Một ngân hàng muốn phát triển vững mạnh thì trước hết cần phải có chất lượng tín dụng lành mạnh, tăng trưởng tín dụng cao.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Một ngân hàng muốn phát triển vững mạnh thì trước hết cần phải cóchất lượng tín dụng lành mạnh, tăng trưởng tín dụng cao Tuy nhiên khi xemxét sự phát triển của các ngân hàng thì vấn đề an toàn cũng cần được quantâm và coi trọng Cạnh tranh càng khốc liệt thì chúng ta lại càng cần phải đềcao việc bảo đảm an toàn cho các ngân hàng Bởi một khi có một ngân hàng
đỗ vỡ thì sẽ kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng Chính vì vậy cácngân hàng trong nước cần phải tìm cho mình những biện pháp bảo đảm antoàn và hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải Một trong những cách đểnâng cao độ an toàn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng đó là bảođảm tiền vay Đây là biện pháp mà các ngân hàng khi cho vay thường ápdụng Chính bởi tầm quan trọng của việc bảo đảm tiền vay đối với hoạt động
của ngân hàng nên em đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng ” để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong quá trình thực tập tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai
Bà Trưng
Kết cấu chuyên đề gồm ba phần như sau:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về bảo đảm tiền vay : trình bày vềnhững vấn đề lý luận chung trong bảo đảm tiền vay
Chương II: Thực trạng hoạt động bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngânhàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng
Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai
Bà Trưng
Trang 2CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
BẢO ĐẢM TIỀN VAY
1.1 Khái niệm, vai trò và đặc trưng của bảo đảm tiền vay
1.1.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, sức cạnh tranhgay gắt cũng như môi trường kinh doanh thường xuyên biến động làm cho bất
kỳ một cá nhân, tổ chức nào khi tham gia vào đều phải đối mặt với những rủi
ro, đặc biệt là các ngân hàng thương mại – tổ chức kinh doanh tiền tệ và làtrung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Chính vì vậy, các ngânhàng thương mại khi cho vay luôn phải có các biện pháp để giảm thiểu rủi rocho mình Thông thường, để bảo vệ lợi ích của mình, các ngân hàng yêu cầungười đi vay phải có bảo đảm cần thiết, ngoại trừ những khách hàng hoạtđộng tốt và có quan hệ tín dụng thường xuyên Thực chất, đó là những biệnpháp phòng ngừa rủi ro tín dụng, là cơ sở pháp lý cũng như cơ sở kinh tế choviệc thu hồi các khoản tiền vay Biện pháp phổ biến ngân hàng thường hay ápdụng là cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tíndụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảmthực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay củakhách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản của khách hàng vay, của bên bảo
lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bao gồm: tài sản thuộc quyền sởhữu, giá trị quyền sử dụng đất của khách hàng vay, của bên bảo lãnh; tài sảnthuộc quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay, của bên bảo lãnh là doanhnghiệp Nhà nước; tài sản hình thành từ vốn vay
Theo Nghị định của Chính phủ số 178/1999NĐ-CP ngày 29 tháng 12năm 1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng thì: “Bảo đảm tiền
Trang 3vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro,tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàngvay”.
