1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới

96 522 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 5,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

= Trung tâm cảnh giác dược New Zealand = Centre for Adverse Reactions Monitoring: Trung tâm kiểm soát các phản ứng có hại = Intensive Medicines Monitoring Programme: Chương trình kiểm so

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

ĐINH HẢI YÉN

KHẢO SÁT

MÔ HÌNH CẢNH GIÁC DƯỢC

CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

HẢ NỘI - 2010

ĩ

Trang 2

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của rất nhiều người Thời điểm hoàn thành khóa luận cũng là lúc tôi gửi lời biết ơn sâu sắc đến họ.

Trước hết, với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được chân thành cảm ơn

DS Nguyễn Thị Phương Nhung - giảng viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế

Dược đã hết sức quan tâm, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trìnhlàm khóa luận tốt nghiệp

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Lê Viết Hùng - hiệu trưởng

trường Đại học Dược Hà Nội, thầy đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều đểthực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và Kinh tế

Dược đã mang lại cho tôi những kiến thức về kinh tế làm nền tảng và cơ sở

cho tôi thực hiện đề tài này

Tôi cũng xin cảm ơn BS Hoàng Thanh Mai - cán bộ Cục Quản lý Dược Việt Nam, các cán bộ tại Trung tâm quốc gia thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin cho khóa luận

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo đại học và các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt năm năm học tập và nghiên cứu tại trường

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ và những người thân trong gia đình đã chăm lo, động viên cho tôi trong suốt quá trình học tập

Hà nội, tháng 5 năm 2010

Sinh viên Đinh Hải Yến

Trang 3

ĐẶT VẤN Đ È 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về cảnh giác dược 3

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển 3

1.1.2 Một số khái niệm cơ b ản 4

1.1.3.Vai trò của cảnh giác dược 6

1.2 Tổng quan về mô hình cảnh giác dược 9

1.2.1 Khái niệm mô hình 9

1.2.2 Các hệ thống báo cáo phản ứng có hại của thuốc 10

1.2.3 Các thành phần trong mô hình 11

1.2.4 Chức năng của các trung tâm cảnh giác dược 18

1.3 Tổng quan các đề tài đã làm về vấn đề cảnh giác dưọc 22 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 23 2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2 Nội dung nghiên cứu 23

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Phương pháp chọn m ẫu 25

2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 25

2.4 Trình bày kết quả 26

Chương 3: KÊT QUẢ NGHIÊN cứu 27

3.1 Mô hình cảnh giác dược tại nước Anh 27

3.1.1 Bộ máy tổ chức 27

3.1.2 Phương thức hoạt động 29

3.2 Mô hình cảnh giác dược tại New Zealand 37

Trang 4

3.2.3 ư u nhược điểm của các chương trình kiểm soát thuốc của

3.5.1 Thực trạng hoạt động cảnh giác dược tại Việt Nam 553.5.2 Đe xuất mô hình cảnh giác dược tại Việt Nam 60

KẾT LUẬN

ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Uppsala Monitoring Centre: Trung tâm kiểm soát Uppsala Prescription-Event Monitoring: kiểm soát biến cố thông qua đơn thuốc

the Drug Safety Research Unit: Đơn vị nghiên cứu an toàn của thuốc

Prescription Pricing Division: Phòng đánh giá việc kê đơn National Health Service: Dịch vụ y tế quốc gia

the UK Medicines and Healthcare products Regulatory Agency: Cơ quan quản lý dược phẩm và sản phẩm y tế của Anh

Medicines Control Agency: Cơ quan kiểm soát dược phẩm

Medical Devices Agency: Cơ quan dịch vụ y tế Regional Monitoring Centre:Trung tâm kiểm soát vùng Yellow Card Scheme: Dự án thẻ vàng

Adverse Drug Reactions On-line Information Tracking: Theo dõi thông tin trực tuyến phản ứng có hại của thuốc Prescription Pricing Division: Đơn vị đánh giá đơn thuốc

Trang 6

= Trung tâm cảnh giác dược New Zealand

= Centre for Adverse Reactions Monitoring: Trung tâm kiểm soát các phản ứng có hại

= Intensive Medicines Monitoring Programme: Chương trình kiểm soát thuốc mạnh

= Intensive Vaccine Monitoring Programme: Chương trình kiểm soát vacxin mạnh

= Chương trình tiêm chủng quốc gia vaccin viêm màng não B

= Practice Management Software: Phần mềm quản lý thực hành

= Medical Warnings System: Hệ thống các cảnh báo y tế

= Medicines Adverse Reactions Committee: ủ y ban phản ứng có hại của thuốc

= New Zealand Health Information Service: Dịch vụ thông tin y tế New Zealand

= Centre Drugs Standards Control Organization: TỔ chức kiểm soát các tiêu chuẩn của thuốc cấp trung ương

= All India Institute of Medical Sciences: tất cả đơn vị nghiên cứu và giảng dạy các ngành y học Àn Độ

National Pharmacovigilance Advisory Committee: ủ y ban tư vấn cảnh giác dược quốc gia

= Drug Controller General of India: Cơ quan quản lý thuốc trên toàn Ấn Độ

Trang 7

ZPC = Zonal Pharmacovigilance Centre: Trung tâm cảnh giác

dược khu vựcRPC = Regional Pharmacovigilance Centre: Trung tâm cảnh giác

dược vùngPPC = Peripheral Pharmacovigilance Centre: Trung tâm cảnh

giác dược ngoại biên FDA = Food and Drug Administration: Cơ quan quản lý thuốc và

thực phẩm Hoa KỳAERS = Adverse Event Reporting System: Hệ thống báo cáo biến

cố có hại có thể liên quan đến thuốc VAERS = Vaccine Adverse Event Reporting System: Hệ thống báo

cáo biến cố có hại có thể liên quan đến vaccin MAUDE = Manufacturer and User Facility Device Experience

Database: Cơ sở dữ liệu của nhà sản xuất và người sử dụng thiết bị y tế

MDR = Medical Devices Reporting: Báo cáo thiết bị y tế

CDC = Centrers for Disease Control and Prevention: Trung tâm

kiểm soát và phòng tránh bệnh SIDA Swedish International Development Cooperation Agency:

tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển

TT A&D Trung tâm quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản

ứng có hại của thuốc

Trang 8

Tên bảng Trang

Bảng 1.2: số lượng báo cáo từ các nguồn khác nhau tại Đan Mạch

năm 2008

15

Bảng 3.4 ư u nhược điểm các chương trình của trung tâm cảnh giác

dược New Zealand

Trang 9

Tên hình Trang

Hình 1.2 Quá trình phát triển lâm sàng của thuốc 7

Hình 1.4 Phần trăm số lượng báo cáo từ các nguồn khác nhau tại

Đan Mạch năm 2008

16

Hình 2.6 Sơ đồ khái quát nội dung nghiên cứu của đề tài 23

Hình 3.8 Sơ đồ bộ máy tổ chức cảnh giác dược tại Anh 27Hình 3.9 Sơ đồ hoạt động của Chương trình thẻ vàng 30

