Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tây trong thu hút vốn đầu tư”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hà Tây là tỉnh có tiềm năng để tạo nên sức hút đầu tư tự nhiên do có vị trí địa lý liền kề với thủ đô Hà Nội, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có điều kiện về địa hình, địa chất thuận lợi, hệ thống giao thông các loại phát triển nhanh, lao động dồi dào… Tuy thế kinh tế của địa phương phát triển chưa xứng tầm với tiềm năng vốn có của tỉnh, phải chăng lý do bắt nguồn từ công tác thu hút và quản lý vốn đầu tư chưa được quan tâm đúng mức?
Để có thể khai thác triệt để mọi tiềm năng sẵn có nhằm tạo ra một động lực phát triển cho tỉnh trong giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập và hợp tác kinh
tế quốc tế như hiện nay thì công tác thu hút và sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư là đặc biệt quan trọng Do vậy sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Hà Tây được thành lập có nhiệm vụ chính là kêu gọi thu hút và quản lý mọi hoạt động đầu tư của tỉnh Hà Tây
Trong quá trình thực tập tại Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Tây em đã
thực hiện đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tây trong thu
hút vốn đầu tư” cho chuyên đề thực tập của mình, qua đề tài này em hy vọng
mình sẽ có cơ hội hiểu sâu hơn và áp dụng được các kiến thức mình đã tiếp thu trên lớp vào thực tế làm cơ sở cho quá trình công tác sau này
Chuyên đề này được trình bày theo hai chương:
Chương I: Thực trạng năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tây trong thu hút vốn đầu tư trong giai đoạn 2000 – 2006
Chương II: Các giải pháp và kiến nghị
Lần đầu thực hiện một chuyên đề mang tính khái quát và đòi hỏi trình
độ lý luận cao nên em không tránh khỏi những sai sót trong trình bày và nội dung, em mong sẽ được sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô
Trang 2CHƯƠNG I THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2000 - 2006
I Tiềm năng của tỉnh Hà Tây trong thu hút vốn đầu tư
Tỉnh Hà Tây được thành lập tháng 6 năm 1965 trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông
Ngày 27 tháng 12 năm 1975 Hà Tây hợp nhất với tỉnh Hoà Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình Năm 1978 hai thị xã Sơn Tây và Hà Đông, 5 huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức của tỉnh Hà Sơn Bình cùng một
số xã của huyện Chương Mỹ, Thanh Oai, Thường Tín được chuyển về Hà Nội Tuy nhiên thị xã Hà Đông vẫn tạm thời là tỉnh lỵ tỉnh Hà Sơn Bình Tháng 12 năm 1991 tỉnh Hà Tây được tái lập và 5 huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức cùng 2 thị xã Sơn Tây và Hà Đông được trả về cho tỉnh
Hà Tây Tháng 12 năm 2006 Thủ tướng chính phủ ký nghị định thành lập thành phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây với diện tích tự nhiên là 4.791,7 ha, 228.715 nhân khẩu, có 15 đơn vị hành chính gồm 7 phường và 8 xã
Hà Tây bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 12 huyện:
Trang 31 Tiềm năng về địa lý tự nhiên
Hà Tây là một tỉnh đồng bằng sông Hồng - miền Bắc Việt Nam, có toạ
độ địa lý: 20031’ – 21017’ vĩ độ bắc, 105017’ -1060 00’kinh đông, nằm liền kề với Hà Nội, phía bắc giáp tỉnh Vĩnh phúc, Phú Thọ, phía đông giáp tỉnh Hưng Yên, phía tây giáp tỉnh Hoà Bình, Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam Thực tế, tỉnh
Hà Tây bao bọc thành phố Hà Nội từ phía tây xuống phía nam, mặt khác lại nằm liền kề với vùng tam giác kinh tế trọng điểm (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), Hà Tây còn là một vùng đất nối liền giữa vùng Tây Bắc và vùng Trung du Bắc Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, với vị trí địa lý thuận lợi đó tỉnh Hà Tây đang được cân nhắc là địa bàn xây dựng mới, là nơi
di chuyển các xí nghiệp công nghiệp của Hà Nội, tỉnh có thể tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công -
mỹ nghệ… vào Hà Nội và khu tam giác trọng điểm của các tỉnh phía bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Hà Tây có địa hình đa dạng, vùng đồi núi phía tây và đồng bằng phía đông, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Vùng núi có độ cao tuyệt đối 300m trở lên, diện tích 17.000 ha, địa hình dốc trên 250, các núi đá vôi tập trung ở phía Tây Nam tỉnh, địa hình bị chia cắt rất phức tạp, có nhiều hang động lớn Địa hình vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, mang đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ, ô trũng đê viền
Trang 4Do đặc điểm của điạ hình, Hà Tây chia thành 3 vùng có khí hậu khác nhau: vùng đồng bằng có khí hậu của đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng của gió biển, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,80C, lượng mưa trung bình 1.700 mm – 1.800 mm; vùng đồi gò có khí hậu lục địa chịu ảnh hưởng của gió Lào, nhiệt độ trung bình 24,50C, lượng mưa trung bình 2.300 mm – 2.400 mm; vùng núi cao chủ yếu khu vực Ba Vì có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình là 180C.