Như vậy, bảo đảm tiền vay là việc dùng tài sản hay uy tín của một cá
nhân, tổ chức để bảo đảm cho một khoản vay Khi bên đi vay không thực hiệnđúng nghĩa vụ trả nợ của mình thì ngân hàng sẽ coi bảo đảm tiền vay là nguồnthu hồi khoản nợ đã cho vay
1.1.2 Vai trò của bảo đảm tiền vay
Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế mangtầm quan trọng ví như hệ thống mạch máu trong cơ thể Do đó một nền kinh
tế phát triển khi và chỉ khi có một thị trường tài chính nói chung và một hệthống ngân hàng nói riêng hoạt động vững mạnh Song có một thực tế hiểnnhiên là rủi ro luôn luôn tồn tại song hành và thường trực trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng thương mại, gây tác động mạnh và ảnh hưởng sâusắc đến toàn bộ nền kinh tế Và theo thống kê thì trong hoạt động của ngânhàng thương mại, rủi ro tín dụng chiếm một tỷ trọng lớn và cũng chính doanhthu từ hoạt động tín dụng là một trong những nguồn thu chủ yểu của ngânhàng
Bàn về rủi ro tín dụng các nhà chuyên môn lý giải đó là sự xuất hiệncủa những yếu tố không bình thường trong quan hệ tín dụng, gây hậu quả xấuđến hoạt động của ngân hàng như thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến thu nhậpcủa ngân hàng, rộng hơn nữa là tác động tiêu cực đến nền kinh tế Thôngthường rủi ro tín dụng được thể hiện dưới hình thức chính là rủi ro mất vốn vàrủi ro đọng vốn: rủi ro mất vốn là việc ngân hàng cho vay nhưng không thuhồi được nợ hoặc chỉ thu hồi được một phần, còn rủi ro đọng vốn là kháchhàng chậm trễ trong việc trả nợ khi khoản nợ đến hạn Cho nên có thể nói rủi
ro tín dụng chính là nỗi ám ảnh và mối đe dọa hàng đầu của các ngân hàng
Trang 4sự thành bại của một ngân hàng, là nền tảng cho sự phát triển hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Và việc hoàn thiện cũng như áp dụng linh hoạt các hìnhthức bảo đảm tiền vay sẽ là một trong những biện pháp rào chắn rủi ro hữuhiệu nhất, bởi vì:
Thứ nhất, bảo đảm tiền vay giúp ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai khi
nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được Mặc dù khi cấp tín dụng, ngânhàng đã xác định được nguồn thu nợ thứ nhất của mình là đâu, chẳng hạn nhưcho vay vốn lưu động thì nguồn trả nợ chủ yếu là doanh thu, cho vay vốn cốđịnh thì nguồn thu chủ yếu là từ khấu hao và lợi nhuận để lại, cho vay tiêudùng thì nguồn thu là phần (thu nhập – chi phí) Song trong hoạt động kinhdoanh có vô số những lý do, những tình huống bất khả kháng dẫn đến nguồnthu nợ thứ nhất không thực hiện được, nếu không có nguồn bổ sung tất yếungân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro tín dụng Vì vậy để bảo vệ lợi ích củabản thân, ngân hàng thường yêu cầu người vay phải có bảo đảm cần thiết
Thứ hai, bảo đảm tiền vay gắn liền với trách nhiệm vật chất của người
đi vay trong quá trình sử dụng vốn vay, tránh tình trạng kinh doanh sử dụngvốn vay sai mục đích hoặc thiếu hiệu quả gây nên tổn thất và rủi ro cho ngânhàng Ngoài ra, bảo đảm tiền vay còn ràng buộc trách nhiệm của khách hàngphòng khi họ cố tình lơ là nghĩa vụ trả nợ của mình Cho nên có thể ví bảođảm tiền vay như chiếc “ vòng kim cô” mà nhờ nó ngân hàng thương mại cóthể kiểm soát được khách hàng của mình Khách hàng sẽ phải luôn thận trọngtrong việc sử dụng vốn vay, làm sao để đảm bảo tính hiệu quả và hợp pháp,trả nợ cho ngân hàng đúng hạn để thu hồi được tài sản của mình
Thứ ba, bảo đảm tiền vay là một trong những điều kiện để các tổ chức,
cá nhân được cấp tín dụng, là bước khởi đầu trong quan hệ tạo lập tín dụngvới ngân hàng thương mại, khi khách hàng có phương án sản xuất kinh doanhhiệu quả, khả thi nhưng lại chưa có đủ tiềm lực tài chính và uy tín đối với cácngân hàng thương mại để có thể tạo lập quan hệ tín dụng Bảo đảm tiền vay
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc vay vốn sản xuất- kinh
Trang 5doanh hay tiêu dùng Giúp khách hàng mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh, nâng cao khả năng cạnh tranh, hoặc đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu tiêudùng của dân cư