Hình 3.11 Sơ đồ bộ máy tổ chức cảnh giác dược tại New Zealand 37Hình 3.12 Sơ đồ phương thức hoạt động cảnh giác dược New

Zealand

39

Hình 3.15 Sơ đồ cấu trúc hệ thống cảnh giác dược Án Độ 52Hình 3.16 Sơ đồ hoạt động cảnh giác dược tại Việt Nam giai đoạn

dưới sự tài trợ của tổ chức SIDA

Trang 10

Thuốc đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người Thuốc giúp mang lại sức khỏe và cải thiện đời sống Song thuốc là con dao hai lưỡi, bên cạnh những lợi ích to lớn mà nó đem lại thì những tác hại do nó gây ra cho con người cũng không hề nhỏ Tại Hoa Kỳ, phản ứng có hại của thuốc là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 đến thứ 6 [32] Từ năm 2004 đến 2006 các lỗi liên quan đến dùng thuốc gây ra 238.337 trường hợp tử vong

có thể ngăn chặn được và gây thiệt hại cho chương trình y tế Hoa Kỳ 8.8 tỷ USD Tại Anh phản ứng có hại của thuốc là nguyên nhân của 6,5% tổng số bệnh nhân nhập viện Tính trong năm 2006 tại Anh tổng số bệnh nhân nhập viện là 16 triệu người, điều này có nghĩa là 1.040.000 bệnh nhân nhập viện là

do phản ứng có hại của thuốc [33] Dịch vụ y tế quốc gia của Anh hàng năm mất gần 2 tỷ euro để điều trị cho các bệnh nhân gặp ADR [33] Đặc biệt thảm họa thalidomide năm 1961 - 1962 gây dị tật bẩm sinh cho khoảng 10.000 đứa trẻ mà mẹ của chúng đã sử dụng thalidomide trong thời kỳ mang thai là thảm họa liên quan đến sử dụng thuốc lớn nhất trong lịch sử và là nỗi đau không thể quên của nhân loại [32]

Những con số trên đặt ra một yêu cầu cần thiết phải có một hệ thống kiểm soát an toàn của thuốc không chỉ trước khi thuốc được phép đưa ra thị trường mà ngay cả sau khi thuốc được phép lưu hành Chính vì vậy hệ thống cảnh giác dược đã được thành lập ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Hà Lan (1963), Anh (1964), Pháp (1973) [32] Cùng với các quốc gia, Tổ chức y tế thế giới WHO cũng đã có những nỗ lực đặc biệt để thiết lập một mạng lưới theo dõi, ghi nhận và kiểm soát tác dụng phụ của thuốc bằng việc cho ra đời Chương trình kiểm soát thuốc quốc tế WHO vào năm 1968.[32

Việt Nam là thành viên của Chương trình kiểm soát thuốc quốc tế WHO

Trang 11

cảnh giác dược Thuốc tại Việt Nam còn bị sử dụng bừa bãi, gần như không

có những thông tin liên quan đến việc báo cáo phản ứng có hại của thuốc được đưa ra Chỉ khi nào những phản ứng có hại của thuốc gây ra khiến bệnh nhân phải nhập viện hoặc cần đến bác sỹ tư vấn thì những thông tin này mới được ghi nhận lại Nhưng nhiều báo cáo còn không ghi đầy đủ thông tin về tên thuốc, liều dùng Ngoài ra, mô tả diễn biến bệnh và các biểu hiện phản ứng nhiều khi còn sơ sài Tại Cục quản lý Dược, công việc thu thập dữ liệu liên quan đến Thông tin thuốc cũng chỉ do bộ phận nhỏ phụ trách, thiếu thốn

về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực Như vậy hệ thống cảnh giác dược tại Việt Nam vẫn còn rất nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng thuốc

an toàn, hợp lý và hiệu quả của cộng đồng

Chính vì lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài; ‘‘Khảo sát mô hình cảnh

giác dược của một số nước trên thế giới” nhằm các mục tiêu sau:

1 Mô tả mô hình cảnh giác dược của một số nước: Anh, New Zealand, Hoa Kỳ và Ấn Độ

2 Đề xuất mô hình cảnh giác dược tại Việt Nam

Trang 12

1.1 Tổng quan về cảnh giác dược

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển

Cảnh giác dược ra đời từ sau thảm họa thalidomide [28] Năm 1961-

1962 thảm họa thalidomide xảy ra, đây là thảm họa lớn nhất trong việc sử dụng thuốc Thalidomide được đưa ra và chào đón như là một loại thuốc để điều trị chứng mất ngủ và buồn nôn ở phụ nữ có thai Nhưng thật không may

nó gây dị tật bẩm sinh cho khoảng 10.000 đứa trẻ mà mẹ của chúng đã sử dụng thuốc này Câu chuyện đau lòng về thảm họa thalidomide được lan truyền nhanh chóng khắp nơi Các quốc gia nhận thấy cần thiết phải có một

hệ thống phát hiện, đánh giá và thông báo các phản ứng có hại của thuốc sau khi thuốc được đưa ra thị trường Chính vì vậy hệ thống cảnh giác dược đã ra đời ở nhiều quốc gia như: Hà Lan (1963), Anh (1964), Pháp (1973) [32]Sau thảm họa thalidomide hội nghị Y tế thế giới lần thứ 16 (1963) thông qua nghị quyết WHA (16.63) tái khẳng định lại yêu cầu cần thiết phải có những hành động sớm để phổ biến thông tin về các phản ứng có hại của thuốc một cách nhanh chóng.[46] Năm 1968 dự án thí điểm Chương trình kiểm soát thuốc quốc tế của WHO đã ra đời với sự tham gia của 10 nước thành viên - đây là các nước đã có hệ thống CGD quốc gia tại thời điểm này: Australia, Canada, Tiệp Khắc, Cộng hòa liên bang Đức, Ireland, Hà Lan, New Zealand, Thụy Sỹ, Anh và Hoa Kỳ Sau đó là Thụy Điển và Na Uy [32],[42]

Trung tâm kiểm soát thuốc quốc tế của WHO ban đầu có trụ sở tại Geneva - Thụy Sỹ Sau đó vào năm 1978 Trung tâm này đã chuyển trụ sở đến Trung tâm hợp tác kiểm soát thuốc quốc tế của WHO ở Uppsala - Thụy Điển Đây là kết quả của một hiệp định giữa WHO và chính phủ Thụy Điển trong

đó Thụy Điển sẽ chịu trách nhiệm điều hành Chương trình này còn trụ sở của

Trang 13

cái tên Trung tâm kiểm soát Uppsala (Uppsala Monitoring Centre) [32],[18] Những năm gần đây ngày càng nhiều các quốc gia tham gia Chương trình giám sát thuốc quốc tế: năm 2005 Chương trình có 78 quốc gia thành viên[46], năm 2009 có 90 nước và đến năm 2010 đã có 98 nước.[38]

Điều này cho thấy CGD ngày càng được mở rộng và đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát thuốc ở các nước trên thế giới

Từ khi ra đời vào những năm 60, cảnh giác dược đã có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cảnh giác dược được