Với một hệ khí hậu vô cùng phong phú như vậy đã tạo điều kiện cho hệ động thực vật ở đây phát triển mạnh mẽ, Hà Tây có 2 khu rừng tự nhiên: rừng Quốc Gia Ba Vì có diện tích 7.400 ha với chủng loại thực vật phong phú
và quý hiếm, 872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi, trong 60 họ đã được xác định Khu rừng chùa Hương (huyện Mỹ Đức) cũng có nhiều loài thực vất quý hiếm, được nhà nước công nhận là khu văn hoá lịch sử, được phân loại là rừng đặc dụng
Hà Tây có tiềm năng về quỹ đất và khả năng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 219.299,92 ha Trong
đó đất nông nghiệp là 122.179,31 ha (chiếm 55,7%), đất lâm nghiệp là 15.099,04 ha (6,88%), đất chuyên dùng 39.744,07 ha (18,14%), đất ở đô thị 645.0,6 ha (0,29%), đất ở nông thôn 12.255,27 ha (5,59%), đất chưa sử dụng 29.343.17 ha (13,38%)
Theo kết quả điều tra, Hà Tây có một số khoáng sản chính: đá vôi ở Mỹ Đức, Chương Mỹ trữ lượng 7,2 triệu tấn; sét ở phía Đông Nam thị xã Sơn Tây
có trữ lượng 4.129 tấn, và ở Tiền Phương (Chương Mỹ) có trữ lượng 15 triệu
m3, Puzơlan ở Thái Hoà (Ba Vì) trữ lượng 124.662 tấn; vàng ở Phú Mãn, Xuân Mai (Chương Mỹ), đôlômit ở Phượng Cách (Quốc Oai), Atbe ở Đông Chay, Yên Bái (Ba vì) mới phát hiện; Latenít ở Phượng Cách, Đông Yên (Quốc Oai) lớp đá ong >2,7m
2 Tiềm năng về nguồn nhân lực
Trang 5Dân số của tỉnh Hà Tây
năm 2003 có khoảng 2,47 triệu
người với mật độ dân số 1.126
người/km2
Thành phần dân số dân nông thôn chiếm 91%, còn 9% là dân thành thị.Thành phần dân tộc: Kinh, Mường
3 Tiềm năng về kinh tế xã hội
Hà Tây có 2.000 di tích lịch sử và gần 400 di tích được Nhà nước xếp hạng, trong đó 12 di tích đặc biệt quan trọng, cùng với đình, chùa, đền, miếu
và lễ hội được tổ chức hàng năm làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Gắn liền với các di tích lịch sử phát triển của dân tộc qua đấu tranh dựng nước và giữ nước như vùng núi cao Ba Vì với huyền thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh nay là rừng Quốc Gia Ba Vì, dưới chân núi có nhiều cảnh đẹp, xây dựng các điểm du lịch: Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Tiên, Thác
Mơ, Suối Hai, Đồng Mô… Dãy núi đá vôi trùng điệp phía Tây Nam tỉnh (Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức) có nnhiều hang động độc đáo, kỳ thú, tiêu biểu là động Hương Tích tạo nên tthắng cảnh Hương Sơn nổi tiếng trong nước và thế giới, hàng năm thu hút hàng vạn khách thập phương đến du lịch
và trẩy hội
Hà Tây còn có nhiều đình chùa có giá trị cao về kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật và tôn giáo: chùa Đậu (Thường Tín) có tên “Thành Đạo Tử”, chùa Tây Phương (Thạch Thất) có kiến trúc độc đáo nổi tiếng với 80 vị La Hán, chùa Thầy (Quốc Oai) có tên “Thiên Phúc Tự” nơi tu hành cho cao tăng Từ Đạo Hạnh được xây dựng từ đời Lý, chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian, chùa Trầm, Đền Và, chùa Mía có 278 pho tượng, lăng Ngô Quyền, đền Nguyễn Trãi, thành cổ Sơn Tây… đều là di tích lịch sử nổi tiếng
Tỉnh có 3 cụm du lịch: cụm Sơn Tây – Ba Vì là du lịch văn hoá sinh thái, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tham quan di tích lịch sử và văn hoá dân
9%
Dân tộc Việt, Mường, Dao,
Tày
Trang 6gian, nghỉ cuối tuần Cụm chùa Hưong là du lịch tín ngưỡng, tham quan di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên, du lịch hang động Cụm Hà Đông và phụ cận là du lịch xanh, du lịch văn hoá trong các làng nghề và làng nông nghiệp truyền thống, du lịch thương mại.
Bên cạnh đó, 120 làng nghề với những sản phẩm đặc sắc và được nhiều người ưa chuộng như lụa Vạn Phúc, nón Chuông, quạt Vác, khảm Trai Chuyên Mỹ, hàng mây tre Phú Vinh, đồ mộc Chàng Sơn, tượng gỗ Sơn Đồng v.v đã không chỉ cung cấp công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động mà còn
là một tiềm năng du lịch quan trọng góp phần vào phát triển kinh tế của vùng
Hiện nay, Hà Tây đang gọi vốn đầu tư liên doanh trong nước và nước ngoài để xây dựng cơ sở khách sạn, nhà hàng theo quy hoạch; đào tạo đội ngũ quản lý, công nhân viên phục vụ trong ngành du lịch về nghề nghiệp và ngoại ngữ; tập trung đầu tư vốn nâng cấp hệ thống giao thông trong tuyến du lịch khép kín, đảm bảo điện lưới, thông tin liên lạc hiện đại và vệ sinh môi trường
ở các cụm du lịch
Hà Tây liền kề với thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, đất đai phong phú, cảnh quan đẹp, rất có điều kiện phát triển để trở thành một khu vực vệ tinh phát triển trên cả 3 lĩnh vực: Nông nghiệp, công nghiệp và du lịch dịch vụ Trong những năm tới, tỉnh Hà Tây phấn đấu kết hợp hài hoà các nguồn lực bên trong và bên ngoài, nhất là vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ và nguyên liệu, phát triển mạnh và đồng bộ hệ thống kết cấu
hạ tầng, tạo điều kiện cho quá trình trao đổi hàng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ
Với tiềm năng về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và nguồn nhân lực như vậy là một lợi thế to lớn cho Hà Tây trong thu hút vốn đầu tư tuy nhiên trên thực tế lượng vốn đầu tư mà tỉnh thu hút được trong thời gian qua chưa hoàn toàn tương xứng với những tiềm năng đó
Đánh giá về khả năng thu hút vốn đầu tư của một địa phương chúng ta
có thể nhìn vào chỉ số năng lực cạnh tranh của địa phương đó bởi vì chỉ số
Trang 7năng lực cạnh tranh của một địa phương thể hiện mức độ thuận lợi của môi trường đầu tư của địa phương đó, địa phương nào có chỉ số năng lực cạnh tranh cao có nghĩa môi trường đầu tư của tỉnh đó rất thuận lợi, và các doanh nghiệp , các nhà đầu tư dĩ nhiên không thể bỏ qua mà không đầu tư vào địa phương này, có thể nói khả năng thu hút vốn đầu tư của một địa phương tỉ lệ thuận với chỉ số năng lực cạnh tranh của địa phương đó.
II Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tây trong 2 năm 2005 và 2006.
sự lấn át, chèn ép nhau để tồn tại
Cạnh tranh theo quan niệm của thế giới hiện đại được hiểu đơn giản là quá trình mà doanh nghiệp khẳng định sự có mặt của mình trên thương trường, nơi có vô số các doanh nghiệp khác cũng đang tồn tại và thông qua các chiến lược kinh doanh để mở rộng thị phần, tìm kiếm thậm chí giành giật từng khách hàng nhằm không ngừng nâng cao uy tín của mình Nói một cách khác, cạnh tranh đối với các doanh nghiệp có nghĩa là đảm bảo, duy trì và phát triển vị trí trên thương trường trong nước và quốc tế Đó là khả năng của một doanh nghiệp có thể bán được nhiều sản phẩm hơn, tăng thị phần, tăng lợi nhuận và tăng mức sống của người lao động
Trang 8Cạnh tranh gắn liền với cơ chế thị trường và trở thành quy luật kinh tế đặc thù của nền kinh tế đa thành phần và đa dạng hoá các hình thức sở hữu Thông qua cạnh tranh toàn xã hội có thể thu được những lợi ích cao nhất từ những nguồn lực hạn chế của mình.
Theo một số khái niệm trên đây thì cạnh tranh còn được hiểu một cách
bó hẹp trong phạm vi là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với mục đích cũng rất hạn hẹp là để tăng lợi nhuận hoặc tăng, giữ vững thị phần Tuy nhiên ngày nay thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng một cách vô cùng rộng rãi và linh hoạt, do vậy mà trong trường hợp này thì định nghĩa của từ điển Tiếng Việt nên được vận dụng: Cạnh tranh tức là giành giật nhau để chiếm phần thắng
Như vậy thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng trong chuyên đề này là sự cạnh tranh giữa cách tỉnh để nhằm tranh giành các nhà đầu tư với nhau Để hiểu rõ được thuật ngữ cạnh tranh theo cách sử dụng này chúng ta có thể hình dung 64 tỉnh, thành trong cả nước là các nhà cung cấp cùng một loại hàng hoá như nhau và các nhà đầu tư trong và ngoài nước là các khách hàng Loại hàng hoá mà các “nhà cung cấp” ở đây cung cấp cho các nhà đầu tư chính là môi trường đầu tư của mình
Mặc dù môi trường đầu tư được định nghĩa là bao gồm cả ba yếu tố: các yếu tố về môi trường cứng (như cơ sở hạ tầng,…), môi trường mềm; các chi phí các doanh nghiệp phải bỏ ra để gia nhập thị trường; Nhưng trong chuyên đề này để dế dàng trong phân tích về vấn đề năng lực cạnh tranh của địa phương xin hiểu theo một cách khác, trong đó môi trường đầu tư chính là hàng hoá và chỉ bao gồm các yếu tố về môi trường cứng, môi trường mềm, còn chi phí gia nhập thị trường chính là giá mà nhà đầu tư – khách hàng phải trả khi sử dụng sản phẩm hàng hoá đó
Theo đó, tỉnh hoặc địa phương nào có môi trường đầu tư tốt nhất (theo các tiêu chí đánh giá của dự án nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam cùng dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam hợp tác xây dựng năm 2005) với chi phí thấp nhất mà
Trang 9các nhà đầu tư phái trả để được sử dụng môi trường đầu tư đó thì tỉnh hoặc địa phương đó sẽ hấp dẫn được nhà đầu tư nhất Tuy mục đích cạnh tranh của các địa phương không phải là lợi nhuận hoặc thị phần nhưng cũng như các doanh nghiệp mục đích cuối cùng của cạnh tranh cũng chính là sự tồn tại và phát triển của địa phương, là sự cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân địa phương.
Trang 10Randall lại cho rằng: khả năng cạnh tranh là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định.
Theo Dunning: khả năng cạnh tranh là khả năng cung ứng sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau mà không phân biệt nơi
bố trí sản xuất của doanh nghiệp
Một quan niệm khác cho rằng: năng lực cạnh tranh là trình độ công nghệ sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường đồng thời duy trì được thu nhập của mình
Như vậy năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được hiểu là năng lực của các doanh nghiệp có thể khắc phục được khó khăn và nắm bắt lấy các
cơ hội nhằm tồn tại và ngày càng phát triển so với các doanh nghiệp khác
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được đánh giá qua một số chỉ tiêu sau:
- Thị phần của doanh nghiệp
- Doanh thu/doanh thu của các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
- Tỷ lệ chi phí marketing/tổng doanh thu
- Tỷ suất lợi nhuận
Xét trên phương diện một tỉnh, năng lực cạnh tranh của một tỉnh hoặc một thành phố là khả năng tỉnh hoặc thành phố đó có thể khắc phục các khó khăn thách thức và nắm bắt các cơ hội nhằm thu hút được các nhà đầu tư tiềm năng về đầu tư tại địa phương mình chứ không phải là địa phương khác
Trang 11Trở lại với khái niệm cạnh tranh xét trên phạm vi một doanh nghiệp.Khi các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì ba vũ khí chính được sử dụng, đây cũng chính là một trong những thước đo chính xác thể hiện năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Ba vũ khí đó là: sản phẩm, giá cả và dịch vụ chăm sóc khách hàng.Xét trên phương diện một tỉnh hoặc thành phố thì khái niệm năng lực cạnh tranh của tỉnh (thành phố) còn gắn liền với khái niệm môi trường đầu tư, bởi như chúng ta đã đề cập ở trên, khi xem một tỉnh (thành phố) là một nhà cung cấp hàng hoá thì môi trường đầu tư chính là sản phẩm hàng hoá mà một nhà cung cấp cung cấp cho khách hàng của mình là các nhà đầu tư hay các doanh nghiệp Như vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của các tỉnh (thành phố) chính là cải thiện nâng cao môi trường kinh doanh của tỉnh (thành phố) mình, điều này tương đương với việc nâng cao chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp, làm cho sản phẩm của mình trở nên khác biệt hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh, tức môi trường đầu tư ở tỉnh đó phái thông thoáng; các quy định về đầu tư, ưu đãi đầu tư phải rõ ràng, cụ thể, đơn giản, dể hiểu, dế thực hiện; cơ hạ tầng hiện đại, đáp ứng được các nhu cầu cho hoạt động đầu tư, sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp; … điều này nếu hiểu theo ngôn ngữ marketing đó chính là chíên lược cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Cùng với chất lượng sản phẩm thì giá thành sản phẩm chính là yếu tố quan trọng thứ hai mà khách hàng cân nhắc khi lựa chọn một sản phẩm Một nhà đầu tư sau khi đã xem xét xong các yếu tố của môi trường đầu tư rồi thì điều tiếp theo họ làm là xem xét chi phí mà họ phải bỏ ra để có thể đầu tư tại địa bàn tỉnh, đó là chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí xin mua, hay thuê đất; chi phí điện nước sản xuất,… nếu có hai hoặc ba địa phương có các yếu tố của môi trường đầu tư tương đương nhau thì địa phương nào có chi phí đầu tư thấp hơn tất nhiên nhà đầu tư sẽ chọn đầu tư ở điạ phương đó
Trang 12Bên cạnh chất lượng sản phẩm và giá cả, dịch vụ chăm sóc khách hàng trong thời gian gần đây đã đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc chi phối đến các quyết định của khách hàng.
