1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội

125 296 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh chung của thế giới, quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo (GD - ĐT): “Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.....đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho sự phát triển ” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII). Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX với những mục tiêu chiến lược là: “Tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện”. Thực hiện các nghị quyết của Đảng, Nghị quyết 40 của Quốc hội, ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo bằng cuộc cải cách giáo dục từ năm 2000 về đổi mới chương trình và sách giáo khoa (SGK) phổ thông cho tất cả các môn học, trong đó có môn ngoại ngữ mà tiếng Anh là chủ yếu. Để hội nhập với thế giới, việc trao đổi thông tin, tiếp cận nền văn hóa của các nước trên thế giới là một vấn đề rất quan trọng. Chính vì vậy, việc dạy và học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là rất cần thiết. Cùng với tin học, ngoại ngữ được xếp vào một trong những lĩnh vực được ưu tiên phát triển, một mũi nhọn đột phá trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ và GD - ĐT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu. Trong các ngoại ngữ, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất. Hầu hết các giao dịch trên thế giới đều sử dụng tiếng Anh. Vì vậy, trong xu thế hội nhập, rất nhiều quốc gia đã đưa tiếng Anh vào trong chương trình giáo dục đào tạo. Kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới cũng như trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã chỉ rõ: Ngoại ngữ là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong tiến trình hội nhập và phát triển. Xu thế hội nhập toàn cầu và việc ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang lan tỏa và đi vào từng ngành, nghề của Việt Nam, tác động đến mọi người trong xã hội. Để có thể hội nhập và đứng vững trên đôi chân của mình, mỗi người chúng ta đều có thể hiểu rằng, ngoại ngữ mà trong đó bao gồm cả tiếng Anh ngày càng trở thành một công cụ không thể thiếu được trong hoạt động giao tiếp, công việc, ngoại giao. Chỉ có giỏi tiếng Anh, sử dụng tốt công cụ giao tiếp này, mới có thể thành công trong mọi việc. Để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực cho sự hội nhập thì việc dạy học tiếng Anh càng trở nên quan trọng. Nhận thức được điều đó, đã từ nhiều năm nay, Việt Nam đã đưa chương trình tiếng Anh vào giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậc học, từ giáo dục phổ thông đến đại học, sau đại học. Cũng từ lâu, tiếng Anh đã được đưa vào cấp trung học cơ sở (THCS) và ngày càng được quan tâm, chú trọng. Tiếng Anh chiếm vị trí quan trọng và đóng vai trò không thể thiếu được trong việc giáo dục toàn diện, nhằm nâng cao và mở rộng kiến thức, tư duy, tầm hiểu biết cho các em học sinh. Chính vì vậy, việc dạy và học tiếng Anh hiện nay đang là vấn đề được học sinh, phụ huynh và cả xã hội quan tâm, đầu tư. Dạy và học tiếng Anh như thế nào cho có hiệu quả là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý, các nhà giáo dục. Đặc biệt là các trường THCS, cấp học đầu tiên đưa tiếng Anh vào chương trình chính khóa. Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở các trường phổ thông. Trong thời gian qua, việc dạy học tiếng Anh ở các trường phổ thông đặc biệt là các trường THCS đã đạt được những kết quả nhất định: - Việc dạy tiếng Anh đã phát triển nhanh về số lượng: số giáo viên, học sinh tham gia dạy và học tiếng Anh ngày càng tăng. - Hình thức dạy học tiếng Anh ngày càng đa dạng, phong phú. Tiếng Anh trở thành môn chuyên ở các trường THPT chuyên. -Đã xây dựng được một bộ chương trình và SGK giảng dạy ở trường phổ thông từ bậc Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông. Tuy nhiên, việc dạy học Tiếng Anh ở các trường THCS vẫn còn một số tồn tại sau đây: - Quy mô phát triển, chất lượng của việc dạy học tiếng Anh đang đặt ra những thách thức lớn về quản lý mà các trường phổ thông, giáo dục THCS đang gặp phải, hiệu quả của việc dạy học tiếng Anh còn chưa cao. Có nhiều nguyên nhân: đó là do nhận thức chưa đúng đắn và đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của việc dạy và học tiếng Anh, tuy được coi là một trong ba môn học chính của học sinh THCS, song việc giảng dạy tiếng Anh ở các trường trong huyện chưa đồng bộ, chất lượng giáo viên và học sinh giữa các lớp trong trường và giữa các trường trong huyện chưa đồng đều, học sinh sau khi học xong chương trình phổ thông khả năng nói bằng tiếng Anh còn yếu, chưa tự tin trong giao tiếp bằng tiếng Anh. - Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do công tác quản lý còn hạn chế, bất cập, quản lý thực hiện chương trình, quản lý tổ chức dạy học tiếng Anh chưa thống nhất, còn mang tính hình thức, chưa gây được hứng thú học tập cho học sinh. Cán bộ chuyên trách thiếu kinh nghiệm trong chỉ đạo việc dạy học ngoại ngữ. Vì vậy, chưa đạt được hiệu quả như mục tiêu đề ra. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh ở trường THCS, việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện một số biện pháp quản lý dạy học phù hợp, có thể hạn chế được những yếu kém còn tồn tại từ công tác quản lý, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh là việc làm hết sức cần thiết đối với các nhà quản lý. Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội ”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh chung của thế giới, quan điểm của Đảng về giáo dục và

đào tạo (GD - ĐT): “Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu đầu tư

cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho sự phát triển ” (Nghị quyết Hội nghị

lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII) Nghị quyết Đại hội Đảng

lần thứ IX với những mục tiêu chiến lược là: “Tạo chuyển biến cơ bản, toàn

diện trong phát triển giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện” Thực hiện các nghị quyết của Đảng,

Nghị quyết 40 của Quốc hội, ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng, từng bướcnâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo bằng cuộc cải cách giáodục từ năm 2000 về đổi mới chương trình và sách giáo khoa (SGK) phổ thôngcho tất cả các môn học, trong đó có môn ngoại ngữ mà tiếng Anh là chủ yếu

Để hội nhập với thế giới, việc trao đổi thông tin, tiếp cận nền văn hóacủa các nước trên thế giới là một vấn đề rất quan trọng Chính vì vậy, việcdạy và học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là rất cần thiết Cùngvới tin học, ngoại ngữ được xếp vào một trong những lĩnh vực được ưu tiênphát triển, một mũi nhọn đột phá trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội,khoa học - công nghệ và GD - ĐT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước và hội nhập toàn cầu Trong các ngoại ngữ, tiếng Anh là ngôn ngữphổ biến nhất Hầu hết các giao dịch trên thế giới đều sử dụng tiếng Anh Vìvậy, trong xu thế hội nhập, rất nhiều quốc gia đã đưa tiếng Anh vào trongchương trình giáo dục đào tạo Kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế

giới cũng như trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã chỉ rõ: Ngoại ngữ

là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong tiến trình hội nhập và phát triển.

Xu thế hội nhập toàn cầu và việc ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 2

(WTO) đang lan tỏa và đi vào từng ngành, nghề của Việt Nam, tác động đếnmọi người trong xã hội Để có thể hội nhập và đứng vững trên đôi chân củamình, mỗi người chúng ta đều có thể hiểu rằng, ngoại ngữ mà trong đó baogồm cả tiếng Anh ngày càng trở thành một công cụ không thể thiếu đượctrong hoạt động giao tiếp, công việc, ngoại giao Chỉ có giỏi tiếng Anh, sửdụng tốt công cụ giao tiếp này, mới có thể thành công trong mọi việc Để đảmbảo chất lượng nguồn nhân lực cho sự hội nhập thì việc dạy học tiếng Anhcàng trở nên quan trọng Nhận thức được điều đó, đã từ nhiều năm nay, ViệtNam đã đưa chương trình tiếng Anh vào giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậchọc, từ giáo dục phổ thông đến đại học, sau đại học Cũng từ lâu, tiếng Anh

đã được đưa vào cấp trung học cơ sở (THCS) và ngày càng được quan tâm,chú trọng Tiếng Anh chiếm vị trí quan trọng và đóng vai trò không thể thiếuđược trong việc giáo dục toàn diện, nhằm nâng cao và mở rộng kiến thức, tưduy, tầm hiểu biết cho các em học sinh Chính vì vậy, việc dạy và học tiếngAnh hiện nay đang là vấn đề được học sinh, phụ huynh và cả xã hội quan tâm,đầu tư Dạy và học tiếng Anh như thế nào cho có hiệu quả là câu hỏi đặt racho các nhà quản lý, các nhà giáo dục Đặc biệt là các trường THCS, cấp họcđầu tiên đưa tiếng Anh vào chương trình chính khóa Cùng với các môn học

và hoạt động giáo dục khác, tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhâncách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ởcác trường phổ thông

Trong thời gian qua, việc dạy học tiếng Anh ở các trường phổ thôngđặc biệt là các trường THCS đã đạt được những kết quả nhất định:

- Việc dạy tiếng Anh đã phát triển nhanh về số lượng: số giáo viên, họcsinh tham gia dạy và học tiếng Anh ngày càng tăng

- Hình thức dạy học tiếng Anh ngày càng đa dạng, phong phú TiếngAnh trở thành môn chuyên ở các trường THPT chuyên

Trang 3

- Đã xây dựng được một bộ chương trình và SGK giảng dạy ở trườngphổ thông từ bậc Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông.

