1. Lý do chọn đề tài Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Trong đó nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định thắng lợi của công cuộc CNH – HĐH và hội nhập quốc tế là con người. Vì vậy phải chăm lo đến nguồn lực người, chuẩn bị lớp người lao động có những phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xã hội, việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông. Trong những năm qua, giáo dục & đào tạo (GD&ĐT) đã có những thay đổi, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng để hội nhập quốc tế sâu sắc. Bộ GD&ĐT đã tiến hành nhiều cuộc đổi mới ở các bậc học, trong đó có đổi mới giáo dục phổ thông. Ngày 5 tháng 5 năm 2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT về Chương trình Giáo dục phổ thông. Chương trình giáo dục phổ thông là kết quả của sự điều chỉnh, hoàn thiện, tổ chức lại các chương trình đã được ban hành, làm căn cứ cho việc quản lý, chỉ đạo, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá ở tất cả các cấp học, trường học trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên có một thực tế là khả năng tiếp thu bài học của HS phổ thông ở các vùng miền trên cả nước, ở trong một địa phương và ngay trong một nhà trường là không đồng đều. Chính vì vậy cần phải có một yêu cầu thống nhất trên cả nước về mức độ kiến thức, kỹ năng tối thiểu HS cần đạt được, trên nền tảng đó, tùy theo đối tượng HS mà GV đề ra những yêu cầu cao hơn. Xuất phát từ những vấn đề nói trên, Chuẩn kiến thức, kỹ năng đã được đưa vào thành phần của Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành năm 2006 theo quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT nhằm đảm bảo việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng, tạo nên sự thống nhất trong cả nước; góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập; giảm thiểu dạy thêm, học thêm, từng bước ổn định và nâng cao chất lượng giáo dục. Trong những năm đầu thực hiện, không chỉ có HS mà cả GV, CBQL cũng còn gặp khó khăn về việc dạy học, chỉ đạo dạy học theo Chuẩn KT - KN. Chính vì vậy, dạy học và chỉ đạo hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong nhà trường THPT. Chuẩn KT - KN sẽ giúp HS tiếp thu kiến thức thuận lợi, phù hợp với khả năng nhận thức của mình; giúp GV thực hiện nhiệm vụ truyền đạt kiến thức tốt hơn, đồng thời giúp người CBQL nói chung, các hiệu trưởng nói riêng đánh giá chính xác hơn kết quả giảng dạy của GV, và là cơ sở quan trọng để tiến hành đánh giá kết quả học tập của HS. Nhìn chung ở các trường phổ thông hiện nay, bước đầu đã vận dụng được Chuẩn KT - KN trong giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá; song về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông, nhiều GV vẫn còn nhầm lẫn giữa SGK và Chuẩn KT - KN, dẫn đến tình trạng thiết kế bài học lộn xộn, không đồng nhất, dạy học “quá tải” gây chán học, mệt mỏi, mất hứng thú ở HS. Chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có Chuẩn KT - KN là căn cứ quan trọng để thực hiện chuẩn hóa nội dung dạy học. Biết, hiểu và triển khai các hoạt động chỉ đạo quản lý giáo dục, quản lý dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông, theo Chuẩn KT - KN là nhiệm vụ hàng đầu của hiệu trưởng nhà trường. Chuẩn KT - KN đã được thực hiện trong dạy học ở một số trường THPT tỉnh Hưng Yên từ năm học 2007 – 2008, và thực hiện đồng bộ ở tất cả các trường THPT trong toàn tỉnh từ năm học 2010 – 2011. Tuy nhiên, cho đến nay theo tài liệu mà chúng tôi có được thì ở tỉnh Hưng Yên chưa có tác giả nào nghiên cứu sâu về vấn đề này. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi muốn đi sâu hơn về cơ sở lí luận của công tác quản lý hoạt động dạy học, để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN ở tỉnh Hưng Yên, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay. Với lí do trên chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp Trong đó nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định thắng lợi của công cuộc CNH – HĐH và hội nhập quốc tế là con người Vì vậy phải chăm lo đến nguồn lực người, chuẩn bị lớp người lao động có những phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xã hội, việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông
Trong những năm qua, giáo dục & đào tạo (GD&ĐT) đã có những thay đổi, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng để hội nhập quốc tế sâu sắc
Bộ GD&ĐT đã tiến hành nhiều cuộc đổi mới ở các bậc học, trong đó có đổi mới giáo dục phổ thông
Ngày 5 tháng 5 năm 2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT về Chương trình Giáo dục phổ thông Chương trình giáo dục phổ thông là kết quả của sự điều chỉnh, hoàn thiện, tổ chức lại các chương trình đã được ban hành, làm căn cứ cho việc quản lý, chỉ đạo, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá ở tất cả các cấp học, trường học trên phạm
vi cả nước
Tuy nhiên có một thực tế là khả năng tiếp thu bài học của HS phổ thông ở các vùng miền trên cả nước, ở trong một địa phương và ngay trong một nhà trường là không đồng đều Chính vì vậy cần phải có một yêu cầu thống nhất trên cả nước về mức độ kiến thức, kỹ năng tối thiểu HS cần đạt được, trên nền tảng đó, tùy theo đối tượng HS mà GV đề ra những yêu cầu cao hơn
Xuất phát từ những vấn đề nói trên, Chuẩn kiến thức, kỹ năng đã được đưa vào thành phần của Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành năm
Trang 22006 theo quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT nhằm đảm bảo việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng, tạo nên sự thống nhất trong cả nước; góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập; giảm thiểu dạy thêm, học thêm, từng bước ổn định và nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong những năm đầu thực hiện, không chỉ có HS mà cả GV, CBQL cũng còn gặp khó khăn về việc dạy học, chỉ đạo dạy học theo Chuẩn KT -
KN Chính vì vậy, dạy học và chỉ đạo hoạt động dạy học theo Chuẩn KT -
KN là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong nhà trường THPT Chuẩn KT -
KN sẽ giúp HS tiếp thu kiến thức thuận lợi, phù hợp với khả năng nhận thức của mình; giúp GV thực hiện nhiệm vụ truyền đạt kiến thức tốt hơn, đồng thời giúp người CBQL nói chung, các hiệu trưởng nói riêng đánh giá chính xác hơn kết quả giảng dạy của GV, và là cơ sở quan trọng để tiến hành đánh giá kết quả học tập của HS
Nhìn chung ở các trường phổ thông hiện nay, bước đầu đã vận dụng được Chuẩn KT - KN trong giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá; song về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông, nhiều GV vẫn còn nhầm lẫn giữa SGK và Chuẩn KT - KN, dẫn đến tình trạng thiết kế bài học lộn xộn, không đồng nhất, dạy học “quá tải” gây chán học, mệt mỏi, mất hứng thú ở HS Chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có Chuẩn KT - KN là căn cứ quan trọng để thực hiện chuẩn hóa nội dung dạy học Biết, hiểu và triển khai các hoạt động chỉ đạo quản lý giáo dục, quản lý dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông, theo Chuẩn KT - KN là nhiệm
vụ hàng đầu của hiệu trưởng nhà trường
Chuẩn KT - KN đã được thực hiện trong dạy học ở một số trường THPT tỉnh Hưng Yên từ năm học 2007 – 2008, và thực hiện đồng bộ ở tất cả các trường THPT trong toàn tỉnh từ năm học 2010 – 2011 Tuy nhiên, cho đến
Trang 3nay theo tài liệu mà chúng tôi có được thì ở tỉnh Hưng Yên chưa có tác giả nào nghiên cứu sâu về vấn đề này Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi muốn đi sâu hơn về cơ sở lí luận của công tác quản lý hoạt động dạy học, để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT -
KN ở tỉnh Hưng Yên, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay
Với lí do trên chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên”.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hai vấn đề chính:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT
- Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT – KN nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục THPT và nâng cao chất lượng dạy học
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN
ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên
3.2 Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT của tỉnh Hưng Yên
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, dạy học theo Chuẩn KT - KN đã được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước, ở tất cả các trường THPT, nhưng công tác quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT theo Chuẩn KT - KN còn thiếu
Trang 4đồng bộ và bất cập Nếu nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN một cách đồng bộ và hiệu quả sẽ thực hiện được những mục đích, yêu cầu dạy học theo Chuẩn, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên
5.2 Nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn
KT - KN ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên
6 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào thực trạng hoạt động chỉ đạo quản
lý dạy học theo Chuẩn KT - KN và các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của GV theo Chuẩn KT - KN ở 03 trường THPT tỉnh Hưng Yên, đó là các trường THPT Hưng Yên, Tiên Lữ, Nam Phù Cừ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu các văn bản, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước
về GD&ĐT, của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hưng Yên
- Các tài liệu lý luận khoa học khác có liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát (hoạt động dạy và học của GV, HS)
- Phương pháp điều tra, khảo sát: xây dựng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng BGH, tổ trưởng chuyên môn và GV các bộ môn Quá trình điều tra được tiến hành theo các bước sau:
Trang 5Bước 1: xây dựng phiếu điều tra.