định nghĩa như sau: "'Cảnh giác dược là môn khoa học và các hoạt động liên

quan đến phát hiện, đánh giá, hiểu biết, và phòng ngừa các phản ứng có hại của thuốc hoặc bất kỳ vấn đề khác có thể liên quan đến thuốc” [32],[45],[47]

Quá trình sử dụng thuốc luôn chứa đựng những rủi ro Khi con người dùng thuốc, họ có thể gặp phải các biến cố lâm sàng bất lợi ví dụ như: chóng mặt, đau đầu, ban da hoặc các hội chứng khác, nhưng không phải tất cả các biến cố có hại này đều gây ra bởi thuốc; một vài biến cố có thể do tình trạng bệnh hoặc thể trạng của bệnh nhân, hay do giới tính hoặc các nhân tố môi trường, do chế độ ăn hoặc các nguyên nhân khác Còn các biến cố liên quan đến thuốc cũng có nhiều nguyên nhân như do thuốc kém chất lượng, do các sai sót liên quan đến thuốc (trong kê đơn, chuẩn bị, phân phát hoặc dùng thuốc), hoặc các tính chất dược lý đã biết hoặc chưa biết của thuốc Chính vì vậy có sự khác nhau giữa hai định nghĩa “phản ứng có hại của thuốc” (ADR)

và “biến cố bất lợi liên quan đến thuốc” (ADE)

Phản ứng có hại của thuốc (ADR) được định nghĩa là đáp ứng của con người hoặc động vật với một thuốc mà đáp ứng này gây độc, không mong

Trang 14

Biển cố bất lợi liền quan đến thuốc (ADE) là bẩt kỳ vấn đề y tế nào xảy

ra trong suốt quá trình điều trị với thuốc nhưng không nhất thiết phải có mối quan hệ nhân quả với việc điều /r/.[32],[42

Để thấy rõ được sự khác nhau giữa ADR và ADE ta xét mối quan hệ giữa ADR và ADE được biểu diễn theo hình dưới đây;

C ác sai -

ADRs

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa ADR vàADE

Như vậy phạm vi của ADE rộng hơn ADR, ADE bao gồm ADR Nhưng

sự khác nhau cơ bản giữa ADR vàADE là ở chỗ:[18]

Trang 15

Không khẳng định mối quan hệ nhân

quả được xác định giữa thuốc và sự

kiện mà chỉ là một chút nghi ngờ,

ngoài thuốc ra còn do các yếu tố khác

như: di truyền, chế độ ăn, môi

trường

Xác định mối quan hệ chắc chắn hoặc

có thể hơn, cơ chế có thể giải thích theo tác dụng dược lý hoặc trong vài trường hợp không thể giải thích theo như bình thường được

Hệ thống CGD không chỉ kiểm soát các ADR của thuốc mà kiểm soát tất

cả các ADE trong đó có cả nguyên nhân do sai sót liên quan đến thuốc và do chất lượng thuốc (thuốc giả hay thuốc kém chất lượng)

1.1.3 Vai trò của cảnh giác dược

Báo cáo thường niên năm 1969, 1970 của Hội đồng an toàn của thuốc

(Committee on Safety of Drugs) đã khẳng định: “ không phải tất cả các nguy

cơ của thuốc đều được biết trước khi thuốc được đưa ra ngoài thị

Nguyên nhân là do các giới hạn của thử nghiệm lâm sàng trước khi thuốc được phép lưu hành Chính vì vậy kiểm soát thuốc sau khi đưa ra thị trường là cần thiết Để hiểu rõ các giới hạn của thử nghiệm tiền lâm sàng, lâm sàng và vai trò của CGD ta xét sơ đồ dưới đây:

Trang 16

m õi tươna nehien cứu

Trang 17

nhiên không phải thuốc sau khi được cấp phép là đã được đảm bảo an toàn hoàn toàn bởi vì các thử nghiệm trước khi cấp phép không phản ánh hết được các tác dụng phụ của thuốc do các hạn chế sau; [32],[46;

• Thứ nhất là do hạn chế của cỡ mẫu nghiên cứu tức là số lượng người

trung bình tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng trước khi thuốc được cấp phép còn giới hạn, ví dụ tại Anh chỉ khoảng hơn 1500 người, số lượng người vẫn còn quá nhỏ để phát hiện ra các ADR không thông thường hoặc hiếm xảy ra cho dù nó rất nghiêm trọng đi chăng nữa Ví dụ để phát hiện

ra một ADR có tần suất là 1/1000 thì cần 18.200 bệnh nhân Thường thì chỉ có các ADR có tần suất lớn hơn 1/1.000-1/500 mới được phát hiện trong các thử nghiệm lâm sàng Vì hạn chế của số người tham gia thử nghiệm nên độ an toàn của thuốc phụ thuộc rất lớn vào việc giám sát thuốc khi nó được đưa ra thị trường

• Thứ hai là do hạn chế về độ tuổi và tình trạng bệnh của đối tượng tham

gia nghiên cứu Những người tình nguyện và các bệnh nhân tham gia thử

nghiệm lâm sàng trước khi thuốc đưa ra thị trường là những người có độ tuổi trung bình, các thử nghiệm lâm sàng không được tiến hành trên người già, trẻ em và phụ nữ có thai Trong khi đó trên thực tế đây là các đối tượng rất hay phải dùng thuốc Như vậy các thử nghiệm lâm sàng không phát hiện được hết các ADR có thể xảy ra trên người già, trẻ em và phụ nữ

có thai tức là bệnh nhân người mà sẽ dùng các thuốc này khi thuốc được đưa ra thị trường có đặc điểm rất khác với những người tình nguyện và các bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng trước khi thuốc được đưa ra thị trường Hầu hết các bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng thông thường chỉ có duy nhất một bệnh đang được điều trị với duy nhất một

Trang 18

bệnh nên họ phải dùng rất nhiều loại thuốc Do đó thử nghiệm lâm sàng không đánh giá được hết các tương tác thuốc có thể xảy ra trong thực tế.

• Nguyên nhân thứ ba là do giới hạn về thời gian nghiên cứu, các thử

nghiệm lâm sàng chỉ được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định trong khi có nhiều ADR chỉ biểu hiện sau một thời gian dài dùng thuốc Ví

dụ như finasteride dùng để điều trị phì đại tuyến tiền liệt ở nam giới gây ra chứng vú to ở nam giới.[32'

Chính vì vậy theo dõi tính an toàn của thuốc trong pha IV hay các hoạt động cảnh giác dược đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc kiểm soát an toàn của thuốc thúc đẩy việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả hơn, cải thiện chăm sóc và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân

Hiện nay phạm vi của CGD không chỉ dừng lại ở kiểm soát an toàn của thuốc tân dược mà đã mở rộng bao gồm nhiều lĩnh vực cả thảo dược, thuốc cổ truyền và thuốc hỗ trợ điều trị, các chế phẩm sinh học và các chế phẩm từ máu để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân toàn diện hơn.[45],[47'

1.2 Tổng quan về mô hình cảnh giác dược

1.2.1 Khái niệm

Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, mô hình theo nghĩa hẹp là:

‘'"mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt; là thiết

bị, cơ cấu tái hiện hay bắt chước cấu tạo và hoạt động của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hĩnh hoá) vĩ mục đích khoa học và sản x u ẩ f\

nghĩa rộng là '"hĩnh ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả, vv.) ước lệ của một

khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng).