Ngoài ra,nếu đối với ngân hàng bảo đảm tiền vay là nguồn thu nợ thứhai thì trên phương diện nền kinh tế bảo đảm tiền vay góp phần tạo ra môitrường kinh doanh tiền tệ ổn định, phát triển thị trường trên cơ sở có sự ràngbuộc trách nhiệm giữa các bên, chia sẻ rủi ro Đó chính là sự bảo đảm ở tầm
vĩ mô
Tóm lại, bảo đảm tiền vay đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối vớicác ngân hàng thương mại, khách hàng vay vốn và đối với toàn bộ nền kinh
tế, đặc biệt trong việc tạo lập quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, giúp các
tổ chức tín dụng phòng ngừa và hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn vốn tronghoạt động kinh doanh Tuy nhiên bảo đảm tiền vay chỉ là biện pháp phòng vệkhi gặp sự cố trong thực hiện hoạt động tín dụng chứ không phải là nguyêntắc cấp tín dụng và việc vận dụng linh hoạt các biện pháp bảo đảm tiền vay làmột đòi hỏi tất yếu khách quan đối với cán bộ ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi
ro, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng phát triển, nâng cao uy tín của ngânhàng và tăng cường sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.1.3 Đặc trưng của bảo đảm tiền vay
Nhìn chung, bất kỳ tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịchđều có thể dùng làm bảo đảm Tuy nhiên, dưới góc độ của người cho vay(ngân hàng thương mại) thì bảo đảm tiền vay phải thể hiện được các đặc trưngsau:
Thứ nhất, giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị món vay:
Bởi vì, việc thực hiện các phương thức cho vay có bảo đảm không chỉnhằm đảm bảo nguồn thu nợ mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc ràngbuộc trách nhịêm vật chất, thúc giục người vay phải sử dụng hiệu quả vốn vay
Trang 6mới có thể thu hồi được tài sản của mình Cho nên nếu giá trị tài sản bảo đảm
mà nhỏ hơn nghĩa vụ đươc bảo đảm (bao gồm vốn, gốc, lãi kể cả lãi quá hạn
và các chi phí khác nếu có) thì sẽ mất đi tác dụng và ý nghĩa của bảo đảm tiềnvay, người đi vay dễ có động cơ không trả nợ, gây khó khăn cho hoạt độngkinh doanh của ngân hàng thương mại
Thứ hai, tài sản bảo đảm phải có sẵn thị trường tiêu thụ :
Tức là tài sản bảo đảm phải có tính thanh khoản, dễ trao đổi mua bántrên thị trường Điều này rất quan trọng vì mức độ thanh khoản của tài sản tácđộng trực tiếp đến lợi ích của người cho vay Nếu tính thanh khoản cao, tàisản dễ chuyển nhượng thì mức độ bảo đảm cao Còn nếu mức độ thanh khoảntrung bình có thể chấp nhận được thì ngân hàng phải tính đến chi phí tăng đểkéo dài thời gian xử lý Ngược lại, tài sản có tính thanh khoản thấp ngân hàngthường không chấp nhận vì nguy cơ rủi ro cao
Thứ ba là phải có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay (ngân hàng
thương mại) có quyền ưu tiên về xử lý tài sản bảo đảm Đặc trưng này đượcthể hiện qua các mặt sau:
Tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay, người bảo lãnhhoặc thuộc quyền quản lý sử dụng của doanh nghiệp nhà nước trong trườnghợp doanh nghiệp này đi vay hay bảo lãnh, để tạo điều kiện cho ngân hàng dễdàng thực hiện hành vi chuyển giao, phát mại khi khách hàng không thực hiệnđược nghĩa vụ của mình theo hợp đồng tín dụng
Tài sản phải được pháp luật thừa nhận và không thuộc diện cấm giaodịch Điều này đảm bảo cơ sở pháp lý trong việc chuyển giao tài sản từ người
đi vay sang người cho vay, đồng thời tránh những rắc rối phát sinh khi xảy ra sự
cố, bảo đảm để ngân hàng (người cho vay) có quyền ưu tiên về xử lý tài sảnnhằm thu hồi nợ khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình
Tóm lại, bảo đảm tiền vay vừa là nguồn thu nợ vừa có ý nghĩa tác động
đến việc sử dụng vốn vay và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng Mộtbảo đảm tín dụng có hiệu lực khi và chỉ khi nó có đầy đủ các đặc trưng trên
Trang 71.2 Nội dung các hình thức bảo đảm tiền vay
