1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế

163 814 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Sự cấp thiết của đề tài Trong nhiều năm nay, để tăng cường năng lực quản lý của Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta chủ trương cải cách hành chính một cách mạnh mẽ, toàn diện. Cải cách hành chính nhằm góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở đó, CCHC làm cho bộ máy nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng và tổ chức tốt việc điều hành, quản lý đất nước thông suốt, tạo điều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi trong quá trình cải cách thủ tục hành chính phải được tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn chính xác, tập trung giải quyết từng bước vấn đề để tạo sự chuyển biến vững chắc. Năm 2011, Bộ Y tế đã thống kê và công bố công khai bộ thủ tục hành chính (TTHC) thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Y tế gồm 291 thủ tục thuộc các lĩnh vực Dược-Mỹ phẩm, Khám chữa bệnh, Y dược cổ truyền, An toàn vệ sinh thực phẩm, Y tế dự phòng, quản lý môi trường, trang thiết bị và công trình y tế, sức khỏe sinh sản, khoa học đào tạo...Toàn bộ các thủ tục hành chính này đã được đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Y tế và trên cơ sở dữ liệu Quốc gia phục vụ việc rà soát, kiểm soát thủ tục hành chính. Qua đó các cơ quan, đơn vị, người dân và doanh nghiệp tham gia góp ý trực tiếp nhằm sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ những thủ tục hành chính không còn phù hợp, gây cản trở cho hoạt động kinh doanh và đời sống nhân dân. Năm 2011, theo thống kê của các Vụ, Cục của Bộ Y tế, Bộ Y tế tiếp nhận khoảng 450.000 hồ sơ thủ tục hành chính từ các doanh nghiệp và cá nhân nhưng chỉ giải quyết được khoảng 296.000 hồ sơ thủ tục hành chính, 154.000 hồ sơ thủ tục còn lại chưa giải quyết được do các doanh nghiệp và cá nhân chưa thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục hành chính. Chi phí để người dân, doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính do Bộ Y tế quản lý mất khoảng 300 tỷ đồng/năm. Để các thủ tục hành chính được thực hiện một cách hiệu quả, tránh gây rào cản đối với hoạt động kinh doanh và đời sống nhân dân, gây tốn kém, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nhằm kiểm soát và nâng cao chất lượng các quy định về thủ tục hành chính, đảm bảo tính công khai, minh bạch các thông tin về thủ tục hành chính và tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực hiện các thủ tục hành chính thì công tác cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y tế là việc làm cấp bách. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Lý luận về thủ tục hành chính và một số nội dung của cải cách thủ tục hành chính là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý. Đề tài này được nêu và thảo luận ở nhiều buổi hội thảo, trong nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam. Đáng chú ý là cuốn sách cải cách thủ tục hành chính thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân ở nước ta hiện nay (NXB Lao động, 2000) do TS Vũ Thư – Ths Lê Hồng Sơn đồng chủ biên, tìm hiểu về hành chính nhà nước (NXB lao động Hà Nội, 2003) do PGS, TS , Nhà giáo ưu tú Nguyễn Hữu Khiển chủ biên, Thủ tục hành chính và hoạt động của cơ quan hành chính với việc đảm bảo quyền của công dân của tác giả Trần Thanh Hương (tạp chí nghiên cứu lập pháp, tháng 10 – 2005), Cải cách hành chính và sự phát triển của doanh nghiệp tiếp cận từ thủ tục hành chính của GS TS Lê Hồng Hạnh (Tạp chí tổ chức nhà nước, số 4 năm 2007). Ngày 10 tháng 01 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đơn giản hóa Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010 (gọi tắt là Đề án 30) và Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04 tháng 01 năm 2008 ban hành kế hoạch thực hiện Đề án 30, đưa ra một hệ thống giải pháp tổng thể, công khai, minh bạch nhằm rà soát, đơn giản hóa và loại bớt các thủ tục hành chính (TTHC) không hợp pháp, không cần thiết và không hợp lý. Thông qua việc đơn giản hóa, loại bớt các TTHC rườm rà, không cần thiết, giúp người dân và doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí trong thực hiện các TTHC, tạo sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện TTHC; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng, chống tham nhũng và lãng phí. Với thành công bước đầu của Đề án 30, lần đầu tiên Việt Nam thiết lập và công bố Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền và công khai trên mạng internet. Ngoài ra, Việt Nam đã chuẩn hóa và thống nhất được bộ TTHC cấp huyện, cấp xã theo hướng rút gọn từ khoảng 10.000 bộ thủ tục hành chính cấp xã xuống còn hơn 6.000 bộ thủ tục hành chính ở cấp xã. Theo đó, mỗi tỉnh, thành phố có một bộ TTHC cấp xã và một bộ TTHC cấp huyện để thống nhất thực hiện tại địa phương. Trong năm 2010, Chính phủ đã ban hành 25 Nghị quyết để đơn giản hóa gần 5.000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của 24 Bộ, Ngành. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Bộ, Ngành, địa phương đơn giản hóa các thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu quản lý của Nhà nước. Kết quả này đã được Quốc hội, nhân dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Khi các phương án đơn giản hóa được thực thi, cắt giảm thời gian, chi phí và rủi ro cho các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện thủ tục hành chính, với tổng chi phí tiết kiệm được lên tới gần 30.000 tỷ đồng mỗi năm. Bên cạnh đó, Đề án đã nâng cao khả năng tiếp cận thông tin về thủ tục hành chính của mỗi cá nhân, tổ chức; tạo điều kiện cho nhân dân giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính các cấp. Đề án đã thành công trong thực hiện hợp tác công - tư và khẳng định tính đúng đắn trong việc huy động người dân và doanh nghiệp tham gia cải cách thủ tục hành chính. Đây là minh chứng rõ nét về việc phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân dân, gắn bó với dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước và xã hội, tham gia vào quá trình hoạch định chính sách pháp luật của Nhà nước. Đề án đã phát huy được tính tích cực chính trị của nhân dân, là yếu tố cơ bản để phát huy nội lực của đất nước. Triển khai thực hiện Đề án 30, Bộ Y tế đã có một số hội nghị, hội thảo và các cuộc họp chuyên đề đề cập đến công tác đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế nhằm nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ công chức thông qua việc thực hiện giai đoạn thống kê (điền biểu mẫu 1)(Phụ lục 1) và giai đoạn rà soát (điền biểu mẫu 2, 2a, 2b) (Phụ lục 2) và xác định rõ thế nào là một thủ tục hành chính; vai trò của TTHC trong đời sống xã hội; những ảnh hưởng của TTHC đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân và kỹ năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công chức trong việc giải quyết thủ tục hành chính thông qua việc thống kê và rà soát các TTHC, các cán bộ công chức nhận thức rõ thực trạng, nguyên nhân của những tồn tại hạn chế của các TTHC, những nội dung không cần thiết, không hợp lý và chưa hợp pháp của các thủ tục hành chính. Điều này giúp ích rất nhiều cho những cán bộ công chức trong quá trình giải quyết các TTHC và có kiến nghị bổ sung, sửa đổi và xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật qui định các TTHC. Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y tế.

Trang 1

MỤC LỤC

Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước khác cho thấy muốn xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì cần phải phân loại chúng một cách có khoa học 22

1.3.1.1 Nguyên nhân khách quan 28 1.4.1.2 Lợi ích của việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 41

3.2.1 Hệ thống hóa lại các loại thủ tục và qui trình giải quyết 106

B ĐỀ NGHỊ ĐỌC KỸ PHẦN HƯỚNG DẪN ĐIỀN MẪU 124

ĐỀ NGHỊ ĐỌC KỸ PHẦN HƯỚNG DẪN ĐIỀN MẪU 130

VÀ CÓ THỂ TRẢ LỜI BẤT KỲ CÂU HỎI NÀO TRONG CÁC CÂU

HỎI SAU 130

B ĐỀ NGHỊ ĐỌC KỸ PHẦN HƯỚNG DẪN ĐIỀN MẪU 132

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Yến Ngọc

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cấp thiết của đề tài

Trong nhiều năm nay, để tăng cường năng lực quản lý của Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta chủ trương cải cách hành chính một cách mạnh

mẽ, toàn diện

Cải cách hành chính nhằm góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả Trên cơ sở đó, CCHC làm cho bộ máy nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng và tổ chức tốt việc điều hành, quản lý đất nước thông suốt, tạo điều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi trong quá trình cải cách thủ tục hành chính phải được tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn chính xác, tập trung giải quyết từng bước vấn đề để tạo sự chuyển biến vững chắc

Năm 2011, Bộ Y tế đã thống kê và công bố công khai bộ thủ tục hành chính (TTHC) thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Y tế gồm 291 thủ tục thuộc các lĩnh vực Dược-Mỹ phẩm, Khám chữa bệnh, Y dược cổ truyền,

An toàn vệ sinh thực phẩm, Y tế dự phòng, quản lý môi trường, trang thiết bị

và công trình y tế, sức khỏe sinh sản, khoa học đào tạo Toàn bộ các thủ tục hành chính này đã được đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của

Bộ Y tế và trên cơ sở dữ liệu Quốc gia phục vụ việc rà soát, kiểm soát thủ tục hành chính Qua đó các cơ quan, đơn vị, người dân và doanh nghiệp tham gia góp ý trực tiếp nhằm sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ những thủ tục hành chính không còn phù hợp, gây cản trở cho hoạt động kinh doanh và đời sống nhân dân

Năm 2011, theo thống kê của các Vụ, Cục của Bộ Y tế, Bộ Y tế tiếp nhận khoảng 450.000 hồ sơ thủ tục hành chính từ các doanh nghiệp và cá nhân nhưng chỉ giải quyết được khoảng 296.000 hồ sơ thủ tục hành chính,

Trang 5

154.000 hồ sơ thủ tục còn lại chưa giải quyết được do các doanh nghiệp và cá nhân chưa thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục hành chính Chi phí để người dân, doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính do Bộ Y tế quản lý mất khoảng 300 tỷ đồng/năm Để các thủ tục hành chính được thực hiện một cách hiệu quả, tránh gây rào cản đối với hoạt động kinh doanh và đời sống nhân dân, gây tốn kém, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nhằm kiểm soát và nâng cao chất lượng các quy định về thủ tục hành chính, đảm bảo tính công khai, minh bạch các thông tin về thủ tục hành chính và tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực hiện các thủ tục hành chính thì công tác cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y tế là việc làm cấp bách.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Lý luận về thủ tục hành chính và một số nội dung của cải cách thủ tục hành chính là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý Đề tài này được nêu và thảo luận ở nhiều buổi hội thảo, trong nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam

