1. Tính cấp thiết của đề tài: Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2020 của Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng X: “Để đi tắt, đón đầu từ một nước kém phát triển thì vai trò của giáo dục và khoa học – công nghệ lại càng có tính chất quyết định. Giáo dục phải đi trước một b¬-ước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội”. Như¬¬ vậy, trong những năm đầu của thế kỷ XXI, GD- ĐT đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của quốc gia. GD- ĐT phải giúp cho thế hệ trẻ thích ứng được với sự phát triển nh¬¬ư vũ bão của khoa học kỹ thuật và tham gia tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Điều 2- Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”. Để góp phần đạt được mục tiêu này, giáo dục cần tới sự quan tâm, nỗ lực của các cấp, các ngành, của các lực lượng xã hội. Ngành GD- ĐT nói chung, các nhà QLGD nói riêng phải tích cực tìm ra được những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục. Đối với lĩnh vực QLGD cho dù ở tầm vĩ mô hay vi mô đều cần xác định cho mình một mô hình quản lý thích hợp, đó cũng chính là chìa khoá mở đường dẫn đến thành công của quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Để tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, con người phải hình thành được các kỹ năng sống. KNS không phải tự nhiên mà có. KNS là kết quả của một quá trình học tập và rèn luyện của bản thân con người. Khi có được KNS tốt, người học sinh sẽ tự tin hơn trong cuộc sống, tự định hướng đi cho mình trong tương lai, tự khẳng định vị trí của mình trong mọi lĩnh vực, biết tự đánh giá mình và không mặc cảm với bản thân. Chính vì vậy, trong kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho con người đã đề ra mục tiêu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp và coi KNS của người học là một khía cạnh của chất lượng giáo dục, là một tiêu chí để đánh giá chất lượng giáo dục. Giáo dục KNS là một trong những vấn đề mà thế giới hiện nay đang hết sức quan tâm và được nhấn mạnh trong nhiều kiến nghị mang tính quốc tế như¬¬ trong diễn đàn giáo dục cho mọi người ( thể hiện trong chương trình hành động Dakar), trong việc thực hiện Công ¬¬ước Quyền trẻ em, trong hội nghị quốc tế về dân số và phát triển giáo dục cho mọi người. Gần đây nhất là trong tuyên bố về cam kết của Tiểu ban đặc biệt của Liên hiệp quốc về HIV/ AIDS (tháng 6 năm 2001), các nước đã đồng ý rằng : “ đến năm 2005 đảm bảo ít nhất có 90% và năm 2010 ít nhất có 95% thanh niên và phụ nữ từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông tin, giáo dục và dịch vụ cần thiết để phát triển KNS giảm bớt những tổn thương do sự lây nhiễm HIV. Tháng 5/ 2000, tại Diễn đàn Giáo dục thế giới Dakar, mô hình trường học thân thiện với người học được nêu trong khuôn khổ Hành động Dakar, được đánh giá là một giải pháp nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục. Trong mô hình “ Trường học thân thiện- học sinh tích cự¬c” tiêu chí giáo dục KNS vừa là một biểu hiện của chất lượng giáo dục vừa giúp học sinh sống an toàn hơn. Ngày nay với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, giáo dục Việt Nam cũng nh¬¬ư giáo dục ở các nước trên thế giới đều hướng tới 4 trụ cột mà UNESSCO đã đ¬¬ưa ra đó là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người”. Với mục tiêu hướng tới đào tạo Công dân toàn cầu đặt ra cho giáo dục Việt Nam nhiệm vụ không chỉ cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng các môn học mà còn phải hình thành, rèn luyện KNS và năng lực cho người học theo hướng hoà nhập, thân thiện. Ngày 15 tháng 5 năm 2008, tại trường THCS Vạn Phúc- Hà Đông, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân nay là Phó Thủ tư¬¬ớng Chính phủ- đã phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013. Hiện nay, trên thế giới có ít nhất là 70 quốc gia đã và đang đư¬¬a KNS vào chương trình học chính khoá dư¬¬ới hình thức một môn học riêng, hoặc tích hợp vào tất cả các môn học hoặc tích hợp vào một số môn nhất định. Tại Việt Nam việc đ¬¬ưa giáo dục KNS vào trường học là một trong những tiêu chí của phong trào “ trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Tuy nhiên, việc đư¬¬a giáo dục KNS vào các trường THCS hiện nay còn chưa thực sự được quan tâm, thể hiện ở sự đầu tư¬¬ chưa thích đáng cho việc xây dựng kế hoạch, đầu t¬¬ư nguồn nhân lực, kinh phí, hình thức tổ chức còn đơn điệu, chưa mang tính thiết thực. Đặc biệt là chưa có những biện pháp quản lý tích cực để đư¬¬a nội dung KNS vào trong các môn học của nhà trường. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản lý giáo dục KNS cho học sinh ở một số trường THCS Quận Hoàn Kiếm- Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay ”.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Học viện quản lý giáo dục đã trực tiếp giảng dạy, tư vấn tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Tiến sĩ Phạm Văn Sơn, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi về khoa học trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ lãnh đạo Sở Giáo Dục và Đào tạo Hà Nội, Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hoàn Kiếm, Ban Giám hiệu trường THCS Hoàn Kiếm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu khoa học, cung cấp số liệu, tham gia ý kiến giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn.
Do điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu có hạn, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các nhà khoa học, quí thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Kiều Duyên
Trang 2NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 3
3 Giả thiết khoa học: 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 4
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu: 4
6 Phạm vi nghiên cứu: 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 7
1.2.1 Quản lý 7
1.2.2 Quản lý giáo dục: 15
1.2.3 KNS và giáo dục KNS: 17
1.3 Tổ chức giáo dục KNS ở trường THCS 21
1.3.1 Sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh THCS 21
1.3.2.Nguyên tắc giáo dục KNS cho học sinh THCS 25
1.3.3 Nội dung giáo dục KNS cho học sinh THCS 26
1.3.4 Các hình thức giáo dục KNS cho học sinh THCS 33
1.4 Vai trò của CBQL trong quản lý giáo dục KNS ở trường THCS 35
1.4.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động 35
1.4.2 Tổ chức và chỉ đạo hoạt động 35
1.4.3 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập 36
1.4.4 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và ban chỉ đạo hoạt động 36
1.4.5 Xây dựng điều kiện để thực hiện hoạt động 37
Trang 41.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục KNS ở trường THCS
37
1.5.1 Nhận thức của đội ngũ CBQL và các lực lượng giáo dục 37
1.5.2 Trình độ năng lực của đội ngũ giáo viên 38
1.5.3 Nội dung chương trình hoạt động 38
1.5.4 Cơ sở vật chất của nhà trường 38
1.5.5 Phương pháp kiểm tra đánh giá và cơ chế động viên khen thưởng .38
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu: 40
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 40
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục- đào tạo của Quận Hoàn Kiếm 43
2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS quận Hoàn Kiếm -Thành phố Hà Nội 50
2.2.1 Nhận thức của CBQL và GV về hoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS quận Hoàn Kiếm: 50
2.2.2 Đánh giá của CBQL và GV về hoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS quận Hoàn Kiếm 54
2.2.3 Đánh giá của học sinh về hoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS quận Hoàn Kiếm 59
2.2.4 Đánh giá của phụ huynh về thực trạng giáo dục KNS của học sinh ở các trường THCS quận Hoàn Kiếm 62
2.2.5 Kết quả của hoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS Quận Hoàn Kiếm 64
Trang 52.3 Thực trạng quản lý giáo dục KNS ở một số trường THCS quận
Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội 65
2.3.1 Nhận thức của CBQL và GV về việc đưa nội dung giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL, các tiết dạy và ngoại khóa 65
2.3.2 Thực trạng các biện pháp quản lý giáo dục KNS 66
2.3.3 Các yếu tố chi phối quản lý giáo dục KNS 68
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS quận Hoàn Kiếm 69
2.4.1 Những kết quả đạt được và hạn chế cơ bản 69
2.4.2.Những thuận lợi và khó khăn khi đưa giáo dục KNS vào các trường THCS 70
Tiểu kết chương 2 71
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 73
3.1 Định hướng đổi mới và các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.1.1.Định hướng đổi mới hoạt động giáo dục KNS ở trường THCS 73
3.1.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp: 74