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà tính chất hoạt động củacác doanh nghiệp ngày càng đa dạng và hết sức tinh vi thì để thực hiện mụctiêu phát triển là mở rộng tín dụng gắn với hạn chế rủi ro, đòi hỏi các ngânhàng thương mại phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp bảo đảm tiền vay,chấp nhận nhiều loại tài sản bảo đảm và vận dụng các hình thức đó một cáchlinh hoạt, thích ứng với điều kiện của từng khách hàng Mà muốn vận dụnghiệu quả các hình thức bảo đảm tiền vay thì việc nắm chắc những nội dungcủa các hình thức bảo đảm tiền vay là một đòi hỏi tất yếu, khách quan Vì vậychúng ta sẽ đi sâu xem xét từng hình thức bảo đảm cụ thể sau:
1.2.1 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản
1.2.1.1 Thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn
Thế chấp là việc bên đi vay dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặcgiá trị quyền sử dụng đất hợp pháp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bêncho vay và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp Với hìnhthức này người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu (hoặc
sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian camkết
Tuy nhiên không phải bất cứ một loại tài sản nào cũng có thể đem đithế chấp mà nó phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định tùy thuộc vào quyđịnh của pháp luật Trong thực tế, trừ các ngân hàng, các công ty tài chính cóthể nắm giữ nhiều chứng khoán, còn doanh nghiệp thì tài sản chủ yếu là hànghoá và tài sản cố định Trong đó, nhiều tài sản khi trở thành đảm bảo cho cáckhoản tài trợ của ngân hàng vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động, nhữngtài sản này khách hàng không thể cầm cố Và giá trị của tài sản loại nàythường lớn nên doanh nghiệp có thể vay ngân hàng với quy mô lớn Hơn nữa,
Trang 8các tài sản loại này thường cồng kềnh, phân tán nên việc bán hoặc chuyểnnhượng cũng không đơn giản
Thế chấp tài sản để vay vốn cho phép người nhận tài trợ được sử dụngtài sản đảm bảo phục vụ cho hoạt động kinh doanh Đó là một thuận lợi, songtrong quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, khả năng kiểm soát tài sản bịhạn chế gây thiệt hại cho ngân hàng Chính vì thế mà khi nhận thế chấp ngânhàng cần phải xem xét kĩ càng cũng như có những thỏa thuận hợp lý với bên
đi vay để bảo đảm được chất lượng bảo đảm tiền vay đối với tài sản thế chấp
Các loại tài sản thế chấp thông thường là: Bất động sản là tài sản không
di dời được như nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sảngắn liền với nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất;Quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Các khoản phải thu; và cáctài sản khác theo quy định của pháp luật
Đối với hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp cũngthuộc tài sản thế chấp, nếu các bên thoả thuận hoặc pháp luật có quy định;trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũngthuộc tài sản thế chấp Đây là một điểm quan trọng khi ngân hàng thỏa thuậnvới người đi vay về thế chấp tài sản Nó có thể nâng cao giá trị cho tài sản thếchấp và bảo đảm tốt hơn cho ngân hàng
Trang 9thì ngân hàng được quyền bán tài sản hoặc cho thuê với tư cách là người chủ sởhữư mà không cần thực hiện các thủ tục tố tụng để nhờ toà án can thiệp
Thế chấp công bằng (thế chấp thông thường) là hình thức thế chấp màtrong đó ngân hàng chỉ nắm giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản hoặcgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm cho món vay Khi người vaykhông thực hiện đươc nghĩa vụ trả nợ như trong hợp đồng tín dụng thị ngânhàng không được tự ý xử lý tài sản mà phải dựa trên cơ sở sự thoả thuận giữahai bên hoặc sự can thiệp của toà án
Hai hình thức này đều có những ưu nhược điểm riêng Nếu thế chấppháp lý một mặt đảm bảo cho ngân hàng trong việc nhanh chóng xử lý tài sản
để thu hồi nợ, thì mặt khác hình thức này lại tốn kém chi phí như chi phí đăng
ký giao dịch bảo đảm, chi phí công chứng và mỗi khi thay đổi hoặc kết thúchợp đồng lại phải tiến hành chuyển giao lại quyền sở hữu hoặc làm lại hợp đồng.Còn đối với thế chấp công bằng thì thủ tục đơn giản, ít tốn kém nhưng lại khókhăn cho ngân hàng khi xử lý tài sản bảo đảm
Căn cứ vào tính chất của bất động sản ta lại có thế chấp toàn bộ và thếchấp một phần bất động sản:
Thế chấp toàn bộ bất động sản: là hình thức thế chấp mà trong đó các vậtphụ gắn liền với bất động sản đó cũng được tính vào giá trị của tài sản thế chấp