Đáng chú ý là cuốn sách cải cách thủ tục hành chính thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân ở nước ta hiện nay (NXB Lao động, 2000) do TS Vũ Thư – Ths Lê Hồng Sơn đồng chủ biên, tìm hiểu về hành chính nhà nước (NXB lao động Hà Nội, 2003) do PGS, TS , Nhà giáo ưu tú Nguyễn Hữu Khiển chủ biên, Thủ tục hành chính và hoạt động của cơ quan hành chính với việc đảm bảo quyền của công dân của tác giả Trần Thanh Hương (tạp chí nghiên cứu lập pháp, tháng 10 – 2005), Cải cách hành chính và sự phát triển của doanh nghiệp tiếp cận từ thủ tục hành chính của GS TS Lê Hồng Hạnh (Tạp chí tổ chức nhà nước, số 4 năm 2007)

Ngày 10 tháng 01 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đơn giản hóa Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010 (gọi tắt là Đề án 30) và Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04 tháng 01 năm 2008 ban hành kế hoạch

Trang 6

thực hiện Đề án 30, đưa ra một hệ thống giải pháp tổng thể, công khai, minh bạch nhằm rà soát, đơn giản hóa và loại bớt các thủ tục hành chính (TTHC) không hợp pháp, không cần thiết và không hợp lý Thông qua việc đơn giản hóa, loại bớt các TTHC rườm rà, không cần thiết, giúp người dân và doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí trong thực hiện các TTHC, tạo sự thuận lợi cho

cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện TTHC; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng, chống tham nhũng và lãng phí Với thành công bước đầu của

Đề án 30, lần đầu tiên Việt Nam thiết lập và công bố Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia

về thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền và công khai trên mạng internet Ngoài ra, Việt Nam đã chuẩn hóa và thống nhất được bộ TTHC cấp huyện, cấp

xã theo hướng rút gọn từ khoảng 10.000 bộ thủ tục hành chính cấp xã xuống còn hơn 6.000 bộ thủ tục hành chính ở cấp xã Theo đó, mỗi tỉnh, thành phố có một bộ TTHC cấp xã và một bộ TTHC cấp huyện để thống nhất thực hiện tại địa phương

Trong năm 2010, Chính phủ đã ban hành 25 Nghị quyết để đơn giản hóa gần 5.000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của 24 Bộ, Ngành Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Bộ, Ngành, địa phương đơn giản hóa các thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu quản lý của Nhà nước Kết quả này

đã được Quốc hội, nhân dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao Khi các phương án đơn giản hóa được thực thi, cắt giảm thời gian, chi phí và rủi ro cho các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện thủ tục hành chính, với tổng chi phí tiết kiệm được lên tới gần 30.000 tỷ đồng mỗi năm Bên cạnh đó, Đề án đã nâng cao khả năng tiếp cận thông tin về thủ tục hành chính của mỗi cá nhân, tổ chức; tạo điều kiện cho nhân dân giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính các cấp Đề án đã thành công trong thực hiện hợp tác công - tư và khẳng định tính đúng đắn trong việc huy động người dân và doanh nghiệp tham gia cải cách thủ tục hành chính Đây là minh chứng rõ nét về việc phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân

Trang 7

dân, gắn bó với dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước và xã hội, tham gia vào quá trình hoạch định chính sách pháp luật của Nhà nước Đề án đã phát huy được tính tích cực chính trị của nhân dân, là yếu tố cơ bản để phát huy nội lực của đất nước.

Triển khai thực hiện Đề án 30, Bộ Y tế đã có một số hội nghị, hội thảo

và các cuộc họp chuyên đề đề cập đến công tác đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế nhằm nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ công chức thông qua việc thực hiện giai đoạn thống kê (điền biểu mẫu 1)(Phụ lục 1) và giai đoạn rà soát (điền biểu mẫu 2, 2a, 2b) (Phụ lục 2) và xác định rõ thế nào là một thủ tục hành chính; vai trò của TTHC trong đời sống xã hội; những ảnh hưởng của TTHC đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân và kỹ năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công chức trong việc giải quyết thủ tục hành chính thông qua việc thống kê và rà soát các TTHC, các cán bộ công chức nhận thức rõ thực trạng, nguyên nhân của những tồn tại hạn chế của các TTHC, những nội dung không cần thiết, không hợp lý và chưa hợp pháp của các thủ tục hành chính Điều này giúp ích rất nhiều cho những cán

bộ công chức trong quá trình giải quyết các TTHC và có kiến nghị bổ sung, sửa đổi và xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật qui định các TTHC Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y tế

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục tiêu

Hoàn thiện các thủ tục hành chính theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân, doanh nghiệp; thực hiện việc phân cấp quản lý nhà nước cho các cơ sở y tế địa phương, tạo điều kiện thông thoáng cho các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân khi giải quyết các công việc có liên quan đến

y tế

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ của đề tài:

Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Tìm hiểu sự cần thiết và sự hợp lý, sự hợp pháp của các TTHC do Bộ

Y tế quản lý Qua các thông tin được cung cấp, các cơ quan chức năng thấy được những bất cập của các quy định về TTHC mà các cá nhân, tổ chức đang gặp phải trong quá trình thực thi

- Nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng của quản lý Nhà nước về

rà soát và đánh giá thực thi các thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực do Bộ Y

tế quản lý Từ đó phát hiện những ưu điểm, hạn chế trong việc thực thi các thủ tục hành chính do Bộ Y tế quản lý

- Đề xuất những giải pháp để khắc phục những hạn chế trên

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi đánh giá

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những vấn đề rà soát và đánh giá thực thi các thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực do Bộ Y tế quản lý

Đề tài tập trung nghiên cứu vào các văn bản quản lý Nhà nước do các

cơ quan Nhà nước ban hành quy định về các thủ tục hành chính do Bộ Y tế quản lý từ năm 2004 đến nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Tình hình hệ thống văn bản qui phạm pháp luật có qui định các TTHC

và việc thống kê rà soát các TTHC.

Nội dung này được thể hiện thông qua việc sẵn có các văn bản qui định các TTHC hiện hành của Bộ Y tế thông qua việc tìm kiếm, tra cứu các văn bản Sự quan tâm và hỗ trợ của các Vụ, Cục của Bộ Y tế, các Tỉnh là những yếu tố cơ bản để đánh giá tính khả thi và tính bền vững của hoạt động này

- Tình hình thực thi các TTHC và các văn bản qui định các TTHC trong lĩnh vực Dược-Mỹ phẩm

Trang 9

Nội dung này sẽ được thể hiện qua Sở Y tế các tỉnh có thực hiện các TTHC, có lưu giữ các VBQPPL qui định các TTHC, đánh giá thông qua việc thực thi các TTHC của các Sở Y tế các tỉnh và sự quan tâm của các doanh nghiệp đối với các nhóm TTHC, nguồn cung cấp TTHC và các văn bản qui định TTHC, việc thực hiện các TTHC có những khó khăn thuận lợi nào

- Nội dung của các TTHC có được qui định rõ ràng, dễ hiểu và hợp lý không?

Sự rõ ràng minh bạch và hợp lý của các TTHC được tìm hiểu và đánh giá thông qua việc thực thi các TTHC (đối với cả cơ quan giải quyết và đối tượng thực hiện TTHC) với các nội dung cụ thể như: trình tự và cách thức thực hiện, thành phần và số lượng hồ sơ có được qui định cụ thể không? thời gian giải quyết, cơ quan giải quyết TTHC có qui định rõ không, các yêu cầu điều kiện của TTHC… Đặc biệt các nội dung của TTHC có tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh hay còn gây khó khăn và cản trở cho các doanh nghiệp? Qua đó có thể thấy được các TTHC này có cần thiết và hợp lý không

Khi tìm hiểu về nội dung này, tôi đã đi khảo sát các doanh nghiệp hiện đang thực hiện một số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Dược – Mỹ phẩm tại một số tỉnh, thành phố và đã thu thập các thông tin tại đây Đặc biệt các điểm hạn chế của những người cung cấp thông tin vẫn còn e ngại khi phải nêu những bất cập khi thực hiện các TTHC

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu tài liệu

Thu thập, rà soát trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của ngành

y tế để sàng lọc ra những VBQPPL có qui định các TTHC của từng lĩnh vực Khai thác và phân tích kỹ các văn bản qui định các thủ tục, các tài liệu hướng dẫn rà soát, nội dung các cuộc họp bàn về xây dựng, chỉnh sửa các văn bản qui định các TTHC, kết quả thăm dò ý kiến nhận xét của các thành viên khi xây dựng văn bản qui định TTHC để có những thông tin đa chiều về sự cần thiết hay không cần thiết của một thủ tục hành chính trong các văn bản này

Trang 10

Về nguyên tắc, thông tin thu thập được từ nguồn này bao gồm cả định tính, định lượng và mang tính khách quan Tuy nhiên, thực tế có nhiều rủi ro, thiếu hụt thông tin nếu tình hình lưu trữ văn bản của đơn vị không đảm bảo.

5.2 Phương pháp khảo sát thực tế

Để đánh giá việc thực thi các TTHC, việc trực tiếp khảo sát thực tế là cần thiết Các cá nhân và doanh nghiệp hoặc những người thụ lý hồ sơ và giải quyết TTHC là đối tượng của TTHC để có một nhận định khách quan về quá trình thực thi các TTHC và đề xuất phương án đơn giản hoá các TTHC mang tính khả thi cao

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và của

Bộ Y tế quy định về thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế;

- Tình hình công bố công khai các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Y tế

- Tổng kết thực tiễn công tác thực hiện thủ tục hành chính thuộc phạm

vi quản lý Nhà nước của Bộ Y tế;

- Đề xuất những kiến nghị có tính khoa học, phù hợp với thực tế về đánh giá và rà soát các TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế;

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết Luận, danh mục ký tự viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được trình bày thành 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính

- Chương 2: Thực trạng cải cách TTHC hiện nay ở cơ quan Bộ Y tế

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp về cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính tại Cơ quan Bộ Y tế

Trang 11

PHẦN II NỘI DUNG

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VÀ THỦ TỤC

HÀNH CHÍNH 1.1 Lý luận chung về quản lý hành chính nhà nước

1.1.1 Khái niệm về quản lý hành chính Nhà nước

Có rất nhiều khái niệm quản lý khác nhau Khái niệm Quản lý nói chung là sự tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, tập thể

và các tổ chức xã hội nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã đề ra

Quản lý hành chính Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN.[26]

Đối với một quốc gia thì vấn đề quản lý nhà nước bao giờ cũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự lạc hậu hay phát triển của đất nước Điều đó, xét cho cùng, đều phụ thuộc vào nghệ thuật quản lý, điều hành của Nhà nước, mà đại diện là các cơ quan có thẩm quyền

Sự đa dạng và phức tạp của quản lý nhà nước được quy định bởi sự đa dạng và phức tạp của các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, của xã hội; bởi các công việc quản lý trong từng lĩnh vực họat động đó; bởi sự phong phú của các chủ thể quản lý; cuối cùng là bởi mối quan hệ theo chiều dọc, chiều ngang trong nội bộ từng cơ quan quản lý, giữa các cơ quan quản lý với nhau hoặc giữa cơ quan quản lý với công dân và các tổ chức khác Nhà nước có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động thì có bấy nhiêu dạng quản lý Mỗi một lĩnh vực hoạt động lại có những đặc thù riêng, phạm vi, môi trường quản lý riêng, đối