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS 76
3.2.1 Xác định rõ nội dung giáo dục KNS ở trường THCS 76
3.2.2 Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của giáo dục KNS cho học sinh 83
3.2.3 Hoàn thiện bộ máy quản lý giáo dục KNS của nhà trường THCS 85
3.2.4 Nâng cao trình độ và kỹ năng tổ chức giáo dục KNS cho đội ngũ giáo viên, cộng tác viên: 88
3.2.5 Cải thiện môi trường hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tổ chức giáo dục KNS ở trường THCS 90
Trang 63.2.6 Chuẩn bị tốt các điều kiện CSVC và phương tiện phục vụ việc tổ
chức hoạt động giáo dục KNS ở trường THCS 91
3.2.7 Kết hợp giữa nhà trường – gia đình - xã hội trong việc giáo dục KNS cho học sinh THCS 93
3.2.8 Tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm việc tổ chức thực hiện giáo dụcKNS 95
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 97
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 98
3.4.1.Mục đích khảo nghiệm: 98
3.4.2 Phương pháp khảo nghiệm: 98
3.4.3 Địa điểm khảo nghiệm: 99
3.4.4 Tiến trình khảo nghiệm: 99
3.4.5 Kết quả: 99
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
1 Kết luận 103
2 Khuyến nghị 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng số lượng CBQL và GV THCS Quận Hoàn Kiếm nămhọc 2010-2011 44Bảng 2.2 Thực trạng về số lượng và trình độ đào tạo CBQL và GV THCSquận Hoàn Kiếm năm học 2010-2011: 45Bảng 2.3 Thực trạng về số lượng học sinh THCS quận Hoàn Kiếm năm học2010-2011 45Bảng 2.4 Thực trạng về chất lượng học sinh THCS Quận Hoàn Kiếm nămhọc 2010-2011 46Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL và GV về vai trò, bản chất và mức độ cầnthiết của hoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS 51Bảng 2.6.Nhận thức của CBQL và GV về vai trò của GVCN trong tổ chứchoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS 53Bảng 2.7.Nhận thức của CBQL và GV về vai trò của Tổng phụ trách trong tổchức hoạt động giáo dục KNS ở một số trường THCS 54Bảng 2.8 Đánh giá của CBQL và GVCN về hình thức và mức độ tổ chứchoạt động KNS ở một số trường THCS 55Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL về kết quả tổ chức hoạt động giáo dục KNS ởmột số trường THCS 56Bảng 2.10 Đánh giá của GV về mức độ KNS hiện tại của học sinh 57Bảng 2.11 Ý kiến của GV về các hình thức giáo dục KNS cho học sinh 58Bảng 2.12 Ý kiến của giáo viên về mức độ giáo dục KNS cho học sinh hiệnnay 59Bảng 2.13 Hứng thú và mức độ tham gia của HS đối với các hoạt động giáodục KNS 60Bảng 2.14 Đánh giá của HS về hình thức tổ chức các hoạt động giáo dụcKNS 61
Trang 8Bảng 2.15 Quan điểm của phụ huynh về các kỹ năng cần thiết để trò chuyệnvới con cái 62Bảng 2.16 Nhận thức của phụ huynh về bản chất và mức độ cần thiết củagiáo dục KNS cho học sinh 63Bảng 2.17 Đánh giá của CBQL và GV về tính cấp thiết của việc đưa nộidung giáo dụcKNS vào hoạt động GDNGLL, các tiết dạy và ngoại khóa 65Bảng 2.18 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS đã được thựchiện 66Bảng 2.19 Ý kiến của CBQL về những khó khăn lớn nhất khi đưa giáo dụcKNS vào cấp THCS 67Bảng 3.1 Kết quả đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 100Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất 101
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 14
Biểu đồ 1: Kết quả xếp loại đạo đức học sinh THCS quận Hoàn Kiếm 48
từ năm (2008 – 2011) 48
Biểu đồ 2: Kết quả xếp loại học lực học sinh THCS quận Hoàn Kiếm 48
từ năm (2008 – 2011) 48
Biểu đồ 3 : Mức độ giáo dục KNS cho học sinh THCS 59
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2020 của Đảng vàNhà nước ta đã khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng X: “Để đi tắt, đónđầu từ một nước kém phát triển thì vai trò của giáo dục và khoa học – côngnghệ lại càng có tính chất quyết định Giáo dục phải đi trước một bước, nângcao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành côngcác mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội” Như vậy, trong nhữngnăm đầu của thế kỷ XXI, GD- ĐT đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọngtrong chiến lược phát triển của quốc gia GD- ĐT phải giúp cho thế hệ trẻthích ứng được với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và thamgia tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
Điều 2- Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “ Mục tiêu giáo dục là đào tạocon người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hìnhthành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứngyêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” Để góp phần đạt đượcmục tiêu này, giáo dục cần tới sự quan tâm, nỗ lực của các cấp, các ngành,của các lực lượng xã hội Ngành GD- ĐT nói chung, các nhà QLGD nói riêngphải tích cực tìm ra được những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượnggiáo dục Đối với lĩnh vực QLGD cho dù ở tầm vĩ mô hay vi mô đều cần xácđịnh cho mình một mô hình quản lý thích hợp, đó cũng chính là chìa khoá mởđường dẫn đến thành công của quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Để tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, con người phải hìnhthành được các kỹ năng sống KNS không phải tự nhiên mà có KNS là kếtquả của một quá trình học tập và rèn luyện của bản thân con người Khi cóđược KNS tốt, người học sinh sẽ tự tin hơn trong cuộc sống, tự định hướng đi
Trang 11cho mình trong tương lai, tự khẳng định vị trí của mình trong mọi lĩnh vực,biết tự đánh giá mình và không mặc cảm với bản thân Chính vì vậy, trong kếhoạch hành động Dakar về giáo dục cho con người đã đề ra mục tiêu mỗiquốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dụcKNS phù hợp và coi KNS của người học là một khía cạnh của chất lượnggiáo dục, là một tiêu chí để đánh giá chất lượng giáo dục Giáo dục KNS làmột trong những vấn đề mà thế giới hiện nay đang hết sức quan tâm và đượcnhấn mạnh trong nhiều kiến nghị mang tính quốc tế như trong diễn đàn giáodục cho mọi người ( thể hiện trong chương trình hành động Dakar), trong việcthực hiện Công ước Quyền trẻ em, trong hội nghị quốc tế về dân số và pháttriển giáo dục cho mọi người Gần đây nhất là trong tuyên bố về cam kết củaTiểu ban đặc biệt của Liên hiệp quốc về HIV/ AIDS (tháng 6 năm 2001), cácnước đã đồng ý rằng : “ đến năm 2005 đảm bảo ít nhất có 90% và năm 2010 ítnhất có 95% thanh niên và phụ nữ từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông tin, giáodục và dịch vụ cần thiết để phát triển KNS giảm bớt những tổn thương do sựlây nhiễm HIV Tháng 5/ 2000, tại Diễn đàn Giáo dục thế giới Dakar, môhình trường học thân thiện với người học được nêu trong khuôn khổ Hànhđộng Dakar, được đánh giá là một giải pháp nâng cao chất lượng và đảm bảocông bằng giáo dục Trong mô hình “ Trường học thân thiện- học sinh tíchcực” tiêu chí giáo dục KNS vừa là một biểu hiện của chất lượng giáo dục vừagiúp học sinh sống an toàn hơn.
Ngày nay với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, giáo dục Việt Nam cũngnhư giáo dục ở các nước trên thế giới đều hướng tới 4 trụ cột mà UNESSCO
đã đưa ra đó là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làmngười” Với mục tiêu hướng tới đào tạo Công dân toàn cầu đặt ra cho giáodục Việt Nam nhiệm vụ không chỉ cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng cácmôn học mà còn phải hình thành, rèn luyện KNS và năng lực cho người học
Trang 12theo hướng hoà nhập, thân thiện Ngày 15 tháng 5 năm 2008, tại trườngTHCS Vạn Phúc- Hà Đông, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo NguyễnThiện Nhân nay là Phó Thủ tướng Chính phủ- đã phát động phong trào thiđua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổthông giai đoạn 2008-2013
Hiện nay, trên thế giới có ít nhất là 70 quốc gia đã và đang đưa KNSvào chương trình học chính khoá dưới hình thức một môn học riêng, hoặc tíchhợp vào tất cả các môn học hoặc tích hợp vào một số môn nhất định Tại ViệtNam việc đưa giáo dục KNS vào trường học là một trong những tiêu chí củaphong trào “ trường học thân thiện, học sinh tích cực” Tuy nhiên, việc đưagiáo dục KNS vào các trường THCS hiện nay còn chưa thực sự được quantâm, thể hiện ở sự đầu tư chưa thích đáng cho việc xây dựng kế hoạch, đầu tưnguồn nhân lực, kinh phí, hình thức tổ chức còn đơn điệu, chưa mang tínhthiết thực Đặc biệt là chưa có những biện pháp quản lý tích cực để đưa nộidung KNS vào trong các môn học của nhà trường
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp
quản lý giáo dục KNS cho học sinh ở một số trường THCS Quận Hoàn Kiếm- Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay ”.