Thế chấp một phần bất động sản có nghĩa là vật phụ gắn liền với bấtđộng sản đó không được tính vào giá trị của tài sản thế chấp nếu hai bênkhông có thoả thuận riêng Thế chấp một phần bất động sản xảy ra trongtrường hợp tài sản thế chấp có thể phát mại riêng mà không ảnh hưởng gì đếnquyền lợi của bên nhận thế chấp
Đối với thế chấp toàn bộ bất động sản thì ngân hàng phải quản lý cả cácvật phụ gắn liền (có thể là nhà cửa, cây quý ), như trên đã nói, điều nàykhông hề dễ dàng và có thể ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm tiền vay nếungân hàng không có sự quản lý tốt Tuy nhiên nếu phải thanh lý thì thế chấptoàn bộ sẽ dễ được thanh lý hơn là thế chấp một phần bất động sản
Trang 101.2.1.2 Cầm cố bằng tài sản của khách hàng vay vốn
Cầm cố là việc bên đi vay giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mìnhcho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ; nếu tài sản cầm cố cóđăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thoả thuận bên cầm cố vẫn giữ tàisản hoặc giao cho bên thứ ba giữ Theo hình thức này người nhận tài trợ củangân hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàngtrong thời gian cam kết (thường là thời gian nhận tài trợ)
Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát và bảoquản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ không ảnhhưởng đến quá trình hoạt động của người nhận tài trợ Các tài sản này gọnnhẹ, dễ quản lý, không chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tự nhiên.Ngân hàng yêu cầu cầm cố khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài sản bảođảm là không an toàn cho ngân hàng Thường đó là các tài sản mà khách hàng
dễ bán, dễ chuyển nhượng như các chứng khoán, các hợp đồng, sổ tiết kiệm,ngoại tệ mạnh, kim loại quý Đối với hàng hóa, ngân hàng thường chấp nhậncác loại ít chịu tác động của môi trường trong thời gian cầm cố Ngoài ra,ngân hàng còn có thể chấp nhận cầm cố các quyền tài sản phát sinh như:quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi
nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, quyền đối với phần vốn góp trongdoanh nghiệp, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn
cứ pháp lý khác Và cũng như đối với thế chấp, lợi tức và các quyền phát sinh
từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố, nếu các bên có thoả thuận hoặcpháp luật có quy định; trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thì tiền bảohiểm cũng thuộc tài sản cầm cố
Nếu căn cứ vào tính chất quản lý, tài sản cầm cố được chia ra làm hailoại: có đăng ký quyền sở hữu và không đăng ký quyền sở hữu Đối với tàisản không đăng ký quyền sở hữu, tài sản phải được chuyển giao cho bên cóquyền, ngược lại, tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì tài sản có thể do bên cónghĩa vụ, bên có quyền hoặc bên thứ ba nắm giữ theo thỏa thuận Như vậy, về
Trang 11lý thuyết khi tài sản có đăng kí quyền sở hữu thì việc bên nào nắm giữ tài sảncũng sẽ không ảnh hưởng đến chất lượng tài sản đảm bảo Mặt khác, vì cầm
cố tài sản là một hình thức của bảo đảm tín dụng bằng tài sản nên bất kì tàisản cầm cố nào cũng phải thỏa mãn ba điều kiện của tài sản bảo đảm, đó là:Tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của bên đi vay, tài sản phải có tính thanhkhoản và có giá trị thị trường Điều này tạo nên tính hiệu lực của hợp đồngbảo đảm Khi tài trợ dựa trên bảo đảm bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tínhhợp pháp, hợp lệ, an toàn của vật cầm cố như quyền sở hữu của khách hàng,khả năng chi trả của người cam kết đối với vật cầm cố
Các hình thức cầm cố tài sản:
Cầm cố tài sản cũng bao gồm cầm cố công bằng và cầm cố pháp lý;cầm cố trực tiếp và gián tiếp Nội dung các loại cầm cố này cũng tương tựnhư thế chấp
1.2.1.3 Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàngvay dùng tài sản hình thành từ vốn vay (là tài sản của khách hàng vay mà giátrị tài sản được tạo nên bởi một phần hay toàn bộ khoản vay của tổ chức tíndụng) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó
Việc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay thường được áp dụngtrong trường hợp ngân hàng cho vay trả góp đối với các khoản cho vay trung
và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền hay cho vay tiêudùng Khách hàng sẽ thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp Điều này mang lạirủi ro khá cao cho ngân hàng vì nguyên tắc cơ bản của bảo đảm tiền vay lànguồn đảm bảo cho khoản vay trong khi đó tài sản đảm bảo lại được hìnhthành chính từ vốn vay ngân hàng Điều này có thể làm giảm chất lượng bảođảm tiền vay của ngân hàng Chính vì vậy khi cho vay có đảm bảo bằng tàisản hình thành từ vốn vay ngân hàng luôn xem xét rất kĩ lưỡng các yêu câu
Trang 12chức tín dụng cho vay dưới hình thức bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốnvay là phải có tín nhiệm đối với tổ chức tín dụng và có khả năng tài chính đểthực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngoài ra còn phải có dự án đầu tư phát triển sảnxuất, phương án kinh doanh khả thi và không trái với quy định của pháp luật.Đối với tài sản pháp luật có quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vayphải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời hạn vay vốn khi tài sản đã đượchình thành đưa vào sử dụng
1.2.1.4 Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là việc bên thứ ba (còn gọi là bênbảo lãnh) cam kết với tổ chức tín dụng cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc
sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếuđến hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng nghĩa vụ trả nợ
Như vậy, bên bảo lãnh chỉ được phép bảo đảm bằng tài sản thuộc sởhữu của chính mình hoặc bằng giá trị quyền sử dụng đất, còn đối với doanhnghiệp Nhà nước thì tài sản phải thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanhnghiệp đó để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Việc bảo lãnh bằng tài sản có thểkèm theo biện pháp cầm cố, thế chấp như bảo đảm bằng cầm cố, thế chấp tàisản của chính khách hàng vay vốn để thực hiện nghĩa vụ, và điều này do tổchức tín dụng và bên bảo lãnh thoả thuận Đây là hình thức bảo đảm kép,nhằm đề phòng khi người bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ thì ngânhàng có thể xử lý tài sản kèm theo bảo lãnh Để đảm bảo an toàn ngân hàngkhông chỉ thẩm định khách hàng mà còn cần phải thẩm định cả bên bảo lãnhmột cách chặt chẽ
Khi xem xét và quyết định cho vay có tài sản bảo đảm của bên thứ ba,ngân hàng cần quan tâm đến ba nguyên tắc bảo lãnh sau:
Thứ nhất: bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh một cách tự nguyện và chỉđược bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình
Trang 13Thứ hai: Trong mỗi lần bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải phát hành thưbảo lãnh của mình
Thứ ba: ngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng khả năng tài chính, tình trạngtài sản và uy tín của bên bảo lãnh
Trong quá trình bảo lãnh, bên thứ ba (tức người bảo lãnh) phải có tráchnhiệm trả nợ thay cho bên được bảo lãnh nếu như đến hạn thanh toán mà họkhông trả được nợ cho ngân hàng (Nợ ở đây bao gồm cả gốc, lãi và phí khácnếu có) và bên bảo lãnh cũng phải đôn đốc người đi vay thanh toán nợ chongân hàng Mặt khác, người bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu ngân hàng kiểmtra việc sử dụng vốn vay của khách hàng vay khi cần thiết và khi bên bảo lãnh
đã trả nợ thay cho bên được bảo lãnh thì có nghĩa là họ đã trở thành chủ nợtrực tiếp, lúc này quan hệ giữa ngân hàng và bên bảo lãnh được chấm dứt
Tuy nhiên các biện pháp bảo đảm bằng tài sản không phải bao giờ cũngtối ưu, việc bảo quản cũng như xử lý tài sản đảm bảo diễn ra rất phức tạp vàcòn nhiều bất cập Mặt khác các tổ chức tín dụng chỉ coi nó là một trongnhững biện pháp phòng ngừa rủi ro chứ không phải là nguyên tắc cấp tín dụng
và một thực tế hiện nay là tỉ trọng các khoản vay không có bảo đảm bằng tàisản của khách hàng vay vốn trong doanh số cho vay của các ngân hàngthương mại lại chiếm ưu thế Vậy thế nào là biện pháp bảo đảm tiền vay trongtrường hợp không có bảo đảm bằng tài sản? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong phầntiếp theo