Tuy nhiên, việc dạy học Tiếng Anh ở các trường THCS vẫn còn một sốtồn tại sau đây:

- Quy mô phát triển, chất lượng của việc dạy học tiếng Anh đang đặt ranhững thách thức lớn về quản lý mà các trường phổ thông, giáo dục THCSđang gặp phải, hiệu quả của việc dạy học tiếng Anh còn chưa cao Có nhiềunguyên nhân: đó là do nhận thức chưa đúng đắn và đầy đủ về vai trò và tầmquan trọng của việc dạy và học tiếng Anh, tuy được coi là một trong ba mônhọc chính của học sinh THCS, song việc giảng dạy tiếng Anh ở các trườngtrong huyện chưa đồng bộ, chất lượng giáo viên và học sinh giữa các lớptrong trường và giữa các trường trong huyện chưa đồng đều, học sinh sau khihọc xong chương trình phổ thông khả năng nói bằng tiếng Anh còn yếu, chưa

tự tin trong giao tiếp bằng tiếng Anh

- Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do công tác quản lý còn hạnchế, bất cập, quản lý thực hiện chương trình, quản lý tổ chức dạy học tiếngAnh chưa thống nhất, còn mang tính hình thức, chưa gây được hứng thú họctập cho học sinh Cán bộ chuyên trách thiếu kinh nghiệm trong chỉ đạo việcdạy học ngoại ngữ Vì vậy, chưa đạt được hiệu quả như mục tiêu đề ra

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh ở trường THCS,việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện một số biện pháp quản lý dạy học phùhợp, có thể hạn chế được những yếu kém còn tồn tại từ công tác quản lý, nângcao chất lượng dạy học tiếng Anh là việc làm hết sức cần thiết đối với các nhàquản lý

Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội ”.

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng quản lý dạy họctiếng Anh ở các trường THCS huyện Mê Linh - Hà Nội, đề xuất một số biệnpháp quản lý hoạt động dạy học để từng bước nâng cao chất lượng dạy họctiếng Anh ở trường trung học cơ sở huyện Mê Linh - Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý dạy học tiếng Anh củahiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởngđối với dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dạy học tiếng Anh ở trường THCS.4.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học tiếng Anh và quản lý dạy họctiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội

4.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học tiếng Anh ở các trườngtrung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội

5 Giả thuyết khoa học

Trong thời gian qua việc quản lý dạy học tiếng Anh ở các trường THCShuyện Mê Linh – Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn cònnhiều hạn chế, bất cập Nếu áp dụng một số biện pháp quản lý dạy học tiếngAnh do tác giả đề xuất thì có thể nâng cao được chất lượng dạy học bộ mônnày ở các trường THCS huyện Mê Linh - Hà Nội

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứuhoạt động quản lý của Hiệu trưởng đối với dạy học tiếng Anh chính khóa ởtrường THCS

6.2 Địa bàn nghiên cứu: huyện Mê Linh – Hà Nội

Trang 5

6.3 Khách thể điều tra: các trường THCS thực hiện dạy tiếng Anhtrong huyện Mê Linh – Hà Nội.

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản làm cơ

sở cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài luận văn

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Phương pháp này được thể hiện bằng việc người nghiên cứu tiếp cận vàxem xét các biện pháp quản lý dạy học tiếng Anh của Hiệu trưởng các trườngTHCS huyện Mê Linh – Hà Nội Mục đích chính của việc sử dụng phươngpháp này là tìm hiểu về thực trạng dạy học tiếng Anh của các trường THCShuyện Mê Linh – Hà Nội Mặt khác, qua phương pháp này, người nghiên cứu

có thể khẳng định kết quả định tính của việc kiểm chứng các biện pháp quản

lý do mình đề xuất

7.2.2 Phương pháp chuyên gia

Bằng việc tổ chức các hội thảo với các chuyên gia (các cán bộ quản lý,các tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn, các giáo viên tiếng Anh có nhiềukinh nghiệm trong giảng dạy tiếng Anh của các trường THCS trong huyện MêLinh – Hà Nội) Phương pháp này được sử dụng với mục đích tìm hiểu mức

độ tán thành của các chuyên gia về các biện pháp dự kiến đề xuất và mức độvận dụng các biện pháp đó vào giảng dạy tiếng Anh Mặt khác, phương phápnày để xem xét tính hợp lý và tính khả thi của các giải pháp quản lý được bổsung sau khi hoàn chỉnh các biện pháp dự kiến

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc vànội dung chủ định của chúng tôi Phương pháp này được sử dụng với mục

Trang 6

đích chủ yếu là thu thập các số liệu về công tác quản lý dạy học tiếng Anh củahiệu trưởng các trường THCS huyện Mê Linh – Hà Nội nhằm minh chứng đượcthực trạng quản lý dạy học tiếng Anh tại các trường THCS huyện Mê Linh.

7.2.4 Phương pháp đàm thoại

Người viết đã gặp gỡ, trao đổi ý kiến một cách chính thức hoặc khôngchính thức như trao đổi, trực tiếp thảo luận, qua điện thoại hay thư điện tử(email) bàn về những vấn đề có liên quan đến nội dung này với những người

đã và đang học, hoặc đã và đang giảng dạy tại tổ ngoại ngữ các trường THCShuyện Mê Linh – Hà Nội, cùng các chuyên gia bên ngoài nhà trường để cónhững ý kiến khách quan về lĩnh vực này

7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Bằng việc kết hợp lý luận với thực tiễn, đem lý luận phân tích thực tiễn,

từ phân tích thực tiễn rút ra lý luận, phương pháp này được sử dụng với mụcđích đánh giá, tổng kết công tác quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởngcác trường THCS huyện Mê Linh – Hà Nội

7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê trong nghiên cứu giáo dục, với mụcđích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời đểđánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra

8 Cấu trúc luận văn

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học tiếng Anh ở trường phổ thôngChương 2: Thực trạng dạy học tiếng Anh và quản lý dạy học tiếng Anh ở các trường THCS huyện Mê Linh – Hà Nội

Chương 3: Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh ở các trường THCS huyện Mê Linh – Hà Nội

Kết luận và kiến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC TIẾNG ANH

Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Ngày nay giáo dục được coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học – kỹthuật và đem lại sự thịnh vượng cho đất nước Giáo dục có chức năng quantrọng là tái sản xuất sức lao động kỹ thuật cho nền kinh tế, phục vụ cho sựphát triển của xã hội Vì vậy, hoạt động giáo dục luôn luôn phát triển, tiến bộ

và không ngừng đổi mới để góp phần vào sự phát triển, tiến bộ chung của xãhội Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực có chuyênmôn cao, tay nghề vững vàng, ngoại ngữ tốt để giao tiếp lại càng cần thiết vàquan trọng Để đáp ứng được yêu cầu này của xã hội, giáo dục lại càng có vaitrò quan trọng và cấp thiết trong việc giáo dục toàn diện Chính vì vậy màtrong Luật Giáo dục năm 2005 - Điều 7 đã đề cập đến vấn đề dạy ngoại

ngữ:“Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử

dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần đảm bảo để người học được thực hiện liên tục và có hiệu quả”

Trong thời gian qua để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện đã có một số công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục như:

- Tổ chức quản lý quá trình giáo dục - đào tạo của Nguyễn Minh

Đường, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội, 1996

- Quản lý quá trình đào tạo của Nguyễn Đức Trí, Viện Nghiên cứu

phát triển giáo dục, Hà Nội, 1999

- Công trình nghiên cứu khoa học do Đỗ Huy Thịnh làm chủ nhiệm đềtài:

Trang 8

“Nghiên cứu thực trạng dạy và học tiếng Anh tại các Trung tâm ngoại ngữ khu vực thành phố Hồ Chí Minh nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo”

- Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục của Lâm Hữu Tài – Viện chiếnlược và chương trình giáo dục – thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004 với đề tài:

“Quản lý dạy học ngoại ngữ tại Khoa Ngoại ngữ - Trường Đại học dân lập Văn Lang” Đề tài này đã đi sâu vào nghiên cứu thực trạng công tác quản lý

dạy học ngoại ngữ tại khoa Ngoại ngữ Đại học dân lập Văn Lang và đưa ramột số giải pháp cải tiến quản lý dạy học ngoại ngữ của khoa ngoại ngữtrường Đại học Dân lập Văn Lang Đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ một

số giải pháp cải tiến chương trình đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy củagiảng viên, hoạt động học của sinh viên, phát triển đội ngũ giảng viên đại họcdân lập

- “Quản lý nhà nước đối với việc dạy học ngoại ngữ tại các cơ sở giáo

dục thường xuyên” của Đặng Quang Tình, Viện Chiến lược và chương trình

giáo dục, Hà Nội, năm 2006 Đề tài này đã đi sâu vào việc đổi mới côngtác quản lý nhà nước đối với dạy học ngoại ngữ tại các cơ sở giáo dụcthường xuyên

Qua một số công trình nghiên cứu về hoạt động quản lý giáo dục chúng

ta thấy các đề tài này chủ yếu nghiên cứu về tổ chức quản lý quá trình giáodục - đào tạo, về thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học ngoạingữ tại các trung tâm ngoại ngữ, đại học dân lập, ở các trung tâm giáo dụcthường xuyên chứ chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề dạy họctiếng Anh tại các trường phổ thông, đặc biệt là giáo dục THCS, là cấp họcchính thức đưa dạy học tiếng Anh vào môn học chính khóa, với tư cách là cơ

sở cho các chương trình dạy học tiếng Anh ở các cấp học cao hơn thì cho đến

Trang 9

nay chưa có công trình nghiên cứu nào đáng kể Vì vậy, việc nghiên cứu biệnpháp quản lý dạy học tiếng Anh ở các trường THCS càng trở nên cấp thiết.