Trang 12

tượng chịu sự quản lý khác nhau, nên các phương pháp, biện pháp quản lý, điều hành đối với từng lĩnh vực là không giống nhau Từ đấy phải có nhiều loại cơ quan khác nhau để thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh Cơ quan quản lý có thẩm quyền chung: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; cơ quan quản lý thẩm quyền riêng: Bộ ngành, Sở, phòng, ban…

Quản lý hành chính nhà nước chủ yếu được thực hiện bằng các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp Song trong thực tế, các cơ quan quyền lực: Quốc hội, các cơ quan thuộc hệ thống Tòa án, Viện kiểm sát, các tổ chức chính trị -

xã hội, các tổ chức kinh tế cũng thực hiện không ít các hoạt động quản lý hành chính

Hoạt động quản lý hành chính bao gồm nhiều yếu tố, nhưng có ba yếu

tố sau đây là cơ bản nhất: Đó là con người, tổ chức bộ máy và ban hành văn bản mang tính quyền lực nhà nước Trong đó yếu tố con người là đặc biệt quan trọng giữ vai trò quyết định đối với toàn bộ quá trình quản lý

Ba yếu tố trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; nhân sự có phẩm chất đạo đức, trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, am hiểu pháp luật, thông thạo nghiệp vụ quản lý; có thể điều hành rõ ràng, đúng đắn sẽ giúp cho công tác quản lý, điều hành

có hiệu lực, hiệu quả Ngược lại, bộ máy cồng kềnh, nhân sự yếu kém, cơ chế quản lý phức tạp, sẽ làm cho nền hành chính cứng nhắc, kém năng động

1.1.2 Nền hành chính Nhà nước và các bộ phận cấu thành

Nền hành chính Nhà nước là một hệ thống tổ chức và định chế có chức năng thực hiện quyền hành pháp, tức là quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước Nó được tạo thành bởi hệ thống các pháp nhân công quyền và các tổ chức lệ thuộc vào nó, có thẩm quyền tổ chức và điều chỉnh mọi quá trình xã hội và hành vi của các tổ chức (chính trị, văn hóa, kinh tế…) của mọi công dân bằng các văn bản pháp quy thuộc quyền lập quy của quyền hành pháp Mục đích của nó là nhằm giữ gìn trật tự công và phục vụ lợi ích công và lợi ích của mỗi công dân một cách có hiệu quả

Tóm lại: Nền HCNN là một bộ phận của bộ máy Nhà nước, mang tính

Trang 13

chính trị của quyền hành pháp, thực thi quyền lực hành pháp bằng việc nghiên cứu, đề xướng, thực hiện những nhiệm vụ chính trị do cơ quan quyền lực cao nhất và cơ quan lập pháp (Quốc hội) quy định1

Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố cấu thành nền hành chính

Có thể dẫn một ví dụ đơn giản như sau: Vận hành của nền HCNN ví như một chiếc xe đang chạy trên đường

Thứ nhất, hệ thống thể chế hành chính ví như con đường nó bao gồm: chất lượng con đường, các chỉ dẫn, biển báo, đèn tín hiệu, hệ thống cầu vượt mục đích là hướng dẫn người điều khiển xe tham gia giao thông thông suốt, đảm bảo trật tự, kỷ cương, đúng luật

Thứ hai, bộ máy hành chính ví như chiếc xe nó bao gồm hệ thống máy móc, cơ chế vận hành, tính năng, tác dụng và trạng thái kỹ thuật Nếu máy móc tốt, xe chạy tốt

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức ví như tài xế, nó đòi hỏi tay nghề, sức khoẻ, đạo đức, chấp hành luật giao thông Nếu tài xế giỏi thì xe chạy an toàn, không gây tai nạn, sự cố

Thứ tư, tài chính công ví như xăng dầu nó đòi hỏi cung cấp đúng, đủ

1

Đội ngũ cán bộ, công chức công vụ

Bộ máy QLHC

từ TƯ đến địa phương

Trang 14

chủng loại xăng dầu đảm bảo cho xe chạy đi đến nơi về đến chốn…Mục tiêu

là tiết kiệm, hiệu quả

Như vậy, để có một nền hành chính hoạt động có hiệu quả, hiệu lực và hiện đại thì việc đổi mới và cải cách là điều cần thiết để đáp ứng những yêu cầu mà thực tế đặt ra

1.1.3 Cải cách nền hành chính Nhà nước

Hiểu một cách đơn giản Cải cách là thay đổi những bộ phận cũ không

hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan

Cải cách hành chính: Là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt

mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền HCNN (thể chế, cơ cấu

tổ chức, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại

Tóm lại: CCHC là sự thay đổi có kế hoạch nền HCNN phù hợp với tình hình mới.[24]

Nền hành chính nước ta hiện vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết, trì trệ

do ảnh hưởng của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp cũ Bộ máy hành chính cồng kềnh, một bộ phận đội ngũ công chức hách dịch, cửa quyền Trong khi

xu hướng chung của các nước là thu hẹp phạm vi của bộ máy QLHC, xây dựng nền hành chính phục vụ Việc chúng ta duy trì nền hành chính cũ sẽ dẫn đến kìm hãm sự phát triển của kinh tế cũng như các mặt khác của đời sống xã hội Do đó CCHC phải được đẩy mạnh ở Việt Nam

Mặt khác, tình hình thế giới ngày nay có nhiều thay đổi, tính quốc tế hoá, khu vực hoá của các hoạt động kinh tế đã đòi hỏi hoạt động QLNN phải thay đổi, phải áp dụng nhiều thông lệ quốc tế chung trong hoạt động QLNN… không chỉ bó khuôn trong phạm vi khu vực và quốc gia riêng biệt Xuất phát

từ xu thế hòa nhập nền kinh tế thế giới, mà đặt biệt khi Việt Nam trở thành viên thứ 150 tổ chức thương mại quốc tế thì việc cải cách HCNN là một đòi hỏi tất yếu

Trang 15

Với mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta xác định CCHC phải được tiến hành toàn diện trên các nội dung sau:

1.1.3.1 Cải cách thể chế, pháp luật và thủ tục hành chính:

Cải cách thể chế nhằm vào hai mục tiêu chính là hoàn thiện nền dân chủ, bảo đảm các quyền con người và quyền công dân trong thực tiễn cuộc sống và trong quan hệ hàng ngày giữa Nhà nước và nhân dân theo quy định của Hiến pháp và các đạo luật Mặt khác, nó nhằm thúc đẩy và phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách kinh tế và tài chính.[19]

Một trong các nội dung chính của cải cách thể chế hành chính chính là cải cách TTHC Đây được coi là khâu đột phá của CCHC nhằm cải thiện mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể khác nhau trong xã hội và các công dân, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư nước ngoài và bảo đảm sự phát triển kinh tế

1.1.3.2 Cải cách tổ chức bộ máy:

Bộ máy hành chính Nhà nước phải tập trung chủ yếu vào quản lý kinh

tế vĩ mô (quy hoạch chiến lược phát triển, xây dựng chính sách, pháp luật…) đảm bảo an toàn, ổn định chính trị, an ninh và chủ quyền quốc gia, bảo vệ môi trường, củng cố an ninh quốc phòng và thi hành đúng đắn chính sách đối ngoại

1.1.3.3 Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:

Ngày nay, nguồn nhân lực được thừa nhận là trung tâm của toàn bộ hệ thống chính trị của bộ máy Nhà nước, của nền hành chính và của toàn bộ quá trình phát triển Với nhận thức như vậy, công cuộc đổi mới nói chung của cả nước và CCHC nói riêng đặt ra yêu cầu rất lớn đối với con người Nền hành chính hiện đại và cải cách đòi hỏi đội ngũ công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức cao, có trình độ kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp ngày

Trang 16

càng tinh xảo.

1.1.3.4 Cải cách tài chính công:

Đây là nội dung cơ bản thứ tư mà CCHC tập trung giải quyết Trên thực

tế thì nền HCNN là nơi chi tiêu những khoản ngân sách khổng lồ cho các hoạt động và chương trình của nó Do vậy, mục tiêu quan trọng là nhằm cải tiến hệ thống quản lý tài chính để tăng cường nguồn thu, thực hiện chi tiêu của nhà nước một cách có hiệu quả về chi phí và có thêm vốn để đầu tư vào các dự án phát triển mới nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậy, công cuộc cải cách hành chính đòi hỏi tất cả các bộ phận cấu thành nền HCNN đều phải có những bước chuyển biến tích cực cho phù hợp với tình hình mới

1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và phân loại thủ tục hành chính.

1.2.1 Khái niệm thủ tục hành chính

Để giải quyết một công việc nhất định đều cần có những thủ tục phù hợp Theo nghĩa thông thường, thủ tục có nghĩa là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất

Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi làm việc công

Hoạt động QLNN được thể hiện qua các chính sách quản lý Nhà nước

đó là những quy phạm pháp lý để hướng dẫn hoạt động quản lý Nhà nước, quản lý hoạt động của con người Để cụ thể hóa những quy phạm pháp lý này, thủ tục là loại kế hoạch qui định trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc Khoa học pháp lý gọi đó là những quy phạm thủ tục

Quy phạm này gồm các bộ phận: Thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và thủ tục hành chính

Thủ tục lập pháp là thủ tục làm Hiến pháp và làm luật Thủ tục tố tụng

tư pháp là thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử…Còn thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động HCNN.[24]

Trang 17

Để hiểu rõ hơn về TTHC, cần xem xét dưới giác độ quy phạm Trong khoa học pháp lý, tổng thể các quy phạm trong hệ thống pháp luật nói chung, ngành luật hành chính nói riêng thường được chia thành hai loại quy phạm vật chất và quy phạm thủ tục Sự khác nhau giữa hai loại quy phạm này chính là

sự khác nhau trong đặc điểm của mệnh lệnh được chứa đựng trong mỗi loại quy phạm Mệnh lệnh trong quy phạm thủ tục là mệnh lệnh có tính chất "tổ chức" để thực hiện mệnh lệnh trong quy phạm vật chất Đây chính là sự phân biệt giữa quy phạm thủ tục với quy phạm vật chất

Một trong những vấn đề về TTHC gây nhiều tranh luận trong khoa học Luật hành chính là vấn đề xác định phạm vi của TTHC Về cơ bản có bốn quan niệm như sau:

Quan niệm thứ nhất cho rằng, TTHC là trình tự mà các cơ quan quản lý Nhà nước giải quyết trong lĩnh vực trách nhiệm hành chính và xử lý vi phạm pháp luật các tranh chấp về quyền và xử lý vi phạm pháp luật

Quan niệm thứ hai cho rằng TTHC là thủ tục trình tự thực hiện mọi hình thức hoạt động của mọi cơ quan quản lý nhà nước, tức là ngoài các hoạt động giải quyết các việc cá biệt Cụ thể TTHC còn bao gồm cả trình tự hoạt động sáng tạo pháp luật