Trang 19

1.2.2 Các hệ thống báo cáo phản ứng có hại của thuốc

Theo WHO (2002) [43] có 2 hệ thống chính được sử dụng để báo cáo ADR:

- Hệ thống báo cáo tự nguyện (spontaneous reporting) đây là hệ thống báo cáo thụ động (passive reporting)[19;

- Hệ thống các cơ sở dữ liệu có cấu trúc (structured database) đây là hệ thống báo cáo chủ động (passive reporting)[19]

I.2.2.I Hệ thống báo cáo tự nguyện

Trong tất cả các nguồn dữ liệu cung cấp cho việc kiểm soát an toàn của thuốc, hệ thống báo cáo tự nguyện cung cấp lượng thông tin lớn nhất với chi phí nhỏ nhất [47'

Hệ thống báo cáo tự nguyện được định nghĩa như sau: “ một hệ thống mà

các báo cáo đơn lẻ về các biến cố bất lợi có thể liên quan đến thuốc được báo cáo tự nguyện bởi các cán bộ y tế và các công ty dược đến trung tâm cảnh giác dược quốc gỉứ”[47].

Chức năng chính của hệ thống báo cáo tự nguyện là phát hiện các đặc điểm mới hoặc một sự thay đổi so với mô tả sơ lược các phản ứng có hại của thuốc Hoạt động này có thể tạo ra một giả thiết về nguồn gốc của ADR Vì vậy đây là một công cụ thiết lập giả thiết, các phương pháp dịch tễ dược học

có thể được sử dụng để kiểm tra các giả thiết này

Điểm mạnh của hệ thống báo cáo tự nguyện là có thể kiểm soát liên tục việc sử dụng thuốc trong suốt quá trình nó lưu hành trên thị trường Tuy nhiên điểm yếu lớn nhất của nó là báo cáo không đầy đủ (under-reporting).[32],[15]

Do kinh phí tổ chức thấp và dễ thực hiện nên hệ thống báo cáo tự nguyện được sử dụng ở hầu hết tất cả các nước có hệ thống CGD để thu thập các báo cáo ADR đặc biệt là các nước đang phát triển có hệ thống CGD mới được thành lập

Trang 20

I.2.2.2 Hệ thống các cơ sở dữ liệu có cấu trúc

Các vấn đề liên quan đến an toàn của thuốc được đánh giá không chỉ thông qua hệ thống báo cáo tự nguyện mà còn được đánh giá thông qua thông tin thu được từ cơ sở dữ liệu của một số lượng lớn bệnh nhân [16] Cơ sở dữ liệu ghi lại tất cả các sự kiện liên quan đến các vấn đề y tế của một nhóm các bệnh nhân hoặc tất cả các trường họp cá biệt khi một thuốc cụ thể được kê đơn Cơ sở dữ liệu này cực kỳ hữu ích vì nó ghi lại tất cả các biến cố xảy ra trong điều kiện bình thường thay vì chỉ ghi lại một vấn đề an toàn của thuốc hay một ADR Các cơ sở dữ liệu này là nguồn quan trọng cho việc thử nghiệm các giả thiết được hình thành từ hệ thống báo cáo tự nguyện [26]

Ví dụ các cơ sở dữ liệu có cấu trúc như: PEM - Anh và New Zealand

1.2.3 Các thành phần trong mô hình

Hệ thống CGD của một quốc gia phải phối hợp được hoạt động của tất

cả các thành viên ở cấp địa phương, cấp quốc gia và cấp quốc tế góp phần đảm bảo an toàn của thuốc

Trang 21

Báo cáo các biến cố có hại nghi ngờ

”lrĐánh giá sự kiện, tiến hành những phân tích ban đầu

Xác minh nguyên nhân, tiên hành tìiêm các nghiên cứu dịch tê

học để xac ininh mối liên hệ giữa thuốc - sự kiện nếu cần

bệnh và tỷ lệ tử vong

Thành phần Người báo cáo

■ rIt! C«

Trung tâm cảnh giác dvực

^ Ị Hội đồng tư vấn an toàn

I;

' Cơ quan quản lý,

Phưomg tiện ừuyền thông

Sơ đồ 1.3 Cấu trúc mồ hình cảnh giác dược

Trang 22

Hình 1.3 minh họa các thành phần của một hệ thống cảnh giác dược với các chức năng phát hiện, báo cáo, đánh giá và xác minh các dữ kiện liên quan đến an toàn của thuốc cũng như các biện pháp can thiệp Trong đó có quy định rõ vai trò của các thành phần tham gia trong hệ thống cảnh giác dược.

Cụ thể vai trò của các thành viên như sau:

I.2.3.I Các nhân viên y tế

Trên thế giới, hệ thống báo cáo các phản ứng có hại của thuốc trong giai đoạn hậu thị trường phụ thuộc chủ yếu vào việc báo cáo tự nguyện của các cán bộ y tế, những người liên quan trực tiếp đến chăm sóc bệnh nhân/người tiêu dùng Điều này là họp lý vì sự hiểu biết về phản ứng có hại của thuốc phụ thuộc vào những hiểu biết về y tế và chỉ nhân viên y tế mới có hiểu biết về tiền sử bệnh của bệnh nhân cũng như các chẩn đoán phân biệt lâm sàng

Các nhân viên y tế tham gia hệ thống CGD bao gồm: bác sỹ, dược sỹ, y

tá và các cán bộ y tế khác Vai trò của họ trong hệ thống là báo cáo các phản ứng có hại của thuốc đến trung tâm CGD hoặc cơ quan quản lý có thẩm quyền [42],[37’

Mặc dù đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống báo cáo nhưng tỷ lệ các bác sỹ không tham gia vào báo cáo vẫn còn cao Theo một nghiên cứu tại nước Đức cho thấy có đến gần 20% các bác sỹ thừa nhận họ không biết đến

Trang 23

hệ thống báo cáo tự nguyện và 30% không biết cách báo cáo.[17]

kê đơn.[6],[14]

Vai trò của dược sỹ trong hệ thống báo cáo ADR cũng đã có sự thay đổi Năm 1986 nhiều quốc gia đã cho phép dược sỹ tham gia báo cáo [13] Roberts PI và các đồng nghiệp trong bài viết “Vai trò của dược sỹ trong báo cáo ADR” (1994) đã đưa ra ý kiến: “hi vọng rằng dược sỹ ở các quốc gia khác cũng được khuyến khích tham gia báo cáo ADR, điều này sẽ giúp chăm sóc bệnh nhân tốt hơn”[31] Trung tâm kiểm soát Uppsala đã đưa ra một bản tổng quan về các hệ thống báo cáo quốc gia đã được thành lập trong đó có đề cập đến khối lượng báo cáo của dược sỹ [27]