1.2.2 Bảo đảm tiền vay khi cho vay không có bảo dảm bằng tài sản
1.2.2.1.Tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay
Các ngân hàng thương mại được phép chủ động lựa chọn khách hàng
để cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn,dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư, phát triển sản xuất, miễn là phải đápứng đầy đủ các điều kiện sau:
Trang 14- Có tín nhiệm đối với tổ chức cho vay trong việc sử dụng vốn vay, trả
nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
- Có dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh khả thi, có khả năng trảnợ; hoặc có dự án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định của phápluật Trường hợp vay để phục vụ yêu cầu thiết yếu cảu đời sống thì kháchhàng vay phải có phương án trả nợ khả thi
- Có khả năng tài chính (khả năng về vốn, tài sản của khách hàng đểbảo đảm hoạt động thường xuyên và thực hiện các nghĩa vụ thanh toán) vàcác nguồn thu hợp pháp có khả năng thu nợ trong thời hạn vay vốn để thựchiện nghiã vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng
- Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổchức tín dụng nếu sử dụng vốn không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng.Cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo đảmbằng tài sản
- Riêng đối với doanh nghiệp, còn phải có kết quả sản xuất kinh doanh cólãi trong hai năm liền với thời điểm xem xét cho vay Tổ chức tín dụng có quyềnyêu cầu doanh nghiệp phải có xác nhận của tổ chức kiểm tóan đối với kết quảsản xuất, kinh doanh của hai năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay
Mức cho vay: Tổ chức tín dụng tự quyết định mức dư nợ tối đa đượcvay không có bảo đảm bằng tài sản đối với một khách hàng trên cơ sở mức độtín nhiệm, đặc điểm về quy mô và chất lượng hoạt động, khả năng tài chính
để trả nợ của khách hàng vay
1.2.2.2 Bảo lãnh bằng uy tín của bên thứ ba
Đây là hình thức bảo lãnh mà tổ chức tín dụng cho vay dựa trên uy tíncủa bên thứ ba chứ không cần tài sản đảm bảo Bên thứ ba ở đây phải lànhững tổ chức lớn có uy tín như Chính phủ hay các đoàn thể chính trị xã hội
Tổ chức tín dụng được chỉ định cho vay không có bảo đảm đối vớikhách hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kinh tế đặc
Trang 15biệt, chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước, chương trình kinh tế xãhội và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng được hưởng chính sách tíndụng ưu đãi theo quyết định của Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ
Trách nhiệm của tổ chức tín dụng được cho vay không có bảo đảm theochỉ định của Chính Phủ: Đầu tiên tổ chức tín dụng phải thực hiện theo đúng chỉthị của Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ và tuân thủ các quy định củapháp luật trong quá trình xem xét cho vay cũng như các trình tự trong quy trìnhtín dụng, kiểm tra việc sử dụng vốn và thu hồi nợ của khách hàng Sau đó, tiếnhành theo dõi riêng các khoản vay theo chỉ định và báo cáo tình hình sử dụngvốn vay, khả năng thu hồi nợ và kiến nghị các biện pháp xử lý khi cần thiết
Chính Phủ sẽ xử lý tổn thất cho các tổ chức tín dụng trong trường hợpkhách hàng vay vốn không trả được nợ do các nguyên nhân sau: Do nhữngbiến cố bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn; Do khách hàng vay vốn là tổchức kinh tế bị giải thể theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnhoặc bị phá sản hoặc do Nhà nước thay đổi cơ chế chính sách dẫn đến hoạtđộng kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn, không trả được nợ
Việc quy trách nhiệm cho các bên là rất rõ ràng nên hình thức cho vaytheo chỉ định là khá an toàn song nhìn chung các tổ chức tín dụng không hàohứng nhiều với loại hình cấp tín dụng này bởi khối lượng tín dụng thường lớn,khả năng rủi ro khá cao và việc xử lý tổn thất của Chính Phủ còn nhiều bấtcập, chậm trễ, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thươngmại