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài luận văn

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một dạng lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền vàphát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người Từ khi có sự phân cônglao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức,điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định Dạng laođộng mang tính đặc thù đó còn được gọi là hoạt động quản lý

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý theo những cách tiếp cậnkhác nhau như:

+ “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủthể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượngquản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống cácluật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thểnhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.[11, 7]

+ “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chứcnhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được những mục đích của tổ chức”.[11, 8]

+ “Quản lý là bảo đảm sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sựbiến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng tháimới thích ứng với hoàn cảnh mới” [11, 8]

Theo Fredenck, W.Taylor, tác giả của học thuật quản lý theo khoa học thì:

“Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau

đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất ”

Trang 10

Theo thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol thì: “Quản lý hànhchính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý như đã dẫn ở trên,nhưng chúng ta có thể nhận thấy điểm chung của quản lý mà các khái niệm đó

đã đề cập là:

- Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu Hoạt động quản lý được thực hiệnvới một tổ chức hay một nhóm xã hội Đây là điểm hội tụ cho những hoạtđộng cùng nhau của nhiều người

- Quản lý là thực hiện những tác động hướng đích từ chủ thể đến đốitượng Yếu tố con người, trong đó người quản lý và người bị quản lý, giữ vaitrò trung tâm trong hoạt động quản lý

- Quản lý không chỉ thể hiện ý chí của chủ thể mà còn là sự nhận thức

và thực hiện hoạt động theo quy luật khách quan Lao động quản lý là điềukiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển

Từ những dấu hiệu đặc trưng nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác

động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng tổ hợp những cách thức, những phương pháp nhằm khai thác và sử dụng tối đa các tiềm năng, các cơ hội của cá nhân cũng như của tổ chức, để đạt được những mục tiêu đã đề ra.

Quản lý đòi hỏi phải có thông tin, luôn gắn với thông tin Thông tin vềcon người, về xã hội mà ở đó chứa đựng những nhu cầu, những ham muốn,những năng lực hoạt động và quan hệ của con người theo những định hướnggiá trị Quá trình quản lý, do vậy, là một quá trình thông tin, truyền tin, xử lýtin, tiếp nhận tin, lưu trữ thông tin và biến thông tin thành năng lực thúc đẩyhoạt động giao tiếp hướng đích

Các yếu tố cơ bản của quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau

và đều cùng nằm trong môi trường quản lý

Trang 11

Bản chất đó có thể được thể hiện ở sơ đồ 1.1 dưới đây:

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố trong quản lý.

Mô hình quản lý ở trên cho ta thấy:

Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức Khách thể quản lý là những con người cụ thể và hình thành tự nhiên

các mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người

Nội dung quản lý là các yếu tố cần quản lý của khách thể, đối tượng

quản lý

Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách, chuyên gia, tư duychuyên môn - nghiệp vụ, khoa học quản lý, phương tiện kỹ thuật v.v

Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới khách thể

quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý

Mục tiêu quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do

chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý

Trang 12

năng quản lý trong cụm từ viết tắt POSDCORB:

P : Planning – Lập kế hoạch O : Organizing – Tổ chức

S : Staffing – quản trị nhân lực D : Directing – Chỉ huy

CO : Co-ordinating – Phối hợp R : Reviewing – Kiểm tra

+ Xây dựng cơ cấu, nhóm (cấu trúc)

+ Xây dụng các yêu cầu

+ Tạo sự hợp tác, liên kết (xây dựng mô hình)

+ Lựa chọn, sắp xếp

Trang 13

+ Bồi dưỡng cho phù hợp.

+ Phân công nhóm và cá nhân

c ) Chỉ đạo.

Chỉ đạo là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho

họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức:

+ Điều hành, lãnh đạo

+ Chỉ huy, ra lệnh, can thiệp

+ Hướng dẫn cách làm, khai thác tiềm năng, tiềm lực

+ Kích thích động viên

+ Thông tin hai chiều

+ Bảo đảm sự hợp tác trong thực tế

d ) Kiểm tra.

Kiểm tra là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử

lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức:

+ Xây dựng định mức và tiêu chuẩn

+ Các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá

+ Rút kinh nghiệm và điều chỉnh

Các chức năng này gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn nhau, khithực hiện chức năng này thường cũng có những mặt chức năng khác ở cácmức độ khác nhau

Bốn chức năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thànhmột chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm 4 giai đoạn với sự tham giacủa 2 yếu tố quan trọng là thông tin và quyết định Trong đó thông tin có vaitrò là “huyết mạch” của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của mộtquá trình quản lý tiếp theo

Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý được thể hiện ở sơ

đồ 1.2 dưới đây:

Trang 14

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng trong một chu trình quản lý.

Trong mọi hoạt động quản lý, thông tin quản lý đóng vai trò vô cùngquan trọng, nó được coi như là “mạch máu” của hoạt động quản lý

1.2.2 Quản lý giáo dục

Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là một khái niệm đa cấpbao hàm cả hệ thống quản lý giáo dục quốc dân, quản lý các phân hệ của nó

và đặc biệt là quản lý trường học

Trong thực tế, quản lý giáo dục và quản lý hệ thống giáo dục là nhữngkhái niệm đồng nhất và theo hệ thống có sự phân cấp từ trung ương xuống cácđịa phương

“ Quản lý giáo dục (nói riêng là quản lý trường học) là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản

lý nhằm làm cho cả hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế

hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất.

Lập kế hoạch

Chỉ đạo

Trang 15

Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay” [11, 38]

Vậy quản lý giáo dục thực chất là quản lý quá trình hoạt động củangười dạy, người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở các cơ sở khác nhautrong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình GD – ĐT nhằm đạt đượccác mục tiêu giáo dục đề ra

“Quản lý giáo dục là nhân tố cơ bản thực hiện chức năng quản lý nhànước đối với hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống luôn ổn định, pháttriển và đạt được mục tiêu đã định” [20, 32]

Như đã đề cập ở trên, khái niệm “quản lý giáo dục” là một khái niệm

có nội hàm rộng hẹp khác nhau, tùy theo cách tiếp cận khái niệm “giáo dục”

từ góc độ nào Được hiểu theo nghĩa rộng nhất thì quản lý giáo dục là quản lý

mọi hoạt động trong xã hội, tác động một cách có mục đích và có kế hoạch vào toàn bộ các lực lượng giáo dục, nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của chúng, sử dụng một cách đúng đắn các nguồn lực và phương tiện thực hiện có hiệu quả chỉ tiêu phát triển về số lượng và chất lượng của sự nghiệp giáo dục theo phương hướng của mục tiêu giáo dục [11, 38]

Nếu chỉ đề cập tới hoạt động quản lý trong ngành giáo dục và đào tạothì quản lý giáo dục được hiểu là quản lý hệ thống giáo dục từ trung ương

đến địa phương, bao gồm tất cả các ngành học, cấp học, trường học theo mục

đích đặt ra cho các thời kì

Nếu thu hẹp khái niệm giáo dục trong phạm vi các hoạt đông diễn ratrong các trường học và các cơ sở đào tạo thì quản lý giáo dục được hiểu là

quản lý nhà trường “Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa

học đến nhà trường, nhằm tổ chức tối ưu các quá trình dạy học, giáo dục thể

Trang 16

chất, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [1, 40]

1.2.3 Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục Trường học(cơ sở giáo dục) chính là nơi tiến hành các quá trình GD – ĐT, có nhiệm vụtrang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đa một quyluật tiến bộ xã hội là: “Thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả kinh nghiệm xãhội mà thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền thụ lại, đồng thời phải làm phongphú những kinh nghiệm đó” [1, 45]

Trường học là tổ chức giáo dục trực tiếp làm công tác GD & ĐT thế hệđang lớn dần lên Nó là tế bào cơ sở, chủ chốt vừa là quản lý nhà nước, lạivừa là một hệ thống độc lập, tự quản của xã hội Do đó, quản lý trường họcvừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội

Trong thời đại hiện nay, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như mộtthiết chế chuyên biệt của xã hội để GD – ĐT thế hệ trẻ thành những conngười có tri thức, sức khỏe, phẩm chất chung của hệ thống giáo dục Từ đó tathấy: Giáo dục nhà trường giữ vai trò trọng yếu tạo ra sức lao động mới cho

xã hội, đặc biệt là đòi hỏi hàm lượng chất xám trong lao động ngày càng cao

Quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường chính là xây dựngmột quan hệ hợp lý giữa các hình thức công tác tập thể đối với các học sinh

và giáo viên Do con đường giáo dục lâu dài, đặc biệt hàm súc về trí tuệ vàcảm xúc, do các tình huống trong đời sống nội tại, tâm hồn, đời sống tập thểtrong trường có sự biến đổi liên tục Tất cả những cái đó đặt ra yêu cầu caođối với việc quản lý nhà trường, việc tổ chức hợp lý các quá trình GD – ĐT,việc xây dựng cơ sở vật chất (CSVC) kĩ thuật tổ chức sư phạm và các điềukiện khác của giáo viên và học sinh

Trang 17

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối

giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [6, 34]

Quản lý trực tiếp trường học bao gồm các nội dung: quản lý quá trìnhdạy học, giáo dục, tài chính, CSVC, nhân lực, hành chính và quản lý môitrường giáo dục Trong đó quản lý dạy học, giáo dục là trọng tâm

Nhà quản lý ở mỗi loại hình nhà trường, ở mỗi bậc học sẽ phải đảm bảovận dụng khác nhau khi thực hiện nguyên lý giáo dục Tuy vậy, nhà quản lýphải đảm bảo vấn đề cốt yếu đó là: xác định mục tiêu quản lý của nhà trường,xác định cụ thể nội dung các mục tiêu quản lý

Mục tiêu quản lý của nhà trường thường được cụ thể hóa trong kếhoạch năm học, những mục tiêu này là các nhiệm vụ chức năng mà tập thểnhà trường thực hiện suốt năm học

Trên cơ sở hoạch định các mục tiêu một cách cụ thể, quản lý nhàtrường phải cụ thể hóa cho từng mục tiêu Những nội dung này là sức sốngcho mục tiêu, là điều kiện trở thành hiện thực

Tóm lại, quản lý trường học là quản lý giáo dục được thực hiện trongphạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, thực hiện nhiệm vụgiáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội Hiện nay các nhà quản lý trườnghọc quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổchức quản lý và kết quả; đó là các thành tố trung tâm của quá trình sư phạm,nếu quản lý và tác động hợp quy luật sẽ đảm bảo cho một chất lượng tốt trongnhà trường

Có thể nhận thức trực quan về quản lý trường học qua sơ đồ 1.3 sau đây:

Trang 18

Sơ đồ 1.3: Mô hình quản lý trường học.

Chú giải:

CSVC: Cơ sở vật chất KT: Kiến thức

HS: Học sinh ND : Nội dung KN: Kỹ năng PP : Phương pháp KQ: Kết quả TĐ: Thái độ

Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế của hệ thống giáo dục.Đương nhiên quản lý nhà trường có liên quan hữu cơ với quản lý giáo dục.Nhưng như ta biết, quản lý giáo dục bao gồm hai cấp độ: Quản lý cấp vĩ mô

và quản lý cấp vi mô Quản lý cấp vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục quốcdân (trong các cấp từ trung ương đến địa phương), còn quản lý vi mô là quản

lý hoạt động giáo dục trong nhà trường Và như vậy giáo dục trong nhàtrường chính là nội dung quan trọng của quản lý nhà trường

Trên cơ sở đó, ta hiểu quản lý nhà trường là hệ thống những tác động

có hướng đích của hiệu trưởng đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và

MT

ND

GV

CS VC

Trang 19

học sinh) đến các nguồn lực (CSVC, tài chính, thông tin ) hợp quy luật (quyluật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xãhội ) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.

Quản lý nhà trường, quản lý gi áo dục là tổ chức hoạt động dạy học

có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức

là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước [1, 8]

Có thể coi nhà trường là bộ mặt của hệ thống giáo dục quốc dân, cácquan điểm, đường lối, chính sách giáo dục đều được thực hiện trong nhàtrường Do đó, quản lý nhà trường, còn có nghĩa là tổ chức các lực lượngtrong và ngoài nhà trường biến các quan điểm, đường lối, chủ trương, chínhsách giáo dục của Đảng và Nhà nước thành hiện thực

1.3 Quản lý dạy học ở trường THCS

Học là quá trình con người lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vànhững phương thức hành vi mới, do vậy ta thấy học chính là hoạt động nhằmtạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững Để lĩnh hộiđược những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách chiếm lĩnh khác

Trang 20

nhau Đó có thể là do được truyền thụ, do tự quan sát, đúc kết từ lao động,môi trường sống v.v….

Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày và

nó diễn ra mọi nơi, mọi lúc Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc qualao động sản xuất, hoạt động vui chơi…., cách học này không có chủ định dẫnđến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống

Ở người học chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại

Nhưng thực tiễn có thể tự cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân conngười thì đòi hỏi con người phải nắm được các quy luật của tự nhiên, xã hội

và quy luật về sự hình thành, phát triển con người Nói cách khác, ngoài việclĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra, còn cần phải nắm bắt đượcnhững tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn mới mà cách học ngẫunhiên không tạo ra được Để có được những năng lực đó người ta tiến hànhmột hoạt động hướng vào để tiến hành mục tiêu đó là hoạt động dạy học (cóchủ định)

Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất của các hoạt động chỉ đạocủa thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo của trò,nhằm làm cho trò đạt được mục đích dạy học

Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản:thầy, trò, tri thức Ba thành tố này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vàonhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chặt chẽ quátrình dạy của thầy với quá trình học của trò nhằm tạo ra chất lượng và hiệuquả trong giáo dục

Có thể nhận thức một cách sơ lược về quá trình dạy học qua sơ đồ 1.4dưới đây:

Trang 21

đã đề ra.

Quản lý dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệthống quản lý trong nhà trường, quản lý dạy học trên lớp và quản lý giáo dụcngoài giờ lên lớp Các hoạt động này không chỉ do nhà trường thực hiện mà

nó còn quan hệ tương tác liên thông với các tổ chức GD – ĐT khác

Cũng như quản lý nói chung, quản lý dạy học có các chức năng:

- Chức năng lập kế hoạch

- Chức năng tổ chức

- Chức năng chỉ đạo

- Chức năng kiểm tra

Khái niệm khoa học

Trang 22

Chức năng phối hợp trong và phối hợp ngoài, phối hợp giữa các hoạtđộng giáo dục trên lớp với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đồngthời phối hợp giữa việc giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội với các cơ

sở giáo dục khác.[27, 10]

Việc thực hiện tốt các chức năng quản lý sẽ giúp cho nhà trường thựchiện được các hoạt động dạy học một cách có hiệu quả

1.3.1.3 Mục tiêu của quản lý dạy học

Mục tiêu của quản lý dạy học là mục tiêu tổng hợp hay mục tiêu chung,

là kết quả tổng hợp của nhiều quá trình bộ phận Mỗi quá trình bộ phận lại cónhững mục tiêu riêng của nó, được gọi là mục tiêu bộ phận Các mục tiêu bộphận lại chính là các mục tiêu tổng hợp các hệ thống con Mỗi hệ thống conlại bao gồm những quá trình bộ phận nhỏ hơn Như vậy, ta có thể hình dung

ra hệ thống quản lý giúp cho các cán bộ quản lý xác định rõ được vị trí và mốiquan hệ giữa các mục tiêu thuộc hệ thống quản lý của mình, để điều khiểnđược đối tượng quản lý tương ứng vận động đạt tới kết quả mong muốn

Người cán bộ quản lý phải có quan điểm hệ thống, tức là có cách nhìntoàn diện và biện chứng đối với các yếu tố thuộc đối tượng quản lý, để điềukhiển, quản lý chúng, bởi mục tiêu quản lý không phải chỉ là năng suất haychất lượng của một hệ thống, cụ thể là của một khoa (trường đại học), mộttrường phổ thông trung học hay một trường trung học cơ sở

Tóm lại, mục tiêu quản lý dạy học là đảm bảo chất lượng giáo dục toàndiện người học với các tiêu chuẩn về chính trị - tư tưởng và văn hóa - khoahọc công nghệ, tay nghề thực hành và thể chất, được quy định trong mục tiêugiáo dục Chất lượng đó là kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động của quátrình giáo dục và của các hoạt động đảm bảo cho quá trình giáo dục đó

Trang 23

1.3.1.4 Đối tượng của quản lý dạy học

Đối tượng của quản lý dạy học là hoạt động của người dạy, người học

và các tổ chức sư phạm của nhà trường, của một khoa cụ thể, của một trườngđại học, PTTH, THCS cụ thể trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trìnhdạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã quy định với chất lượng cao

Có thể nói rằng: đối tượng của quản lý dạy học là hoạt động dạy họctrong nhà trường, quản lý hoạt động dạy học có nhiệm vụ quản lý hoạt độngcủa giáo viên, học sinh trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chươngtrình dạy học của nhà trường