• Ytá

Trước đây y tá không được phép báo cáo các ADE tuy nhiên để khắc phục tình trạng báo cáo kém (số lượng và tỷ lệ báo cáo thấp) đã có những nghiên cứu được tiến hành đế đánh giá vai trò của y tá trong hệ thống báo cáo phản ứng có hại của thuốc từ đó có thể mở rộng việc báo cáo cho cả các y tá góp phần tăng cường số lượng và chất lượng các báo cáo [21] Các nhà khoa

học Thụy Điển đã tiến hành nghiên cứu: ''Báo cáo phản ứng có hại của thuốc

Trong suốt thời kỳ nghiên cứu có 23 báo cáo với 39 ADR được gửi đến trung tâm CGD Trong đó 74% báo cáo được đánh giá là nghiêm trọng Tám trong

39 ADR báo cáo không được ghi trên nhãn Trong khi đó tỷ lệ báo cáo của

Trang 24

bác sỹ trong suốt thời kỳ nghiên cứu vẫn tương tự như năm trước Điều này cho thấy y tá đã đóng góp thêm vào số lượng báo cáo Kết thúc nghiên cứu các y tá cho rằng họ đủ kiến thức để báo cáo các ADR 68% bác sỹ không phản đối việc y tá tham gia báo cáo các ADR nghi ngờ Như vậy có thể kết luận: việc y tá tham gia báo cáo ADR có thể cải thiện được các vấn đề an toàn của thuốc.[22]

nhà cũng là những người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân và là thành viên trong hệ thống y tế Do đó việc đào tạo và cho phép họ báo cáo sẽ góp phần tăng cường kiểm soát an toàn của thuốc

Như vậy tất cả các cán bộ y tế tham gia chăm sóc bệnh nhân đều có thể đóng góp tích cực vào hệ thống báo cáo tự nguyện Việc cần làm là phải có kế hoạch đào tạo, hướng dẫn và khuyến khích, thúc đẩy cán bộ y tế tham gia báo cáo tích cực hơn nữa Trong tất cả các cán bộ y tế tham gia báo cáo thì số lượng báo cáo của bác sỹ luôn chiếm tỷ lệ cao nhất, điều này là hợp lý vi bác

sỹ là những người có chuyên môn cao, trực tiếp khám, kê đơn, chữa bệnh cho bệnh nhân Ví dụ; các nguồn báo cáo đến Cơ quan thuốc Đan Mạch (Danish Medicines Agency) năm 2008 như sau; [2]

Bảng 1.2 Số lượng báo cáo từ các nguồn khác nhau tại Đan Mạch năm

Trang 25

Các số liệu này được biểu diễn theo biểu đồ sau;

%

* Bác sỹ

■ Dược sỹCán bộ y tế khác

■ Người tiêu dùng

Hình 1.4 Phần trăm số lượng báo cảo từ các nguồn khác nhau

tại Đan Mạch năm 2008

I.2.3.2 Người tiêu dùng

Các báo cáo của người tiêu dùng đóng một vai trò quan trọng bởi vì:Đối với các thuốc không kê đơn - được sử dụng không cần sự kê đơn của bác sỹ thi các báo cáo nhận trực tiếp tò bệnh nhân có thể là nguồn duy nhất cung cấp các dấu hiệu ADR

Mặt khác chỉ có bệnh nhân mới biết được lợi ích và tác hại thật sự của thuốc đã dùng Việc quan sát và báo cáo bởi các cán bộ y tế làm sáng tỏ những vấn đề mà bệnh nhân mô tả

ở một số quốc gia đã tiến hành ửiu thập báo cáo tìr bệnh nhân/người tiêu dùng như: Hà Lan (2003), Đan Mạch (2003), Anh (2006), Hoa Kỳ (những năm 60) Các báo cáo của bệnh nhân chiếm một số lượng khá lớn như: tại Hoa Kỳ, Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) nhận được 500.000 báo cáo mỗi năm Trong năm 2008, FDA nhận được 154.000 báo cáo từ bác sỹ;27.000 báo cáo từ dược sỹ, 88.000 báo cáo tò các cán bộ y tế khác và 227.000 báo cáo từ ngưòi tiêu dùng (trong đó có nhiều báo cáo được gửi gián tiếp thông qua nhà sản xuất) [2] Các số liệu này được biểu diễn theo biểu đồ dưới đây;

Trang 26

DS= dược sỹ NTD= người tiêu dùng

Như vậy tại Hoa Kỳ số lượng báo cáo của người tiêu dùng lại chiếm phần lớn so với các nguồn báo cáo khác

Các nhà khoa học Anh đã tiến hành nghiên cứu so sánh giữa các báo cáo

tự nguyện của bệnh nhân với các báo cáo tự nguyện của cán bộ y tế để đánh giá chất lượng báo cáo của bệnh nhân Nghiên cứu này liên quan đến phản ứng có hại của paroxetine Các báo cáo của các bác sỹ được gửi đến Cơ quan quản lý dược phẩm và sản phẩm y tế của Anh (the ƯK Medicines and Healthcare products Regulatory Agency) thông qua Dự án Thẻ Vàng Các báo cáo của bệnh nhân thu được thông qua email gửi đến chương trình

“Panorama” sau buổi phát thanh của chương trình về paroxetine và các thông báo điện tử đến website của Kiểm toán xã hội bằng ngôn ngữ tiếng Anh trên toàn thế giới (the international English-language website of Social Audit) (được thành lập để điều tra các vấn đề liên quan đển các chất chống suy nhược) trong suốt 3 năm Những người nghiên cứu đã kết luận rằng ”các báo cáo từ người tiêu dùng truyền đạt các thông tin mà các cán bộ y tế có thể chưa bao giờ cung cấp Chúng phong phú hơn và miêu tả tìệu chứng tự tử và cai thuốc rõ ràng và thông minh hơn các báo cáo Thẻ Vàng” [24

ỳ íx

Trang 27

1.2.3.3 Nhà sản xuất

Các nhà sản xuất dược phẩm chịu trách nhiệm pháp luật về an toàn và hiệu quả của thuốc khi thuốc đưa ra thị trường Họ có trách nhiệm đảm bảo sản phẩm có chất lượng tốt và kiểm soát sản phẩm của họ trong suốt quá trình lưu hành trên thị trường Các nhà sản xuất nhận các báo cáo ADR nghi ngờ liên quan đến sản phẩm của họ từ người tiêu dùng và có trách nhiệm phải báo cáo đến cơ quan có thẩm quyền Khi sản phẩm của họ gây nguy hại cho sức khỏe người tiêu dùng, họ phải tuyệt đối tuân thủ các quyết định của cơ quan

có thẩm quyền về rút giấy phép lưu hành hay thu hồi sản phẩm [47], [37]

1.2.3.4 Nhà quản lý

Các cơ quan có thẩm quyền quản lý thuốc ở các quốc gia cần được thông báo về các phản ứng có hại nghi ngờ ngay lập tức, đặc biệt là các phản ứng bất thưòng hoặc nghiêm trọng để có biện pháp xử lý kịp thời như: rút giấy phép, thu hồi sản phẩm [37;