Bước 2: tiến hành điều tra
Bước 3: thu thập phiếu điều tra và xử lí số liệu
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm về lĩnh vực này gồm CBQL của Vụ THPT, Viện Chiến lược giáo dục, Học viện Quản lý giáo dục, Sở GD&ĐT Hưng Yên, các trường THPT tỉnh Hưng Yên
7.3 Nhóm các phương pháp xử lí số liệu
Dùng phương pháp thống kê toán học để phân tích, tổng hợp các số liệu
mà đề tài đã nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm các phần: Mở đầu, Kết luận & khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục Phần Nội dung được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn
kiến thức, kỹ năng
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến
thức, kỹ năng ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến
thức, kỹ năng ở các trường THPT tỉnh Hưng Yên
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC KỸ NĂNG Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, giáo dục luôn là một lĩnh vực mà ở bất kỳ thời đại nào, quốc gia nào cũng coi trọng, thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học Tuy nhiên, nghiên cứu các vấn
đề trong giáo dục không phải là điều dễ dàng, vì những vấn đề đó luôn có sự gắn bó chặt chẽ với những lĩnh vực khác trong xã hội Chính vì vậy, nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục là một vấn đề khó khăn và phức tạp
Đối với giáo dục, muốn nâng cao chất lượng giáo dục nói chung thì trước hết phải nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường Để nâng cao chất lượng giảng dạy, vai trò của các biện pháp quản lý là hết sức quan trọng Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà trường để tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất
Ở Việt Nam, giáo dục và quản lý giáo dục đã được coi trọng từ rất sớm Ngay từ thời nhà Lý, Văn miếu Quốc tử giám đã được xây dựng trở thành nơi đào tạo nhân tài cho đất nước và trong suốt thời kỳ phong kiến, nhiều người thầy nổi tiếng đã được bổ nhiệm làm Tế tửu, chịu trách nhiệm giảng dạy và quản lý trường đại học đầu tiên này
Sau khi đất nước giành được độc lập, một trong những mục tiêu quan
trọng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra là “diệt giặc dốt”, Bác đã
thấy rõ được tầm quan trọng của giáo dục đối với công cuộc xây dựng và bảo
Trang 7vệ nền độc lập của nước nhà Từ đó đến nay, Đảng ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Chính vì vậy mà kể từ sau Đổi mới (1986), Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong chiến lược phát triển KT –
XH của đất nước Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta
thể hiện quan điểm: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học” [31,35] Muốn làm được điều này trước hết phải nâng cao chất lượng quản lý của lãnh đạo nhà trường, nhất là của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học trong nhà trường
Đã có nhiều nhà sư phạm nước ta nghiên cứu về vấn đề này Các tác giả đưa ra các vấn đề về vai trò của nhà quản lý trong công tác quản lý trường học; bản chất và mối quan hệ giữa các hoạt động dạy và mối quan hệ giữa các hoạt động dạy và hoạt động học; vai trò của người dạy và người học; biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý của lãnh đạo nhà trường (Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thanh Phong, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Trần Kiều, Trần Kiểm, Nguyễn Phúc Châu, Nguyễn Quốc Chí …) Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đó dù nghiên cứu về lý luận dạy học, quản lý hoạt động dạy học, khái quát hay cụ thể nhưng đều tập trung thống nhất ở chỗ làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học
Trong tiến trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, tháng 5 năm 2006, Bộ GD&ĐT đã ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông Chương trình Giáo dục phổ thông là kết quả của sự điều chỉnh, hoàn thiện, tổ chức lại các chương trình đã được ban hành, làm căn cứ cho việc quản lý, chỉ đạo, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá ở tất cả các cấp học, trường học trên phạm vi cả nước Trong chương trình giáo dục phổ thông, lần đầu tiên Chuẩn KT - KN được thể hiện, cụ thể hóa ở chương trình từng môn học, theo từng lớp học
Trang 8Đối với mỗi quốc gia trên thế giới, khi tiến hành giảng dạy theo một chương trình nào đó thì việc đầu tiên cần làm là đưa ra một hệ thống Chuẩn
để căn cứ vào đó thực hiện hoạt động dạy học cũng như kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức của HS, tạo nên sự thống nhất về mục tiêu giáo dục trên khắp đất nước Tuy nhiên, do đặc trưng về kinh tế, xã hội, văn hóa, dân
cư … mà hệ thống Chuẩn ở các quốc gia có sự khác biệt
Đối với Việt Nam, trong SGV ở đầu mỗi bài cũng đã có nêu lên những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng mà HS cần đạt được sau bài học, nhưng còn ở mức khái quát, điều đó đã dẫn đến thực trạng dạy học ở các trường trên cả nước không hoàn toàn thống nhất, gây khó khăn cho việc đánh giá một cách chính xác, khách quan kết quả dạy của GV và kết quả học của HS
Bước vào năm học 2010 – 2011, Bộ GD&ĐT đã ban hành tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT - KN và tiến hành tập huấn cho GV giảng dạy ở bậc THPT, mục đích là tạo nên sự thống nhất chương trình trên phạm vi
cả nước, khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập Chuẩn KT -
KN đã được sử dụng làm căn cứ để chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá, thay thế cho vai trò của SGK và SGV (chỉ còn là tài liệu tham khảo chính)
Vì mới chính thức được thực hiện đại trà trên cả nước từ năm học 2010 – 2011 nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN Phần lớn mới chỉ dừng lại ở các bài báo, các sáng kiến kinh nghiệm như “Dạy học trên cơ sở Chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học” (PGS.TS Đỗ Đình Hoan - tạp chí KHGD số 29/2008) ;
“Kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện dạy học theo Chuẩn kiến thức kĩ năng” (Ngô Minh Thành và Đinh Thị Kim Liên – Phòng Giáo dục Thành phố Hưng Yên – tháng 5/2010) …
1.1.2 Sự cần thiết nghiên cứu vấn đề dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với giáo dục phổ thông
Trang 9Giáo dục phổ thông là nền tảng quan trọng để HS tiếp tục các bậc học tiếp theo hoặc bước vào cuộc sống Thành quả của giáo dục phổ thông có tác dụng cơ bản, lâu dài, có tính chất quyết định đối với cuộc đời mỗi HS Để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học, tạo điều kiện thuận lợi cho GV và CBQL,
Bộ GD&ĐT đã ban hành bộ tài liệu “Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ năng” các môn học Đây là giải pháp cơ bản trong hệ thống các giải pháp nhằm đảm bảo cho hoạt động dạy học ở bậc THPT đạt được các mục tiêu đề
ra, góp phần khắc phục tình trạng “quá tải”, giảm thiểu dạy thêm, học thêm
Việc đặt ra yêu cầu dạy học theo Chuẩn, bám sát Chuẩn KT – KN xuất phát từ thực trạng của hoạt động dạy học và từ khả năng tiếp nhận kiến thức của HS Đưa Chuẩn KT – KN vào thành phần của chương trình giáo dục phổ thông tạo điều kiện để GV và HS thuận lợi hơn trong dạy và học, giúp hiệu trưởng quản lý tốt hơn hoạt động dạy học của nhà trường, tạo ra nền tảng bước đầu để tiến hành chuẩn hóa các lĩnh vực liên quan đến giáo dục Bên cạnh Chuẩn KT – KN các môn học, Bộ GD&ĐT cũng đưa ra Chuẩn hiệu trưởng, Chuẩn GV …, tạo cơ sở để thực hiện thành công đổi mới giáo dục