Quan niệm thứ ba cho rằng TTHC là trình tự thực hiện, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.[13]

Quan niệm thứ năm cho rằng: Thủ tục hành chính là một thao tác quan trọng trong quản lý nhà nước Thậm chí không thể nói đến hành chính nhà nước, quản lý nhà nước nếu không đề cập tới hoặc loại thủ tục hành chính ra khỏi công vụ Thủ tục hành chính nhìn dưới giác độ chức năng còn thể hiện tính nhân đạo, tính nhân dân sâu sắc của quản lý nhà nước, của cơ quan công quyền Vì thực chất của thủ tục hành chính là sự thiết lập các thao tác quản lý của nhà nước theo những trình tự, qui trình nhất định của cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng những loại dịch vụ hành chính khác nhau mà người dân cần

Trang 18

tới sự cung cấp một cách tốt nhất (dễ dàng, đơn giản và đem lại sự hài lòng của người dân) Nói cách khác, thủ tục hành chính là cách mà cơ quan công quyền phục vụ người dân từ trách nhiệm nhân dân giao cho họ Theo logic từ nguồn gốc và quan hệ của quyền lực, người dân sinh ra chính quyền, tổ chức

ra bộ máy phục vụ cho mình thì trách nhiệm của bộ máy đó chỉ có thể là làm cho người dân (ông chủ) hài lòng Không thể có logic là người dân sinh ra bộ máy để “hành” lại mình Nhưng nguồn gốc của quyền lực, sức mạnh của quyền hành theo logic trên là nhận thức có tính bản chất, định tính Khi tổ chức và vận hành cụ thể nó bị giao thoa, biến đổi không còn thuận chiều như thế nữa, mà nhận thức về quyền lực và quyền hành từ chỗ là bản chất của thể chế thành ra việc “tự nhận thức trách nhiệm” của người thực thi công quyền

Đó là vì, quyền có nguồn gốc từ người dân nhưng mỗi người không thể giữ riêng cho mình quyền đó mà phải tổ chức cho nó thành cấu trúc tổ chức của quyền lực theo hình thức ủy lại cho tổ chức mà mình làm ra Đây chính là sự liên quan, liên đới “chủ - tớ” thông qua tổ chức quyền lực và sự trao quyền, nắm quyền lực thực sự cho ai Từ chỗ là quyền của mình, trao đi đổi lại thì quyền của mình chỉ còn trong bản chất, còn sử dụng thực sự hàng ngày thì đã được trao cho các cá nhân của bộ máy nhà nước Họ có trách nhiệm ở vị thế người phục vụ (Hồ Chủ tịch không ít lần dạy chúng ta bằng nhắc nhở: cán bộ

từ Chính phủ đến xã, phường đều là công bộc của dân) Khi đó các cá nhân cụ thể có trách nhiệm phải nhận thức quyền lực trong tay mình sử dụng là của người dân Về hình thức, quan hệ chủ sở hữu quyền lực (người dân) và người

sử dụng quyền lực (nhà nước giao cho những con người cụ thể) giống như trong sở hữu và sử dụng bất động sản trên thương trường: chủ nhà và người thuê nhà Nhưng bản chất thì khác hẳn Trong nhà nước (chính trị), vai trò người chủ nói lên địa vị người dân trong tổ chức quyền lực, chứ không thể có việc người dân đòi lại quyền để tự sử dụng nó như kiểu đòi nhà trong giao dịch kinh tế được Đó chính là nguồn gốc sâu xa của quá trình nhận thức trách nhiệm và thiết kế thủ tục hành chính của nhà nước để phục vụ người dân.Thủ tục hành chính theo bản chất tỉ lệ thuận với giá trị văn hóa trong đời sống: thủ tục càng tốt (nhanh, gọn, đơn giản, rẻ tiền ), thì văn hóa hành

Trang 19

chính, văn minh công sở càng cao và ngược lại Thủ tục hành chính và việc vận hành nó mang tính phản chiếu đời sống xã hội Nhẽ ra, nó phải thể hiện tính nhân dân sâu sắc (qua sự đơn giản, lịch sự, hòa nhã, đáp ứng mọi hoàn cảnh ); nhưng hiện nay nó đang phản chiếu nhiều biểu hiện tiêu cực của dịch

vụ, trách nhiệm của nhà nước Điều đó làm mất đi sự hài lòng của người dân khi họ cần sự phục vụ của cơ quan hành chính, làm phát sinh sự phàn nàn về những phiền toái và tiêu cực; thậm chí làm giảm lòng tin ở chính những người trong bộ máy cầm quyền đối với những người thực thi dưới quyền.[29]

Vậy, bản chất của thủ tục hành chính là gì và hình thức của chúng ra sao, khiến nó “khó bảo” đến mức như hiện nay? Bản chất của thủ tục hành chính là thuộc tính của hoạt động quản lý; là phương thức phục vụ của công quyền Hình thức của nó chính là quan hệ có tính trật tự công vụ, của mối quan hệ do con người nhận thức và thiết lập (con người ở đây là những người thực thi công vụ, từ người có nhiệm vụ đặt ra thủ tục, người vận hành nó và người kiểm tra nó) Mối quan hệ diễn ra thủ tục giữa công quyền với người dân, giữa công quyền với nhau, giữa những người dân với nhau trong giao dịch dân sự

Một số đặc điểm đáng chú ý trong quản lý nhà nước: Một là, cho dù các quan hệ diễn ra như thế nào, với bất kì ai thì nhà nước (do những cơ quan, những người trực tiếp với thủ tục hành chính) vẫn là tác giả hoặc trung gian của các thủ tục và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nó

Hai là, khi thực hiện một thủ tục có thể phát sinh các thủ tục khác, bởi

vì mỗi quan hệ có thủ tục riêng không giống nhau Vì thế, cần phân biệt

nhiều thủ tục khác với việc gây ra nhiều thủ tục không cần thiết Nhiều thủ tục là do nhiều quan hệ mà ra và mang tính khách quan; gây ra phiền hà là

bởi sự phức tạp hóa chủ quan từ phía cơ quan công quyền nào đó, chứ không phải cả nền hành chính (cùng một giao dịch nhưng mỗi địa phương, ngân hàng, bệnh viện, cơ quan tiến hành các bước khác khác nhau, thậm chí với mức phí khác nhau)

Thể chế xã hội khác nhau cũng xuất hiện những thủ tục khác nhau (thể chế ở đây muốn đề cập ở dạng cơ chế, kĩ năng mà không ở chế độ chính trị

Trang 20

hay ý thức hệ) Có thể cùng một việc giống nhau về mục đích nhưng ở Việt Nam và các nước chắc chắn khác nhau rất xa về nhận thức thủ tục Ví dụ, việc đăng báo để tuyển người làm Ở các nước phát triển, đăng báo hay không không phải là bắt buộc mà chủ yếu muốn cho nhiều người biết, nhiều người đến tham gia tuyển chọn sẽ có nhiều cơ hội để chọn người tài, người thích hợp với công việc cần tuyển chọn Nhưng ở Việt Nam, đăng báo là một việc làm thuộc thủ tục hành chính (thậm chí còn qui định những loại báo nào mới

có giá trị thông tin, mới đúng thủ tục) Một đợt tuyển dụng lớn, quan trọng, các công việc thực hiện chu đáo Nhưng nếu “quên” không đăng báo hoặc đăng không đúng loại báo theo qui định, chưa đủ thời gian lưu thông tin trên báo thì có thể dẫn đến kết quả kỳ thi bị hủy Khác nhau chính là ở nhận thức, dẫn đến quy định về quyền khác nhau giữa những người đứng đầu ở các thể chế khác nhau, trong đó có quyền được chọn người giúp việc hay người làm chuyên môn của người đứng đầu [29]

1.2.2 Đặc điểm của Thủ tục hành chính

TTHC là một bộ phận cấu thành của ngành luật hành chính nhà nước, là một thành tố của nền hành chính nhà nước TTHC được coi là một công cụ đắc lực trong quản lý hành chính nhà nước, giúp các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình [24]

TTHC được thiết lập trên mọi lĩnh vực của quản lý nhà nước với mục đích thiết lập trật tự trong hoạt động quản lý Nhìn chung, thủ tục hành chính

có đặc điểm sau:

Trước hết, TTHC là công cụ để thực hiện các chính sách của Nhà nước Thứ hai, TTHC là tổng thể các hành động diễn ra theo trình tự thời gian, TTHC được thực hiện bởi những cơ quan và công chức nhà nước

Thứ ba, TTHC là thủ tục giải quyết công việc nội bộ Nhà nước và công

việc liên quan đến quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân Do vậy, đối tượng công việc cần thực hiện thường rất phức tạp.[32]

Thứ tư, quản lý HCNN chủ yếu là hoạt động cho phép ra mệnh lệnh có

tính chất đơn phương và đòi hỏi thi hành kịp thời nhằm giải quyết nhanh

Trang 21

chóng, có hiệu quả mọi công việc diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội Chính điều đó dẫn đến việc quy định TTHC phải kết hợp những khuôn mẫu

ổn định tương đối và chặt chẽ với các biện pháp thích ứng cho từng loại công việc và đối tượng để đảm bảo kịp thời giải quyết công việc theo từng trường hợp cụ thể

Thứ năm, nền hành chính hiện nay đang chuyển từ hành chính cai quản

(hành chính đơn thuần) sang hành chính phục vụ, làm dịch vụ cho xã hội, từ quản lý tập trung sang cơ chế thị trường làm cho hoạt động quản lý hành chính đa dạng về nội dung và phong phú, uyển chuyển về hình thức, biện pháp đồng thời đối tượng quản lý của nó là xã hội dân sự cũng muôn hình, muôn vẻ Nó không chỉ thuộc phạm vi nội bộ nước ta mà còn liên quan đến các yếu tố nước ngoài Do đặc điểm này mà TTHC hiện nay rất đa dạng và phức tạp

Thứ sáu, hoạt động HCNN chủ yếu thực hiện tại văn phòng của công sở

Nhà nước và phương tiện truyền đạt quyết định cũng như các thông tin quản

lý phần lớn là văn bản (công văn, giấy tờ) Vì thế nó gắn chặt với công tác văn thư, với việc tổ chức ban hành, sử dụng và quản lý văn bản trong các cơ quan Nhà nước

1.2.3 Ý nghĩa của Thủ tục hành chính

Thứ nhất, TTHC đảm bảo cho các quy phạm quy định trong các quyết

định hành chính được thi hành thuận lợi Thủ tục càng có tính cơ bản thì ý nghĩa càng lớn bởi vì các thủ tục cơ bản thường tác động đến giai đoạn cuối cùng của quyết định hành chính, đến hiệu quả của việc thực hiện chúng.[28]

Thứ hai, TTHC đảm bảo cho việc thi hành các quyết định được thống

nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do việc thực hiện các quy định hành chính tạo ra

Thứ ba, TTHC khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý sẽ tạo

khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý Nhà nước TTHC liên quan đến quyền lợi của công dân do vậy khi được xây dựng và vận dụng tốt vào đời

Trang 22

sống sẽ có ý nghĩa rất thiết thực, giảm sự phiền hà, củng cố được quan hệ giữa Nhà nước và dân.