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục KNS ở một số trường THCSQuận Hoàn Kiếm- TP Hà Nội
3 Giả thiết khoa học:
Các biện pháp quản lý hoạt động KNS ở các trường THCS Quận HoànKiếm – Thành phố Hà nội đã đạt được những kết quả nhất định, song cònnhững hạn chế do các nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau Nhưngtrước yêu cầu phát triển giáo dục THCS hiện nay thì việc quản lý cần cónhững định hướng phù hợp hơn Nếu đề xuất, xây dựng được các biện pháp
Trang 13quản lý phù hợp sẽ góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục KNS, đápứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và những đòi hỏi của xã hội tronggiai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định cơ sở lý luận về quản lý giáo dục KNS ở trường THCS
- Đánh giá thực trạng quản lý giáo dục KNS ở một số trường THCSquận Hoàn Kiếm- TP Hà Nội
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp quản lý giáo dục KNS ở một
số trường THCS thuộc quận Hoàn Kiếm- TP Hà Nội
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
5.1.Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý giáo dục KNS ở một
số trường THCS Quận Hoàn Kiếm- TP Hà Nội
5.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trinh quản lý hoạt động giáo dục KNS
ở một số trường THCS ở Quận Hoàn Kiếm- TP Hà nội
6 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu việc quản lý giáo dục KNS tại TrườngTHCS Hoàn Kiếm, Trường THCS Lê Lợi, Trường THCS Ngô Sĩ Liên quậnHoàn Kiếm - TP Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Thông qua việc đọc cáctài liệu về quản lý KNS của hiệu trưởng trường THCS, phân tích và tổng hợpcác lý thuyết nhằm hiểu biết sâu sắc về bản chất của vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết: Sử dụng phương phápnày để sắp xếp các thông tin thành những đơn vị có cùng dấu hiệu bản chất,
từ đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Trang 147.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát : Quan sát hoạt động quản lý của hiệu trưởng,việc triển khai KNS của GV và sự tham gia của HS, các hoạt động của HS ởtrong và ngoài nhà trường
- Phương pháp điều tra : Tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi với các loạicâu hỏi đóng, mở dành cho các đối tượng khác nhau (hiệu trưởng, hiệu phó,GVCN, GV bộ môn, Tổng phụ trách, CMHS)
- Phương pháp phỏng vấn : Trò chuyên, toạ đàm trao đổi với cácCBQL, GV và HS
- Phương pháp chuyên gia : Xin ý kiến chuyên gia về các vấn đề mà đềtài đề cập
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm :
7.3 Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thu được sẽ xử lý bằng thống
kê toán học và các phần mềm chuyên dùng
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trang 15Trong xu thế hội nhập, nhiệm vụ giáo dục của các nước là đào tạo thế
hệ trẻ năng động, sáng tạo có năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, nănglực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội…Nói cáchkhác là tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thíchứng cao với những biến động của cuộc sống
Ở Việt Nam, năm 2001-2005, Giáo dục KNS dưới sự hỗ trợ củaUNICEF nhằm hướng tới cuộc sống khoẻ mạnh cho trẻ em và trẻ em chưathành niên trong và ngoài nhà trường ở một số dự án như : Dự án “ trườnghọc nâng cao sức khoẻ” của BGD& ĐT, Bộ Y tế, Tổ chức Y tế thế giới, Dự
án “ Giáo dục KNS cho học sinh THCS” của Bộ GD & ĐT Ngành Giáo dục
đã triển khai chương trình đưa giáo dục KNS vào hệ thống giáo dục chính quy
và không chính quy Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được địnhhướng bởi mục tiêu giáo dục KNS Các nội dung giáo dục KNS cơ bản đãđược triển khai ở các cấp THCS là: Năng lực thích nghi, năng lực hành động,năng lực ứng xử, năng lực tự học suốt đời; định hướng học để biết, học đểlàm, học để chung sống và học để tự khẳng định
Đã có một số công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề KNS
nói chung và KNS trong nhà trường nói riêng như: KNS cho tuổi vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh; Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên của tác giả Phạm Văn Nhân; Giáo dục KNS của giáo sư
Nguyễn Kỳ Anh – Giám đốc Trung tâm giáo dục môi trường và sức khoẻ
cộng đồng Một số vấn đề chung về kĩ năng sống và giáo dục KNS cho học sinh ở nhà trường phổ thông của BGD & ĐT tháng 3/ 2010 Trong cuốn Chuyên đề giáo dục KNS – tác giả Nguyễn Thanh Bình (2006) đã đề cập đến
vấn đề xã hội hóa giáo dục Mầm non, Tiểu học và THCS, THPT trên địa bàn
xã phường Đặc biệt vấn đề quản lý nhà nước được đề cập đến và trong bốicảnh xã hội hóa giáo dục cũng đặt ra những vấn đề liên quan đến giáo dụcpháp luật, giáo dục KNS Đẩy mạnh và tăng cường giáo dục KNS đồng thời
Trang 16phải tổ chức giáo dục KNS cho các em theo tinh thần xã hội hóa Có thể nhậnthấy ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề giáo dục KNS, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một số lĩnhvực nội dung và phương thức giáo dục KNS, các đề tài đã phân tích làm rõthực trạng tính cấp bách của vấn đề giáo dục KNS, một số đề tài đã đề cậpđến hình thức giáo dục KNS cụ thể trong nhà truờng phổ thông, đề xuất cácbiện pháp giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên Nhìn chung, các đề tàinghiên cứu về giáo dục KNS cho học sinh THCS chưa nhiều Hơn nữa, việcđưa giáo dục KNS vào các trường THCS hiện nay còn chưa thực sự đượcquan tâm, thể hiện ở sự đầu tư chưa thích đáng cho việc xây dựng kế hoạch,đầu tư nguồn nhân lực, kinh phí, hình thức tổ chức còn đơn điệu, chưa mangtính thiết thực Đặc biệt là chưa có những biện pháp quản lý tích cực để đưaKNS vào trong các môn học của nhà trường Vì vậy, thông qua đề tài nghiêncứu này, tác giả muốn nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh THCStrên địa bàn Quận Hoàn Kiếm- TP Hà Nội
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý:
Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch
sử phát triển của loài người Quản lý là một dạng lao động đặc biệt phát sinh
từ tính chất xã hội hoá lao động, điều khiển các hoạt động lao động, nó cótính khoa học và nghệ thuật cao nhưng đồng thời nó cũng là sản phẩm mangtính lịch sử, tính đặc thù của xã hội
Sự cần thiết của quản lý được Mác viết: “ Tất cả mọi lao động xã hộitrực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ítnhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân vàthực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thểkhác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu
Trang 17vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”(Mác- F Anghen toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1993)
Có thể xem xét quản lý dưới các góc độ khác nhau: Ở góc độ chungnhất thì quản lý vạch ra mục tiêu cho bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiệntác động đến bộ máy để đạt mục tiêu đã định Ở góc độ kinh tế, quản lý là tínhtoán sử dụng hợp lý nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đề ra Ở góc độ chính trị xãhội, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động Ở góc độ hành động thìquản lý là quá trình điều khiển
Sự đa dạng về cách tiếp cận dẫn đến sự phong phú về các quan niệmquản lý
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là sự tác động có mụcđích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động(khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [36,17]
- Trong giáo trình khoa học quản lý( tập 1, NXB khoa học kỹ thuật, HàNội 1999) đã ghi rõ: “ Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảmbảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác; quản lý làcông tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự kháccùng chung một tổ chức ; quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phốihợp những nỗ lực cá nhân đạt được các mục đích của nhóm; quản lý là sự cótrách nhiệm về một cái gì đó……”
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thểquản lý( người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý( đối tượngquản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, văn hoá, kinh tế….bằng một hệthống các luật lệ, các chính sách, các phương pháp và các biện pháp cụ thểnhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Quản lý