Tuy nhiên, việc dạy học theo Chuẩn KT - KN còn có nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng giáo dục trong các nhà trường Một bộ phận CBQL ở các nhà trường chưa quan tâm đến “Chuẩn”, thường đánh giá giờ dạy theo SGK Nhiều GV chưa thực hiện giảng dạy theo Chuẩn KT - KN, vẫn đưa vào tiết học cả những kiến thức không phù hợp với khả năng tiếp thu của HS khiến bài học vừa khó,vừa dài trong khi quỹ thời gian chỉ có hạn Một
số GV còn lúng túng khi sử dụng các tài liệu hướng dẫn dạy học theo Chuẩn
KT - KN để soạn giảng dẫn đến việc không biết lựa chọn kiến thức phù hợp với từng đối tượng HS trong lớp khiến giờ học quá tải, kém hiệu quả
Về phía HS, mức độ nhận thức của các em HS trong cùng một độ tuổi
là không đồng đều Đây là một khó khăn lớn đối với GV và CBQL trong quá
Trang 10trình dạy học và chỉ đạo thực hiện dạy học theo Chuẩn KT - KN Làm thế nào
để hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục? Làm thế nào để hoạt động dạy học hướng đến tất cả đối tượng HS, giờ học khắc phục được tình trạng quá tải, không bị sức ép vì thiếu thời gian, không khí lớp học bớt nặng nề, HS tự tin, hứng thú học tập? Chúng tôi nhận thấy điều hết sức cần thiết là phải tìm ra các biện pháp chỉ đạo, quản lí một cách hợp lí, kịp thời nhằm giúp việc dạy học theo Chuẩn KT - KN đạt được các mục tiêu giáo dục đề ra
Dạy học theo Chuẩn, bám sát Chuẩn KT - KN được triển khai và thực hiện trên phạm vi cả nước dựa trên các cơ sở pháp lý như sau:
a Ngày 5 tháng 5 năm 2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã kí quyết định
số 16/2006/QĐ-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông trong đó
có Chuẩn KT - KN của từng môn học Đây là căn cứ cho việc quản lý, chỉ đạo, tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá ở tất cả các cấp học, trường học trên phạm vi cả nước
b Công văn số 7394/BGDĐT-GDTrH ngày 25 tháng 8 năm 2009 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2009 – 2010 Trong công văn số 7394, Bộ GD&ĐT yêu cầu các Sở GD&ĐT chỉ đạo các trường THPT nghiêm túc thực hiện dạy học theo Chuẩn KT - KN
c Công văn số 64/BGDĐT-GDTrH ngày 06 tháng 01 năm 2010 về việc hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT - KN của chương trình giáo dục phổ thông Kèm theo công văn số 64 là bộ tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng” với tất cả các môn học
d Chỉ thị số 3398/CT-BGDĐT ngày 12 tháng 8 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục các cấp năm học
2011 - 2012, trong đó có giáo dục THPT
Trang 11e Công văn số 5433, ngày 17 tháng 8 năm 2011 của Bộ GD&ĐT về việc “Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2011 – 2012”.
1.2 Các khái niệm liên quan đến quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng
1.2.1 Quản lý
Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội Con người trong quá trình hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình Trong quá trình lao động, đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, con người cần phải hợp sức nhau lại để tự vệ hoặc lao động kiếm sống Bên cạnh lao động chung của mọi người, đã xuất hiện những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều khiển hoạt động của mọi người nhằm thực hiện những mục tiêu chung đã định và từ
đó tư duy về quản lý ra đời như là một tất yếu trong điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội
Các Mác đã thừa nhận: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [20,1].
Có nhiều khái niệm về quản lý, theo từ điển Tiếng Việt, quản lý (hiểu theo ý nghĩa là một động từ) nghĩa là: tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [36,800]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội
Trang 12lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”
và “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích
dự kiến” [24,15].
Tác giả Nguyễn Đức Trí khẳng định: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ định), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định” [46,14].
Ở mỗi góc độ tiếp cận, người ta có thể đưa ra một quan niệm quản lý khác nhau Nhìn chung, các khái niệm quản lý bao gồm những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động
- Trong quản lý, luôn có chủ thể quản lý và khách thể quản lý (đối tượng quản lý) quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêu cầu đối với khách thể quản lý
- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để xã hội tồn tại, vận hành và phát triển
- Quản lý phải có cấu trúc và vận động trong một môi trường xác định Hoạt động quản lý bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người
và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định
Như vậy, quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống và nó
có liên quan đến nhiều yếu tố: các yếu tố cấu trúc và các yếu tố khác (tổ chức, môi trường, quyền uy …)
1.2.2 Nhà trường và quản lý nhà trường THPT
1.2.2.1 Nhà trường
Trang 13Trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin và xem xét quá trình lịch sử phát triển nhà trường trong tiến trình lịch
sử phát triển xã hội loài người cho thấy, nhà trường là một dạng thiết chế tổ chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành (thiết lập) do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện chức năng truyền thụ các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng và
xã hội
Nhà trường được tổ chức và hoạt động với chức năng truyền thụ và lĩnh hội tri thức nhân loại để nhằm mục tiêu tồn tại và phát triển cá nhân, phát triển cộng đồng và phát triển xã hội
Theo Từ điển Tiếng Việt thì nhà trường nói một cách tổng quát là nơi những người làm công tác quản lý, giảng dạy ở trường học [36,701]
Tác giả Nguyễn Phúc Châu trong chuyên luận quản lý nhà trường đã
viết: “Nhà trường là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức
xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội” [10,12].
Ở phạm vi khái quát, nhà trường được hiểu là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, xã hội, là nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ, là
cơ quan giáo dục chuyên biệt, có đội ngũ các nhà giáo được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc, phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục, mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời đại
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
Trang 14hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh” [16,61].
Quản lý nhà trường phổ thông trước hết là quản lý hoạt động dạy và học, đưa hoạt động đó từ trạng thái này đến trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường học là quản lý tập thể giáo viên và học sinh, để chính họ lại quản lý (đối với giáo viên) và tự quản
lý (đối với học sinh) quá trình dạy học – giáo dục, nhằm đào tạo ra sản phẩm
là nhân cách người lao động mới” [37,54].
Theo Nguyễn Phúc Châu: “Quản lý nhà trường (một cơ sở giáo dục) là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, nhân viên, người học, …) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục” [10,20].
Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng là nhà trường Do đó, quản lý nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
Quản lý nhà trường phổ thông bao gồm: quản lý các quan hệ giữa nhà trường và xã hội và quản lý chính nhà trường (quản lý bên trong nhà trường)
Quản lý bên trong nhà trường gồm: quản lý các quá trình giáo dục đào tạo và quản lý các điều kiện (vật chất, tài chính, nhân lực …)
1.2.2.3 Quản lý trường THPT
Trường THPT là bậc học cuối cùng trong cấp phổ thông (cấp 3) của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường THPT được thành lập với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng
Trang 15nhân tài phục vụ nhiệm vụ chính trị, KT - XH và hoàn thiện nhân cách cho mọi công dân.
Trường THPT hiện nay đang hoạt động dưới hai hình thức: công lập và ngoài công lập (dân lập và tư thục) Dù hoạt động dưới hình thức cụ thể nào, trường THPT cũng chịu sự quản lý của Nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Quản lý nhà trường phổ thông là quản
lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, để dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [39,37].
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường phổ thông là tập hợp các tác động tối ưu (công tác tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm tận dụng nguồn nhân lực dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp và
do hoạt động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường và tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới” [38,43].
Chịu trách nhiệm quản lý trường THPT là hiệu trưởng nhà trường, giúp việc cho hiệu trưởng là một số phó hiệu trưởng Trong hoạt động quản lý nhà trường, hiệu trưởng thực hiện các chức năng quản lý sau:
- Kế hoạch hóa: nêu lên mục tiêu phát triển nhà trường xây dựng kế hoạch nhằm đạt mục tiêu đó
- Tổ chức: dựa vào quy định của cấp trên, hiệu trưởng xây dựng cơ cấu
bộ máy, quy định mối quan hệ, sắp xếp GV nhằm phát huy tối đa năng lưc của họ và ưu thế của bộ máy Xây dựng các quy định nội bộ, các quan điểm thực hiện để nhằm tạo được sự đồng bộ, đồng thuận
Trang 16- Chỉ đạo: hiệu trưởng điều khiển việc thực hiện theo kế hoạch, điều chỉnh tốc độ, biên độ hướng tới đích, xác định ưu tiên và tập trung nguồn lực cho thực hiện kế hoạch, lôi cuốn tập thể sư phạm và các lực lượng giáo dục, phối hợp các nỗ lực của cả hệ thống Quá trình chỉ đạo là quá trình sử dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và giáo dục, thuyết phục.
- Kiểm tra: hiệu trưởng xem việc thực hiện kế hoạch đến đâu? Tính phù hợp của các quyết định quản lý, giúp cho việc điều chỉnh trong quản lý, ngăn chặn sai sót, đồng thời khuyến khích động viên mọi người tích cực làm việc trên cơ sở đánh giá sự thực hiện và điều chỉnh các tiêu chuẩn đo lường kết quả thực hiện
1.2.3 Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
1.2.3.2 Hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng cho mọi loại hình nhà trường
và xét theo quan điểm tổng thể, dạy học chính là con đường giáo dục tiêu biểu nhất, hướng người học vào quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách
Hoạt động dạy học trong trường THPT bao gồm hoạt động dạy của GV
và hoạt động học của HS Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau của hai chủ thể dạy học (GV và HS) nhằm truyền thụ và
Trang 17lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng, hoàn thiện các phẩm chất nhân cách cho HS.
* Hoạt động dạy của GV:
Là tổ chức, điều khiển hoạt động chiếm lĩnh tri thức của HS, giúp HS nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển nội dung học theo chương trình quy định Có thể hiểu hoạt động dạy là quá trình hoạt động sư phạm của GV, làm nhiệm vụ truyền thụ tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS
* Hoạt động học của HS:
Là quá trình tự điều khiển chiếm lĩnh khái niệm khoa học, HS tự giác, tích cực lĩnh hội tri thức Theo đó, hoạt động học cũng có chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học một cách tự giác, tích cực nhằm biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân Có thể hiểu hoạt động học của HS là quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hoàn thiện nhân cách của bản thân Hai hoạt động dạy và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó tồn tại song song và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Kết quả hoạt động học của HS không thể tách rời kết quả hoạt động dạy của GV và kết quả hoạt động dạy của GV không thể tách rời kết quả học tập của HS
Tóm lại, hoạt động dạy học có ưu thế tuyệt đối trong việc hình thành tri thức phát triển năng lực tư duy thông qua việc dạy các môn học cơ bản, đồng thời đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện Vì thế, hoạt động dạy học được hiểu một cách đầy đủ bao gồm toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục của GV, việc học tập, rèn luyện của HS theo nội dung giáo dục toàn diện nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người làm chủ đất nước, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa, kỹ thuật, có sức khỏe, để đáp ứng xây dựng xã hội mới
Trang 181.2.3.3 Quản lý hoạt động dạy học
Theo Nguyễn Phúc Châu: “Quản lý hoạt động dạy học là những tác động có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học (Hiệu trưởng) đến khách thể quản lý dạy học (đội ngũ giáo viên, nhân viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác) nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực của nhà trường, của cộng đồng và xã hội để đưa hoạt động dạy học đến mục tiêu (xây dựng và phát triển nhân cách người học)” [10,119].
Để quản lý tốt hoạt động dạy học ở trường THPT, Hiệu trưởng phải xác định từ mục tiêu của giáo dục nói chung là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo
Trong quá trình quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường THPT thì người hiệu trưởng cần chú ý đến các vấn đề sau:
- Lập kế hoạch: xây dựng mục tiêu, xây dựng kế hoạch năm học của nhà trường, chỉ đạo các tổ chuyên môn, các cá nhân lập kế hoạch cụ thể đúng quy định, theo đặc thù nhà trường
- Xây dựng nền nếp dạy học: đưa hoạt động dạy học vào nền nếp bằng
hệ thống các nội quy, quy định, quy chế chặt chẽ, sao cho mọi thành viên trong nhà trường nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các nội quy, quy định … trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Trang 19- Chỉ đạo đổi mới PPDH: dạy học theo phương pháp mới, lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực của HS trong học tập, khắc phục lối truyền thụ một chiều Thực hiện dạy học theo Chuẩn KT - KN và theo nội dung giảm tải của Bộ GD&ĐT.
- Chỉ đạo quản lý và sử dụng CSVC, TBDH: CSVC – TBDH là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải bổ sung, mua sắm các TBDH, đồng thời khuyến khích GV làm và sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học và các thiết bị giáo dục
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá trong nhà trường: việc kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện theo kế hoạch kiểm tra của nhà trường, theo tiêu chuẩn quy định của ngành về các mặt hoạt động, đảm bảo kiểm tra khách quan, chính xác
- Khen thưởng - kỷ luật kịp thời đối với GV và HS: có như vậy mới động viên và khuyến khích được GV và HS thực hiện dạy tốt, học tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Quản lý hoạt động dạy học phải đồng thời quản lý hoạt động dạy của
GV và quản lý hoạt động học của HS Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy học
là phải quản lý các thành tố của quá trình dạy học, trước hết các thành tố đó sẽ phát huy tác dụng thông qua quy trình hoạt động của người dạy một cách đồng bộ, hài hòa, hợp quy luật, đúng nguyên tắc dạy học
1.2.3.4 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
Điều 54 Luật giáo dục 2005 ghi: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận” Theo đó, hiệu trưởng trường THPT có các
nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Tổ chức bộ máy nhà trường
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học
Trang 20- Quản lý GV, nhân viên, HS; quản lý chuyên môn, phân công công tác, KTĐG thực hiện nhiệm vụ của GV, nhân viên.