Hoạt động dạy học hiểu theo nghĩa hẹp là bộ phận cấu thành chủ yếunhất trong toàn bộ hoạt động của một trường nào đó Do đó, quản lý hoạt dạyhọc là bộ phận chủ yếu nhất của quản lý nhà trường, cũng chính là nền tảng

để phân hóa chức năng, xác định cơ chế tổ chức quản lý và tổ chức chỉ đạohoạt động của các đối tượng trong nhà trường Quá trình này do trường trựctiếp quản lý, nhưng nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức giáodục khác hoặc các tổ chức, cơ quan khoa học, kỹ thuật, công nghệ, văn hóa,nghệ thuật, thể dục thể thao mà người học có điều kiện tham gia hoạt động.Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường và cuộc cách mạng khoahọc - công nghệ như hiện nay, các mối quan hệ là một trong những điều kiệntối ưu hóa việc quản lý quá trình dạy học [7, 18]

1.3.1.5 Nội dung của quản lý dạy học

Để đạt được mục tiêu và yêu cầu quản lý, quản lý dạy học phải thựchiện quản lý các nội dung sau:

- Quản lý mục tiêu dạy học, kế hoạch và chương trình giảng dạy: là

quản lý quản lý quá trình giảng dạy, giáo dục của giáo viên sao cho các kếhoạch và chương trình giảng dạy được thực hiện đúng về nội dung, thời gian

và quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu dạy học

Trang 24

- Quản lý hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh: là

quản lý thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục của giáo viên, các nhiệm

vụ học tập rèn luyện của học sinh

- Quản lý phương pháp và chất lượng dạy học: thực hiện các phương

pháp dạy học nhằm đạt được mục tiêu, phát hiện kịp thời các nguyên nhândẫn đến tình trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiện các biện pháp khắcphục, đảm bảo chất lượng dạy học

Ngoài ra, nhà trường còn phải chú trọng đến các nội dung quản lý khác

như: quản lý phương tiện phục vụ dạy học, quản lý kiểm tra và đánh giá quá

trình dạy học, xác nhận trình độ và cấp chứng chỉ văn bằng hay quản lý các hoạt động ngoài lớp, ngoài nhà trường; quản lý, điều phối hoạt động của các

tổ chức sư phạm trong nhà trường [27, 10]

1.3.2 Quản lý dạy học ở trường trung học cơ sở

1.3.2.1 Trường trung học cơ sở

Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớpchín, dành cho trẻ em trong độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi Học sinh vào học lớpsáu phải hoàn thành chương trình tiểu học Giáo dục trung học cơ sở phảicủng cố, phát triển những nội dung đã học ở bậc tiểu học, đảm bảo cho họcsinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc;kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học,ngoại ngữ; có những hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp (Luậtgiáo dục – 2005)

Giáo dục THCS cung cấp cho học sinh một hệ thống vững chắc nhữngkiến thức, phương pháp phổ thông, cơ bản, thiết thực và tương đối hoànchỉnh Hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản cần thiết, phát triển nănglực trí tuệ, bước đầu có năng lực tự học, năng lực thích ứng với những thayđổi trong thực tiễn để tự chủ, tự lập trong lao động và trong cuộc sống, góp

Trang 25

phần hình thành các phẩm chất lao động khoa học cần thiết của người laođộng mới.

Chính vì vậy người quản lý giáo dục THCS phải hiểu rõ và nắm bắtmột cách sâu sắc, toàn diện các yêu cầu của giáo dục THCS để thực hiệnđúng đủ và tốt các yêu cầu, mục tiêu của giáo dục đề ra

1.3.2.2 Quản lý dạy học ở trường trung học cơ sở

 Mục tiêu và nội dung dạy học

Mục tiêu dạy học là kết quả, là sản phẩm mong muốn của quá trình dạyhọc, của hoạt động dạy học Sản phẩm này chính là người học sinh tốt nghiệpTHCS với nhân cách đã được cải biến và hình thành thông qua hoạt động dạyhọc trong nhà trường

Nhân cách đã được thay đổi và được hình thành thể hiện trong mô hìnhnhân cách người học sinh tốt nghiệp: phẩm chất và năng lực

Phẩm chất trong mô hình nhân cách người học sinh tốt nghiệp THCS bao

gồm phẩm chất của người công dân và những phẩm chất của người lao động

Năng lực trong mô hình nhân cách người học sinh tốt nghiệp THCS

bao gồm: hệ thống các kiến thức khoa học (kiến thức về khoa học tự nhiên,khoa học xã hội và nhân văn); hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo thực hành; khảnăng tư duy khoa học và phát triển thể chất theo lứa tuổi

Để thực hiện mục tiêu dạy học nêu trên, người học sinh phải lĩnh hộiđược nội dung học tập bao gồm một hệ thống các kiến thức khoa học đượcphân chia thành các nhóm cơ bản sau:

Nhóm nội dung về khoa học xã hội và nhân văn gồm: Lịch sử, giáo dụccông dân, dân số, môi trường

Nhóm nội dung về khoa học tự nhiên và kỹ thuật bao gồm: Toán học, vật

lý, hóa học, kỹ thuật công nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, sinh học, tin học

Nhóm nội dung giáo dục về thể chất và quốc phòng

Trang 26

Mục tiêu dạy học vừa là điểm xuất phát của hoạt động dạy học, vừa là

cơ sở khoa học để đánh giá kết quả dạy học Nó quy định tất cả các yếu tố củahoạt động dạy học, tác động đến cả người dạy, người học, người quản lý, tácđộng đến cả môi trường dạy học là nhà trường, gia đình và xã hội

Nội dung dạy học là cơ sở, là chất liệu chính để thực hiện nhiệm vụ dạyhọc Nội dung dạy học là một phần tri thức được chọn lọc trong nền văn hóa,khoa học kỹ thuật của dân tộc và của nhân loại trong suốt quá trình phát triển,phần tri thức này người giáo viên cần tổ chức cho học sinh lĩnh hội, để từ đóhình thành trong học sinh những phẩm chất và năng lực theo mục tiêu dạyhọc đã đề ra

Yêu cầu về nội dung giáo dục phổ thông, trong Điều 24 Luật Giáo dục

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Nội dung giáo dục phổ

thông phải đảm bảo tính phổ thông, gần với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng nội dung giáo dục ở mỗi bậc học, cấp học”.

 Quản lý mục tiêu và nội dung dạy học

Quản lý hoạt động dạy học trước tiên là quản lý mục tiêu và nội dungdạy học Quản lý mục tiêu, nội dung dạy học nói chung là quản lý việc xâydựng mục tiêu, nội dung dạy học, kế hoạch giảng dạy và nội dung chươngtrình giảng dạy, quản lý hoạt động giảng dạy thực tế của giáo viên, hoạt độnghọc tập của học sinh sao cho các kế hoạch giảng dạy, nội dung chương trìnhgiảng dạy được thực hiện một cách đầy đủ, chính xác về nội dung và tiến độthời gian, quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu dạy học

Căn cứ vào các chức năng của công tác quản lý, có thể xác định đượcbản chất của quản lý mục tiêu, nội dung dạy học bao gồm:

- Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng mục tiêu, nộidung dạy học

Trang 27

- Thực hiện mục tiêu, nội dung dạy học chủ yếu thông qua các hoạtđộng dạy và học.

 Quản lý chương trình dạy học

Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện ở mục tiêu giáo dục phổthông; quản lý việc thực hiện chương trình nhằm quy định chuẩn kiến thức,

kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp vàhình thức tổ chức hoạt động giáo dục, quản lý cách thức đánh giá kết quả giáodục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu vềphương pháp giáo dục phổ thông [8, 25]

Bộ trưởng Bộ GD - ĐT ban hành chương trình giáo dục phổ thông,duyệt SGK để sử dụng chính thức, quản lý chương trình dạy học góp phần ổnđịnh, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên

cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổthông và SGK

Theo ý kiến của Giáo sư Phan Đình Diệu về vấn đề đổi mới chương

trình và nội dung dạy học hiện nay: Mọi đề xuất, thay đổi chương trình và nội

dung dạy học không thể và cũng không nên thoát ly khỏi hiện trạng, tức là chương trình đang được dạy và học hiện nay Có lẽ thỏa đáng nhất là với một cách nhìn hệ thống, ta cần nghiên cứu lại toàn bộ hệ kiến thức đang được giảng dạy để phát hiện các nhược điểm cũng như các điều cần thay đổi, bổ sung; và đặc biệt cần nghiên cứu cách thay đổi, thêm bớt nội dung trên cơ sở khoa học hiện đại về nhận thức để làm sao cho hệ thống kiến thức mới có được tính liên kết hệ thống, hỗ trợ lẫn nhau và cùng nhằm một định hướng mục tiêu chung về nhận thức và ứng dụng thực tiễn.