là việc đảm bảo sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có biến đổi liên tụccủa hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái mới thích ứngvới hoàn cảnh mới
Trang 18Phân tích các định nghĩa trên ta thấy những dấu hiệu chung của quản
lý, đó là: Tính mục đích, sự tương tác giữa chủ thể và đối tượng; liên quan tớimôi trường xác định Điều đó khẳng định, bất cứ một tổ chức có mục đích gì,qui mô và cơ cấu ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổchức hoạt động và đạt được mục đích của mình
Khoa học quản lí ngày càng phát triển dẫn đến các định nghĩa về quản
lí ngày càng phong phú và đa dạng Những định nghĩa này tuy có khác nhau
về diễn đạt, về góc độ tiếp cận , nhưng đều thống nhất ở bản chất của hoạtđộng quản lí
Từ đó có thể khái quát: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có địnhhuớng của chủ thể ( người quản lí , tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượngquản lí) về mặt chính trị, văn hoá, KT – XH bằng một hệ thống các luật, cácchính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằmtạo các môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
1.2.1.2 Các chức năng quản lí
Chức năng quản lí là một thể thống nhất hoạt động tất yếu của chủ thểquản lí nảy sinh từ phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lí nhằmthực hiện mục tiêu Quản lí bao gồm các chức năng sau:
Kế hoạch hoá: Theo Pêter Drucker , một trong những chuyên gia quản
lí hàng đầu đuơng đại đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khảnăng làm những việc “đúng”) và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúngviệc) Ông cho rằng tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn bởi vẫn có thể đạtđược hiệu quả khi chọn sai mục tiêu Hai tiêu chuẩn này song hành cùng vớihai khía cạnh của kế hoạch xác định những mục tiêu “đúng” để đạt được cácmục tiêu này cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa sống còn đối với quá trìnhquản lí
Nhiều thuyết gia quản lí cho rằng, kế hoạch hoá là cái khởi nguyên củamọi hoạt động, mọi chức năng quản lí nếu không có kế hoạch thì không biết
Trang 19tổ chức nhân sự và các nguồn nhân lực khác thế nào Không có kế hoạch hoángười quản lí không thể chỉ dẫn, lãnh đạo người thuộc quyền hành động mộtcách chắc chắn với những kì vọng đặt vào kết quả mong muốn Như vậy ,bản chất của khái niệm kế hoạch hoá chính là quá trình xác định mục tiêu,xác định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó cùng với nhữngđiều kiện cơ sở vật chất cung ứng cho việc thực hiện những mục tiêu đề ra.Trong tất cả chức năng quản lí, chức năng kế hoạch hoá đóng vai trò là chứcnăng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác Đây đượccoi là chức năng dẫn đường cho các chức năng tổ chức chỉ đạo và kiểm tra.Trong quản lí giáo dục, quản lí nhà trường , xác định chức năng kế hoạch hoá
có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại, vận hành và phát triển của nhà trường.Bởi trên cơ sở phân tích những thông tin quản lí, những tiềm năng hiện có,những khả năng sẽ có mà xác định nội dung hoạt động, các phương pháp tiếnhành, những điều kiện đảm bảo để đưa nhà trường đạt tới mục tiêu mà nhàtrường mong muốn đạt được
Chính vì kế hoạch hoá là phương hướng mọi hoạt động của hệ thốngvào các mục tiêu để tạo khả năng đạt được một cách hiệu quả và cho phépngười quản lí có thể kiểm soát được quá trình tiến hành nhiệm vụ như vậy,cho nên bản thân chức năng kế hoạch hoá bao gồm các chức năng sau:
Chức năng chuẩn đoán: Bao gồm việc xác định trạng thái xuất phát và
những phân tích sư phạm về trạng thái đó
Đối với quản lí trường học, trạng thái đó chính là đội ngũ giáo viên,học sinh, cơ sở vật chất….Kết quả hoạt động sư phạm của nhà trường đã đạtđược từ năm học trước, những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại….Dựa trên cơ sở phân tích cụ thể rút ra những kết luận của trạng thái xuất phátcủa nhà trường khi bước vào năm học mới
Trang 20Chức năng dự báo: Bao gồm việc xác định nhu cầu và các mục tiêu mà
nhà trường cần đạt tới trên cơ sở phân tích sư phạm và căn cứ vào hướng dẫncủa cấp trên về chỉ thị và nhiệm vụ của năm học mới để suy ra những địnhhướng cơ bản trong năm học tiếp theo của nhà trường, lựa chọn những ưutiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt và các chỉ tiêu đánh giá
Chức năng dự đoán: Là phán đoán trước toàn bộ quá trình và các hiện
tượng mà trong tương lai có thể xảy ra, có liên quan đến hệ thống quản lí Baogồm việc phác thảo các phương án lựa chọn có tính toán đến tiềm năng củanguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan Trong chu trình quản lí dựđoán là bước rất quan trọng nhằm xác định được tiền đề , các điều kiện choviệc xây dựng chiến lược, lập kế hoạch, xây dựng hệ thống tổ chức quản lí vàđiều chỉnh trong quá trình điều hành hoạt động hệ thống
Chức năng tổ chức: đề cập đến chức năng này, Barmard cho rằng:
“Chức năng quản lí như là hệ thống các hoạt động hay tác động có ý thức củahai hay nhiều người” Trong cuốn Cơ sở khoa học quản lí đã xác định: “Tổchức các hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống quản lí
và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo”
V.I Lê Nin khẳng định: “Chúng ta hiểu rằng muốn quản lí tốt… cònphải biết tổ chức các mặt thực tiễn nữa”
Giáo trình khoa học quản lí của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh viết:
Thứ nhất, tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản líthực hiện có hiệu quả
Thứ hai, từ khối lượng công việc quản lí mà xác định biên chế, sắp xếpcon người
Thứ ba, tạo điều kiện cho hoạt động tự giác sáng tạo của các thành viêntrong tổ chức, tạo nên sự phối hợp ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản lí
và đối tượng quản lí
Trang 21Thứ tư, dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh giá.
Như vậy , thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ , liên hệ giữacon người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạtđộng nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn chonhững tiềm năng, cho các động lực khác, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêuđộng lực và giảm sút hiệu quả quản lí Trong quản lí giáo dục, quản lí nhàtrường, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định cho được
và xác định cho rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi thành viên, mỗi bộphận, đảm bảo mối quan hệ liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộphận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ - yếu tố đảm bảo thành công trongquản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường
Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản
lí đến hành vi , thái độ con người ( khách thể quản lí) nhằm đạt được mục tiêu
đề ra Quá trình đó thể hiện ở sự tác động qua lại giữa các chủ thể quản lí mọithành viên trong tổ chức nhằm góp phần hiện thực hoá các mục tiêu đề ra,bảnchất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơidậy động lực, tiềm nằng của nhân tố con người trong hệ thống quản lí, thựchiện mối quan hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết nhữngmối quan hệ đó để họ tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc
Trong quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, chức năng chỉ đạo có ýnghĩa quan trọng, song nó còn đòi hỏi ở năng lực phẩm chất và nghệ thuật củachủ thể quản lí, chỉ đạo khách thể là những con người có trình độ năng lực và
cá tính phong phú
Chức năng kiểm tra: Là chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lí để
đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống quản lí, đo lường các sai lệchnảy sinh trong quá trình hoạt động so với mục tiêu và kế hoạch định trước.Như vậy, khi xác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất đểhoàn thành mục tiêu và triển khai các hoạt động tổ chức, chỉ đạo hiện thực
Trang 22hoá các mục tiêu Điều quan trọng phải tiến hành hoạt động kiểm tra để xemxét việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnhcần thiết trong quá trình hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu mà ngườiquản lí cần hướng tới.