- Quản lý và tổ chức giáo dục HS
- Quản lý hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường
- Thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước đối với GV, nhân viên, HS; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường
- Được học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ hiện hành [14,15]
Như vậy, hiệu trưởng trường THPT phải thực hiện vai trò lãnh đạo nhà trường để tập hợp, thuyết phục mọi lực lượng trong và ngoài trường tích cực triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo
và thực hiện nội dung chương trình ở bậc THPT Thực hiện vai trò thủ trưởng đơn vị để điều hành toàn bộ hoạt động của nhà trường thông qua bốn chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Xây dựng tập thể vững mạnh và bảo đảm các nguồn lực khác cho việc thực hiện nội dung chương trình
Nội dung quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT:
- Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch năm học
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, thực hiện có hiệu quả kế hoạch dạy học năm học
- Hiệu trưởng chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học
- Hiệu trưởng chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học
- Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức các hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GV
- Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn, GV chủ nhiệm lớp, các tổ chức đoàn thể, cha mẹ HS, hướng dẫn hoạt động học của HS theo chức năng của mình
Trang 21- Hiệu trưởng tổ chức chỉ đạo tổ chuyên môn tiến hành hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và thực hiện kế hoạch năm học.
- Hiệu trưởng chỉ đạo việc đổi mới PPDH và KTĐG [14,16]
Trên các cơ sở đó, biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT có thể được triển khai như sau:
a Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động dạy học
- Việc xây dựng kế hoạch phải được tiến hành một cách có khoa học, sát thực dựa trên cơ sở khách quan và chủ quan và cần phải tiến hành theo một quy trình hợp lý
- Các loại kế hoạch chỉ đạo hoạt động dạy học:
+ Kế hoạch tổng thể về phát triển nhà trường để mở rộng quy mô phát triển đáp ứng nhu cầu học tập của HS (kế hoạch dài hạn từ 5 đến 10 năm)
+ Kế hoạch tuyển sinh hàng năm, kèm theo các điều kiện khả thi
+ Thời khóa biểu và lịch theo dõi nền nếp dạy học
+ Kế hoạch bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS yếu kém và thi HS giỏi + Kế hoạch ôn tập, kiểm tra học kì năm học
+ Kế hoạch hoạt động ngoại khóa phục vụ cho học tập
+ Kế hoạch chỉ đạo GV chủ nhiệm tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện của HS
+ Kế hoạch phối hợp với các đoàn thể trong nhà trường để chỉ đạo dạy học.+ Kế hoạch phối hợp với hội cha mẹ HS và các tổ chức xã hội phục vụ cho dạy học
+ Kế hoạch cá nhân của hiệu trưởng để chỉ đạo các hoạt động trong nhà trường
b Tổ chức hoạt động dạy học:
- Hiệu trưởng tổ chức bộ máy nhà trường
+ Đề nghị UBND tỉnh bổ nhiệm các phó hiệu trưởng
Trang 22+ Thành lập và cử tổ trưởng các tổ chuyên môn, các hội đồng của nhà trường.
+ Tổ chức HS theo khối lớp và phân công GV chủ nhiệm
- Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn phân công hợp lý công tác giảng dạy của GV căn cứ vào trình độ đào tạo, năng lực và phẩm chất của họ
- Tổ chức tuyển chọn bổ sung nhân lực
- Tổ chức phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với gia đình và ban đại diện cha mẹ HS để xây dựng môi trường giáo dục
- Phối hợp với hội đồng giáo dục các cấp, các tổ chức chính trị, xã hội, các tổ chức kinh tế, các cơ sở giáo dục khác nhằm thống nhất quan điểm, huy động mọi lực lượng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh góp phần xây dựng CSVC
c Chỉ đạo hoạt động dạy học:
- Các biện pháp chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học:
+ Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn chỉ đạo GV nghiên cứu chương trình và xây dựng kế hoạch dạy học năm học
+ Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn chia nhóm bộ môn theo khối lớp
để hỗ trợ cho nhau về chuyên môn, tư liệu và phương pháp giảng dạy
+ Hiệu trưởng chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn chỉ đạo GV thực hiện chương trình dạy học đủ, chất lượng, đúng tiến độ thời gian
+ Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn quản lý hoạt động học tập của
HS, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS theo kế hoạch
- Các biện pháp chỉ đạo bồi dưỡng GV:
+ Xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV
+ Chỉ đạo tổ chuyên môn bồi dưỡng năng lực GV bằng các hình thức khác nhau (bồi dưỡng chuyên đề; sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn; hội giảng;
Trang 23tổ chức tham quan thực tế, giao lưu trao đổi kinh nghiệm với các trường bạn;
tổ chức học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ …)
- Các biện pháp chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học:
+ Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các văn bản pháp quy, quy chế của Nhà nước và của ngành giáo dục về nền nếp dạy học
+ Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các nội quy của nhà trường về nền nếp dạy học
+ Chỉ đạo thực hiện các loại kế hoạch về dạy học đã được xây dựng.+ Chỉ đạo thực hiện hồ sơ sổ sách chuyên môn
+ Chỉ đạo nền nếp sinh hoạt chuyên môn đối với từng tổ, từng nhóm và từng khối lớp
+ Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tổ chức sinh hoạt theo kế hoạch, xây dựng tập thể sư phạm vững mạnh, ổn định, đoàn kết
+ Xây dựng khuôn viên nhà trường xanh - sạch - đẹp tạo khung cảnh và môi trường sư phạm thuận lợi cho hoạt động dạy học
+ Xử lí các vụ việc, tình hưống trong quá trình dạy học
+ Tổ chức kiểm tra, đánh giá thực hiện nền nếp
- Chỉ đạo đổi mới PPDH:
+ Thành lập ban chỉ đạo, ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá việc đổi mới PPDH
và tổng kết rút kinh nghiệm
+ Tạo điều kiện tinh thần và vật chất cho đổi mới PPDH như: tổ chức bồi dưỡng cho GV về PPDH, hình thức tổ chức dạy học mới; sử dụng các phương tiện dạy học
+ Chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn xây dựng một số bài giảng mẫu, thống nhất về chuẩn đánh giá giờ dạy theo hướng đổi mới
+ Chỉ đạo dạy thử nghiệm, dự giờ, rút kinh nghiệm và mở rộng đại trà
Trang 24+ Chỉ đạo thực hiện dạy học theo tinh thần đổi mới ở tất cả các môn học, ở tất cả các GV, gây khí thế thi đua trong tập thể GV, HS; theo dõi, động viên kịp thời.
+ Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm
+ Chỉ đạo thúc đẩy hoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới PPDH, trao đổi kinh nghiệm cá nhân và tập thể
d Kiểm tra và đánh giá hoạt động dạy học
- Kiểm tra GV: kiểm tra toàn diện GV gồm bốn nội dung: trình độ chuyên môn nghiệp vụ; thực hiện quy chế chuyên môn, ý thức trách nhiệm; tham gia các hoạt động dạy học; tham gia các hoạt động giáo dục
- Kiểm tra hoạt động giảng dạy trên lớp:
+ Dự giờ dưới nhiều hình thức
+ Đánh giá kết quả bài giảng: GV tự đánh giá; hiệu trưởng đánh giá dựa vào chuẩn đánh giá một giờ lên lớp, đặc biệt nhấn mạnh 3 mặt: kiến thức,
kỹ năng, thái độ
+ Kiểm tra mức độ nhận biết của HS sau giờ học
+ Hiệu trưởng kết luận, ghi biên bản, hồ sơ
- Hiệu trưởng kiểm tra hoạt động sư phạm của tổ, nhóm chuyên môn:+ Kiểm tra công tác quản lý của tổ trưởng, nhóm trưởng: nhận thức, vai trò, tác động, uy tín, khả năng lãnh đạo chuyên môn
+ Kiểm tra hồ sơ chuyên môn: kế hoạch, biên bản, chất lượng dạy học, các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn, sáng kiến kinh nghiệm
+ Kiểm tra nền nếp chuyên môn: soạn bài, chấm bài, dự giờ, giảng mẫu+ Kiểm tra chỉ đạo phong trào học tập của HS
+ Kiểm tra chất lượng dạy học
- Hiệu trưởng kiểm tra HS
- Hiệu trưởng kiểm tra CSVC, TBDH
Trang 251.2.4 Chuẩn kiến thức kỹ năng
1.2.4.1 Khái niệm Chuẩn
Theo Từ điển Tiếng Việt, chuẩn được hiểu là cái được chọn làm căn cứ
để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng; là vật được chọn làm mẫu;
là cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc theo thói quen trong xã hội [20,181] Theo đó, chuẩn được coi là yêu cầu, mục tiêu hướng tới, thước đo đánh giá về các hoạt động, sản phẩm,…theo ý chí của chủ thể quản lý về các hoạt động, sản phẩm,… đó
Trong tài liệu “Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học” của Nhà xuất bản giáo dục – 2010, các tác giả đã nêu rõ:
a) Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó Đạt được những yêu cầu của chuẩn
là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoạt động, công việc, sản phẩm đó
Yêu cầu là sự cụ thể hóa, chi tiết, tường minh Chuẩn, chỉ ra những căn
cứ để đánh giá chất lượng Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ số thực hiện Yêu cầu được xem như những “chốt kiểm soát” để đánh giá chất lượng đầu vào, đầu ra cũng như quá trình thực hiện
b) Những yêu cầu cơ bản của chuẩn:
- Chuẩn phải có tính khách quan, nhìn chung không lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn
- Chuẩn phải có hiệu lực ổn định cả về phạm vi lẫn thời gian áp dụng
- Đảm bảo tính khả thi, có nghĩa là Chuẩn đó có thể đạt được (là trình
độ hay mức độ dung hòa hợp lí giữa yêu cầu phát triển ở mức cao hơn với những thực tiễn đang diễn ra)
- Đảm bảo tính cụ thể, tường minh và có chức năng định lượng
Trang 26- Đảm bảo không mâu thuẫn với các chuẩn khác trong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực có liên quan.
1.2.4.2 Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông
Theo các tác giả của tài liệu “Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học” do Bộ GD&ĐT ban hành [33,5]:
a Chuẩn KT - KN của Chương trình môn học: là yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm)
Chuẩn KT - KN của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu
về kiến thức, kỹ năng của đơn vị kiến thức mà HS cần phải và có thể đạt được
Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thể hiện mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng
Mỗi yêu cầu về kiến thức, kỹ năng có thể được chi tiết hơn bằng những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cụ thể, tường minh hơn; minh chứng bằng những ví dụ thể hiện được cả nội dung kiến thức, kỹ năng và mức độ cần đạt
về kiến thức, kỹ năng
b Chuẩn KT - KN của Chương trình cấp học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của các môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập trong cấp học
- Chuẩn KT - KN ở chương trình các cấp học đề cập đến những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà HS cần và có thể đạt được sau khi hoàn thành chương trình giáo dục của từng lớp học và cấp học Các chuẩn này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc gắn kết, phối hợp giữa các môn học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cấp học
- Việc thể hiện Chuẩn KT - KN ở cuối chương trình cấp học thể hiện hình mẫu mong đợi về người học sau mỗi cấp học và cần thiết cho công tác quản lý, chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng GV
Trang 27- Chương trình cấp học đã thể hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng không phải đối với từng môn học mà đối với từng lĩnh vực học tập.
1.2.4.3 Các mức độ về kiến thức, kỹ năng
Các mức độ về kiến thức, kỹ năng được thể hiện cụ thể trong Chuẩn
KT - KN của chương trình giáo dục phổ thông [33,6]
- Về kiến thức: yêu cầu HS phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức
cơ bản trong chương trình, SGK, đó là nền tảng vững vàng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn
- Về kỹ năng: biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành; có kỹ năng tính toán, ứng dụng …
Kiến thức, kỹ năng phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ HS ở các mức độ, từ đơn giản đến phức tạp; nội dung bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức
Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo
Như vậy, việc xác định Chuẩn KT - KN không chỉ dừng lại ở nội dung chương trình tổng thể, mà còn xác định rõ tới từng mức độ nhận thức của HS Điều này là cơ sở quan trọng, giúp tạo thuận lợi cho GV thực hiện hoạt động dạy học cũng như hoạt động KTĐG HS, giúp nhà quản lý căn cứ vào Chuẩn
KT – KN xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện tốt hơn hoạt động dạy học trong nhà trường
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng
Quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN cũng dựa trên nền tảng của quản lý hoạt động dạy học nói chung (đã được trình bày ở phần trên) Tuy nhiên, người CBQL cơ sở giáo dục nói chung, hiệu trưởng nhà trường THPT nói riêng phải nắm vững chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông của Đảng, Nhà nước; nắm vững mục đích, yêu cầu, nội dung đổi mới thể hiện cụ thể trong các văn bản chỉ đạo của ngành, trong chương trình và
Trang 28SGK, PPDH, sử dụng phương tiện, TBDH, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá kết quả giáo dục.
Hiệu trưởng trường THPT phải nắm vững yêu cầu dạy học bám sát Chuẩn KT - KN trong chương trình giáo dục phổ thông, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho GV, động viên, khuyến khích GV tích cực đổi mới PPDH
Hiệu trưởng trường THPT phải có biện pháp quản lý, chỉ đạo tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục trong nhà trường một cách hiệu quả; thường xuyên kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy học theo định hướng dạy học bám sát Chuẩn KT - KN, đồng thời với tích cực đổi mới PPDH
Tiến hành động viên, khen thưởng kịp thời những GV thực hiện có hiệu quả đồng thời với phê bình, nhắc nhở những người chưa tích cực đổi mới PPDH, dạy quá tải do không bám sát Chuẩn KT - KN
Như vậy, quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN sẽ tập trung vào các nội dung cụ thể là:
- Quản lý thực hiện đổi mới nội dung, chương trình
- Quản lý thực hiện đổi mới PPDH
- Quản lý thực hiện đổi mới về cơ bản phương pháp kiểm tra, đánh giá, tiến tới đổi mới về phương pháp thi cử