Như vậy theo cách hiểu môi trường đầu tư của một địa phương là một sản phẩm hàng hoá mà các địa phương rao bán cho các nhà đầu tư, chi phí gia nhập thị trường tại địa phương là giá cả của sản phẩm môi trường đầu tư đó thì dịch vụ chăm sóc khách hàng chính là sự quan tâm, chăm sóc các nhà đầu
tư của chính quyền địa phương cả trước khi, trong và sau khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cụ thể đó là sự quan tâm, đồng cảm của chính quyền với các khó khăn vướng mắc của nhà đầu tư, sự nhanh chóng nhiệt tình của cơ quan có chức năng trong giải quyết các vướng mắc của các nhà đầu tư hay việc tạo điều kiện tiếp xúc gặp gỡ thường xuyên với các nhà đầu tư để họ có cơ hội chia sẻ các vướng mắc gặp phải…
Nếu mỗi điạ phương tạo được một môi trường đầu tư lành mạnh với chi phí gia nhập thị trường cạnh tranh và một thái độ thân thiện, niềm nở với các nhà đầu tư thì trong một tương lai không xa các nhà đầu tư sẽ tìm đến và vun xới cho mảnh đất xanh tươi đó ngày càng đơm nhiều hoa thơm trái ngọt
2 Tóm tắt về phương pháp điều tra và đánh gía chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI)
2.1 Phương pháp điều tra và đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh
Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (sau đây gọi tắt là dự án PCI) do phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) và dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam hợp tác xây dựng từ năm 2005, được cơ quan phát triển quốc tế Hoa kỳ (USAID) tài trợ, mục tiêu của dự án là đánh giá, xếp hạng môi trường kinh doanh và chính sách phát triển khu vực kinh tế
tư nhân của các tỉnh và thành phố trong cả nước thông qua việc xem xét chỉ của các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đăng ký tại các địa phương
Để có được kết quả đánh giá, nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu thu thập được từ một điều tra hơn 2.000 doanh nghiệp tại 42 tỉnh khác nhau trong
Trang 13cả nước Ban nghiên cứu Dự án tiến hành lập phiếu điều tra đề nghị các doanh nghiệp đánh giá về các chỉ số thành phần cấu thành năng lực cạnh tranh Chỉ
số cấu thành để xếp hạng PCI là : chi phí gia nhập thị trường, tính năng động
và tiên phong, tính minh bạch và trách nhiệm; ưu đãi doanh nghiệp Nhà nước, chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân; đất đai và mặt bằng kinh doanh; chi phí thời gian/thanh kiểm tra; chi phí không chính thức; thực hiện chính sách của trung ương, ấn định cho mỗi chỉ số thành phần một trọng số nhất định phụ thuộc vào tầm quan trọng của chỉ số đó; phát phiếu điều tra theo đường bưu điện cho các doanh nghiệp theo địa chỉ đề trong đăng ký kinh doanh; thu thập phiếu điều tra; tập hợp kết quả đánh giá của các doanh nghiệp; tổng hợp số điểm của các chỉ số để xác đỉnh tổng số đạt được (tổng số điểm này đã được chuẩn hoá về thang điểm 100) từ đó xác định chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Kết quả xếp hạng được chia thành 5 nhóm tỉnh theo thứ tự : Tốt, khá, trung bình, tương đối thấp và thấp Khoảng các giữa các nhóm là từ 2/3 điểm trở lên
Theo kết quả điều tra của năm 2005, nhóm tốt nhất bao gồm các tỉnh: Bình Dương, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Bến Tre, Vĩnh phúc, Đồng Nai với các điểm số lần lượt là 76.82; 70.67; 68.56; 65.24; 65.09; 64.14; 62.93 Đây là những tỉnh có kết quả tốt đối với hầu hết các chỉ số cấu thành, thực hiện tốt đối với những chỉ số quan trọng nhất
So với năm 2005, trong phiếu điều tra PCI 2006 có thêm hai chỉ số thành phần là chỉ số về đào tạo lao động và thiết chế pháp lý, ngoài ra
Chỉ số PCI là một cơ sỏ để lãnh đạo tỉnh, thành phố có thế nhận diện rõ hơn điểm mạnh, điểm yếu của tỉnh, thành phố mình Các tỉnh có thế nâng cao kết quả hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân thông qua việc cải thiện điểm
số ở những chỉ số thành phần thấp nhất
Trang 142.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của địa phương.