Trong quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, Điều 22 chương VI củaQuy chế về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục ghi rõ: “Hiệu trưởngcác trường, thủ trưởng các cơ sở giáo dục đào tạo trong ngành giáo dục cótrách nhiệm sử dụng bộ máy quản lí và các cán bộ trong đơn vị để kiểm traviệc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ kế hoạch của cá nhân và của
bộ phận thuộc quyền, xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về các vấn đềthuộc trách nhiệm quản lí của mình Các hoạt động kiểm tra được tiến hànhthường xuyên, công khai dân chủ, kết quả được ghi nhận bằng văn bản và lưutrữ Hiệu trưởng hay thủ trưởng phải chịu trách nhiệm về các kết luận kiểmtra này”
Như vậy, kiểm tra các vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác kếhoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đổi mới cơ chế quản lí, phươngpháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lí nói chung và quản
lí giáo dụcđào tạo, quản lí nhà trường nói riêng Tóm lại, kế hoạch hoá, tổchức, chỉ đạo, kiểm tra là các chức năng cơ bản được hình thành trong sựphân công và chuyên môn hoá hoạt động quản lí Các chức năng này có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau được thể hiện ở sơ đồ sau đây:
Trang 23Trong nhà trường thường sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp tổ chức hành chính: là phương pháp tác động trực tiếpcủa chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính
dứt khoát, bắt buộc như nghị định, nghị quyết, văn bản quy chế, qui định, nội
qui Phương pháp tổ chức là vô cùng cần thiết trong mọi hoạt động quản lý
Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này cần chú ý nếu lạm dụng nó thì sẽ dẫn
đến tình trạng quan liêu, mệnh lệnh
- Các phương pháp kinh tế: đây là phương pháp mà chủ thể quản lý tácđộng gián tiếp đến đối tượng được quản lý dựa trên các lợi ích vật chất và các
đòn bẩy kinh tế để làm cho đối tượng được quản lý suy nghĩ đến lợi ích của
mình, tự giác thể hiện bổn phận và trách nhiệm một cách tốt nhất mà không
phải đôn đốc nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể quản
lý Những phương pháp kinh tế mà nhà trường thường áp dụng như: cộng
điểm rèn luyện, thưởng, phạt, tuyên dương…
Trang 24- Các phương pháp tâm lí – xã hội: đặc điểm của phương pháp này là
sự kích thích đối tượng quản lý sao cho họ luôn luôn toàn tâm toàn việc, coinhững mục tiêu nhiệm vụ của quản lý như là mục tiêu công việc của chính họ,hơn nữa họ luôn cố gắng học hỏi tích lũy kinh nghiệm ngày càng tốt hơn,đoàn kết giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ
1.2.2 Quản lý giáo dục:
1.2.1.1 Khái niệm:
Xét về mặt lịch sử của khoa học thì khoa học quản lí giáo dục ra đờisau khoa học quản lí kinh tế Cho nên trong các nước tư bản chủ nghĩa thườngvận dụng lí luận quản lí xí nghiệp vào quản lí cơ sở giáo dục (trường học) và
cơ sở QLGD như quản lí một loại xí nghiệp đặc biệt
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “ Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mảngcông tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”
Quản lí giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lí xã hội, nó
đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Với nhiều cách tiếp cậnkhác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm quản lí giáo dục
Theo M.I Konđacôp, “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kếhoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lí các cấp khác nhau đến tất
cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cáchcho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xãhội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục cho sự phát triển thể lực
và tâm lý trẻ em”
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra một khái niệm vừa kháiquát nhưng vẫn cụ thể, hợp lí và dễ hiểu: “Quản lí giáo dục là quản lí trườnghọc, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm củamình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục
Trang 25tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và vớitừng học sinh”.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lí giáo dục là hệ thốngnhững tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản línhằm làm cho hệ vận hành đường lối, nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiệncác tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ làquá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,tiến lên trạng thái mới về chất”
Tác giả Đặng Quốc Bảo khẳng định: “Quản lí giáo dục là hoạt độngđiều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”
Trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến quản lí giáo dục theo nghĩahẹp trong phạm vi quản lí một trường học
Bản chất của quản lí giáo dục là quá trình tác động có ý nghĩa của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
- Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng: Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng
duy nhất cầm quyền Vì thế trong quản lí phải bám sát đường lối, chủ trươngchính sách của Đảng trong hoạt động của bộ máy
- Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lí một cách khoa học,
có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo củaquảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lí Tập trung trong
Trang 26quản lí được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống được tập trung vào
cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối chủ trương,phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản để thựchiện Nguyên tắc này được thể hiện qua chế độ một thủ trưởng
Dân chủ trong quản lí được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọithành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ Dân chủ được thể hiện ởchỗ: Các chỉ tiêu, kế hoạch hành động đều được tập thể tham gia bàn bạc,kiến nghị các biện pháp trước khi quyết định
- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và thực tiễn:
Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lí phải nắm được quy luật và pháttriển của bộ máy, nắm vững quy luật tâm lý của quá trình quản lí, hiểu rõ thực
tế địa phương, thực tiễn ngành mình, đảm bảo hài hoà lợi ích tập thể và lợiích các nhân, đảm bảo hiệu quả kinh tế, đảm bảo vai trò quần chúng tham giaquản lí, thực hiện tinh thần: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
1.2.3 KNS và giáo dục KNS:
1.2.3.1 Kĩ năng:
Cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng
Một số tác giả chuyên ngành tâm lý dạy học coi việc nắm được cáchthức hành động là có kỹ năng (KN)
A.V Petropxki coi KN là năng lực sử dụng các tri thức, các dữ liệu,khái niệm đã có để phát hiện các thuộc tính bản chất của sự vật và giải quyếtthành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định
Một số tác giả khác như A.Danhilov, M.N Xkaltkin, B.P Exipov,Nguyễn Văn Hoan quan niệm KN là khả năng con người thực hiện có hiệuquả hành động tương ứng với các mục đích, điều kiện trong đó hành động xảy
ra KN mang tính khái quát được sử dụng trong các tình huống khác nhau, chỉkhi đã nắm vững kiến thức mới hình thành được KN
Vậy kĩ năng là gì?
Trang 27Theo lý thuyết về cấu trúc hoạt động, trong hoạt động có thể có nhiềuhành động Mỗi hành động đều có mục đích Trong mỗi hành động có nhiềuthao tác ( thao tác trên đối tượng và thao tác tư duy).
Với các hành động có mục đích khác nhau, cần lựa chọn các thao tác,qui trình thực hiện khác nhau Nghĩa là muốn hành động có kết quả phải biếtlựa chọn các thao tác hướng đích, sắp xếp được chúng theo một trình tự nhấtđịnh sao cho khi thực hiện theo trình tự đó, hành động sẽ đạt kết quả
Để đạt tới cùng một mục đích của hành động, người ta có thể lựa chọncác thao tác khác nhau và qui trình hành động khác nhau Đó là tính linh hoạt,sáng tạo trong hành động
Các thao tác lựa chọn có thể giống nhau nhưng khi lựa chọn qui trìnhthực hiện khác nhau sẽ dẫn đến những kết quả hành động khác nhau
Như vậy, nếu thực hiện thành thạo được một số thao tác nhất định có thể sắpxếp, hình thành các KN khác nhau theo mục đích hành động
Tóm lại, kĩ năng được hiểu là cách thức lựa chọn các thao tác hướng định, sắp xếp theo một trình tự nhất định, sao cho khi thực hiện theo đúng trình tự đó sẽ đạt được kết quả tương ứng với mục đích và điều kiện hành động đặt ra.