1.2.3.5 Phương tiện truyền thông

Các phương tiện truyền thông có vai trò quan trọng trong việc tăng cường nhận thức trong cộng đồng và các cán bộ y tế, là phương tiện để trao đổi thông tin giữa cán bộ y tế, người tiêu dùng, nhà sản xuất với trung tâm cảnh giác dược

1.2.4 Chức năng của các trung tâm cảnh giác dược

Hiện nay việc kiểm soát thuốc sau khi cấp phép được điều phối chính bởi các trung tâm CGD ở nhiều nước, hệ thống CGD quốc gia bao gồm một mạng lưới trung tâm quốc gia và trung tâm vùng Các trung tâm CGD quốc gia của các nước trao đổi thông tin thông qua một trung tâm quốc tế - trung tâm kiểm soát thuốc uppsala

Trang 28

1.2.4.1 Trung tâm cảnh giác dược vùng

Do ảnh hưởng của địa lý nên trong cấu trúc tổ chức hệ thống CGD của các nước thưòng có các trung tâm cảnh giác dược vùng để hỗ trợ cho trung tâm CGD quốc gia thực hiện các chức năng của mình

Vì mục tiêu của hệ thống báo cáo tự nguyện là mở rộng phạm vi báo cáo trên toàn quốc nên việc thành lập thêm các trung tâm CGD vùng sẽ giúp cho việc thu thập dữ liệu gặt hái được nhiều thành công hơn cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt ở các quốc gia rộng lớn hay có nhiều vùng văn hóa khác nhau Với việc thành lập các trung tâm CGD vùng khoảng cách giữa người báo cáo và trung tâm được rút ngắn tạo điều kiện cho việc báo cáo của các cán bộ y tế, người tiêu dùng và nhà sản xuất đến trung tâm CGD cũng như việc phản hồi lại thông tin từ trung tâm đến người báo cáo

Tuy nhiên việc ra đời các trung tâm vùng sẽ cần có nhiều nhân viên và

cơ sở vật chất hơn và có thể vì vậy sẽ tốn nhiều kinh phí hơn

Trung tâm CGD vùng có khi thực hiện các chức năng giống trung tâm quốc gia và có khi chỉ thực hiện việc thu thập báo cáo rồi gửi lên trung tâm CGD quốc gia

1.2.4.2 Trung tâm cảnh giác dược quốc gia

Trung tâm CGD quốc gia là một trung tâm độc lập, do chính phủ công nhận trong một quốc gia, với chuyên môn về lâm sàng và khoa học để thu thập, so sánh, phân tích và đưa ra lời khuyên cho tất cả các thông tin liên quan đến an toàn của thuốc [42]

Trung tâm CGD quốc gia có 3 nhiệm vụ chính như sau: [46^

Các báo cáo sau khi thu thập từ các cán bộ y tế, người tiêu dùng hay nhà sản xuất được đánh giá về các phương diện sau đây:

• Chất lượng của báo cáo Ví dụ: tính đầy đủ của dữ kiện (có đầy đủ các

Trang 29

nội dung tối thiểu của một báo cáo)

• Mã hóa theo tiêu chuẩn quốc tế Tên thuốc nên ghi theo một cách có hệ thống, ví dụ bằng việc sử dụng Từ điển thuốc của WHO (WHO Drug Dictionary) (Từ điển này dựa trên danh pháp INN và hệ thống phân loại ATC) Đối với việc mã hóa các ADE, Thuật ngữ phản ứng có hại của WHO (WHO - ART) hay các thuật ngữ được công nhận trên toàn thế giới khác như Từ điển y học cho các hoạt động quản lý (Medical Dictionary for Regulatory Activities - MedDRA) nên được sử dụng

• Liên quan đến việc phát hiện các phản ứng mới, đến việc quản lý thuốc hoặc có giá trị khoa học hay giá trị giáo dục

• Xác định các báo cáo giống nhau: các đặc điểm nào đó của ca (giới tính, tuổi, hoặc ngày sinh, ngày phơi nhiễm với thuốc, ) có thể được

sử dụng để xác định các báo cáo giống nhau

• Đánh giá hay quy kết quan hệ nhân quả giữa thuốc và biến cố có hại có thể liên quan đến thuốc Để thuận tiện và dễ dàng cho việc đánh giá quan hệ nhân quả giữa một thuốc và một biến cố bất lợi, WHO đã đưa

ra các tiêu chuẩn đánh giá quan hệ nhân quả (phụ lục 1)

• Nếu cần thêm các dữ liệu cho việc đánh giá trung tâm CGD sẽ liên lạc lại với người báo cáo và tiến hành thêm các nghiên cứu

Việc đánh giá sẽ giúp hình thành các giả thiết và phát hiện các dấu hiệu ADR

Các báo cáo sau khi được đánh giá sẽ được gửi đến Trung tâm Uppsala

Từ năm 2001, WHO không chấp nhận các mẫu báo cáo trên giấy nữa mà thay vào đó là các báo cáo điện tử

Mặt khác, Trung tâm quốc gia sẽ nhận các thông tin, cảnh báo về các vấn

đề liên quan đến an toàn của thuốc trên toàn thế giới từ Uppsala

Trang 30

<♦ Chức năng 3: Phản hồi đến người báo cáo và thông báo đến các Cơ

quan quản lý có thẩm quyền

Sau khi nhận được báo cáo, trung tâm CGD sẽ thông báo lại cho người báo cáo xác nhận đã nhận được báo cáo Việc làm này sẽ khuyến khích việc báo cáo Đồng thời Trung tâm cũng cung cấp các thông tin tư vấn về an toàn của thuốc đến các cán bộ y tế Trung tâm đưa các thông tin cần thiết đến cơ quan quản lý có thẩm quyền để có những hành động hợp lý, kịp thời đặc biệt

là các phản ứng nghiêm trọng

Để thực hiện các chức năng trên trung tâm CGD cần có một đội ngũ các nhà khoa học, các chuyên gia trong các lĩnh vực: y tế công cộng, dược học, dược lý học lâm sàng, độc chất lâm sàng, di truyền học, dịch tễ học, dịch tễ dược học

I.2.4.3 Trung tâm kiểm soát Uppsala (UMC)

Các hoạt động kiểm soát an toàn sử dụng thuốc trên toàn thế giới được điều phối bởi UMC Bằng cách liên kết thông tin và hoạt động ở các quốc gia UMC đẩy mạnh việc phát hiện sớm các dấu hiệu ADR

Chức năng của UMC là;

• Nhận và lưu trữ các báo cáo từ các trung tâm CGD quốc gia

• Tạo điều kiện thuận lợi cho các trung tâm CGD quốc gia tìm kiếm thông tin từ cơ sở dữ liệu của WHO trên toàn cầu

• Phát hiện các dấu hiệu từ cơ sở dữ liệu của WHO trên toàn cầu

• Truyền thông các phân tích dấu hiệu đến trung tâm CGD quốc gia

• Thúc đẩy trao đổi thông tin giữa các quốc gia

• Duy trì và phát triển WHO - ART và việc sử dụng MedDRA trong Chương trình kiểm soát thuốc quốc tế của WHO