 Quản lý phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên

và của học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạocủa giáo viên, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

Trang 28

Quản lý phương pháp dạy học là quản lý việc thực hiện phương pháp

và chỉ đạo đổi mới phương pháp Đây là quá trình được đặc trưng ở tính chấthai mặt, nghĩa là bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của giáo viên và hoạtđộng học của học sinh Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành trong mốiquan hệ biện chứng, trong đó có hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo (tổ chức,điều khiển) và hoạt động học đóng vai trò tích cực, chủ động (tự tổ chức, tựđiều khiển) Vì vậy, quản lý phương pháp dạy học phải là quản lý tổng hợpnhững cách thức làm việc của giáo viên và học sinh Hoạt động dạy học vănhóa phổ thông là quá trình nhận thức độc lập của học sinh dưới tác động chủđạo của giáo viên; tức là phương pháp dạy học phải đóng góp phần tích cựccủa mình, nhiều khi góp phần quyết định vào việc thực hiện quá trình nhậnthức độc đáo của học sinh Muốn đạt được như vậy, quản lý phương pháp dạyhọc phải nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học:

- Trang bị cho học sinh hệ thống những tri thức khoa học phổ thông,

cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và hệ thống các kỹ năng, kỹxảo tương ứng

- Phát triển ở học sinh năng lực hoạt động trí tuệ

- Trên cơ sở đó, hình thành ở các em học sinh cơ sở thế giới quan khoahọc và những phẩm chất đạo đức của con người mới [9, 37]

 Quản lý việc vận dụng những phương pháp dạy học

Để quản lý việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên, ngườiquản lý cần chú ý những yêu cầu sau:

+ Làm cho đội ngũ giáo viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng trọng tâmcủa hoạt động dạy học là học sinh Giáo viên cần lựa chọn các phương phápdạy học sao cho có tác động mạnh mẽ đến quá trình giảng dạy, làm phát triểncác sản phẩm trí tuệ, các phẩm chất, nhân cách học sinh Giáo viên không chỉ

Trang 29

sử dụng phương pháp dạy học truyền thống mà cần tôn trọng việc thường xuyêncải tiến phương pháp dạy học sao cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.

+ Nâng cao nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc đổimới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học có liên quan mậtthiết với đổi mới phương tiện dạy học và nội dung dạy học, đổi mới việc soạngiáo án

+ Quản lý việc thiết kế chi tiết phương pháp dạy học thể hiện tronggiáo án của giáo viên và thực hiện trong thực tiễn dạy học Thường xuyênnhắc nhở yêu cầu giáo viên bổ sung vào giáo án phần rút kinh nghiệm đối vớinhững chi tiết được phòng giáo dục hoặc trường tổ chức dạy thao giảng cấphuyện hoặc cấp trường

+ Có các biện pháp hành chính, kinh tế yêu cầu, nhắc nhở giáo viênquan tâm đến các vấn đề chuyên môn này

Tóm lại, dạy học trong các trường THCS, một mặt phải tuân thủ mọinguyên tắc chung, quy định của Bộ GD - ĐT; Mặt khác, phải chú ý thíchđáng những nét đặc trưng riêng của học sinh từng trường cùng các đối tượngdạy học của từng trường [12, 9]

 Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên

Quản lý giáo viên và hoạt động giảng dạy của giáo viên thực chất làquản lý phát triển đội ngũ giáo viên và thực hiện các nhiệm vụ của đội ngũgiáo viên

Để đội ngũ giáo viên trong trường học thực hiện tốt các nhiệm vụ giảngdạy, giáo dục học sinh, cần quan tâm đến công tác tuyển dụng, đào tạo, bồidưỡng và tự bồi dưỡng của giáo viên; theo dõi, chỉ đạo thực hiện và đánh giáđược kết quả việc thực hiện học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyênmôn và sư phạm của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên, trong đó, đặcbiệt quan trọng là quá trình tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện, bồi dưỡng và tự

Trang 30

bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ về mọi mặt, nhằm nâng caochất lượng, hiệu quả hoạt động giảng dạy, giáo dục của mình [3, 57]

 Có các loại hình bồi dưỡng giáo viên như sau

- Bồi dưỡng chuẩn hóa

- Bồi dưỡng theo chu kỳ, nhằm làm cho giáo viên dạy được chươngtrình mới

- Bồi dưỡng theo chu kỳ nhằm cập nhật những kiến thức, kỹ năngchuyên môn và phương pháp sư phạm

Trong quá trình dạy học, giáo viên vừa là đối tượng quản lý nhưngcũng là chủ thể quản lý của quá trình đó

Quản lý hoạt động giảng dạy của GV có các nhiệm vụ và nội dung sau:

- Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch và chương trình dạy họctheo thời khóa biểu và các quy định hiện hành về dạy và học

- Quản lý kế hoạch chuẩn bị bài giảng và lên lớp của giáo viên

- Quản lý nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy của từng giáo viên

- Theo dõi, đôn đốc thực hiện, đánh giá được kết quả thực hiện các nhiệm

vụ giảng dạy, giáo dục của toàn thể đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên

- Nắm được ưu, nhược điểm, đánh giá được sự tiến bộ trong hoạt độngchuyên môn của từng giáo viên Trên cơ sở đó đề xuất và thực hiện các biệnpháp quản lý phù hợp

 Quản lý hoạt động học của học sinh

Quản lý học sinh và hoạt động học tập của học sinh là quản lý từ khâutuyển sinh đến việc thực hiện học tập, nghiên cứu, rèn luyện của học sinhtrong suốt quá trình đào tạo

Mặc dù hầu hết học sinh được tuyển theo địa bàn, nhưng học sinh cùnglớp vẫn có những khác biệt ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác trong nhâncách, những khác biệt đó trong chủ thể học sinh làm cho quá trình thực hiện

Trang 31

các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh cũng như kết quả học tập, rènluyện đạt được của học sinh cũng khác nhau Hơn nữa, chính mặt chủ thể củatừng học sinh biến đổi do tác động của dạy học làm cải biến nhân cách củahọc sinh trở nên đa dạng và phức tạp Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủthể của quá trình dạy học

 Quản lý học sinh có các nhiệm vụ, nội dung sau:

- Chọn lọc học sinh trong khâu tuyển sinh và trong quá trình dạy học

- Quản lý học sinh trong quá trình học tập trên lớp, quá trình tự học ở nhà

- Theo dõi, tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cựctrong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng như những biến đổinhân cách của học sinh nói chung và của từng học sinh nói riêng

- Theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích học sinh phát huy các yếu tố tíchcực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rènluyện ngày càng cao [18, 31]

 Quản lý phương tiện dạy học

Quản lý phương tiện dạy học là một quá trình hoạt động có định hướng,

có tổ chức dựa trên những thông tin về tình trạng của phương tiện dạy học vàđặc điểm, đặc thù của mỗi nhà trường, nhằm đảm bảo cho việc đầu tư, khaithác, sử dụng phương tiện dạy học, phù hợp với mục tiêu dạy học của mỗi cơ

sở giáo dục với hiệu quả cao nhất

Quản lý phương tiện dạy học chịu sự chi phối rất lớn của nhiệm vụ,mục tiêu cũng như trình độ sư phạm của giáo viên ở mỗi cơ sở giáo dục Đó

là những yếu tố đặc trưng nhất quyết định nội dung, hình thức cũng như phạm

vi hoạt động của quản lý phương tiện dạy học

Quản lý phương tiện dạy học bao gồm :

+ Đầu tư mua sắm, bảo quản phương tiện dạy học

Trang 32

Quản lý đầu tư mua sắm phương tiện dạy học là quản lý về vốn đầu tư,cách thức, hiệu quả, kế hoạch đầu tư, bảo quản phương tiện dạy học của các

cơ sở giáo dục

Điều kiện vật chất phục vụ dạy học vừa là nội dung vừa là biện phápquản lý hoạt động dạy học Vì vậy, cần chú trọng việc trang bị phương tiệndạy học Căn cứ vào đặc điểm và tình hình kinh tế - xã hội, đặc điểm từngmôn học, mà nhà trường có thể trang bị bằng cách mua sắm hoặc tự làm Cácphương tiện dạy học rất đa dạng, đặc biệt trong điều kiện cách mạng khoa học

kỹ thuật đang tạo ra nhiều phương tiện mới, đã và đang góp phần nâng caohiệu suất dạy học

Một số phương tiện dạy học phổ biến như: các vật tự nhiên (vật thật,vật nhồi, các sản phẩm nhân tạo); các mô hình, ma két; các dụng cụ thínghiệm; các tài liệu in, vẽ (bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ); các phương tiện kỹ thuậtdạy học (phim giáo khoa, phim đèn chiếu, băng đĩa ghi âm, vô tuyến truyềnhình, máy tính )

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học tại các cơ sở giáo dục, đòihỏi cần được trang bị các phương tiện dạy học, đảm bảo yêu cầu hiện đại hóaphương tiện dạy học, đa dang hóa, đa kênh hóa, đồng thời phải có đầy đủ tàiliệu mới, cập nhật về công nghệ sản xuất và sử dụng, vận hành và bảo dưỡngnhững phương tiện dạy học mới

+ Quản lý việc tự làm phương tiện dạy học

Quản lý việc tự làm phương tiện dạy học là quản lý về phương hướng

kế hoạch, cách thức cũng như kinh phí đầu tư để nghiên cứu, sáng chế và sảnxuất phương tiện dạy học

Trong điều kiện kinh tế còn khó khăn, nguồn kinh phí cấp cho giáo dụcđào tạo còn hạn hẹp, việc tự làm phương tiện dạy học có ý nghĩa to lớn đốivới cả người dạy và người học, công tác đó làm tăng thêm lòng yêu nghề,

Trang 33

củng cố kiến thức, nâng cao chất lượng dạy học và thúc đẩy tư duy sáng tạo,gắn học đi đôi với hành.