Thứ tư, TTHC cũng là một bộ phận của pháp luật về hành chính nên

việc xây dựng và thực hiện tốt các TTHC sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng và triển khai pháp luật Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang tiếp tục công cuộc cải cách nền HCNN và xây dựng Nhà nước pháp quyền thì TTHC lại càng có vai trò quan trọng

Nhìn một cách tổng quát, TTHC có ý nghĩa như một chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan Nhà nước với dân, với các tổ chức khác Chiếc cầu nối này có khả năng làm bền chặt các mối quan hệ, làm cho Nhà nước ta thực sự

là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhưng nếu xây dựng thiếu tính khoa học, áp dụng tùy tiện vào đời sống thì chính TTHC sẽ làm xa cách dân với Nhà nước và hậu quả của nó là làm niềm tin của người dân với chính quyền tiếp tục bị giảm sút

TTHC trên một phương diện nhất định là sự biểu hiện trình độ văn hóa của tổ chức Đây là văn hóa giao tiếp trong bộ máy Nhà nước Nó cho thấy mức độ văn minh của một nền hành chính phát triển Chính vì lẽ đó, cải cách TTHC sẽ không chỉ đơn thuần liên quan đến pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa của chúng ta mà còn liên quan đến sự phát triển chung của đất nước về các mặt chính trị, văn hóa, giáo dục và sự mở rộng giao lưu giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới

1.2.4 Phân loại các Thủ tục hành chính

Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước khác cho thấy muốn xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì cần phải phân loại chúng một cách có khoa học

1.2.4.1 Phân loại theo đối tượng quản lý HCNN

Theo cách phân loại này các TTHC được xác định cho từng lĩnh vực quản lý Nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản

lý hiện hành như: thủ tục trong xây dựng cơ bản, thủ tục trước bạ, thủ tục trong hoạt động đăng ký kế hoạch…

Trang 23

Lợi ích của việc phân chia này là giúp người quản lý xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mà mình phụ trách Từ đó mà đề ra yêu cầu xây dựng cho lĩnh vực này những TTHC cần thiết, thích hợp, nhằm quản lý tốt các nhiệm vụ đặt ra theo mục tiêu của nhà nước quy định[34].

1.2.4.2 Phân loại theo các loại hình công việc cụ thể mà các cơ quan Nhà nước được giao thực hiện trong quá trình hoạt động của mình

Cách phân loại này đơn giản, có khả năng áp dụng rộng rãi Ví dụ:

Thủ tục Nhập khẩu thuốc viện trợ, viện trợ nhân đạo đối với cơ sở tiếp nhận viện trực thuộc tỉnh và thuốc nhận viện trợ là các thuốc Generic

Thủ tục xét phong đơn vị và cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua

1.2.4.3 Phân loại theo chức năng hoạt động của các cơ quan

Cách này thường được áp dụng trong các cơ quan có chức năng quản lý chuyên môn

Cách phân loại này cũng có ý nghĩa thực tiễn quan trọng như cách phân loại TTHC theo các loại hình công việc cụ thể Nó giúp các nhà quản lý khi giải quyết

Trang 24

công việc chung có liên quan đến các tổ chức khác hoặc công dân, tìm được các hình thức giải quyết thích hợp theo đúng chức năng quản lý Nhà nước của cơ quan mình.

1.2.4.4 Phân loại dựa trên quan hệ công tác

Đây là cách phân loại được xây dựng trên cơ sở xem xét các quan hệ trong hoạt động của các cơ quan thuộc bộ máy quản lý Nhà nước, theo cách phân loại này có thể phân chia TTHC làm 3 nhóm:

- TTHC nội bộ: Thủ tục thực hiện các công việc nội bộ trong cơ quan,

công sở nhà nước, trong hệ thống cơ quan Nhà nước và trong bộ máy Nhà nước nói chung Nó bao gồm các thủ tục quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của cơ quan Nhà nước cấp trên đối với cấp dưới, quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các

cơ quan nhà nước cùng cấp, ngang cấp, ngang quyền

- Thủ tục thực hiện thẩm quyền: Thủ tục tiến hành giải quyết các công

việc có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, trưng mua, trưng thu các động sản và bất động sản của công dân và của tổ chức TTHC kể trên có đặc điểm cơ bản là cơ quan hành chính và viên chức Nhà nước có thẩm quyền thực hiện quyền lực Nhà nước bằng hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật để giải quyết các công việc, tình huống cụ thể

- Thủ tục văn thư: Toàn bộ các hoạt động lưu trữ, xử lý, cung cấp các

loại giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới hình thức văn bản liên quan chặt chẽ với hoạt động văn thư, tạo thành thủ tục văn thư trong hoạt động HCNN

Do mọi cơ quan đều hoạt động trong những mối quan hệ nhất định và ảnh hưởng lẫn nhau nên việc phân loại TTHC theo các quan hệ đó là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tế quan trọng, có thể áp dụng rộng rãi

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại quá nhiều các loại thủ tục

ở nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí có nhiều loại không cần thiết Điều đó dẫn đến cản trở hoạt động của nền hành chính cũng như hoạt động của các ngành, lĩnh vực liên quan, kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước Một yêu cầu cấp thiết được đặt ra đó là phải rà soát, loại bỏ bớt các loại thủ tục

Trang 25

không cần thiết cũng như đổi mới quy trình giải quyết các TTHC, nói cách khác đó chính là cải cách TTHC

1.2.5 Những hệ lụy của đời sống trong công vụ nhìn qua các TTHC

Tại sao cải cách thủ tục hành chính hay đơn giản hóa thủ tục hành chính lại gian nan như vậy? Trước hết, phải nói rằng thủ tục hành chính là cái đáng ghét trong đời sống của chúng ta (cũng như nhà nước là cái tưởng là bình thường nhưng cũng đáng ghét, bởi người dân sống dưới chủ nghĩa cộng sản như Mác đã chỉ ra chắc chắn sẽ thoải mái hơn nhiều) Nhưng trong khi còn giai cấp việc duy trì trật tự xã hội cần thiết phải còn nhà nước, còn hoạt động công vụ Hiện nay, người dân không ghét bỏ gì thủ tục vì thực sự nó đang cần thiết như sự hướng dẫn, bảo đảm quyền và lợi ích của họ Nhưng họ ghét ở sự phiền nhiễu từ các thủ tục, sự không minh bạch của người phục vụ,

sự phiền nhiễu “tế nhị” từ cách tiếp dân, giải thích lấp lửng, lập lờ, khó hiểu, thậm chí là vô trách nhiệm của một số người trong hệ thống công vụ Ai cũng thấy như thế, từ đồng chí lãnh đạo cao nhất của Chính phủ là Thủ tướng đến người dân bình thường Nguyên nhân của tình trạng này là:

Thứ nhất, do nhận thức về thủ tục mang tính máy móc, quan trọng hoá

dẫn đến sự phiền toái xuất hiện trong thủ tục Ví dụ, trước đây, đi máy bay nội địa nhất thiết phải xuất trình chứng minh thư để được làm thủ tục Nhưng sau này ngoài chứng minh thư, có thể lấy bằng lái xe thay thế là được Cái máy móc đã được thay bằng cái đơn giản trong thủ tục Hay, các thủ tục xuất nhập cảnh hiện nay đã đơn giản hơn, không còn những câu hỏi rất không vui cho người đi du lịch: đến đâu, ở đâu, mấy ngày

Thứ hai, do trình độ quản lý Năng lực của nhà quản lý quyết định quan

trọng đến hiệu quả của quản lý, trong đó có việc đặt ra hay thay đổi các công việc quản lý liên quan đến thủ tục hành chính Có lẽ có rất ít, thậm chí không

có quốc gia nào nghiên cứu lâu như ở nước ta về một cái giấy xác định quyền

sở hữu bất động sản nhà và đất Vì vậy, khái niệm “giấy đỏ, giấy hồng” là những thứ mà người dân đã phần nào thấy sự phiền toái ở phía trước về thủ tục Tương tự như vậy, rất nhiều cơ quan thông báo việc thay đổi các giấy tờ:

Trang 26

bằng lái, bảo hiểm xe, bảo hiểm y tế, thậm chí là chứng minh thư (theo khoa học thì vân tay của con người là yếu tố quan trọng không bị thay đổi theo thời gian để phân biệt cá nhân - công dân này với cá nhân khác, chứ không phải bộ mặt bên ngoài Hơn nữa, chứng minh thư càng lâu càng là kỉ niệm có tính văn hóa của hành chính Nhẽ ra, chỉ nên thay khi đã làm mất, đã cũ không đủ những thông tin tin cậy trong giao dịch hoặc theo nguyện vọng) Được biết, mỗi khi có những thay đổi như thế, nhà nước bỏ ra một khoản ngân sách không nhỏ Một trong những nguyên tắc của quản lý nhà nước là, những thay đổi trong quản lý phải lấy sự thuận lợi, quyền lợi của người dân làm trọng chứ không phải là dành sự dễ dàng cho nhà quản lý Do đó, một số việc đáng ra muốn thay đổi phải tham khảo ý kiến về sự cần thiết, về cách thức thực hiện chứ không phải đơn phương áp đặt như kiểu “thông báo” hiện nay.