2.2.1 Chi phí gia nhập thị trường
Chi phí gia nhập thị trường là chỉ tiêu chỉ tổng các chi phí (cả chi phí
về thời gian và tiền bạc) mà mỗi doanh nghiệp phải chi trả để thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Chi phí này càng cao thì điểm số của địa phương càng thấp, địa phương bị đánh giá là có lực cản gia nhập thị trường đối với các nhà đầu tư là lớn
Chi phí gia nhập thị trường được xác định dựa trên các thông số:
• phần trăm doanh nghệp phải mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh
• phần trăm doanh nghiệp phải mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh
• thời gian chờ đợi thật sự để được cấp đất (căn cứ vào nỗ lực của chính quyền, không phải các điều kiện cung cầu)
• thời gian đăng kí kinh doanh (số ngày)
• Thời gian đăng kí lại (số ngày)
• Số lượng giấy đăng kí, giấy phép kinh doanh và quyết định chấp thuận mà doanh nghiệp hiện có
• Phần trăm doanh nghiệp gặp khó khăn mới có đủ các loại giấy phép cần thiết
2.2.2 Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất:
Chỉ số này cho biết mức độ khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt khi tiến hành xin cấp đất phục vụ cho hoạt động đầu tư Việc tiếp cận đất đai các doanh nghiệp càng khó khăn và sự ổn định trong sử dụng đất càng thấp thì điểm số này của địa phương càng thấp
Trang 15• Phần trăm doanh nghiệp thuê lại đất từ DNNN
• Đánh giá của doanh nghiệp về nỗ lực của chính quyền tỉnh trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
• Phần trăm diện tích đất có giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất2.2.2.2 Sự ổn định trong sử dụng đất
• Rủi ro mặt bằng kinh doanh do bị chính quyền thu hồi cho mục đích khác
• Đánh giá về mức thoả đáng của số tiền bồi thường
• Rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê
• Đánh giá về tính công bằng trong cách thức giải quyết tranh chấp về hợp đồng cho thuê
• Thời hạn thuê
2.2.3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin:
Chỉ tiêu này giúp đánh giá sự thoáng của môi trường đầu tư ở mỗi địa phương thông qua đánh giá khả năng tiếp cận những thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư và kinh doanh của địa phương Hệ thống thông tin càng minh bạch và doanh nghiệp càng dế dàng tiếp cận thông tin thì điểm số này của địa phương càng cao
2.2.3.1 Tính minh bạch khác
• Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch
• Tính minh bạch của các quyết định, nghị định
2.2.3.2 Tính công bằng và sự ổn định trong việc áp dụng các quy định
• Vai trò của các “mối quan hệ” để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh
• Vai trò của gia đình bạn bè khi thương lượng với cán bộ nhà nước
• Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh
Trang 162.2.3.3 Khả năng có thể dự đoán và tính ổn định của các quy định, chính sách
• Khả năng có thể dự đoán của việc thực thi pháp luật của tỉnh
• Tỉnh có trao đổi ý kiến với doanh nghiệp về những thay đổi trong các quy định pháp luật
• Chất lượng dịch vụ tư vấn do cơ quan của tỉnh cung cấp
2.2.3.4 Tính cởi mở: đánh giá trang web của tỉnh Lưu ý:chỉ tiêu này có hệ số
là 40% khi tính điểm chỉ số thành phần này
2.2.4 Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước:
Chỉ số này cho biết mức độ nhiệt tình và năng nổ của cán bộ tỉnh trong việc giúp các doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của nhà nước, đồng thời nó cũng phản thông ánh mức độ thông thoáng, đơn giản gọn nhẹ của hệ thống hành chính của địa phương
• Số ngày làm việc với chính quyền địa phương giảm đi sau khi có Luật Doanh Nghiệp
• Phần trăm doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để làm việc với chính quyền
• Số cuộc thanh tra và số giờ làm việc với thanh tra thuế
• Tỉ lệ giảm số cuộc thanh tra sau khi có luật Doanh Nghiệp
2.2.5 Chi phí không chính thức:
• Chỉ số này được xác định dựa trên các tiêu thức
• Các chi phí không chính thức là cản trở chính đối với hoạt động kinh doanh
• Các doanh nghiệp cùng nghành đều phải trả chi phí không chính thức
• Phần trăm doanh nghiệp tốn hơn 10% doanh thu cho các chi phí không chính thức
• Cán bộ tỉnh sử dụng quỹ riêng của địa phương với mục đích trục lợi
• Công việc được giải quyết sau khi chi trả chi phí không chính thức
Trang 172.2.6 Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước (môi trường cạnh tranh)
2.2.6.1 Đánh giá của doanh nghiệp
• Tỉnh ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước
• Tỉnh ưu đãi doanh nghiệp cổ phần hoá
• Thái độ của tỉnh đối với doanh nghiệp tư nhân
• Thái độ đối với doanh nghiệp tư nhân đang được cải thiện
• Những đóng góp về tài chính ảnh hưởng đến thái độ đối với doanh nghiệp tư nhân
• Đánh giá của doanh nghiệp trong nỗ lực thực hiện cổ phần hoá của tỉnh
2.2.6.2 Điểm số liệu cứng về ưu đãi đối với DNNN