Để quản lý phương tiện dạy học tốt, cần phải căn cứ vào các văn bảnban hành của Bộ GD – ĐT về tiêu chuẩn, số lượng, chất lượng, các điều kiệnvật chất của trường học, cấp học, môn học và tình hình thực tế của nhàtrường, địa phương để lập kế hoạch trước mắt, lâu dài cho việc xây dựng, muasắm và tự làm Đặc biệt, phải xây dựng, thảo luận quy định việc sử dụng và bảoquản trang thiết bị, CSVC để xây dựng, sử dụng có hiệu quả, có chất lượng

+ Quản lý sử dụng và bảo quản phương tiện dạy học

Mục đích của quản lý sử dụng và bảo quản phương tiện dạy học là nângcao hiệu quả, công suất sử dụng để nâng cao chất lượng dạy học

Để quản lý việc sử dụng và bảo quản phương tiện dạy học, trước hếtngười quản lý phải lên kế hoạch trang bị, bảo trì, duy trì hoạt động củaphương tiện dạy học khi sử dụng Sau đó cần chỉ đạo tổ chức, đơn vị, cá nhânchịu trách nhiệm quản lý Khi đã có phương tiện dạy học, cần chỉ đạo, tổ chứckhai thác, sử dụng phương tiện hiệu quả

Đồng thời với việc mua sắm phương tiện dạy học phải có cơ chế quản

lý, có chính sách khuyến khích sử dụng và bảo quản các đồ dùng dạy học

Bên cạnh đó cần quan tâm đến việc quản lý đội ngũ giáo viên và nhânviên sử dụng phương tiện dạy học Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên

sử dụng, hỗ trợ kỹ thuật bồi dưỡng tin học cho giáo viên, hướng dẫn giáo viên

sử dụng các thiết bị trình chiếu

Kiểm tra, đánh giá việc sử dụng phương tiện dạy học; Nếu để sử dụngphương tiện dạy học một cách bừa bãi sẽ gây ra những phản ứng ngược, làmhạn chế đến hiệu quả của quá trình dạy học Do đó, công tác quản lý phươngtiện dạy học cần có kế hoạch cụ thể, chi tiết đến từng môn học, từng giáo viên

để tạo ra tính chủ động, tích cực của mỗi chủ thể

Trang 34

 Quản lý kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá là một khâu cơ bản, là mộtnhiệm vụ thường xuyên của nhà trường, là một yếu tố thúc đẩy sự học tập vàrèn luyện của học sinh và nhiều khi nó giữ vai trò quyết định đến chất lượngdạy học

Ở cấp độ nhà trường, có hai loại đánh giá đặc thù:

Thứ nhất là đánh giá kết quả, chất lượng học sinh sau khi học xong một

nội dung nào đó hoặc sau khi học xong một khóa học, tức là đánh giá trongquá trình dạy học

Thứ hai là đánh giá một chương trình, kế hoạch giảng dạy học nào đó

đã được xây dựng và thực hiện

Các hình thức kiểm tra, đánh giá cần tuân thủ theo các hình thức cơbản, theo quy chế chung của Bộ GD - ĐT là các hình thức:

+ Kiểm tra miệng: Cần được thực hiện thường xuyên qua các giờ họctrong suốt quá trình dạy học Nội dung kiểm tra miệng cần dựa vào nội dungkiến thức và chủ đề của bài học

+ Kiểm tra 15 phút: Nội dung kiểm tra cần bám sát chủ điểm hoặc chủ

đề và trong phạm vi các kiến thức trong bài Việc lựa chọn các kiến thức đểkiểm tra phụ thuộc vào thực tiễn dạy học và cần thay đổi qua mỗi lần kiểmtra Độ khó của bài kiểm tra phụ thuộc yêu cầu của chương trình và nội dungcủa bài học cũng như trình độ chung của học sinh

+ Kiểm tra 1 tiết: Cần được tiến hành sau một chủ điểm và bao gồmbốn phần, mỗi phần cần đề cập đến một khía cạnh khác nhau hoặc các chủ đềkhác nhau của mỗi chủ điểm Mỗi bài kiểm tra phải có ít nhất là 5 dạng bàitập khác nhau để có thể kiểm tra được đầy đủ các kiến thức đã được học trongchủ điểm

Trang 35

+ Kiểm tra cuối học kỳ: Là tổng hợp của nhiều chủ điểm khác nhau màhọc sinh đã học trong một học kỳ Cũng giống như bài kiểm tra một tiết, mỗibài kiểm tra học kỳ cần có bốn phần trong đó có ba phần kiểm tra kiến thức, vàmột phần kiểm tra lý thuyết với độ dài như đã đề cập trong bài kiểm tra 1 tiết.

1.4 Quản lý dạy học tiếng Anh ở trường trung học cơ sở

1.4.1 Dạy học tiếng Anh các nước Đông Nam Á và trên thế giới

Việc dạy học tiếng Anh trong trường phổ thông ở một số nước trên thếgiới hiện nay rất đa dạng và phong phú tùy thuộc vào những điều kiện kháchquan và chủ quan của mỗi nước Tuy vậy, có thể khái quát việc dạy học tiếngAnh thành hai xu hướng chủ yếu sau đây:

1.4.1.1 Tiếng Anh được dạy học để dùng làm công cụ giao tiếp mới ngoài tiếng mẹ đẻ

- Tại các nước phát triển (đặc biệt ở Châu Âu), tiếng Anh được dạy vớimục tiêu trang bị cho người học một công cụ giao tiếp mới ngoài tiếng mẹ đẻ

để đáp ứng nguyện vọng học tập và nhu cầu làm việc của học sinh sau này

- Tiếng Anh được đưa vào chương trình dạy học ở trường phổ thông.Việc lựa chọn chương trình để dạy học trong trường phổ thông chủ yếu phụthuộc vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu, nguyện vọng củangười học

- Trong trường THCS tiếng Anh là môn học bắt buộc (ở Thụy Điển, HàLan, Tây Ban Nha, Italia, ) hoặc tự lựa chọn (ở Anh, Pháp, Đức, ) Ở bậcTHCS, ngoài Tiếng Anh là môn ngoại ngữ bắt buộc, học sinh được khuyếnkhích học thêm ngoại ngữ thứ hai

- Tại một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, tiếng Anhđược dạy như một môn học bắt buộc với thời lượng khoảng 3 - 4 tiết/tuần vàbắt đầu từ cấp tương đương như THCS của Việt Nam

Trang 36

1.4.1.2 Tiếng Anh được dạy học như một chuyển ngữ

Tại một số nước ở Châu Phi và khu vực Đông Nam Á, tiếng Anh đượcdạy học như một chuyển ngữ (ngôn ngữ hai) ngoài tiếng mẹ đẻ, nhằm thựchiện nhiệm vụ đào tạo nhân lực có ngoại ngữ để học tập, làm việc và giao tiếptrong các hoạt động xã hội Ở các nước này, tiếng Anh được dạy từ bậc tiểuhọc với thời lượng khá lớn (ở Singapore, tiếng Anh được dạy với thời lượng

12 - 17 tiết/tuần) Học sinh được trang bị những kiến thức và kỹ năng ngônngữ cần thiết để có thể học một số (hoặc phần lớn) nội dung chương trình phổthông bằng tiếng Anh

1.4.2 Quản lý dạy học tiếng Anh ở các trường THCS Việt Nam

1.4.2.1 Vị trí và vai trò của tiếng Anh trong trường trung học cơ sở

- Tiếng Anh là một trong các môn học cơ bản ở trường THCS, là một

bộ phận quan trọng không thể thiếu của học vấn phổ thông mà còn là phươngtiện hữu hiệu để khai thác thông tin, là công cụ giao tiếp và cập nhật tri thức

để hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Với chức năng là môntiếng nước ngoài, bắt buộc trong chương trình giáo dục THCS, môn tiếngAnh cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những trithức tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hóa đa dạng và phong phú trên thế giới, dễdàng hội nhập với cộng đồng quốc tế

- Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của môn tiếng Anh trongtrường phổ thông, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, thông tư

về việc đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ trongcác trường THCS Đại hội lần thứ IX của Đảng đề ra mục tiêu phát triển giáo

dục và đào tạo giai đoạn 2001 - 2010 đã nhấn mạnh “chú trọng trang bị và

nâng cao kiến thức ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên”.

Trang 37

- Môn tiếng Anh ở trường THCS còn góp phần phát triển tư duy (trướchết là tư duy ngôn ngữ) và hỗ trợ cho việc dạy học tiếng Việt và chuyển tảinội dung của nhiều môn học khác, góp phần hình thành và phát triển nhâncách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ởtrường phổ thông.