• Đào tạo cán bộ cho các trung tâm CGD quốc gia

Trang 31

• Tiêu chuẩn hóa các quy trình liên quan đến các hoạt động CGD

• Công bố các tài liệu liên quan

• Cung cấp các tài liệu nếu thích hợp đến các thành viên khác

1.3 Tổng quan các đề tài đã làm về vấn đề cảnh giác dược

Cảnh giác dược là một vấn đề vẫn còn rất mới đối với Việt Nam, hiểu biết của mọi người thậm chí cả cán bộ y tế vẫn còn nhiều hạn chế Sau một quá trình nghiên cứu tìm hiểu, tác giả nhận thấy hiện nay tại Việt Nam chưa

có một đề tài nghiên cứu nào về cảnh giác dược Vì vậy tác giả thực hiện đề

tài: "'Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giớĩ" phần

nào đóng góp vào hoạt động cảnh giác dược tại Việt Nam cũng như tạo cơ sở cho các nghiên cứu sau này

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới: Anh, Hoa Kỳ, New Zealand, Ấn Độ và Việt Nam

2.2 Nội dung nghiên cứu

Trong mỗi mô hình cảnh giác dược, nội dung nghiên cứu bao gồm các vấn đề được trình bày tại hình 2.6 như sau:

Hình 2.6 Sơ đồ khái quát nội dung nghiên cứu của đề tài

Trang 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu là mô tả cắt ngang

Các dữ liệu thu được được xử lý theo hình 2.7 như sau:

Hình 2 7 Sơ đồ x ử lý dữ liệu của đề tài

Trang 34

Đe tài sử dụng kết họp nhiều phương pháp nghiên cứu nhằm khai thác các ưu điểm của mỗi loại phương pháp nghiên cứu giúp cho nghiên cứu đạt được kết quả cao.

2.3.1 Phương pháp chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu có mục đích, mẫu được chọn theo mục tiêu của đề tài, với các tiêu chí chọn mẫu như sau:

• Có nguồn tài liệu phong phú và dễ tiếp cận

• Thuộc một trong hai nhóm sau: (trong mỗi nhóm chọn ít nhất 1 nước) Nhỏm 1: các nước có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển và có hệ thống CGD ra đời từ lâu

Nhỏm 2: các nước có điều kiện kinh tế - xã hội đang phát triển và có hệ thống CGD mới ra đời

Trên cơ sở đó, các đối tượng được chọn lựa là: Anh, Hoa Kỳ,

New Zealand, Ấn Độ và Việt Nam

2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu

2.3.2.1 Phương pháp hồi cứu

Các tài liệu được sử dụng bao gồm:

• Các tài liệu về cảnh giác dược do Trung tâm kiểm soát thuốc quốc

2.3.2.2 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia

Để thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu đề tài, đặc biệt là về vấn đề cảnh

Trang 35

giác dược tại Việt Nam, đề tài đã tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu các cán bộ tại Trung tâm quốc gia thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc theo một danh mục các chủ đề quan tâm như sau:

• Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam hiện nay

• Tổ chức hoạt động của trung tâm

• Các thành phần tham gia hoạt động

• Kết quả thu được trong thời gian vừa qua

Nội dung cuộc phỏng vấn được ghi lại bằng cách ghi chép

2.4 Trình bày kết quả

• Trình bày kết quả bằng phần mềm Microsoft Words 2003for Windows.

• Báo cáo kết quả bằng phần mềm Microsoft Power Point 2003 for

Windows.

Trang 36

Chương 3 KÉT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Mô hình cảnh giác dưọ’c tại Anh

3.1.1 Bộ máy tổ chức

Hình 3.8, Sơ đồ bộ máy tồ chức cảnh giác dược tại Anh

Tại Anh cơ quan chịu trách nhiệm cho vấn đề cảnh giác dược thuộc về

Cơ quan quản lý dược phẩm và sản phẩm y tế của Anh (ƯK Medicines and Healthcare Products Regulatory Agency:MHRA) MHRA được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 2003 từ sự họrp nhất của Cơ quan kiểm soát dược phẩm (Medicines Control Agency - MCA) - trước kia chịu trách nhiệm về kiểm soát an toàn, chất lượng và hiệu lực của thuốc và Cơ quan thiết bị y tế (Medical Devices Agency - MDA) [32]

Tại Anh có hai hệ thống kiểm soát thuốc: hệ thống chủ động (Kiểm soát biến cố thông qua đơn thuốc - PEM) và hệ thống thụ động (Chương trình Thẻ Vàng - YCS) Các hệ thống này hoạt động độc lập với nhau

Trang 37

3.1.1.1 Chương trình Thẻ Vàng

Chương trình Thẻ Vàng chính là hệ thống báo cáo tự nguyện

Sau thảm họa thalidomid tầm quan trọng của việc giám sát an toàn củathuốc càng được nhấn mạnh Nhiều quốc gia đã đưa ra các hệ thống để thu thập các báo cáo ADR một cách có hệ thống Tại Anh, Hội đồng an toàn về thuốc (Committee on Safety of Medicines: CSD) (ngày nay là Hội đồng thuốc cho con người - Commission on Human Medicines: CHM) đã được thành lập Một trong những nhiệm vụ của Hội đồng này là thu thập và phổ biến các thông tin về các phản ứng có hại nghi ngờ của thuốc Để đạt được mục tiêu này Dự án báo cáo tự nguyện của Anh đã ra đời vào năm 1964.[32‘

Nội dung chính của Dự án báo cáo này là: [32'

• Các phản ứng có hại nghi ngờ nên được báo cáo; những người báo cáo không cần phải chắc chắn hoặc đưa ra bằng chứng rằng thuốc gây ra phản ứng

• Báo cáo là trách nhiệm của tất cả các bác sỹ và nha sỹ

• Các báo cáo viên nên báo cáo ngay lập tức

• Các báo cáo được xử lý kín đáo

Bốn Trung tâm kiểm soát vùng (RMC) ra đời vào đầu những năm 80 bao gồm: trung tâm tại Merseyside, miền Bắc, xứ Wales, Tây Miland RMC thứ 5

ở Scotland ra đời vào tháng 10 năm 2002, RMC ở phía Bắc mở rộng hoạt động sang Yorkshire vào tháng 9 năm 2002.[32]

Nguồn gốc tên gọi Thẻ Vàng của Chương trình là do sự phong phú trùng họp ngẫu nhiên của giấy màu vàng tại thời điểm gửi những mẫu báo cáo đầu tiên đã dẫn đến việc lấy màu giấy để đặt tên cho Chương trình

Trang 38

3.1.1.2 Prescription Event Monitoring [32]

(Kiểm soát biến cố thông qua đơn thuốc: PEM)

Việc nhận thức rằng không phải tất cả các rủi ro đều có thể biết trước khi một thuốc được lưu hành trên thị trường và việc nhận thức rằng hệ thống báo cáo tự nguyện có thể bị thất bại trong việc xác định tất cả các phản ứng có hại dẫn đến vài đề xuất cho hệ thống kiểm soát thuốc dựa trên đơn thuốc