1.2.3.2 Kĩ năng sống:
Lần đầu tiên thuật ngữ kĩ năng sống (Life skills) được đề cập vàonhững năm 1960 bởi những nhà tâm lí học thực hành, coi đó như khả năngquan trọng trong việc phát triển nhân cách Hơn hai thập kỉ nay đã tồn tạithuật ngữ : “Giáo dục dựa trên kĩ năng sống” (LSBE) GD dựa trên kĩ năngsống có một lịch sử lâu dài, ban đầu chỉ nhằm hỗ trợ sự phát triển và tăngcường sức khoẻ của trẻ
Vào năm 1986, bản Hiến chương Ottawa vì tăng cường sức khoẻ nhận
ra kĩ năng sống trong ý nghĩa làm cho sức khoẻ được tốt hơn Năm 1989,Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) liên kết kĩ năng sống với giáo dục
Trang 28thông qua tuyên bố rằng: giáo dục cần trực tiếp hướng tới sự phát triển hếttiềm năng của trẻ Năm 1990, tuyên bố Jomtien về giáo dục cho mọi ngườinhìn nhận quan điểm này rộng hơn và đưa kĩ năng sống vào trong số các công
cụ học tập trọng yếu để tồn tại, để xây dựng năng lực và chất lượng cuộcsống Năm 2000, hội nghị thế giới về giáo dục ở Dakar đề nghị tất cả trẻ em
và người lớn đều có quyền hưởng lợi từ “một nền giáo dục trong đó bao gồmviệc học tập để biết, để làm, để sống cùng nhau và để tồn tại” và đưa các kĩnăng sống vào “mục tiêu giáo dục cho mọi người” (EFA Goals)
Hiện nay có khá nhiều quan niệm về kĩ năng sống, tuỳ từng góc nhìnkhác nhau về kĩ năng sống
Theo từ điển Wikipedia, kĩ năng sống là tập hợp các kĩ năng của conngười có được qua việc học hoặc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống, dùng
để giải quyết những vấn đề mà con người thường phải đối mặt trong cuộcsống hàng ngày
Theo thuyết hành vi “kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội liênquan đến những tri thức, những giá trị và thái độ là những hành vi làm chocác cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và tháchthức của cuộc sống”
Theo WHO, “kĩ năng sống là các kĩ năng mang tính tâm lí xã hội, làkhả năng để thích ứng và hành vi tích cực cho phép các cá thể giải quyết cóhiệu quả NHU CẦU và THÁCH THỨC trong cuộc sống hàng ngày”
Theo UNICEF, “ kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội có liênquan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng nhữnghành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả cácyêu cầu và thách thức của cuộc sống”
Theo UNESCO, “kĩ năng sống là kĩ năng tự quản bản thân và kĩnăng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làmviệc hiệu quả”
Trang 29Kĩ năng sống với bốn trụ cột của giáo dục: học để biết, học để làm, học
để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình
Tóm lại :KNS là năng lực cá nhân mà con người có được thông qua giáo dục hoặc kinh nghiệm trực tiếp, nó giúp cho con người có cách ứng xử tích cực và có hiệu quả đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống khỏe mạnh, an toàn hơn
Trong luận văn này, kĩ năng sống được hiểu là các kĩ năng mang tínhtâm lí xã hội, là khả năng để thích ứng và hành vi tích cực cho phép các cá thểgiải quyết có hiệu quả NHU CẦU và THÁCH THỨC trong cuộc sống hàngngày (WHO 2003)
1.2.3.3 Giáo dục kĩ năng sống
Trong thực tiễn, GD KNS được xem xét duới hai khía cạnh khác nhau:
- GD KNS đuợc xem là một lĩnh vực học tập như: GD sức khoẻ, phòngchống HIV/AIDS Ở lĩnh vực này đã tồn tại cách tiếp cận KNS từ khá lâu
- GD KNS đuợc xem là một cách tiếp cận giúp GV tiến hành GD cóchất lượng xuyên suốt các lĩnh vực học tập
UNICEF, UNESCO cũng quan niệm rằng GD KNS không phải lĩnhvực hay môn học nhưng đuợc áp dụng lồng vào những kiến thức, giá trị và kĩnăng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời
Ở một số quốc gia, GD KNS được lồng ghép vào các môn học, các chủ
đề Chẳng hạn:
- Chủ đề: Phòng tránh ma tuý, phòng tránh và ứng phó với tình huốngcăng thăng, phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em, bệnh lây qua đường tìnhdục, phòng chống thuốc lá, rượu bia vv…
Tóm lại: Giáo dục kĩ năng sống là quá trình hình thành, rèn luyện hoặc
thay đổi các hành vi của học sinh theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêuphát triển toàn diện nhân cách người học, dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri
Trang 30thức,giá trị,thái độ kỹ năng phù hợp đáp ứng được những yêu cầu của cuộcsống hiện đại
1.3 Tổ chức giáo dục KNS ở trường THCS
1.3.1 Sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh THCS
Tuổi học sinh THCS (từ lớp 6 đến lớp 9) là các em tuổi từ 11 đến 15.Đây là lứa tuổi có một vị trí quan trọng đặc biệt trong thời kỳ phát triển củacon người Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tínhngười lớn” Các em có cảm giác về sự trưởng thành vừa rất chú ý đến bảnthân Điểu quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với các em học sinh THCS là cha
mẹ không còn coi các em bé nhỏ nữa, mà đã quan tâm đến ý kiến của các emhơn, dành cho các em những quyền sống độc lập hơn, đề ra những yêu cầucao hơn, các em được tham gia bàn bạc một số công việc của gia đình và đãbiết quan tâm đến việc xây dựng bảo vệ uy tín của gia đình Những thay đổi
đó đã làm cho các em ý thức được vị thế của mình trong gia đình và độngviên kích thích các em hoạt động tích cực, độc lập tự chủ Ở trường THCShọc sinh được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau có nội dung trừu tượng,sâu sắc và phong phú về tri thức của từng môn học làm cho khối lượng trithức các em lĩnh hội được tăng lên nhiều, tầm hiểu biết của các em được mởrộng Các em được học với nhiều thầy, nhiều bạn và chịu ảnh hưởng củanhiều nhân cách, phong cách xử thế khác nhau Các em còn được tham giavào nhiều dạng hoạt động như: Lao động, hoạt động ngoại khóa, văn nghệ,thể dục, thể thao…Hoạt động học tập và các hoạt động khác của học sinhTHCS đòi hỏi và thúc đẩy các em có thái độ tích cực và độc lập hơn, tạo điềukiện cho các em thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của mình Ở lứa tuổi này các emđược thừa nhận như một thành viên tích cực trong xã hội và được giao một
số công việc nhất định trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: Tuyên truyền, cổđộng, giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ,…Các em đãnhận thức được rằng công tác xã hội là một việc làm của người lớn và có ý
Trang 31nghĩa lớn lao, do đó được làm công việc xã hội là thể hiện mình đã là ngườilớn và các em muốn được thừa nhận mình là người lớn Tham gia công tác xãhội làm cho quan hệ học sinh THCS được mở rộng, kinh nghiệm cuộc sốngphong phú hơn.
Sự phát triển tự ý thức của học sinh THCS đã giúp các em bắt đầu cónhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm của mình, xuất hiện ý thứctrách nhiệm, lòng tự trọng… Các em đã có khả năng đánh giá về mặt mạnh,mặt yếu của bản thân mình và những người xung quanh, có những biện phápkiểm tra đánh giá sự tự ý thức của bản thân, bước đầu nhận thức được vị trícủa mình trong xã hội hiện đại Điều này sẽ giúp các em làm quen dần vớiviệc tham gia hoạt động giáo dục KNS với vai trò là chủ thể Mặt khác, ở lứatuổi này các em rất hiếu động, nhu cầu giao tiếp lớn, quan hệ giao tiếp đã bắtđầu mở rộng, các em đã được tiếp thu các chuẩn mực trong xã hội, tiếp thucác tri thức về khoa học tự nhiên, xã hội Các em bắt đầu muốn làm ngườilớn, nhưng chưa có kinh nghiệm, các em thường quá tự tin, muốn khẳng địnhmình nên ở lứa tuổi này thường xuất hiện các hành vi: Hay cãi lại, bắt đầu tựtìm hiểu, không nghe lời khuyên của bố mẹ, thầy cô có thể có những phảnứng như: phá phách, bướng bỉnh có khi rất mạnh mẽ và tiêu cực Do đó, rấtcần có một môi trường tốt, hoạt động phù hợp với sở thích, với năng lực củacác em để giúp các em tự khẳng định mình đồng thời tránh được những tácđộng xấu của môi trường
Giáo dục KNS cho học sinh là nhiệm vụ rất cần thiết bởi KNS giúp các
em phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách và phương thức giáo dục KNS,rất phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh THCS Với học sinh THCS – đây làlứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ ham hiểu biết,thích tìm tòi, khám phá song chưa có những hiểu biết sâu sắc về xã hội, cònthiếu kinh nghiệm sống Giáo dục KNS thúc đẩy những hành vi mang tính xãhội tích cực ở các em Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và kinh tế thị
Trang 32trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của nhữngyếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn nhữnggiá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêucực Do đó việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ sẽ giúp các em rèn luyện hành vi
có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng, có khả năng ứng phótích cực trước sức ép của cuộc sống và sự lôi kéo, tác động của những yếu tốxấu, giúp các em sống an toàn và lành mạnh
Sự cần thiết giáo dục KNS cho Học sinh THCS được xem xét theo cácphương diện: Theo yêu cầu xã hội, theo quan điểm giáo dục, theo góc độ vănhóa, chính trị và theo yêu cầu phát triển bền vững
* Xét theo yêu cầu xã hội.