Để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với nhu cầu củangười học và điều kiện dạy học cụ thể của từng địa phương Việc quản lý dạyhọc tiếng Anh cần: quản lý mục tiêu và nội dung dạy học tiếng Anh, đào tạo

và bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Anh, quản lý hoạt động dạy của thầy và hoạtđộng học của trò, quản lý việc thực hiện chương trình, SGK, đổi mới phươngpháp dạy học, cải tiến các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc trưngcủa bộ môn, với hoàn cảnh của mỗi địa phương, đảm bảo học sinh được họcliên tục 7 năm ở bậc trung học (từ lớp 6 đến lớp 12), đầu tư CSVC, thiết bị, sửdụng đồ dùng dạy học (ĐDDH) hiệu quả, đổi mới các hình thức kiểm tra,đánh giá phù hợp chương trình, phương pháp giảng dạy và yêu cầu của họcmôn ngoại ngữ

1.4.2.2 Quản lý mục tiêu và nội dung dạy học tiếng Anh

Tiếng Anh được đưa vào chương trình giáo dục THCS nhằm đạt bamục đích: sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp, nâng cao trình độvăn hóa và phẩm chất đạo đức Cả ba mục đích đều quan trọng và có quan hệmật thiết với nhau, song do đặc thù của bộ môn mà mục đích thực hành giaotiếp trở thành cơ bản nhất, còn hai mục đích kia phải luôn luôn gắn chặt vớimục đích thứ nhất

Quán triệt được mục tiêu của dạy học tiếng Anh ở trường THCS cungcấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản về tiếng Anh và phát triểnphẩm chất trí tuệ để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động

Trang 38

Dạy học ngoại ngữ ở trường THCS là nhằm truyền thụ cho học sinhnắm vững những kiến thức cơ bản tối thiểu, tương đối hệ thống, thái độ, tìnhcảm cùng những kỹ năng nghe - nói - đọc - viết về tiếng nước ngoài được học

và sử dụng như một công cụ giao tiếp

- Về kiến thức

Sau khi học xong chương trình THCS, học sinh đã nắm được kiến thức

cơ bản và tương đối về tiếng Anh thực hành hiện đại, phù hợp lứa tuổi; có sựhiểu biết khái quát ban đầu về văn hóa của một số nước sử dụng tiếng Anh

- Về kĩ năng

Học sinh có kĩ năng cơ bản sử dụng tiếng Anh như một công cụ giaotiếp ở mức độ đơn giản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết Cụ thể là:

+ Kỹ năng nghe:

- Nghe hiểu được tiếng Anh sử dụng trong lớp học

- Nghe hiểu được tiếng Anh về các chủ điểm với nội dung ngôn ngữđược đề cập trong chương trình

Trang 39

- Viết về phục vụ các nhu cầu giao tiếp cá nhân và xã giao đơn giản(như điền vào các phiếu cá nhân, bảng điều tra, viết thư cho bạn )

Bốn kỹ năng nêu trên đều được hình thành trên cơ sở hiểu nội dungthông báo, thông điệp Người đọc cũng như người người nghe đều là ngườitiếp nhận thông báo, thông điệp từ phía người viết hoặc người nói

Mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa bốn kỹ năng nghe - nói - đọc - viếttrong tiếng Anh được tóm tắt ở sơ đồ sau đây:

Sơ đồ 1.5: Mối quan hệ giữa bốn kỹ năng cơ bản trong tiếng Anh

Kỹ năng nói và kỹ năng nghe có quan hệ hai chiều hữu cơ với nhau, tạo

ra quá trình giao tiếp hiện thực

Kỹ năng nói và kỹ năng viết cũng có quan hệ hai chiều, hữu cơ vớinhau, vì người nói và người viết đều là những người phát ra thông báo, thôngđiệp trong hoạt động giao tiếp

Kỹ năng nói, kỹ năng nghe, kỹ năng viết có quan hệ tích cực lẫn nhau

Kỹ năng nói với kỹ năng đọc có quan hệ một chiều, tạo ra sự giao tiếpthuộc về nhận thức

- Về thái độ, tình cảm

- Học tiếng Anh giúp học sinh có tình cảm và thái độ đúng đắn với đấtnước, con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của đất nước đang học tiếng; trên

cơ sở đó bồi dưỡng và phát triển thái độ, tình cảm tốt đẹp biết tự hào, yêu quý

và tôn trọng đối với ngôn ngữ và văn hóa dân tộc mình

- Bước đầu có nhu cầu và biết cách tự học để nắm và sử dụng tiếngnước ngoài trong học tập và đời sống

Trang 40

- Xây dựng và phát triển ý thức, năng lực làm việc trong cộng đồngthông qua các hoạt động ngôn ngữ.

1.4.2.3 Quản lý việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa tiếng Anh

Chương trình tiếng Anh ở THCS được xây dựng theo quan điểm giaotiếp với những định hướng cơ bản sau:

1 Kỹ năng giao tiếp là mục tiêu của quá trình dạy học; kiến thức ngônngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp

2 Học sinh là chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của quá trình dạyhọc Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình dạy học

3 Nội dung dạy học được lựa chọn và trình bày theo hệ thống chủđiểm, vừa đảm bảo tính giao tiếp cao, vừa đảm bảo tính cơ bản, chính xác vàhiện đại của ngôn ngữ

4 Chương trình là cơ sở cho việc biên soạn sách giáo khoa, quản lý quátrình dạy và học, kiểm tra kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp, đánh giá kếtquả học tập và chất lượng giảng dạy

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người học, điều kiện thực tếnền kinh tế và xã hội, phải tiến hành thay đổi cả về chương trình, nội dungSGK sao cho phù hợp với khả năng và yêu cầu của học sinh, giúp học sinh có đủkiến thức cần thiết để có thể hội nhập với học sinh cùng lứa tuổi ở các nước khác

- Đối với giáo dục THCS, chương trình, nội dung phải nhằm thực hiệnđược mục tiêu của dạy học tiếng Anh là giúp học sinh nắm được kỹ năng giaotiếp cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở trang bị kiến thức cơbản về ngôn ngữ và đất nước học; có được những sản phẩm chất trí tuệ cầnthiết để tiếp tục học lên

- Chương trình và SGK cho THCS do Bộ GD - ĐT ban hành từ nămhọc 2002 - 2003 (từ lớp 6 đến lớp 9) bao gồm 4 quyển sách học tiếng Anh lớp

Ngày đăng: 27/07/2015, 11:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố trong quản lý. - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố trong quản lý (Trang 11)
Sơ đồ 1.3: Mô hình quản lý trường học. - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Sơ đồ 1.3 Mô hình quản lý trường học (Trang 18)
Sơ đồ 1.4: Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học 1.3.1.2.  Quản lý dạy học - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Sơ đồ 1.4 Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học 1.3.1.2. Quản lý dạy học (Trang 21)
Bảng 2.4: So sánh chất lượng giáo dục THCS huyện Mê Linh  năm học 2008– - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Bảng 2.4 So sánh chất lượng giáo dục THCS huyện Mê Linh năm học 2008– (Trang 52)
Bảng 2.6: Khái quát về giáo viên tiếng Anh THCS  huyện Mê Linh – Hà Nội - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Bảng 2.6 Khái quát về giáo viên tiếng Anh THCS huyện Mê Linh – Hà Nội (Trang 56)
Bảng 2.7: Sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại các cấp - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Bảng 2.7 Sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại các cấp (Trang 58)
Bảng 2.8: Chất lượng học tập tiếng Anh ở các trường THCS huyện Mê Linh. - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Bảng 2.8 Chất lượng học tập tiếng Anh ở các trường THCS huyện Mê Linh (Trang 66)
Bảng 2.10: Ý kiến của các cán bộ quản lý về mức độ thực hiện và chất lượng các hoạt động học tập tiếng Anh của học sinh THCS huyện Mê Linh - Hà Nội - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Bảng 2.10 Ý kiến của các cán bộ quản lý về mức độ thực hiện và chất lượng các hoạt động học tập tiếng Anh của học sinh THCS huyện Mê Linh - Hà Nội (Trang 78)
Bảng 2.11 dưới đây cho kết quả đánh giá của các giáo viên giảng dạy tiếng Anh về số lượng và chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị và ĐDDH phục vụ cho giảng dạy và học tập tiếng Anh tại các trường THCS huyện Mê Linh – Hà Nội. - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Bảng 2.11 dưới đây cho kết quả đánh giá của các giáo viên giảng dạy tiếng Anh về số lượng và chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị và ĐDDH phục vụ cho giảng dạy và học tập tiếng Anh tại các trường THCS huyện Mê Linh – Hà Nội (Trang 80)
Bảng 2.11:  Đánh giá về cơ sở vật chất, ĐDDH phục vụ giảng dạy tiếng Anh - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Bảng 2.11 Đánh giá về cơ sở vật chất, ĐDDH phục vụ giảng dạy tiếng Anh (Trang 81)
Bảng 3.1:Kết quả đánh giá về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp - Quản lý dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – Hà Nội
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w