việt Nam Bộ Công nghiệp 19 Chưa có 2.375.216 12.000

14 TCT Thép Việt Nam Bộ Công nghiệp 12 Chưa có 5.993.321 19.950

(Nguồn: Cục Tài Chính doanh nghiệp -Bộ tài chính)

Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động, các tổng công ty nhà nước đã dần nổilên sự khác nhau về khả năng phát triển và trình độ tổ chức Trong nhóm 17tổng công ty 91 có một số tổng công ty thể hiện sự phát triển vững chắc, có triểnvọng trở thành tập đoàn kinh tế mạnh Bên cạnh đó có một số tổng công ty đã

Trang 38

doanh trong những năm trước mắt Đánh giá quá trình hoạt động dựa trên cáctiêu chí tổng hợp, Chính phủ và các nhà chuyên môn lựa chọn một số tổng công

ty có thể đầu tư trọng điểm để trở thành tập đoàn kinh tế mạnh như:

1-Tổng công ty Bưu Chính - Viễn thông Việt Nam (Đã có quyết địnhthành lập Tập đoàn số 06/TTg ngày 09/1/2006)

2-Tổng công ty Dầu khí Việt nam (Chủ trương xây dựng Đề án thành lậptập đoàn Dầu khí trong Quyết định 246/TTg ngày 18/11/2003)

3-Tổng công ty Điện lực Việt Nam

4-Tổng công ty Hàng không Việt Nam

5-Tổng công ty Than Việt Nam (Đã có Quyết định thành lập Tập đoànCông nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam số 345/TTgngày 08/8/2005)

6-Tổng công ty Dệt may Việt Nam (Đã có quyết định phê duyệt Đề ánthành lập Tập đoàn Dệt may Việt Nam số 314/TTg ngày 02/12/2005)

Trên thực tế, việc thành lập các tổng công ty 90 và tổng công ty 91 chủyếu do sắp xếp theo quyết định hành chính, đó không phải là quá trình phát triển

tự nhiên của các công ty như ở các nước công nghiệp phát triển Do đó, khôngphải tất cả các tổng công ty 91 đều lớn mạnh mà thực tế diễn ra sự phân hoá vềkhả năng phát triển Bên cạnh các tổng công ty 91, một số tổng công ty 90 cũnghội tụ những điều kiện để phát triển thành tập đoàn kinh doanh Chẳng hạn nhưTổng công ty Bảo hiểm Việt nam, tổng công ty Xăng dầu Việt nam, các Ngânhàng Quốc doanh Việt Nam như: NH Ngoại Thương, NH Đầu tư và phát triển,

NH Công thương, NH Nông nghiệp.v.v Tuy nhiên, trong bài viết này chỉ tậptrung nghiên cứu sự phát triển của các tổng công ty 91 thành tập đoàn kinhdoanh

2.1.2 Đặc điểm và tình hình sản xuất kinh doanh của các tổng công ty 91 định hướng phát triển tập đoàn kinh doanh

Sau khi được thành lập lại theo quyết định 90/TTg và 91/TTg năm 1994,các tổng công ty nhà nước đã từng bước ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh

và thu được những kết quả nhất định đồng thời bộc lộ những hạn chế

Trang 39

Nét đặc trưng của các tổng công ty nhà nước, đặc biệt là các tổng công ty

91, là tính chất chuyên ngành tương đối cao, trong mỗi ngành hoặc lĩnh vựcthường chỉ có một tổng công ty 91, trừ một số ngành như lương thực có 2 tổngcông ty 91 được thành lập Đặc điểm đó của các tổng công ty 91 cần được nhìnnhận ở hai mặt:

Thứ nhất, với vị trí tổng công ty lớn thuộc sở hữu nhà nước nắm giữ hầuhết thị phần của ngành kinh doanh, các tổng công ty 91 thể hiện vai trò chủ đạocủa kinh tế quốc doanh, chi phối lĩnh vực hoạt động chuyên ngành và góp phầnthực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước Đồng thời, vị thế “độc tôn” đó tạocho các tổng công ty 91 lợi thế lớn trong cạnh tranh với các doanh nghiệp kháchoạt động trong cùng ngành, lĩnh vực Từ đó kinh doanh tương đối thuận lợi và

có thể đạt kết quả cao

Thứ hai, sự “độc tôn” với các lợi thế thương mại của các tổng công ty 91

đã dẫn đến tình trạng độc quyền ở các mức độ khác nhau Có thể dễ dàng nhậnthấy vị thế độc quyền hoặc “gần như độc quyền” của một số tổng công ty 91 nhưtrong các ngành Điện lực, Dầu khí, Bưu chính viễn thông.v.v Độc quyền cóthể dẫn đến những kết quả không có lợi như: cửa quyền, hạn chế cạnh tranh,chậm đổi mới, hiệu quả hoạt động kém, gây thiệt hại cho cả người tiêu dùng và

sự phát triển của nền kinh tế

Từ đặc điểm đó của các tổng công ty 91, trên hầu hết các lĩnh vực quantrọng của nền kinh tế, các tổng công ty 91 đang chiếm lĩnh hầu hết thị trường vàphát triển mạnh mẽ với xu hướng thành lập các tập đoàn kinh doanh