Cũng do năng lực hạn chế mà dẫn đến tình trạng có sự “liên hoàn” của thủ tục trong nội bộ hành chính Thủ tục này sinh ra các thủ tục khác (lẽ ra không đáng có) Ví dụ: do ngành giáo dục qui định người bảo vệ luận án tiến

sĩ phải đăng báo (mà chỉ ở một số báo lớn), nên tất cả các cơ sở đào tạo phải xây dựng thủ tục này trong hồ sơ bảo vệ Từ đó, một số tờ báo phải có trách nhiệm giành một diện tích cần thiết để làm việc này (rất tiếc các tờ báo lại không thấy trách nhiệm của họ, trái lại, việc đăng báo phải tự lo toan, chạy vạy và đắt đỏ vì nó bị tính như việc quảng cáo) Thủ tục này lẽ ra nên để ở tờ báo ngành hoặc ở phụ trương của nó có giá trị đại chúng trong ngành giáo dục

và chỉ cần thông tin trong giới khoa học, học đường biết, với chi phí khuyến khích Công trình khoa học, ai chả muốn quảng bá, sao lại phải bắt buộc thông tin? Hơn nữa, việc gian dối của bất kỳ ai đều phải trả giá đắt về danh dự

và tiền bạc Riêng việc gian dối thì thời hiệu của chế tài phải có giá trị hồi tố (sự dối trá có thể bị phát hiện và trừng phạt bất cứ khi nào bị phát hiện, dù sau bao nhiêu năm, thậm chí tác giả của nó đã chết cũng có thể tước học vị tiến sĩ của hồ sơ đó)

Thứ ba, thủ tục hành chính là “bạn đồng hành” với tiêu cực, hối lộ,

thậm chí cả chạy chức, chạy quyền Đây có lẽ là vấn nạn nhất, phiền lòng nhân dân, các vị lãnh đạo cao cấp trong Chính phủ, những người lão thành

Trang 27

cách mạng Tại sao lại quy tội cho thủ tục hành chính liên đới trách nhiệm với các tiêu cực? Vì thực chất nó vô hình chung biến thành “sân chơi” của trò tiêu cực trong tay những người tiêu cực Như trên đã nói, thủ tục chỉ là một khái niệm chỉ ra một qui trình của quản lý Nó là thứ “vô tri” không có lỗi gì (cũng như dòng nước chảy xiết chẳng làm khó cho những người có kinh nghiệm, giỏi bơi lội, nhưng lại là khắc tinh của những người vô ý) Không ai thích làm phiền người khác để phục vụ Cũng không ai muốn mất thời gian của mình nếu tự mình làm phiền người dân Nhưng nếu những việc đó mà khiến người dân phải hối lộ và người công chức nào đó cho rằng đó là cơ hội phát sinh nguồn lợi cho mình thì họ không nề hà, thậm chí còn hứng thú (đã hứng thú thì sẽ tiếp tục nghĩ ra các chiêu khác để có lợi)

Tại sao một công chức tạo ra một bộ mặt khó chịu với người dân, tạo sự phiền hà cho dân khi tiếp dân, tạo nhiều lý do khác nhau để người dân đi lại nhiều lần, thậm chí tạo sự ban phát thủ tục cho dân? Những sự tiền hậu bất nhất trong lề lối làm việc khiến cho người dân mệt mỏi và khó chịu, chán nản Nếu được ai mách nước chi phí một ít cho xong việc họ sẵn sàng hoán đổi ngay Thậm chí có người còn rất khéo lời với người dân nhưng có cách quanh

co, vòng vèo, rồi người dân cũng phải “vui vẻ” làm cái việc họ không muốn làm Sự không minh bạch là cơ hội tốt nhất cho những tiêu cực liên quan đến thủ tục Minh bạch hóa thủ tục hành chính luôn là công cụ đấu tranh loại trừ tiêu cực giữa một bên là người dân, những người lãnh đạo có trách nhiệm lo cho dân và bên kia là những người tiêu cực lợi dụng thủ tục để tham nhũng

Thứ tư, thủ tục hành chính phức tạp đẻ ra sự “móc nối tự phát” trong hệ

thống công vụ Ví dụ, chọn trường cho con thì tìm bạn làm ở ngành giáo dục; thi tuyển thì tìm bạn ở ngành tổ chức hay người lãnh đạo; làm ngân sách thuận lợi thì tìm bạn ở ngành kế hoạch hay tài chính Bản chất của những quan hệ trong công vụ là vô hại, bởi hoạt động công vụ cũng chỉ là một môi trường xã hội bình thường, thậm chí còn là môi trường văn hóa riêng Nhưng nếu những việc đó mà có biểu hiện không khách quan, không công bằng thì những mối quan hệ đó là căn nguyên của những công vụ không minh bạch (con học kém, học yếu lại muốn cho vào lớp của những em học giỏi; ít kinh

Trang 28

nghiệm nhưng muốn vào một chỗ đúng nguyện vọng cá nhân; biết được nguồn ngân sách không nhiều nhưng lại muốn nhiều hơn; phạm lỗi trong giao thông nhưng lại muốn “thoát lỗi” ) Những biểu hiện đó tạm gọi là sự móc nối tự phát và có cơ trở thành những quan hệ không trong sáng

Thứ năm, thủ tục hành chính không minh bạch làm “mất cán bộ”

Những ví dụ nêu trên cũng như những hiện tượng tiêu cực, dẫn tới nhiều cán

bộ không còn cơ hội làm việc phục vụ nhân dân nữa, là hậu quả hệ lụy của những tiêu cực liên quan đến một số thủ tục không đáng có hoặc bị lợi dụng ở một số người Hiện nay vẫn tồn tại một nhận thức rằng hiện tượng tiêu cực trong công vụ có lí do là công chức am hiểu luật pháp còn yếu Thực chất, những tiêu cực liên quan đến thủ tục hành chính diễn ra không phải ở những cán bộ ít am hiểu luật pháp Nhiều vụ việc được xác định có tính toán rất tinh

vi, nếu không có năng lực pháp luật thì không thực hiện nổi Những vụ việc tiêu cực cho thấy điểm yếu trong những trường hợp đó liên quan đến đạo đức công chức

Thứ sáu, thủ tục hành chính nếu có “liên đới” với tiêu cực, hay nói cách

khác là bị lợi dụng thì góp phần vào sự mất niềm tin trong nhân dân, sự chán nản đối với những người tích cực, thậm chí làm xấu đi hình ảnh nước nhà đối với bạn bè quốc tế Điều này trong thời kì hội nhập quốc tế ngày càng sâu thì chúng ta có giấu, có “nói khác” cũng không được.[29]

1.3 Tổng quan về cải cách TTHC và cải cách hành chính ở Việt Nam.

1.3.1 Sự cần thiết phải cải cách TTHC ở Việt Nam

1.3.1.1 Nguyên nhân khách quan

Hiện nay cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới đang phát triển hết sức mạnh mẽ, cùng với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều nguy cơ và thách thức Có những quyết sách kịp thời và đúng đắn, có hiệu quả hành chính cao thì mới chớp được những thời cơ tốt và chiến thắng trong cạnh tranh Vì thế không ngừng nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính là nhiệm vụ chiến lược bức bách và gay gắt

Bên cạnh đó cùng với sự phát triển của đất nước, có rất nhiều lĩnh vực

Trang 29

mới ra đời, nhu cầu của người dân ngày càng tăng, các loại TTHC cũng như quy trình giải quyết các loại cũ vốn đã quá rườm rà, phức tạp này lại càng không phù hợp Muốn thu hút đầu tư, muốn phát triển đất nước thì TTHC càng phải đơn giản, thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo tính pháp lý, chặt chẽ và đầy đủ

1.3.1.2 Nguyên nhân chủ quan

Quản lý hành chính của bất kì nước nào cũng đều đụng đến ba vấn đề

cốt lõi: tổ chức, nhân sự và thủ tục điều hành Tổ chức có hợp lý, nhân viên

có được sử dụng đúng khả năng và tiêu chuẩn, thủ tục điều hành có đơn giản thì quản lý mới hiệu quả

Quản lý hành chính được thực hiện bằng một loạt hành động nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, tức là chúng diễn ra theo một thủ tục nhất định Những thủ tục hữu hiệu là rất cần thiết vì nó đảm bảo cho tiến trình hành chính không bị phá rối hoặc cản trở

Mối quan hệ giữa tổ chức, nhân sự và thủ tục là mối quan hệ biện chứng Muốn tổ chức hợp lý phải có viên chức đủ khả năng và đúng tiêu chuẩn cũng như thủ tục điều hành rõ ràng, đơn giản Ngược lại, thủ tục rườm

rà sẽ dẫn đến phình to tổ chức, thêm nhiều tầng nấc, viên chức có thêm cơ hội dựa vào uy quyền của Nhà nước để hạch sách gây khó khăn cho nhân dân, làm giảm uy tín của chính quyền, vì người dân thường nhìn chính quyền qua các mối quan hệ qua lại giữa họ với các viên chức Nhà nước Bộ máy Nhà nước dù có những cán bộ giỏi cũng không đương đầu nổi với những khuyết điểm căn bản về thủ tục

Hiện tượng các cơ quan đùn đẩy trách nhiệm cho nhau khi giải quyết công việc, thái độ thiếu tôn trọng nhân dân, cửa quyền, ban ơn thậm chí sách nhiễu, đòi hối lộ chính là vì TTHC do nhiều ngành, nhiều cấp đặt ra một cách tùy tiện, vừa thiếu tính đồng bộ, vừa rườm rà phức tạp

Một thực tế diễn ra ở Việt Nam đó là có quá nhiều các loại thủ tục với các tầng nấc khác nhau mà thủ tục nào cũng rườm rà, sách nhiễu Để giải quyết một công việc nào đó người dân phải tốn không biết bao thời

Trang 30

gian, sức lực thậm chí tiền của mới có được Chính những thủ tục rườm rà

ấy lại góp phần tạo điều kiện cho một bộ phận cán bộ công chức nhà nước

có cơ hội để “hành dân”, khiến cho nhân dân mất lòng tin vào chính quyền

Vì vậy, Nghị quyết 38/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ đã khẳng định:

“…cải cách TTHC là đòi hỏi bức xúc, đáp ứng yêu cầu chính đáng của nhân dân Đây cũng là một nội dung quan trọng của cải cách một bước nền hành chính quốc gia”

Những điều nói trên cho thấy vai trò quan trọng của TTHC và sự cần thiết phải cải cách TTHC ở Việt Nam

Đại hội đại biểu Đảng cộng sản lần thứ IX (tháng 4/2001) đã đưa ra chương trình CCHC Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 Trong đó chỉ rõ phải đẩy mạnh cải cách TTHC thông qua việc:

- Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân Mở rộng cải cách thủ tục hành chính trong tất

cả các lĩnh vực, xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép

và thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm dịch, giám định nhưng vẫn đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính

- Mẫu hóa thống nhất trong cả nước các loại giấy tờ mà công dân hoặc doanh nghiệp cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết các công việc về sản xuất, kinh doanh và đời sống

- Ban hành cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công việc của dân; xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch,

vô trách nhiệm; khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

- Quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm cá nhân trong khi thi hành công vụ Việc xác định quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ phải đi liền với việc đánh giá, khen thưởng, kỷ luật cán

bộ, công chức

- Thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết công việc của cá nhân

Trang 31

và tổ chức ở các cơ quan HCNN các cấp Cơ quan hành chính các cấp có trách nhiệm giải quyết công việc của cá nhân và tổ chức phải niêm yết công khai, đầy

đủ mọi thủ tục, trình tự, lệ phí, lịch công tác tại trụ sở làm việc

1.3.2 Việt Nam tiến hành công cuộc cải cách hành chính.

Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trước đây, trong thời kì chiến tranh, bao cấp chưa tiến hành CCHC được vì những lí do lịch sử: tất cả vì tiền tuyến, vì thời đó những nhu cầu mang tính xã hội còn ít ỏi (kinh doanh, sổ đỏ, xây dựng nhà ở, thu hút đầu tư còn chưa có), đời sống nhân dân khó khăn cho đến khi bước vào thời kì đổi mới xuất hiện và phát triển nhiều nhu cầu…

Nền kinh tế từ quốc doanh và tập thể là chính chuyển sang nền kinh tế 6 thành phần (Nghị quyết Đại hội Đảng IX), đó là: Kinh tế nhà nước, Kinh tế tập thể, Kinh tư bản tư nhân, Kinh tế tư bản nhà nước, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

1.3.2.1 Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN, mở cửa và hội nhập với khu vực và trên thế giới.