Năm 1980, PEM đã được thành lập tại Đại học Southampton và là chức năng chính của Đơn vị nghiên cứu an toàn của thuốc (Drug Safety Research Unit: DSRU) ở Southhampton, Anh

PEM là một dạng mô hình thuần tập quan sát và không can thiệp trong giám sát hậu marketing Không can thiệp bởi vì không có gì xảy ra can thiệp vào quyết định của bác sỹ về loại thuốc nào được kê đơn cho mỗi bệnh nhân Phương pháp cung cấp các dữ liệu lâm sàng phản ánh đúng điều kiện thực tế

vì nó không xây dựng các tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân trong nghiên cứu (như các thử nghiệm lâm sàng) Các bệnh nhân nghiên cửu được nhận thuốc hàng ngày Điều này đảm bảo các tài liệu mang tính tổng quát

PEM kiểm soát các thuốc mới và được dự đoán sẽ được sử dụng phổ biến và trong thời gian dài Mục tiêu chính của PEM là chọn 10.000 người đầu tiên dùng một thuốc mới và kiểm soát bất kỳ sự kiện nào xảy ra với thuốc

3.1.2 Phương thức hoạt động

3.I.2.I Chương trình Thẻ Vàng [3]

Kể từ năm 1991, Chưong trình Thẻ Vàng được tăng cường nhờ một hệ thống máy tính mới - hệ thống ADROIT (Adverse Drug Reactions On-line Information Tracking - Theo dõi thông tin trực tuyến phản ứng có hại của thuốc) [48]

Trang 39

Hình 3.9 Sơ đồ hoạt động của Chương trình Thẻ Vàng

Phương thức hoạt động của chương trình như sau;

Trang 40

Phương thức thu thập báo cáo

- Đối tượng báo cáo; ban đầu chỉ bác sỹ và nha sỹ được phép báo cáo,

sau đó Chương trình được mở rộng cho các cán bộ y tế khác: vào năm 1997 là tất cả các dược sỹ bệnh viện , tháng 11 năm 1999 các dược sỹ cộng đồng, năm

2002 tất cả các y tá, nữ hộ sinh, cán bộ y tế tại nhà đều đủ có quyền báo cáo [32] Đen năm 2005 Anh bắt đầu mở rộng việc báo cáo cho cả bệnh nhân [2] Trong khi đó, nhà sản xuất có trách nhiệm pháp luật phải báo cáo

- Phưo’ng tiện báo cáo: Các báo cáo được thực hiện trên giấy (phụ lục

2) hoặc trực tuyến (phụ lục 3)

- Các thẻ vàng được gửi đến MCA (bây giờ là MHRA) hoặc 1 trong 5 trung tâm CGD vùng Sau khi nhận được báo cáo, MCA sẽ gửi thư xác nhận

đã nhận được báo cáo và các phân tích về thuốc nếu các báo cáo viên yêu cầu

Phương thức xử lý báo cáo

MCA nhận được khoảng 20.000 báo cáo mỗi năm Các báo cáo được phân loại ưu tiên theo các thuốc và bản chất của ADR bởi một chuyên gia khoa học để các ADR nghiêm trọng sớm nhận được sự chú ý Các báo cáo ưu tiên số 1 sẽ nhận được sự quan tâm sớm nhất Các chi tiết của mỗi báo cáo được nhập vào ADROIT bởi trợ giúp của chuyên gia khoa học đã thực hiện việc phân loại ADROIT khác với các cơ sở dữ liệu khác, không chỉ lưu giữ các chi tiết của báo cáo mà còn lưu ảnh của mỗi thẻ vàng Điều này giúp những người khác nhau có thể xem bất kỳ thẻ vàng nào trên màn hình cùng một thời gian

Các báo cáo trước khi đưa vào cơ sở dữ liệu của ADROIT được trải qua vài bước đảm bảo chất lượng, được kiểm tra kỹ lưỡng bởi các chuyên gia khoa học hay chuyên gia y tế có trình độ cao để đảm bảo dữ liệu có chất lượng cao.[40;

Ngày đăng: 27/07/2015, 15:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1:  Sự khác nhau giữa ADR và ADE 6 - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa ADR và ADE 6 (Trang 8)
Hình 1.1. Mối quan hệ giữa ADR vàADE - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 1.1. Mối quan hệ giữa ADR vàADE (Trang 14)
Hình  1.2. Sơ đồ quả trình phát triển lâm sàng của thuốc[46J - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
nh 1.2. Sơ đồ quả trình phát triển lâm sàng của thuốc[46J (Trang 16)
Sơ đồ 1.3.  Cấu trúc mồ hình cảnh giác dược - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Sơ đồ 1.3. Cấu trúc mồ hình cảnh giác dược (Trang 21)
Bảng 1.2. Số lượng báo cáo từ các nguồn khác nhau tại Đan Mạch năm - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Bảng 1.2. Số lượng báo cáo từ các nguồn khác nhau tại Đan Mạch năm (Trang 24)
Hình 2.6. Sơ đồ khái quát nội dung nghiên cứu của đề tài - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 2.6. Sơ đồ khái quát nội dung nghiên cứu của đề tài (Trang 32)
Hình 2 .7. Sơ đồ x ử  lý dữ liệu của đề tài - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 2 7. Sơ đồ x ử lý dữ liệu của đề tài (Trang 33)
Hình 3.9. Sơ đồ hoạt động của Chương trình  Thẻ Vàng - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 3.9. Sơ đồ hoạt động của Chương trình Thẻ Vàng (Trang 39)
Hình 3.10. Sơ đồ quy trình hoạt động của PEM - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 3.10. Sơ đồ quy trình hoạt động của PEM (Trang 42)
Hình 3.11. Sơ đồ bộ máy tồ chức cảnh giác dược tại New Zealand - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 3.11. Sơ đồ bộ máy tồ chức cảnh giác dược tại New Zealand (Trang 46)
Bảng 3.3. S ự  khác nhau giữa PEM  và  YCS - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Bảng 3.3. S ự khác nhau giữa PEM và YCS (Trang 46)
Hình 3.12. Sơ đồ phương thức hoạt động cảnh giác dược New ZealandfllJ - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 3.12. Sơ đồ phương thức hoạt động cảnh giác dược New ZealandfllJ (Trang 48)
Hình 3.15. Sơ đồ cẩu trúc hệ thống cảnh giác dược Ân Độ - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 3.15. Sơ đồ cẩu trúc hệ thống cảnh giác dược Ân Độ (Trang 61)
Hình 3.16. Sơ đồ hoạt động cảnh giác dược tại Việt Nam giai đoạn dưới sự - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Hình 3.16. Sơ đồ hoạt động cảnh giác dược tại Việt Nam giai đoạn dưới sự (Trang 64)
Bảng 3.5.  Số lượng báo cáo ADR trong các năm vừa qua tại  Việt Nam - Khảo sát mô hình cảnh giác dược của một số nước trên thế giới
Bảng 3.5. Số lượng báo cáo ADR trong các năm vừa qua tại Việt Nam (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w