Trong lĩnh vực dầu khí, Tổng công ty Dầu khí Việt nam (Petro Vietnam)

là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất hoàn toàn chi phối lĩnh vực khai thác vàcung cấp dầu thô của cả nước Năm 1999, Petro Vietnam đạt doanh thu khoảng14.000 tỷ đồng, chiếm gần 20% ngân sách nhà nước; sản lượng dầu đạt 15 triệutấn, khí khí thác đạt 1 tỷ m3, dịch vụ thu từ dầu khí đạt xấp xỉ 200 triệu USD

Trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, Tổng công ty Bưu chính viễn thôngViệt Nam (VNPT) đã chính thức đổi tên thành tập đoàn Bưu chính Viễn thông

Trang 40

Việt Nam (Vietnam Posts and Telecommunications Group) Trước đây, VNPT

đã chiếm tỷ trọng tuyệt đối về dịch vụ bưu chính viễn thông trong nước Tínhchất độc quyền trong kinh doanh đã chấm dứt bằng việc Thủ tướng cho phépthành lập Công ty Điện tử viễn thông quân đội (02/3/2005), Công ty cổ phầndịch vụ Viễn thông Sài gòn, Công ty Viễn thông Điện lực Tuy nhiên thị phần

và vị thế của tổng công ty Bưu chính viễn thông vẫn đứng đầu trong ngành bưuchính viễn thông Việt nam Đây là Tổng công ty đầu tiên thí điểm thành lậpcông ty ‘mẹ’ - tập đoàn kinh doanh trên cơ sở Tổng công ty Bưu chính viễnthông Việt Nam

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam

(Nguồn: Báo cáo tổng kết của Tổng công ty BCVT giai đoạn 2003-2005)

Trong ngành điện, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (Electricity ofVietnam - EVN) cung cấp hầu như 100% sản lượng điện của cả nước, tính đếnnay tổng công ty đã cung cấp cho nền kinh tế khoảng 7,2 ngàn tỷ kWh, năm

2005 là 53 tỷ kWh, bán điện cho hơn 8 triệu khách hàng Tuy nhiên do thịtrường điện ở Việt nam chưa hình thành, sự phát triển của Tổng công ty Điệnlực Việt Nam là độc quyền hoàn toàn Sản lượng điện cung cấp cho thị trườngtrong nước còn thiếu, giá điện là giá độc quyền không phản ánh giá trị thực.Trong mục tiêu phát triển EVN thành tập đoàn kinh doanh, Tổng công ty và Nhànước đang nghiên cứu tạo lập thị trường điện trong nước, đa dạng hoá đầu tưtrong lĩnh vực này

Trong ngành Cà phê, năm 2003 diện tích cà phê cả nước đạt hơn 500.000

ha, sản lượng xấp xỉ 900.000 tấn/năm Trong đó, Tổng công ty Cà phê Việt Namchỉ chiếm trung bình từ 10% đến 15% sản lượng cà phê của cả nước Năm 2002,

Ngày đăng: 12/04/2013, 21:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1:  Quyền sở hữu của các TĐKD Hàn Quốc phân theo thành viên trong nội bộ (tỷ lệ % so với các cổ phần hiện có) - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 1.1 Quyền sở hữu của các TĐKD Hàn Quốc phân theo thành viên trong nội bộ (tỷ lệ % so với các cổ phần hiện có) (Trang 21)
Bảng 2.1:  Các Tổng công ty được thành lập theo Quyết định 91/TTg - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 2.1 Các Tổng công ty được thành lập theo Quyết định 91/TTg (Trang 37)
Bảng 2.3:  Kết quả hoạt động kinh doanh của các Tổng công ty 91 giai đoạn 1995-1999 và giai đoạn 2000-2004 - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của các Tổng công ty 91 giai đoạn 1995-1999 và giai đoạn 2000-2004 (Trang 42)
Bảng 2.4:  Tình hình vốn kinh doanh của các tổng công ty 91 giai đoạn 1996-2004                          Đơn vị: tỷ đồng - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 2.4 Tình hình vốn kinh doanh của các tổng công ty 91 giai đoạn 1996-2004 Đơn vị: tỷ đồng (Trang 44)
Bảng 2.5: Tỷ trọng vốn nhà nước của các tổng công ty 91 giai đoạn 1998-2002 - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 2.5 Tỷ trọng vốn nhà nước của các tổng công ty 91 giai đoạn 1998-2002 (Trang 53)
Bảng 2.6:  Tình hình huy động vốn thông qua hình thức Liên doanh của tổng công ty Bưu Chính Viễn thông Việt nam. - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 2.6 Tình hình huy động vốn thông qua hình thức Liên doanh của tổng công ty Bưu Chính Viễn thông Việt nam (Trang 63)
Bảng 2.4: Tổng quan về các công ty tài chính của các tổng công ty 91 - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 2.4 Tổng quan về các công ty tài chính của các tổng công ty 91 (Trang 65)
Bảng 2.5: Tổng vốn cho vay và nhận uỷ thác đầu tư của công ty tài chính đối với - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 2.5 Tổng vốn cho vay và nhận uỷ thác đầu tư của công ty tài chính đối với (Trang 67)
Bảng 3.1: Phân định ranh giới chức năng, nhiệm vụ của ban, phòng tài chính với - Đổi mới phương thức huy động vốn trong các  mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Bảng 3.1 Phân định ranh giới chức năng, nhiệm vụ của ban, phòng tài chính với (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w