Do đặc điểm của xã hội hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoahọc công nghệ và tin học, sự hình thành và phát triển KNS đã trở thành mộtyêu cầu quan trọng của nhân cách con người hiện đại Hội nghị giáo dục thếgiới họp tại Senegan (tháng 4 năm 2000) đã thông qua kế hoạch hành độngGiáo dục cho mọi người (Kế hoạch hành động Dakar) gồm 6 mục tiêu lớn
Trong đó ba mục tiêu đã chỉ rõ: Đảm bao nhu cầu học tập của tất cả các thế
hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình KNS thích hợp Mục tiêu này đã yêu
cầu các quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận những chươngtrình KNS phù hợp Ngoài ra mục tiêu 6 của chương trình cũng khẳng định:
nâng cao toàn bộ các mặt của chất lượng giáo dục và đảm bảo có thể nhận
rõ và đo được những kết quả đó về các kỹ năng cơ bản của KNS Như vậy
chất lượng của giáo dục được đánh giá bằng thước đo của việc hình thành vàphát triển các KNS cơ bản cho người học
* Xét từ góc độ giáo dục
KNS của người học là một biểu hiện của chất lượng giáo dục Trongmục tiêu 6 của Kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người, KNS
Trang 33được coi là một khía cạnh của chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáodục cần tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học Điều đó cónghĩa là tiến hành giáo dục KNS để nâng cao chất lượng giáo dục Giáo dụcKNS là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt đáp ứng nhu cầucủa người học là có năng lực để đáp ứng những thách thức của cuộc sống vànâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân Mặt khác, thực hiện giáo dụcKNS thông qua những phương pháp hướng đến người học và phương phápdạy học tương tác, cùng tham gia, để đề cao vai trò tham gia chủ động, tự giáccủa người học Các phương pháp đó sẽ có những tác động tích cực tới nhữngmối quan hệ giữa người dạy và người học, người học và người học Đồng thờingười học cảm thấy họ được tham gia vào các vấn đề có liên quan đến cuộcsống của bản thân, họ sẽ thích thú và tích cực học tập hơn Như vậy giáo dụcKNS cho người học đồng thời thể hiện tính khoa học và tính nhân văn củagiáo dục.
* Xét từ góc độ văn hóa, chính trị
Giáo dục KNS góp phần giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyềncon người, quyền công dân được ghi trong pháp luật Việt Nam và Quốc tế.Giáo dục KNS giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượngtrong xã hội hiện đại với văn hóa đa dạng và với nền kinh tế phát triển, thếgiới được coi là một mái nhà chung, mỗi con người với tư cách là “Công dântoàn cầu”
* Xét theo yêu cầu của sự phát triển bền vững
Giáo dục KNS dựa trên cách tiếp cận năng lực Mục tiêu của giáo dụcKNS không chỉ dừng lại ở việc làm thay đổi nhận thức bắng cách cung cấpthông tin, tri thức mà tập trung vào mục tiêu xây dựng hoặc làm thay đổi hành
vi theo hướng tích cực, mang tính xây dựng đối với các vấn đề đặt ra trongcuộc sống Giáo dục KNS giúp người học hiểu được những tác động mà hành
vi và thái độ của mình có thể gây ra, có thái độ và hành vi tích cực đối với
Trang 34môi trường, đối với các vấn đề của cuộc sống Người có KNS biết ứng dụngnhững nguyên tắc phát triển bền vững vào cuộc sống của mình.Giáo dục KNS
là trang bị cho người học một chiếc cầu nối giữa hiện tại với tương lai, giúp
họ thích ứng với cuộc sống hiện đại không ngừng biến đổi
Trong số 15 nội dung cơ bản về giáo dục vì sự phát triển bền vững đãđược UNESCO xác định thì có rất nhiều nội dung thống nhất với giáo dụcKNS để giải quyết những vấn đề cụ thể như: Quyền con người, hòa bình và
an ninh, bình đẳng giới, đa dạng văn hóa và hiểu biết về giao lưu văn hóa, sứckhỏe, HIV/AIDS, các nội dung về bảo vệ môi trường, giảm nghèo, tinh thần
và trách nhiệm tập thể Đồng thời hình thành những KNS cốt lõi như kỹ năngđạt mục tiêu, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng gia quyết định, giải quyết vấn
đề, kỹ năng kiên định giúp cho mỗi cá nhân có thể định hướng tới cuộc sốnglành mạnh phù hợp với các giá trị sống của xã hội Bên cạnh những KNS cốtlõi trên, những KNS chung như tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, thiện chí,suy nghĩ tích cực còn được áp dụng và giải quyết các nội dung cụ thể để tạo
ra sự phát triển bền vững
1.3.2.Nguyên tắc giáo dục KNS cho học sinh THCS
Để giáo dục KNS cho học sinh THCS đạt hiệu quả cần phải chú ý đếncác nguyên tắc sau đây:
* Nguyên tắc tương tác: KNS không thể hình thành qua việc nghe
giảng và đọc tài liệu Cần phải tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động,thực hiện tương tác với giáo viên (tương tác thầy – trò) và với nhau (tương táctrò – trò) trong quá trình giáo dục
* Nguyên tắc trải nghiệm: Học sinh cần được đặt vào các tình huống cụ
thể để trải nghiệm và thực hành
* Nguyên tắc tiến trình: Các KNS không thể được hình thành trong
“ngày một, ngày hai” mà nó đòi hỏi phải có cả một quá trình lâu dài biến đổi
từ nhận thức đến thay đổi hành vi
Trang 35* Nguyên tắc thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là
giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực, theo những chuẩn mực
mà xã hội đặt ra
* Nguyên tắc thời gian: Giáo dục KNS cần được thực hiện ở mọi nơi,
mọi lúc, trong gia đình, nhà trường, xã hội và phải được thực hiện càng sớmcàng tốt
1.3.3 Nội dung giáo dục KNS cho học sinh THCS
1.3.3.1 Cơ sở của việc đề xuất nội dung giáo dục KNS cho học sinh THCS
Việc đề xuất nội dung giáo dục KNS cho học sinh THCS được dựa trêncác cơ sở sau:
(a) Căn cứ vào hoạt động chủ đạo của học sinh THCS, theo nhà tâm líhọc Xô Viết D.B Elkomin, ông phân các đối tượng của trẻ từ lúc mới sinhđến lúc trưởng thành ra hai lớp A và B Hai lớp đối tượng hoạt động này được
cụ thể hoá dần trong quá trình phát triển của trẻ Lớp A gồm những quan hệcủa trẻ em với thiên nhiên, với thế giới đồ vật, lớp B gồm những quan hệ của trẻ
em với thiên nhiên, với thế giới đồ vật do con người tạo ra (hay phát hiện ra)
Mỗi giai đoạn phát triển nổi lên một hoạt động chủ đạo Khi có hoạtđộng chủ đạo khác xuất hiện, hoạt động này vẫn còn tồn tại nhưng không cònchủ đạo nữa và sẽ đi theo trẻ suốt đời
- Từ 6-7 tuổi đến 11- 12 tuổi: Đối tượng thuộc lớp B, hoạt động chủđạo là chiếm lĩnh các tri thức khoa học
- Từ 12 tuổi đến 16 – 17 tuổi: Đối tượng thuộc lớp A, hoạt động chủđạo là quan hệ bạn bè, quan hệ thân tín
(b) Về mặt tâm lí học, các kĩ năng tâm lí xã hội là rất cần thiết đối vớihọc sinh THCS nhằm giúp các em thích ứng được với những thay đổi trongcuộc sống
Trang 36(c) Phân tích và kế thừa kết quả các chương trình GD KNS đã và đangthực hiện tại Việt Nam thông qua sự hỗ trợ của các dự án, một số GV và HS
đã có hiểu biết và kinh nghiệm ban đầu về KNS và GD KNS Từ đó có nhậnthức và hành động đúng để GD đạt được hiệu quả thiết thực
(d) Luật Giáo dục, điều 27 xác định:
“Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạođức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kí năng cơ bản, phát triển năng lực cánhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HStiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc”
(e) Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 (Chỉ thị số 40/2008/CT –BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ trưởng BGD&ĐT xác định ba nội dung rènluyện KNS cho HS:
- Rèn luyện KN ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thóiquen và KN làm việc, sinh hoạt theo nhóm
- Rèn luyện sức khoẻ và ý thức bảo vệ sức khoẻ, KN phòng chống tainạn giao thông, đuối nước và các tai nạn khác
- Rèn luyện KN ứng xử văn hoá, chung sống thân thiện, phòng ngừabạo lực và tệ nạn xã hội
1.3.3.2 Nội dung giáo dục KNS đề xuất
Trong “Cẩm năng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học”, các tácgiả đã đề xuất một số KNS cơ bản mà GV cần tập trung để GD cho HS gồm:
Trang 37- KN ra quyết định và giải quyết vấn đề
1.3.3.3 Nội hàm của các KNS đề xuất
(a) Kĩ năng tự nhận thức
- Thế nào là tự nhận thức? KN tự nhận thức?