- Quản lý thực hiện đổi mới bồi dưỡng đội ngũ GV
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT – KN ở trường THPT
1.3.1 Con người
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn
KT – KN ở trường THPT, yếu tố con người (bao gồm GV, HS, CBQL) có ảnh hưởng rõ rệt nhất
Trang 29Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu KHGD, phẩm chất và năng lực của người CBQL nói chung và của hiệu trưởng nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT - KN, cụ thể như sau:
- Về năng lực:
+ Hiểu biết tất cả các bộ môn trong phạm vi chương trình, giảng xuất sắc bộ môn của mình, làm mẫu mực cho các GV
+ Biết cách giải quyết các vấn đề thuộc về quản trị hành chính
+ Biết cách lãnh đạo tập thể, biết tổ chức tập thể thực hiện công tác, biết cách đánh giá từng người, biết yêu cầu chặt chẽ
+ Biết cách tổ chức lao động của mình, biết tập trung vào những việc chính.Trong môi trường giáo dục, nhất là trong nhà trường THPT, trình độ chuyên môn được đào tạo của tất cả các GV hầu hết là tương đương, phần lớn đều có trình độ cử nhân Do đó yếu tố giúp người hiệu trưởng quản lý tốt các hoạt động giáo dục trong nhà trường là năng lực (bao gồm năng lực chuyên môn và năng lực quản lý)
- Về phẩm chất:
+ Có giác ngộ chính trị tốt, có nhiệt tình cách mạng
+ Có niềm tin vào con người
+ Có lòng chính trực, tính nguyên tắc, có uy tín trong nhà trường và trong nhân dân
+ Có tính chu đáo, lòng quý trọng con người, có thái độ quan tâm đến người khác, có lòng yêu trẻ và am hiểu trẻ
+ Có tầm nhìn rộng, luôn chăm lo tự bồi dưỡng bản thân
+ Có lương tâm với công việc, say mê công việc của mình; có thái độ tích cực trước cái mới, cái tiến bộ Có kỹ năng khái quát hóa kinh nghiệm [26,12]
Trang 30Khi người CBQL có sự hiểu biết rộng và đặc biệt là được đề bạt từ GV dạy giỏi, chuyên môn vững vàng, có thái độ tích cực trước những tiến bộ của
xã hội nói chung và giáo dục nói riêng, có lối sống phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội và cương vị công tác thì sẽ được GV trong nhà trường kính trọng, tin phục, từ đó thuận lợi trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường
Ngoài ra, năng lực chuyên môn, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, những hiểu biết của GV về dạy học theo Chuẩn KT – KN và ý thức học tập, khả năng nhận thức của HS cũng có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn, bám sát Chuẩn của hiệu trưởng các trường THPT Nếu đội ngũ GV chưa đáp ứng được yêu cầu, các GV chưa thật sự hiểu rõ về dạy học theo Chuẩn, ý thức học tập của HS chưa tốt thì các biện pháp quản lý của hiệu trưởng sẽ không đạt kết quả tốt
1.3.2 Môi trường sư phạm
Bên cạnh yếu tố con người, môi trường sư phạm cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác quản lý dạy học theo Chuẩn KT – KN của hiệu trưởng nhà trường Các biện pháp quản lý của hiệu trưởng chỉ được thực hiện tốt và đạt kết quả cao khi xây dựng được mối quan hệ thân thiện, đoàn kết giữa hiệu trưởng với GV và giữa GV với GV
Dạy học theo Chuẩn, bám sát Chuẩn KT – KN là một vấn đề mới đối với GV nên rất cần hoạt động dự giờ, trao đổi chuyên môn nghiệp vụ, rút kinh nghiệm giờ dạy… giữa các GV trong tổ chuyên môn và GV trong toàn trường, điều đó phụ thuộc nhiều vào môi trường sư phạm trong nhà trường
Ảnh hưởng đến hoạt động quản lý dạy học theo Chuẩn KT – KN còn
có môi trường sư phạm ngoài nhà trường, đó là chất lượng hoạt động của hội cha mẹ HS, chất lượng giáo dục của cha mẹ HS đối với HS, đặc điểm văn hóa của địa phương Yếu tố này tuy không có tính quyết định nhưng cũng tác
Trang 31động gián tiếp đến hoạt động dạy của GV và học của HS, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động quản lý dạy học của hiệu trưởng.
Như vậy, để thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà trường, người hiệu trưởng phải hiểu rõ, có cái nhìn thật khách quan, chính xác về năng lực và phẩm chất của bản thân mình, biết phát huy những ưu điểm và có biện pháp khắc phục những hạn chế của bản thân, đồng thời nắm được sự chi phối của các yếu tố khác, để từ đó đưa hoạt động giáo dục của nhà trường ngày càng phát triển, hoàn thành các mục tiêu đề ra
Trang 32và yêu cầu phù hợp với khả năng tiếp thu của các em Chương trình giáo dục THPT nhằm giúp HS làm quen với những kiến thức cơ bản về các lĩnh vực khoa học, giáo dục nhân cách con người Việt Nam trong thời đại mới.
Chương trình giáo dục THPT đã xác định rõ Chuẩn KT - KN của từng môn học Xác định Chuẩn KT - KN và dạy học theo Chuẩn KT - KN là nhu cầu cần thiết của giáo dục THPT Điều đó đã đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động dạy học trong nhà trường và nhiều đòi hỏi mới đối với hoạt động
sư phạm của GV cũng như đối với công tác quản lý của người hiệu trưởng
Dạy học theo Chuẩn, bám sát Chuẩn KT - KN được đưa ra từ năm học
2007 – 2008 nhưng chưa được thực hiện đồng bộ trên cả nước, vì vậy Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo thực hiện đồng loạt ở tất cả các trường THPT từ năm học
2010 – 2011, sau đợt tập huấn tháng 7 năm 2010 do Bộ GD&ĐT chủ trì Mặc
dù đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nhưng cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, đối với GV và các nhà quản lý Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này là rất quan trọng đối với hoạt động dạy học hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp, những suy nghĩ, định hướng mới về dạy học và quản lý hoạt động dạy học theo Chuẩn KT -
KN, giúp GV và các nhà quản lý, nhất là hiệu trưởng nhà trường hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình
Trang 33Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT
TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Đặc điểm chung về tự nhiên, KT - XH tỉnh Hưng Yên
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên – dân cư
Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, là tỉnh đồng bằng không có rừng, núi và biển Diện tích
tự nhiên là 923,09 km2 (chiếm 6,02% diện tích tự nhiên đồng bằng Bắc Bộ)
Theo điều tra dân số 01 – 4 – 2009 Hưng Yên có 1 128 702 người, mật
độ dân số 1223 người/ km2 Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 0,94% Tỉ lệ dân số làm nông nghiệp cao, tuy nhiên những năm gần đây tỉ lệ này thay đổi một cách nhanh chóng do tốc độ phát triển của công nghiệp, dịch vụ
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, khai thác ngày càng có hiệu quả những lợi thế của tỉnh, năm 2010, khu vực nông nghiệp và thủy sản chiếm 25% ; công nghiệp – xây dựng chiếm 44% ; dịch vụ chiếm 31% Trong
đó dịch vụ là lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất, năm 2010 giá trị sản xuất toàn ngành dịch vụ tăng 15,54% Các hoạt động dịch vụ, thương mại phát triển rộng khắp các địa phương trong tỉnh Ngoại thương phát triển nhanh, đạt kim ngạch xuất khẩu 530 triệu USD
Trang 34Công nghiệp – xây dựng cũng có tốc độ phát triển nhanh, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 tăng 14,65% Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có rất nhiều các khu công nghiệp lớn như phố nối A, phố nối B (khu công nghiệp dệt may), khu công nghiệp Thăng long II (Mitsutomo Nhật Bản), khu công nghiệp Như Quỳnh, khu công nghiệp Minh Đức, khu công nghiệp nhỏ Kim Động, khu công nghiệp Quán Đỏ… Sản phẩm công nghiệp của tỉnh là dệt may, giày da, ô tô, xe máy, công nghiệp thực phẩm…