• Tương quan về tỉ trọng nợ của DNNN do địa phương quản lý trong tổng số nợ của các doanh nghiệp của tỉnh so với tỉ trọng doanh thu của các DNNN do địa phương quản lý trong tổng doanh thu của các doanh nghiệp của tỉnh
• Phần trăm thay đổi về số lượng DNNN do địa phương quản lý (2000 – 2004)
• Tỷ trọng dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại quốc doanh cho các DNNN
2.2.7 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá về một khía cạnh của năng lực cạnh tranh của tỉnh thông qua việc đánh giá về sự năng nổ nhiệt tình, sự sáng tạo của lãnh đạo tỉnh trong việc giúp các doanh nghiệp giải quyết các khó khăn
Chỉ số này được xây dựng dựa trên các tiêu thức sau:
• Tỉnh triển khai tốt các quy định của Trung ương
• Tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết các khó khăn, trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp
• Tỉnh có nhiều sáng kiến tốt nhưng còn nhiều cản trở ở Trung ương
Trang 18• Không có sáng kiến nào cấp tỉnh
• Tỉnh tham khảo ý kiến của doanh nghiệp khi xây dựng các quy định2.2.8 Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân:
Chỉ tiêu này cho thấy phương hướng phát triển kinh tế tư nhân của tỉnh
và những nỗ lực cũng như các biện pháp mà tỉnh đã thực hiện để khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân
Chỉ tiêu này được xác định dựa trên những tiêu thức sau:
2.2.8.1 Đánh giá chất lượng dịch vụ công
• Thông tin thị trường và xúc tiến thương mại
• Công nghệ và các dịch vụ liên quan đến công nghệ
• Thông tin tìm kiếm đối tác kinh doanh, đầu tư cho các nhà sản xuất địa phương
• Xúc tiến xuất khẩu và hội chợ thương mại
• Khu công nghiệp
2.2.8.2 Các chỉ tiêu từ dữ liệu cứng
• Số lượng hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức (2004 – 2005)
So với năm 2005, trong phiếu điều tra PCI 2006 có thêm hai chỉ số thành phần là chỉ số về đào tạo lao động và thiết chế pháp lý
2.2.9 Chỉ số về đào tạo lao động
Nhằm đánh giá những nỗ lực của chính quyền tỉnh trong việc giải quyết
sự thiếu hụt về lao động có kỹ năng tại địa phương
Chỉ tiêu này được xác định dựa trên các tiêu thức sau:
• Chất lượng dịch vụ giáo dục do các cơ quan của tỉnh cung cấp
• Chất lượng dịch vụ đào tạo nghề cho người lao động do các cơ quan của tỉnh thực hiện
• Số lượng trường dạy nghề, có điều chỉnh theo số dân của từng tỉnh2.2.10 Chỉ số về thiết chế pháp lý đánh giá mức độ tin tưởng của doanh nghiệp đối với các thiết chế pháp lý tại địa phương
Trang 19Chỉ số này được xác định dựa trên các tiêu thức sau:
• Hệ thống pháp lý tạo ra cơ chế để doanh nghiệp có thể khởi kiện hành vi tham nhũng của cán bộ công quyền
• Lòng tin của doanh nghiệp vào thiết chế pháp lý
• Chủ yếu sử dụng thiết chế pháp lý để giải quyết tranh chấp
• Số vụ tranh chấp (mà bên nguyên không phải là DNNN hay DN có vốn đầu tư nước ngoài) quân trên 100 doanh nghiệp đang hoạt động
Lưu ý: ba chỉ tiêu mềm đầu tiên có hệ số 60%, một chỉ tiêu cứng cuối cùng có hệ số 40% khi tính điểm chỉ số thành phần này
Trọng số của các chỉ số thành phần
Chỉ số
Trọng số trung bình (%)
Trọng số làm tròn (%)
Loại trọng số
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân
Tính minh bạch
Đào tạo lao động
Tính năng động và tiên phong của
lãnh đạo tỉnh
Chi phí thời gian để thực hiện các
quy định của Nhà nước
7,76,0
5,73,6
3,3100%
1515151510
105
555
CaoCaoCaoCaoTrung bình
Trung bìnhThấp
ThấpThấpThấp
Trang 20Ngoài ra, PCI 2006 còn cải tiến và hoàn thiện những chỉ số thành phần hiện có để có một đánh giá tổng quan và chính xác hơn.
Theo tiến sĩ David Ray, Phó giám đốc Dự án VNCI, PCI 2006 có ba nét mới quan trọng Thứ nhất, phiếu điều tra được gứi tới hơn 31.000 doanh nghiệp trên phạm vi 64 tỉnh, thành – tăng gấp đôi so với năm trước, số phiếu trả lời tăng gấp ba, tỉ lệ phản hồi trên 20%, đạt hơn 6.300 phiếu
Đáng chú ý là hầu hết các tỉnh đều có trên 50 phiếu trả lời và không có tỉnh nào có số phiếu phản hồi dưới 35 Điều này giúp cho việc phân tích và xử
lý số liệu có độ tin cậy cao
Thứ hai, PCI 2006 có thêm hai chỉ số thành phần là chỉ số về đào tạo lao động và chỉ số về thể chế pháp lý
Và thứ ba là cải cách những chỉ số thành phần hiện có
2.3 Với chỉ số bằng bao nhiêu thì đảm bảo thu hút được vốn đầu tư?
Xem xét chỉ số năng lực cạnh tranh của một số tỉnh và thành phố qua bảng sau:
Trang 26Như vậy chỉ số cạnh tranh PCI được tính toán nhằm so sánh năng lực cạnh tranh giữa các địa phương Chỉ số cạnh tranh giữa các địa phương sau khi được tính toán xong dựa vào mối tương quan tương đối giữa chỉ số của các tỉnh mà người ta sắp xếp chúng vào 5 nhóm sau: rất tốt, tốt, khá, trung bình, tương đối thấp và thấp, do vậy nó không phản ánh cụ thể mức độ hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư của các địa phương Tuy nhiên nhìn vào cách xếp hạng chúng ta có thể thấy rằng chỉ những địa phương có chỉ số năng lực cạnh tranh từ 50 điểm trở lên mới được xếp vào nhóm trung bình, khá, tốt và rất tốt.