+ Tự nhận thức là tự nhìn nhận, đánh giá về bản thân Tự nhận thức làmột nhu cầu và đòi hỏi cơ bản của mỗi con người trong quá trình sống và pháttriển, đồng thời cũng là một dấu hiệu của sự trưởng thành
+ KN tự nhận thức là khả năng và những cách thức con người sử dụng
để nhận biết, hiểu được, đánh giá được về bản thân: Điểm mạnh, điểm yếu,khả năng, tính cách, sở thích, mong muốn KN tự nhận thức làm cho conngười có thể nhìn vào chiều nội tâm và các giá trị tinh thần, tình cảm, đạo đức
để hiểu được nhu cầu, mục tiêu, khát vọng của chính mình, hiểu được bảnthân trong quan hệ với người khác và với thế giới xung quanh
- Ý nghĩa của KN tự nhận thức:
Như đã trình bày ở trên, khi bước vào lứa tuổi HS trung học, các em cũngbắt đầu một thời kì mới rất có ý nghĩa trong cuộc đời, giai đoạn chuyển đổi từtrẻ em thành người lớn, dần dần trưởng thành cả thể chất và tinh thần Các emđối mặt với những thay đổi lớn của tuổi dậy thì: về cơ thể, cảm xúc, nhu cầu,
Trang 38các mối quan hệ Cho nên, KN tự nhận thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọngtrong thời kì này bởi đây là giai đoạn nhiều giá trị, quan niệm sống, lối sốngmới được hình thành ở các em Nếu thiếu năng lực tự nhận thức để hiểu đượcbản thân, biết điều chỉnh và kiểm soát bản thân, các em dễ rơi vào những mâuthuẫn, xung đột trong quan hệ với chính mình và người khác.
Bên cạnh đó, lứa tuổi HS THCS cũng là giai đoạn HS thể hiện thêm nhiềukhả năng mới hoặc củng cố những năng lực sẵn có trong học tập ở nhà trường
và các lĩnh vực khác như thể thao, văn nghệ, các môn năng khiếu KN tựnhận thức tốt sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về khả năng,tiềm năng của bản thân
để có thể tiếp tục phát triển theo hướng đã được xác định, hoặc nên thay đổitheo định hướng khác, hoặc tìm kiếm sự trợ giúp để khắc phục những khókhăn, trở ngại
Khả năng tự nhận thức, đặc biệt là năng lực đánh giá được nhu cầu, mongmuốn, tình cảm của bản thân trong các mối quan hệ đa dạng với người kháccòn giúp các em ở lứa tuổi này hình thành và phát triển trí thông minh cảmxúc (EQ – Emotional Quotient), một điều kiện quan trọng cho sự thành côngsau này trong cuộc đời
- Rèn luyện KN tự nhận thức có thể thông qua nhiều con đường khác nhau: + Sự GD và các mối quan hệ, giao tiếp ở gia đình, nhà trường và cộngđồng; nỗ lực để hiểu bản thân trong sự tương tác với người khác; Đánh giáđúng vai trò, vị trí của bản thân trong các mối quan hệ đa dạng, phức tạp cũng
là một cách hiệu quả giúp các em có nhận thức tốt hơn về chính mình
+ Tự chiêm nghiệm, tự vấn suy nghĩ về bản thân sau mỗi sự việc xảy ravới bản thân
(b) Kĩ năng giao tiếp
- Thế nào là giao tiếp? KN giao tiếp?
+ Giao tiếp là sự chia sẻ ý nghĩ, tình cảm, thông tin với một hoặc nhiều người
Trang 39+ KN giao tiếp là khà năng tiếp xúc, trao đổi thông tin, mong muốn,suy nghĩ tình cảm , cảm xúc, là khả năng thể hiện các mối quan hệ tương tácgiữa người này với người khác về các vấn đề khác nhau.
- Ý nghĩa của KN giao tiếp:
Trong cuộc sống, nếu không giao tiếp, mỗi người sẽ không thể nhậnthức, tư duy, học hỏi KN tự nhận thức và KN giao tiếp có mối quan hệ gắn
bó chặt chẽ với nhau Nếu giao tiếp của chúng ta không tốt sẽ làm hạn chế đi phầnnào khả năng nhận thức, tiếp thu và học tập càng tốt và hiệu quả bấy nhiêu
Đối với HS THCS, sự thay đổi bậc học, môi trường học, sự mở rộngmối quan hệ đa dạng với thầy cô, bạn bè trong nhà trường; Sự tham gia nhiềuhơn của các em vào các hoạt động cộng đồng; Sự thay đổi vị thế của các emtrong gia đình càng yêu cầu các em có KN giao tiếp tốt
Rèn luyện KN giao tiếp có thể thông qua hai cách: giao tiếp lời và giaotiếp không lời (sử dụng ngôn ngữ cơ thể) Trong giao tiếp phải biết lắng nghe,đôi khi lắng nghe là một nghệ thuật đạt hiệu quả cao hơn nói Biết lắng nghechính là một KNS đẹp
(c) Kĩ năng ứng phó với căng thẳng
- Thế nào là tình trạng căng thẳng? KN ứng phó với căng thẳng?
+ Căng thẳng là một cách phản ứng của cơ thể để đáp lại sự tác độngcủa những sự kiện, tình huống xảy ra làm cho con người cảm thấy bị mất cânbằng, bị đe doạ hoặc quá sức chịu đựng Căng thẳng có thể xảy ra với bất kì
ai, ở bất kỳ lứa tuổi và hoàn cảnh sống nào
+ KN ứng phó với căng thẳng là khả năng, cách thức con người nhậnbiết, xử lí một cách tích cực, hiệu quả những thay đổi, những tình huống gây
ra căng thẳng cho bản thân trở lại trạng thái cân bằng, hài hoà cả về thể chất
và tinh thần
- Ý nghĩa của KN ứng phó với căng thẳng:
+ Sự căng thẳng là một phần của cuộc sống, vì vậy chúng ta khó có thể
né tránh sự xuất hiện của trạng thái căng thẳng ở một thời điểm nào đó trong
Trang 40cuộc đời mình Với lứa tuổi HS THCS, rèn luyện KN ứng phó với căng thẳngkhông phải là quá sớm mà ngược lại rất cần thiết, bởi bản thân đặc điểm lứatuổi của các em đã hàm chứa những yếu tố có thể dẫn đến căng thẳng, mấtcân bằng: xáo trộn về tình cảm, tinh thần do sự thay đổi tâm sinh lí mạnh mẽcủa tuổi dậy thì, những xung đột phát sinh trong quan hệ với bạn bè, áp lựccủa nhóm bạn, nhu cầu được độc lập, tự quyết, tự thể hiện
+ Bên cạnh đó, ở lứa tuổi thiếu niên, do thiếu kinh nghiệm sống, nênnhiều suy nghĩ, hành động của các em còn bồng bột, dễ bị cảm xúc tức thời vàhoàn cảnh chi phối Việc rèn luyện KN ứng phó với căng thẳng sẽ giúp các
em trưởng thành, chín chắn hơn trong cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề
Từ đó, các em đối mặt tốt hơn, vững hơn với những thay đổi , biến động trongcuộc sống của bản thân, tránh được những hệ lụy tiêu cực xuất phát từ việcthiếu khả năng kiểm soát hành vi hoặc có khả năng ứng phó kém như tự tử,
bỏ nhà hoặc mắc bệnh trầm cảm, tự kỉ
- Ở lứa tuổi HS THCS, mặc dù còn phụ thuộc vào gia đình, chưa phải chịunhững sức ép lớn liên quan đến việc mưu sinh và những ứng xử phức tạpngoài xã hội, song các em vẫn phải đương đầu với một số loại căng thẳng cơbản như:
+ Do áp lực của việc học tập: Khối lượng kiến thức quá lớn so với khảnăng tiếp thu, chưa quen với những phương pháp mới của bậc học, áp lực củamong muốn không tụt hậu so với bạn bè cùng lớp
+ Do mâu thuẫn và áp lực trong quan hệ bạn bè: hiểu lầm giữa bạn bè,chịu áp lực của nhóm bạn trong việc thử nghiệm những “cái mới” như thuốc
lá, ma tuý, rượu bia…
+ Do xung đột trong quan hệ với cha mẹ: cha mẹ thiếu quan tâm đếnnhững thay đổi của lứa tuổi, mâu thuẫn giữa mong muốn của HS được độclập, không bị cha mẹ can thiệp vào cuộc sống riêng với nhu cầu chăm sóc,theo dõi của cha mẹ…