- Việt Nam là thành viên của khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)

từ tháng 7/1995, đang tiến tới thực hiện các cam kết nhằm tự do hoá thương mại của các nước ASEAN: cắt giảm thuế quan, loại bỏ rào cản thương mại cho trao đổi hàng hoá giữa các nước thành viên

- Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và hội nhập kinh tế quốc tế

- Đây là nhiệm vụ mới, khó khăn nếu Nhà nước không đổi mới tổ chức

và hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý thì không thể hoàn thành nhiệm vụ trên Do đó, yêu cầu tất yếu phải đổi mới để phù hợp với đổi mới kinh tế và đổi mới về quản lý hành chính

1.3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ:

Trang 32

Trên thế giới hiện nay diễn ra những biến đối rất nhanh chóng, to lớn đòi hỏi chúng ta phải hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Nhà nước dẫn đến thích ứng kịp thời với diễn biến tình hình và nhịp điệu phát triển của thời đại.

- Trong vòng 50 năm qua, thành quả của biến đổi về KHCN bằng sự biến đổi của tất cả thời gian trước cộng lại

- Hàn Quốc: Chính phủ điện tử năm 2004 công khai hoá việc xử lí các vấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng internet (theo dõi được tiến độ

và kết quả cơ quan HC giải quyết công việc của mình)

- Singapo: Năm 1999 áp dụng ISO 9000 trong toàn bộ bộ máy hành chính

Chính vì vậy, cải cách hành chính là một đòi hỏi tất yếu mang tính khách quan, nếu không đổi mới sẽ bị tụt hậu

- Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm,

bức thiết của Nhà nước hiện nay, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, phục

vụ tốt cho công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.[19]

Tinh thần cải cách thủ tục hành chính là các bộ, ngành, địa phương phải đơn giản hóa về thủ tục hành chính, cắt giảm và tuân thủ thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao đạo đức công vụ Lợi ích kinh tế của việc đơn giản hóa thủ tục hành chính là tiết kiệm được hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm! Nhưng còn những lợi ích to lớn khác là giải tỏa về mặt tâm lý xã hội của nhân dân và các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước qua việc giao dịch hành chính ở nước ta; nâng cao được hiệu quả công tác của cán bộ - viên chức; hạn chế được tình trạng phiền hà, tham nhũng nơi công sở; xây dựng được văn hóa công sở Đây chính là tiêu chí quan trọng của một đất nước phát triển, văn minh!

Tính đến 30-6-2011, các bộ, ban, ngành đã ban hành theo thẩm quyền

và dự thảo văn bản trình cấp có thẩm quyền để đơn giản hóa 3.037/4.800 thủ tục hành chính phải đơn giản hóa, đạt tỷ lệ 63% 63 tỉnh, thành phố đã đơn

Trang 33

giản hóa 3.636 thủ tục hành chính tại các sở, ban, ngành, quận, huyện, xã, phường Tuy vậy, hiện nay, ở các cấp, các ngành, các địa phương, việc cải cách thủ tục hành chính còn rất chậm chạp, mới chỉ thể hiện vụn vặt trên bề nổi; còn "tảng băng chìm” của nó vẫn là sự gây phiền hà, nhận hối lộ, thậm chí tham nhũng trắng trợn của không ít cán bộ công chức, viên chức Bên cạnh đó, còn bộc lộ năng lực yếu kém và tính trì trệ của một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức, viên chức.

1.3.2.3 Thực trạng cải cách hành chính ở Việt Nam

Thực hiện chủ trương, chính sách tại các Nghị quyết đại hội VII, Nghị quyết TW8 khoá VIII, Nghị quyết đại hội VIII, các nghị quyết TW III, TW 6 lần 2, TW 7 khoá VIII, Nghị quyết đại hội lần IX, công cuộc cải cách hành chính trong 20 năm qua đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống đại bộ phận tầng lớp nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng hơn vào chế

độ XH, dân và chính quyền gắn bó, thân thiết hơn

a Những ưu điểm.

* Về thể chế hành chính

Hiện nay, nước ta đã ban hành tương đối đầy đủ hệ thống các văn bản, chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ hành chính, đảm bảo cho bộ máy hành chính hoạt động thông suốt Hệ thống thể chế hành chính trên các lĩnh vực từng bước đổi mới, trước hết là đã hình thành thể chế kinh tế tương đối phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Các thể chế hành chính nhà nước, bao hàm việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật

và cơ cấu bộ máy tổ chức đã và đang được cải tiến theo hướng giản đơn, rõ ràng, tinh gọn và ngày càng rộng mở đối với doanh nghiệp và nhân dân, chặt chẽ đối với cán bộ, công chức Các quan hệ kinh tế, dân sự, hành chính được luật hoá, cởi bỏ thói quen hành động cảm tính, suy luận chủ quan của cán bộ, công chức khi xử lý công việc, chứng tỏ sự thay đổi về tư duy đó và đang diễn ra rất tích cực Hệ thống luật pháp ngày càng chú trọng nguyên tắc công bằng, bình đẳng giữa cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức, cá nhân chịu

Trang 34

sự điều chỉnh Thói quen nhờ đỡ các mối quan hệ quen biết để giải quyết công việc cho nhanh, gọn của người dân và doanh nghiệp cũng dần hạn chế bởi các chế định đã quy định chặt chẽ thời hạn giải quyết công việc và có xu hướng rút dần thời gian xuống mức thấp nhất.

* Về bộ máy, tổ chức

- Chức năng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính từ Chính phủ, các Bộ, ngành TW đến UBND các cấp đã có nhiều thay đổi tiến

bộ, tập trung nhiều hơn vào quản lý Nhà nước;

- Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp được sắp xếp, điều chỉnh, thay đổi theo hướng tinh gọn hơn Bộ máy hành chính từ TW đến cơ sở vận hành phát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn, cùng với chủ trương hạn chế biên chế từ mấy năm nay, giảm số lượng đầu mới (nơi phát sinh các thủ tục hành chính) cấp Bộ, ngành từ TW đến cơ sở và trong từng cơ quan, đơn vị Vấn đề tiền lương cũng được nhìn nhận một cách công bằng hơn, chế độ tiền lương được cải thiện từng bước trong khả năng của ngân sách, chính là cơ sở vật chất quan trọng để thực hiện cải cách hành chính

- Một số cơ quan đó đi tiên phong trong áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo động lực đáng kể trong cải tiến hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước

* Về đội ngũ cán bộ, công chức

Hiện nay, đội ngũ cán bộ công chức bộ máy hành chính đã được nâng lên về mọi mặt, cả về trình độ chính trị lẫn chuyên môn Việc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức được đổi mới một bước theo các quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức, từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi nâng ngạch, khen thưởng, kỷ luật đến đào tạo, bồi dưỡng Chế độ, chính sách tiền lương bước đầu được cải cách theo hướng tiền tệ hoá Nhận thức của phần lớn cán bộ công chức Nhà nước đã có sự thay đổi cơ bản, từ cách tư duy hành chính theo kiểu “hành dân” đó chuyển sang tư duy “phục vụ” Sự tiến bộ trong nhận thức

đó trực tiếp tác động đến lề lối, tác phong làm việc của cán bộ công chức từ

Trang 35

cấp lãnh đạo đến nhân viên khi thi hành công vụ Việc tiếp công dân và giải quyết các khiếu nại của dân được coi trọng hơn Các cuộc gặp gỡ và giải đáp vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp đã được tổ chức thường xuyên ở nhiều cơ quan, được cấp lãnh đạo cao nhất tham dự, đã giải quyết trực tiếp các kiến nghị trong khuôn khổ pháp luật quy định.

b Những hạn chế, yếu kém

Cải cách nền hành chính Nhà nước đã tiến hành nhiều năm, tuy nhiên vẫn còn mang nặng dấu ấn, tàn dư của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi phải có cơ chế quản lý thích hợp thực tiễn, công cuộc đổi mới toàn diện, dân chủ hoá các mặt của đời sống

xã hội, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập sâu, rộng kinh tế nước ta với nền kinh tế toàn cầu, yêu cầu phát triển một nền hành chính lấy mục đích phục vụ nhân dân, vì dân, cũng như hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính chưa cao

* Vể thể chế hành chính

Mặc dù hệ thống thể chế hành chính đã được các cấp, ngành tích cực ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý hành chính và yêu cầu hội nhập quốc tế Tuy nhiên, hệ thống thể chế hành chính vẫn còn nhiều điểm chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất, thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, nhiêu khê, đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, phải qua nhiều cửa, nhiều dấu, nhiều tầng nấc trung gian, đồng thời thiếu thống nhất, tùy tiện thay đổi và thiếu công khai đã gây phiều hà cho nhân dân, nhất là những người ít hiểu biết về thủ tục hành chính Hệ thống các thủ tục hành chính đã cản trở, gây phiền hà cho nhân dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, tệ giấy tờ trong guồng máy hành chính và

là “miếng đất” thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí, làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền Ý thức chấp hành pháp luật hành chính của một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu, quen giải quyết công việc theo lệ chứ chưa theo luật, pháp chế XHCN chưa được đảm bảo

* Về tổ chức bộ máy hành chính

Trang 36

Bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng, nấc, nhiều cửa, nhiều dấu, chức năng của một số cơ quan còn chồng chéo, chưa rõ ràng, nhiều khi cản trở lẫn nhau, hạn chế hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính

Có lĩnh vực thì ôm đồm, bao biện, có lĩnh vực và có nơi thì buông lỏng quản

lý dẫn đến một số cá nhận lợi dụng để trục lợi làm hại đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân Chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của bộ máy hành chính trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa được xác định rõ,

sự phân công, phân cấp giữa các ngành, các cấp chưa thật rành mạch, triệt để

cụ thể và phù hợp Tình trạng chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan cùng cấp, cấp trên và cấp dưới còn chồng chéo, nhiều khi hạn chế lẫn nhau, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý thấp

- Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với dân, không nắm được những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng, bị động khi xử lý các tình huống phức tạp

- Phương thức quản lý hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa thông suốt, chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch

vụ công;

* Về đội ngũ cán bộ, công chức

Đội ngũ cán bộ, công chứ còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính, phong cách làm việc chậm đổi mới, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng trong một bộ phận cán bộ, công chức Nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

và hội nhập quốc tế, ý thức nghề nghiệp chưa cao, tôn trọng kỷ luật lao động còn yếu, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ công chức bị suy thoái, thái

độ phục vụ nhân dân còn thấp, một bộ phận công chức tồn tại thái độ thờ ơ, lãnh cảm với dân, đặt mình ở vị thế ban phát quyền lợi cho dân.Những vấn đề

đó làm cho chính quyền ngày càng làm xa dân Về số lượng thì có nơi, có lĩnh vực thừa và ngược lại, thiếu đội ngũ cán bộ công chức có chất lượng cao, tận tuỵ với nghề, vừa hồng, vừa chuyên, tình trạng cán bộ nhiều nhưng chất

Trang 37

lượng hoạt động chẳng bao nhiêu, chưa có trình độ ngang tầm nhiệm vụ, bố trí chưa đúng người, đúng việc, bằng cấp và năng lực chưa tương ứng với chức danh.