Trong 64 tỉnh và thành phố được xem xét, xếp hạng chỉ có 2 tỉnh được xếp hạng rất tốt là Bình Dương và Đà Nẵng
Số tỉnh được xếp hạng rất tốt chỉ chiếm tỉ lệ 3.125%
Số tỉnh được xếp hạng tốt là 7 tỉnh, chiếm tỉ lệ là 10.94%
Số tỉnh được xếp hạng khá là 15 tỉnh, chiếm tỉ lệ là 23.44%
Số tỉnh được xếp hạng trung bình là 19 tỉnh, chiếm tỉ lệ 29.69%
Số tỉnh xếp hạng tương đối thấp là 14 tỉnh, chiếm tỉ lệ 21.88%
Số tỉnh xếp hạng thấp là 7 tỉnh, chiếm tỉ lệ 10.94%
Trang 273 Thực trạng năng lực cạnh tranh tỉnh Hà Tây
3.1 Năng lực cạnh tranh tỉnh Hà Tây năm 2005
stt Chỉ số thành phần
Số điềm đạt được đã có trọng số
Chi phí gia nhập thị trường
Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước Chi phí không chính thức
Ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước
Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân
Chỉ số PCI đã có trọng số
4,27 3,67 3,75 6,10 6,87 4,27 1,20 3,27 33,4
Chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh Hà Tây năm 2005 chỉ có 2 chỉ tiêu đạt trên
5 điểm là chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước và chi phí không chính thức, có thể nói chỉ số năng lực cạnh tranh như vậy là tương đối thấp
3.2 Công tác nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tây trong năm 2005 3.2.1.Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh
Ngay sau khi phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam công bố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm
2005, Ban thường vụ tỉnh uỷ đã họp và ban hành nghị quyết số 14/NQ – TU ngày 5 tháng 6 năm 2005 đồng thời ban hành kế hoạch số 59 Kế HOạCH – TU
để triển khai nghị quyết nêu trên; UBND tỉnh đã xây dựng chương trình hành động, sau đó ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện
Trang 283.2.2 Các hoạt động cụ thể:
Toàn thể các Sở, Ban, Ngành, Huyện, thị xã trong tỉnh đã tổ chức đợt sinh hoạt sâu rộng nhằm kiểm điểm, nghiên cứu, học tập quán triệt Nghị Quyết, Kế hoạch của tỉnh uỷ và chương trình hành động của UBND tỉnh
UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, Ban ngành, UBND các huyện, thị tiến hành các hoạt động cụ thể như: tổ chức gặp mặt định kỳ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; quy định ngày thứ 6 hàng tuần tiếp doanh nghiệp và thiết lập đường dây nóng để các doanh nghiệp có thể dễ dàng phản ánh các bức xúc, kiến nghị qua
đó các cơ quan công quyền biết và giải quyết, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp; mở hội nghị xúc tiến đầu tư, ban hành một số quy định quan trọng liên quan đến các doanh nghiệp như: Quy định về một số cơ chế khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh, quy định danh mục lĩnh vực, dự án kêu gọi đầu tư giai đoạn 2005 – 2010, quy định về khung giá đất trên địa bàn tỉnh, tổ chức chương trình truyền hình trực tiếp Hà Tây - Tiềm năng và cơ hội đầu tư, tham gia triển lãm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Các Sở, Ban ngành, UBND các huyện, thị xã đã tập trung kiểm điểm các mặt còn hạn chế, yếu kém ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực cạnh tranh của tỉnh như công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho các đảng viên, cán bộ, quần chúng nhân dân về tầm quan trọng của việc tạo các điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ nói riêng phát triển sản xuất kinh doanh; công tác tổ chức bộ máy, đào tạo và bố trí cán bô, công chức có trách nhiệm trực tiếp hỗ trợ và giải quýêt các công việc liên quan đến các doanh nghiệp; công tác giữ gìn an ninh trật tự trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng; giải quyết nhanh, dứt điểm, đúng pháp luật những vụ việc phức tạp gây ách tắc đến tiến độ triển khai một số dự án của nhà đầu tư; quy trình thủ tục đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cấp phép xây dựng…; công tác cải cách hành chính, mẫu hoá, đơn giản hoá các loại hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoạt động của
Trang 29doanh nghiệp; công khai hoá, minh bạch hoá các chủ trương, chính sách, quy định, chương trình, kế hoạch của địa phương có liên quan, ảnh hưởng đến sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp…
Căn cứ kết quả kiểm điểm nêu trên, các cơ quan có liên quan và các cấp chính quyền trong tỉnh đã lập các kế hoạch, chương trình cụ thể phát huy các thành tích, ưu điểm đã đạt được và quyết tâm khắc phục vượt qua các yếu kém, nhược điểm đang ngày càng ảnh hưởng không tốt đến năng lực cạnh tranh của tỉnh
UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, nghành tiến hành rà soát các văn bản liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư của các doanh nghiệp, đồng thời ban hành, bổ sung, điều chỉnh một số văn bản để thực hiện mục tiêu trên Cụ thể:
Trang 30Văn bản số 2740 CV/UBND – NC ngày 25 tháng 7 năm 2005 của UBND tỉnh ban hành chương trình hành đồng thực hiện Nghị quyết 14 và Kế hoạch 59 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ;
Quyết định số 725/QĐ – UB ngày 21 tháng 6 năm 2005 của UBND tỉnh ban hành quy định việc đấu giá đất ở để tạo vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng;
Quyết định số 872/2005/QĐ-UBND ngày 15 tháng 7 năm 2005 của UBND tỉnh ban hành trình tự, thủ tục xây dựng, triển khai cụm, điểm công nghiệp trên địa bàn tỉnh;
Quyết định số 917/2005/QĐ-UB ngày 18 tháng 7 năm 2005 của UBND tỉnh ban hành trình tự thủ tục chấp nhận chủ trương đầu tư trên địa bàn tỉnh;
Quyết định số 614/QĐ-UBND ngày 07 tháng 8 năm 2006 của chủ tịch UBND tỉnh về việc thành lập tổ công tác tiếp nhận, xử lý vướng mắc của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về thủ tục hành chính…
Quyết định số 1838/2005/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2005 ban hành danh mục các dự án kêu gọi đầu tư cho giai đoạn 2006 -2010;
Quyết định số 1854/2005/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2005 của UBND tỉnh ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh (thay thế Quyết định
số 15/2005/QĐ-UB ngày 12 tháng 01 năm2005);
Quyết định số 1879/2005/QĐ-UBND tỉnh ngày 09 tháng 12 năm 2005 của UBND tỉnh ban hành khung giá đất trên địa bàn tỉnh;
Quyết định số 762/2006/QĐ-UB ngày 05 tháng 5 năm 2006 của UBND tỉnh về phê duyệt chương trình xúc tiến đầu tư năm 2006;
Văn bản chỉ đạo các cấp, các nghành kiểm điểm về việc thực hiện trách nhiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh theo kết luận số 55KL/TU ngày 26 tháng 3 năm 2006 của Tỉnh uỷ
3.2.2.3 Về công tác quy hoạch
Trang 31Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác quy hoạch đối với việc thu hút đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh, tỉnh đã chú trọng chỉ đạo việc lập, điều chỉnh, bổ sung, phê duyệt hoặc trình phê duyệt và tổ chức thực hiện các quy hoạch, trong đó quan trọng nhất là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tây đến năm 2010 vừa được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 195/2006/QĐ – TTg ngày 25/8/2006 và các quy hoạch như: công nghiệp, giao thông - vận tải, du lịch, sử dụng đất, sản xuất vật liệu xây dựng, các khu, cụm và điểm công nghiệp.