Sản xuất nông nghiệp được tỉnh đặc biệt quan tâm, có nhiều tiến bộ, nhất là việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm canh các loại cây trồng, vật nuôi có năng suất, hiệu quả cao và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa Giá trị sản xuất nông nghiệp và thủy sản năm 2010 tăng 5,78%
Sự nghiệp GD&ĐT tiếp tục phát triển ổn định Các hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện được quan tâm thường xuyên Tăng cường cải tiến và đổi mới công tác chỉ đạo quản lý trong giáo dục Tỉnh đã có nhiều chính sách đầu tư cho giáo dục như: hỗ trợ xây dựng CSVC trường học; trợ cấp cho GV mầm non; xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng … Công tác xã hội hóa giáo dục đạt kết quả khá Tỉ lệ HS đến trường các cấp, HS chuyển cấp, thi đỗ tốt nghiệp và thi đỗ đại học, cao đẳng luôn ở mức cao so với các tỉnh trong cả nước
Các lĩnh vực xã hội khác như y tế, văn hóa, thể thao … luôn được các cấp chính quyền quan tâm thỏa đáng, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đảm bảo sức khỏe và đời sống tinh thần cho nhân dân
2.2 Khái quát về tình hình phát triển giáo dục THPT tỉnh Hưng Yên
2.2.1 Mạng lưới trường, lớp
Toàn tỉnh Hưng Yên có 37 trường THPT, trong đó có 01 trường THPT chuyên, 26 trường công lập và 10 trường dân lập Trong khối THPT hiện có
Trang 3505 trường đạt chuẩn quốc gia Các trường được bố trí tương đối đều theo các huyện, thành phố; mỗi huyện, thành phố lại được bố trí đều theo các địa bàn dân cư, thuận lợi cho hoạt động học tập, đi lại của HS
Bảng 2.1: Mạng lưới trường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
TT Huyện – Thành phố Số lượng trường THPT Số trường
Bảng 2.2: Quy mô phát triển HS THPT tỉnh Hưng Yên
Trang 36Công lập 30.614 29.565 30.574
(Nguồn: Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Hưng Yên)
Qua bảng số liệu trên ta thấy số lượng HS THPT của tỉnh Hưng Yên khá ổn định, thể hiện rõ ở số HS công lập Riêng HS dân lập có xu hướng giảm HS công lập chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số HS, năm học 2010 – 2011 chiếm tới 80% Như vậy quy mô phát triển bậc THPT đáp ứng được sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.3: Kết quả hạnh kiểm, học lực HS THPT năm học 2008 – 2009
(Nguồn: Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Hưng Yên)
Bảng 2.4: Kết quả hạnh kiểm, học lực HS THPT năm học 2009 – 2010
Trang 37(Nguồn: Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Hưng Yên)
Bảng 2.5: Kết quả hạnh kiểm, học lực HS THPT năm học 2010 – 2011
(Nguồn: Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Hưng Yên)
Từ kết quả thống kê ở các bảng 2.3, 2.4, 2.5 cho thấy chất lượng hạnh kiểm và học lực của HS năm học 2009 – 2010 tốt hơn so với năm học 2008 –
2009, tuy nhiên sự tiến bộ không nhiều Năm học 2010 – 2011 là năm học đầu tiên các trường THPT tỉnh Hưng Yên chính thức thực hiện dạy học theo Chuẩn KT - KN, dựa chủ yếu vào tài liệu “Hướng dẫn dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng” để soạn, giảng, kiểm tra, đánh giá HS
Sau một năm thực hiện dạy học bám sát Chuẩn KT - KN, kết quả giáo dục đạt được thể hiện ở bảng 2.5 cho thấy là hết sức khả quan Kết quả hạnh kiểm của HS THPT tỉnh Hưng Yên năm học 2010 – 2011 không có nhiều thay đổi so với các năm học trước, tuy nhiên kết quả học lực có sự tiến bộ vượt bậc, tỉ lệ HS xếp loại khá, giỏi tăng từ 30,9% năm học 2008 – 2009 lên 31,8% năm học 2009 – 2010 và lên 42,0% năm học 2010 - 2011; tỉ lệ HS xếp loại yếu, kém trong 3 năm học nói trên giảm từ 6,9% xuống 6,3% và 5,3%
Trang 38Năm học 2010, Hưng Yên xếp thứ 05 toàn quốc về kết quả thi vào Đại học, Cao đẳng và năm học 2011 Hưng Yên xếp thứ 03 toàn quốc sau Nam Định, Vĩnh Phúc Như vậy chất lượng đào tạo của tỉnh Hưng Yên ngày càng tiến bộ và đứng vào tốp các tỉnh dẫn đầu toàn quốc Để có được kết quả trên
là nhờ sự cố gắng, nỗ lực của chính bản thân HS; lòng nhiệt tình, kinh nghiệm giảng dạy của đội ngũ GV và sự đầu tư của các nhà trường, các cấp lãnh đạo
Sở GD&ĐT và Tỉnh Hưng Yên
2.2.3 Về đội ngũ GV THPT
GV là nhân tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường nói chung và chất lượng dạy học nói riêng Trong tình hình nền KT – XH của đất nước có sự phát triển nhanh chóng, đứng trước yêu cầu của người học về lĩnh hội tri thức, yêu cầu của các ngành kinh tế về chất lượng nguồn lao động, yêu cầu của xã hội về nhân cách, đạo đức HS đòi hỏi người GV phải có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn cao, nhiệt tình với công việc, là tấm gương sáng cho HS noi theo Chính vì vậy, công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV đã luôn được lãnh đạo UBND tỉnh, Sở GD&ĐT và CBQL các nhà trường quan tâm
Bảng 2.6: Đội ngũ GV THPT tỉnh Hưng Yên
Năm học Tổng số Công lập Dân lập Đạt chuẩn
(%)
Trên chuẩn (%)
(Nguồn: Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Hưng Yên)
Bảng 2.7: Chất lượng giảng dạy của GV THPT tỉnh Hưng Yên
Kết quả xếp loại giáo viên
Trang 39SL % SL % SL %
(Nguồn: Thanh tra Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Hưng Yên và Báo cáo kết
quả xếp loại GV cuối năm học của các trường THPT)
Qua bảng 2.6 và 2.7 có thể thấy rằng đội ngũ GV THPT của tỉnh Hưng Yên đều đã đạt chuẩn, trong đó một tỉ lệ không nhỏ (khoảng 10%) đạt trình
độ trên chuẩn Tất cả các bộ môn đều có đủ GV Phần lớn GV đều có tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn Nhiều GV có trình độ tay nghề vững vàng, chất lượng giảng dạy cao Đây là một trong những yếu tố hết sức thuận lợi cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục THPT ở tỉnh Hưng Yên
Tuy nhiên, trong tổng số 2216 GV năm học 2010 – 2011, GV trẻ có tuổi nghề dưới 10 năm và dưới 05 năm chiếm tỉ lệ khá lớn Có một số trường THPT, GV dưới 10 năm tuổi nghề chiếm tới trên 70%; dưới 05 năm tuổi nghề chiếm trên 30% Điều này cũng gây những khó khăn nhất định cho công tác giảng dạy và gây khó khăn cho công tác quản lý giáo dục của hiệu trưởng các trường THPT
2.2.4 Đội ngũ CBQL các trường THPT tỉnh Hưng Yên
Trong những năm qua, nhờ được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo tỉnh Hưng Yên và việc thực hiện tốt công tác quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ của Sở GD&ĐT, đội ngũ CBQL các trường THPT tỉnh Hưng Yên đã có nhiều thay đổi cả về số lượng và chất lượng theo hướng trẻ hóa, trình độ đào tạo của CBQL ngày càng được nâng cao, số cán bộ nữ cũng nhiều hơn, tạo nên sự đa dạng và hiệu quả trong công tác quản lý nhà trường Qua điều tra, chúng tôi thu được kết quả:
Bảng 2.8: Đội ngũ CBQL các trường THPT tỉnh Hưng Yên năm 2010 - 2011
Trang 40CBQL trên 50 tuổi chiếm 52,8% và đây cũng chính là những CBQL có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục Đa số CBQL có kinh nghiệm trên 5 năm làm công tác quản lý (chiếm gần 60%) và phần lớn đã qua các lớp bồi dưỡng quản lý giáo dục (chiếm 78,7%).
Đội ngũ CBQL các trường đều đã đạt chuẩn, trong đó đạt trình độ trên chuẩn chiếm tới 34,3% Như vậy CBQL các trường đáp ứng đủ các tiêu chí đối với CBQL nhà trường THPT, đủ khả năng lãnh đạo nhà trường hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục đề ra Cụ thể:
- Có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có kinh nghiệm quản lý, có uy tín đối với tập thể sư phạm, chính quyền và nhân dân địa phương
- Có lập trường tư tưởng vững vàng, gắn bó với địa phương và nhà trường, đều được trưởng thành từ GV giảng dạy các bộ môn, tâm huyết với nghề, với sự nghiệp giáo dục
- Luôn chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, chăm lo đến đời sống của GV cả về tinh thần và vật chất