1.3.2.4 Nguyên nhân chính của tình trạng yếu kém, trì trệ về công tác cải cách thủ tục hành chính thể hiện ở chỗ:

- Văn bản thủ tục hành chính ở nước ta có số lượng quá nhiều, quá rườm rà, chồng chéo lẫn nhau và có rất nhiều điều không phù hợp với thực tế Không thể tưởng tượng được là cả nước có tới 6000 bộ thủ tục hành chính!2

Số lượng văn bản thủ tục hành chính quá đồ sộ nhưng không ít văn bản kém chất lượng, không cập nhật tình hình thực tế xã hội và thiếu tính khả thi Việc

tổ chức soạn thảo các văn bản quy định thủ tục hành chính còn rất tùy tiện, không có sự chỉ đạo thống nhất, nghiêm ngặt từ trên xuống dưới, không có sự liên kết các bộ, ngành và địa phương với nhau Nhóm biên soạn văn bản chưa thể hiện được tính khoa học (trước hết là tính khoa học của thể loại văn bản, tính hợp lý, chặt chẽ và nhất quán trong nội dung mỗi văn bản và trong cả hệ thống văn bản liên quan ) Sau khi đã soạn được các văn bản pháp quy, lại không kịp thời có văn bản hướng dẫn cụ thể Vì thế, diễn ra tình trạng "tùy nghi” theo mức độ triển khai của các bộ, ngành, địa phương

- Một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức, viên chức còn nhiều non yếu về trình độ văn hóa - khoa học và kỹ năng nghiệp vụ; tinh thần làm việc thì còn lề mề, gây khó dễ, phiền hà cho nhân dân và các đối tác đến giao dịch về thủ tục hành chính Đây là điều rất đáng lo ngại Phần đông cán bộ công chức, viên chức, nhất là ở các cấp quận, huyện, xã, phường thường chưa được đào tạo bài bản, không có năng lực cần thiết về công tác hành chính, thao tác không thành thạo và nhiều khi không chuẩn xác khi làm các văn bản hành chính Nhiều cán bộ công chức, viên chức còn hách dịch, cửa quyền, bày vẽ ra thêm những điều vô lý, gây khó dễ, để đòi hỏi đối tác phải

Trang 38

mạnh); công văn, chỉ thị của cấp trên nhắc nhở, hướng dẫn rất nhiều; thế nhưng CBVC vẫn trễ nải làm việc, đi muộn về sớm, bỏ việc trong giờ hành chính, ai mắc sai phạm rồi cũng “hòa cả làng” Cho nên, công tác hành chính vẫn chậm chạp, có công việc đáng lẽ chỉ làm một ngày, hoặc một tuần thì kéo dài tới hàng tháng, hoặc vài tháng, có khi tới vài năm

Từ ba nguyên nhân cơ bản và cũng là thực trạng của công tác hành chính như nêu trên, cho thấy: Cần phải có sự nhận thức đúng về điều cốt lõi của cải cách thủ tục hành chính Hiện nay, nhiều tỉnh, thành phố báo cáo cấp trên và công bố với báo chí là đã xóa bỏ hàng trăm đến hàng nghìn văn bản thủ tục hành chính nhưng nếu không cải cách được điều cốt lõi của vấn đề, thì vẫn rơi vào tình trạng "đánh trống bỏ dùi”!

Vậy, cốt lõi của cải cách thủ tục hành chính là gì? Đó chính là cải cách

về tinh thần trách nhiệm của đội ngũ CBVC- tức là đề cao đạo đức công vụ CBCC phải thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả "8 giờ vàng ngọc”, giải quyết các công việc kịp thời, khẩn trương Đó là cải cách về năng lực chuyên môn- nghiệp vụ Phải chọn lựa người có năng lực thật sự; bồi dưỡng chuyên môn- nghiệp vụ thường xuyên Đó là thiết lập kỷ cương, pháp lệnh hành chính thật sự nghiêm minh Khen thưởng, kỷ luật rõ ràng, đúng đắn và kịp thời! Nói tóm lại: Phải cải cách cái TÂM, cái TRÍ của CBVC và cải cách KỶ CƯƠNG, KỶ LUẬT hành chính! Một khi còn nhiều người yếu kém về cái Tâm (đạo đức cách mạng, đạo đức công dân, còn hách dịch, cửa quyền, vòi vĩnh hối lộ), lại yếu kém về TRÍ (tức là yếu kém về trình độ văn hóa, về năng lực soạn thảo các văn bản TTHC và về năng lực thực thi nhiệm vụ), bên cạnh

đó là kỷ cương, kỷ luật hành chính không nghiêm minh, thì vẫn còn những trở ngại cho việc xây dựng một nền hành chính quốc gia có hiệu lực và hiệu quả3 Việc thực hiện cơ chế “Một cửa” được coi là một trong những biệp pháp mang tính đột phá trong việc cải cách TTHC

1.4 Cơ chế một cửa

1.4.1 Khái niệm

3 Đào Ngọc Đệ – Cốt lõi của cải cách thủ tục hành chính

Trang 39

“Một cửa” là cơ chế hành chính mới được hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, nhằm thay thế cho cơ chế

"nhiều cửa" đã tồn tại nhiều năm trước Cơ chế “ nhiều cửa” là một trong những phản ánh đặc trưng của toàn bộ hệ thống quản lý nước ta trước đây do đặc điểm thời chiến kéo dài và nhiều nguyên nhân khác nữa nên đã vận hành chủ yếu theo cơ chế cũ là cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trong các mối quan hệ giải quyết thủ tục hành chính giữa các cơ quan công quyền với người dân và các tổ chức chính trị - xã hội ; giữa các cơ quan công quyền với nhau.Cơ chế cũ đó đã ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, là khe hở nảy sinh nhiều tiêu cực bức xúc xã hội do các tệ nạn quan liêu, cửa quyền, chồng chéo, lãng phí, tham nhũng Chính vì thế, khi chuyển sang kinh tế thị trường theo đường lối đổi mới của Đảng khởi nguồn từ Đại hội VI, cần thiết phải thay thế cơ chế cũ đã lạc hậu đó bằng một cơ chế mới, tiên tiến, phù hợp hơn.Theo từng thang bậc tiến trình CCHC và yêu cầu thực tiễn, một số mô hình cơ chế hành chính mới đã nảy sinh từ đó

Cơ chế "Một cửa" là phương thức giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm

quyền của cơ quan HCNN từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối là “bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” tại cơ quan HCNN.4

1.4.2 Đặc điểm

- Tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: phê duyệt các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, cho thuê đất, giải quyết chính sách xã hội

- Tại quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh: cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các hộ kinh doanh cá thể, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, đăng ký hộ khẩu, công chứng và chính sách xã hội

- Tại xã, phường, thị trấn: xây dựng nhà ở, đất đai, hộ tịch, chứng thực

1.4.3 Nguyên tắc thực hiện

4 Quyết định 181/QĐ-TTg về việc thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính Nhà nước

Trang 40

Về nguyên tắc “một cửa” thực chất là quy trình giải quyết công việc hành chính - từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến khâu trả kết quả - thông qua một bộ phận làm việc duy nhất tại trụ sở cơ quan hành chính Mọi khâu liên quan khác do các đơn vị chức năng của cơ quan hành chính thực hiện theo quy trình khép kín trong nội bộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi người dân, tổ chức và doanh nghiệp có nhu cầu giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, chỉ đến nộp hồ sơ và nhận kết quả tại một nơi thuộc cơ quan hành chính Nhà nước, đó là bộ phận tiếp nhận

hồ sơ và trả kết quả

Nếu hồ sơ cần phải được bổ sung thủ tục, thì chậm nhất sau 2 ngày (kể

từ ngày nhận hồ sơ) cơ quan chủ trì phải thông báo bằng văn bản, để người đứng tên hồ sơ kịp bổ sung (không được yêu cầu bổ sung quá 1 lần) Trường hợp hồ sơ có liên quan đến trách nhiệm giải quyết của các cơ quan nhà nước khác, cơ quan chủ trì phải chủ động phối hợp để giải quyết, thay vì người dân hoặc doanh nghiệp phải liên hệ từng nơi để được giải quyết như trước đây, song thời gian giải quyết phải bảo đảm đúng ngày hẹn ghi trong biên nhận Trường hợp hồ sơ không thể giải quyết đúng hẹn, cơ quan chủ trì giải quyết phải thông báo bằng văn bản cho người dân và doanh nghiệp biết, trong đó nói rõ lý do và hẹn lại ngày trả kết quả

Quy trình giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa” phải đảm bảo 5 nguyên tắc sau:

Thứ nhất: Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật

Thứ hai: Công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, công dân

Thứ ba: Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả

Thứ tư: Việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan để giải quyết công việc của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan HCNN

Thứ năm: Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ

Ngày đăng: 27/07/2015, 11:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố cấu thành nền hành chính - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Hình 1.1 Sơ đồ các yếu tố cấu thành nền hành chính (Trang 13)
Bảng số 2. 1. Tổng chi y tế trên phạm vi toàn xã hội - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Bảng s ố 2. 1. Tổng chi y tế trên phạm vi toàn xã hội (Trang 48)
Hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước… Đổi mới toàn diện cơ chế quản - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Hình ph át triển kinh tế - xã hội của đất nước… Đổi mới toàn diện cơ chế quản (Trang 57)
Bảng 2.4: Tổ chức thực hiện dự án cải cách hành chính 2004 - 2008 - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Bảng 2.4 Tổ chức thực hiện dự án cải cách hành chính 2004 - 2008 (Trang 64)
Bảng 2.6: Các TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế được công - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Bảng 2.6 Các TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế được công (Trang 77)
Bảng 2.8: Các TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế được công - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Bảng 2.8 Các TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế được công (Trang 79)
Bảng 2.10: Các VBQPPL có qui định các TTHC trong ngành y tế  còn hiệu lực - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Bảng 2.10 Các VBQPPL có qui định các TTHC trong ngành y tế còn hiệu lực (Trang 86)
Bảng trên cho thấy, Dược – Mỹ phẩm là lĩnh vực ban hành nhiều  VBQPPL qui định các TTHC - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Bảng tr ên cho thấy, Dược – Mỹ phẩm là lĩnh vực ban hành nhiều VBQPPL qui định các TTHC (Trang 87)
Hình 3.1: Sơ đồ cổng giao tiếp điện tử Hà Nội - Cải cách thủ tục hành chính tại cơ quan Bộ Y Tế
Hình 3.1 Sơ đồ cổng giao tiếp điện tử Hà Nội (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w