Nhiều huyện, thị xã cũng đã quan tâm đến công tác quy hoạch, chủ động trong việc lập và trình duyệt các quy hoạch của huyện nhất là quy hoạch đất đai, quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, quy hoạch cụm, điểm công nghiệp, quy hoạch xây dựng đô thị…
Đã thống nhất cho thành lập tại mỗi huyện, thị xã một ban quản lý và thành lập các ban bồi thường giải phóng mặt bằng đối với các huyện, thị xã có nhiều dự án đầu tư cần tập trung đầy mạnh công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, đồng thời đã quan tâm bố trí thêm biên chế cho một số sở, ban, ngành, huyện, thị cần tăng cường để giải quyết nhanh các công việc liên quan đến sản xuất – kinh doanh, đầu tư của các doanh nghiệp
Đã chủ động ban hành kịp thời và đôn đốc kế hoạch thực hiện nghị quyết
01 của Tỉnh uỷ về tăng cường công tác cải cách hành chính, trong đó đặc biệt chú trọng tới các vấn đề trực tiếp liên quan đến môi trường kinh doanh
Trang 323.2.3.5 Về công tác vận động Xúc tiến đầu tư
Công tác tuyên truyền xúc tiến hoạt động đầu tư đã triển khai được những bước quan trọng:
Căn cứ quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đã khảo sát, nghiên cứu, ban hành và công bố danh mục các dự án và kêu gọi đầu tư vào tỉnh Hà Tây giai đoạn 2006 – 2010
Xây dựng các ấn phẩm, tài liệu xúc tiến đầu tư, bao gồm cả đĩa VCD để cung cấp thông tin chính thống cho các nhà đầu tư
Tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Tây lần thứ nhất vào ngày 09 tháng 12 năm 2005, qua đó đã tiếp nhận được cam kết của các nhà đầu tư trong
và ngoài nước về nhiều dự án lớn
Tổ chức chương trình truyền hình trực tiếp “Hà Tây - tiềm năng và cơ hội đầu tư”
Tham gia triển lãm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội
Ký thoả thuận hợp tác xúc tiến đầu tư với một số công ty tư vấn đầu tư để vận động xúc tiến đầu tư
3.2.3.6 Về công tác nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức và cải tiến lề lối làm việc
Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã đã kiện toàn một bước công tác cán bộ có liên quan đến đầu tư, hầu hết đã thực hiện tốt cơ chế một cửa, công khai các thủ tục hồ sơ trong việc xem xét giải quyết các thủ tục gia nhập thị trường cho các doanh nghiệp, tiếp nhận các dự án đầu tư, giao đất, cấp phép xây dựng, đền bù giải phóng mặt bằng, thời gian giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến nhà đầu tư bước đầu đã được rút ngắn hơn
3.2.3.7 Về công tác tạo mặt bằng sẵn cho nhà đầu tư:
Trong thời gian qua, tỉnh thực sự đã tập trung chỉ đạo hoàn thành nhanh công tác giải phóng mặt bằng và đẩy mạnh việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng
Trang 33bộ đối với các cụm công nghiệp như: Cụm CN Phùng Xá, cụm CN Phùng, cụm
CN Quất Động… để tiếp tục nhận các dự án đầu tư Đối với khu công nghiệp Bắc Phú Cát, sau nhiều tháng việc giải phóng mặt bằng bị chậm, nay đã hoàn thành việc đền bù giải phóng mặt bằng được trên 200 ha; mặt khác đang tích cực triển khai giải phóng mặt bằng tiếp khu công nghệ cao Hoà Lạc và ra soát, điều chỉnh bổ sung danh mụcquy hoạch khu, cụm, điểm công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo định hướng hợp nhất các cụm công nghiệp gần nhau thành khu công nghiệp
để tận dụng các chính sách ưu đãi nhiều mặt của Nhà nước nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư và đồng thời xúc tiến đầu tư xây dựng thêm khu công nghiệp tại khu vực phía Nam tỉnh để khai thác nhanh và hiệu quả lợi thế tiện lợi giao thông của khu vực này do cầu Thanh Trì sắp khánh thành đưa vào sử dụng
3.3 Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tây năm 2006
3.3.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Tây năm 2006
Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
Chi phí không chính thức
Ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh Chính sách phát triển kinh tế tư nhân
Đào tạo lao động Thiết chế pháp lý Chỉ số PCI đã có trọng số
6,12 4,92 5,56 4,28
5,07 6,70 2,53 3,60 2,92 3,13 40,73
Trang 34Trong 10 chỉ số nêu trên, tỉnh Hà Tây có 4 chỉ số đạt số điểm trên 5 và 6 , còn lại đạt chỉ số dưới 5.
Trang 353.3.2 Phân tích, so sánh sơ bộ về chỉ số PCI của tỉnh Hà Tây trong năm 2006.
So sánh với năm 2005, năm 2006 tỉnh Hà Tây có 6 chỉ số thành phần tăng điểm là:
số
tt chỉ số thành phần Năm số điểm đạt
2005
Năm 2006
Chi phí gia nhập thị trường
Tiếp cận đất đai và sự ốn định trong sử dụng đất
Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước
Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Chính sách phát triển kinh tế khu vực tư nhân
4,27 3,67 3,75 4,27 1,20 3,27
6,12 4,92 5,56 6,70 2,53 3,60
Ngược lại có hai chỉ số thành phần giảm điểm là
5,07 4,28
Ngoài ra, năm 2006 Dự án đưa thêm 2 chỉ tiêu thành phần mới so với năm