Tổ chức đoàn thể chính trị xã hội tại cơ sở của Hội Nông dân ViệtNam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam,Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đượcthực hiện bảo lãnh bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay tại các tổchức tín dụng Người được bảo lãnh là cá nhân, hộ gia đình nghèo là thànhviên của một trong các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội quy định trên khi vay
Trang 16Tóm lại ngân hàng phải lựa chọn việc áp dụng hình thức bảo đảm tiềnvay nào đối với từng đối tượng khách hàng vay vốn sao cho thích hợp nhất vàđảm bảo an toàn nhất Ngân hàng phải tìm hiểu kĩ lưỡng ưu, nhược điểm khi
áp dụng từng phương pháp để đưa ra quyết định đúng đắn nhất, như vậy mới
có thể phát huy tác dụng của bảo đảm tiền vay
1.3 Chất lượng bảo đảm tiền vay và các nhân tố ảnh hưởng
1.3.1 Chất lượng bảo đảm tiền vay
Ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp kinh doanh nên cũngmong muốn có được hiệu quả cao trong bất kì hoạt động nào của mình, đặcbiệt là hoạt động tín dụng Chất lượng tín dụng nói chung thể hiện tập trung ở
sự thoả mãn yêu cầu hợp lý của khách hàng có sự chọn lựa Đồng thời thúcđẩy tăng trưởng kinh tế xã hội theo đường lối đổi mới của đất nước và đảmbảo sự tồn tại, phát triển của một ngân hàng thương mại Và chất lượng hoạtđộng bảo đảm tiền vay cũng không nằm ngoài mục tiêu đó
Chất lượng của bảo đảm tiền vay không chỉ phản ánh về tài sản đảmbảo mà nó còn phải thể hiện ở thành quả thu được khi các khoản cho vay
được bảo đảm bằng các hình thức thích hợp
Như vậy, chất lượng bảo đảm tiền vay chính là thước đo phản ánh
những tài sản mà ngân hàng chấp nhận làm đảm bảo cho món vay của kháchhàng có khả năng thực hiện đúng chức năng là nguồn thu nợ thứ hai cho ngânhàng hay không, có giúp ngân hàng bảo toàn vốn khi rủi ro xảy ra hay không
Rõ ràng là hoạt động bảo đảm tiền vay có ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộng của một ngân hàng thương mại Nếu thực hiện không tốt rất có thể sẽ lànguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ vay, dẫn đến khảnăng mất vốn, với mức độ lớn có thể làm giảm uy tín của ngân hàng gây tâm
lý rút tiền hàng loạt,ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và
có thể dẫn đến phá sản Chính vì vậy đòi hỏi ngân hàng phải không ngừngnâng cao chất lượng hoạt động bảo đảm tiền vay của mình
Trang 171.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay
1.3.2.1 Các chỉ tiêu định lượng
1.3.2.1.1 Mức độ bảo đảm của tài sản
Đây là chỉ tiêu cho biết mức độ bù đắp vốn của một tài sản đảm bảotrong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình
Công thức:
H = Giá trị của khoản vay
Giá trị của tài sản đảm bảoKhi sử dụng chỉ tiêu này thì phải dự báo được khả năng biến động giátrị của tài sản trong thời gian cho vay vì giá trị này có thể thay đổi theo thờigian do nhiều yếu tố Đồng thời cũng phải dự báo được những chi phí choviệc bán tài sản đảm bảo
1.3.2.1.2 Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo trên tổng dư nợ
Công thức:
Tỷ lệ dư nợ có tài sản
đảm bảo trên tổng dư nợ =
Dư nợ có tài sản đảm bảo
* 100%Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu phần trăm dư nợ của tổ chức tín dụngđược đảm bảo bằng tài sản Nói chung, tỷ lệ này càng cao thì chất lượng bảođảm tiền vay càng tốt Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét về chất lượng tài sảnđảm bảo Ngoài ra, đối với một số khách hàng, yêu cầu về tài sản bảo đảm đốivới họ là rất khó khăn cho nên chỉ tiêu này cao cũng chưa có nghĩa là việc chovay của ngân hàng là tốt
1.3.2.1.3 Chỉ tiêu tỷ lệ cho vay tín chấp trên dư nợ cho vay có tài sản đảm bảo
Công thức:
Tỷ lệ cho vay tín chấp trên
dư nợ cho vay có tài sản đảm bảo =
Dư nợ cho vay tín chấp
* 100%
Dư nợ cho vay có tài sản đảm bảoChỉ tiêu này cho thấy tỷ trọng giữa cho vay tín chấp và cho vay có bảo
Trang 18một ngân hàng, cho thấy ngân hàng đó có chấp nhận việc cho vay không cótài sản đảm bảo nhiều hay không.
1.3.2.1.4 Nhóm chỉ tiêu liên quan đến nợ quá hạn
Đây là nhóm chỉ tiêu xem xét về độ an toàn của những khỏan vay cóbảo đảm hay chất lượng của các khỏan vay có bảo đảm bằng tài sản
Chỉ tiêu tổng thể:
Dư nợ quá hạn có đảm bảo bằng tài sản
Tổng dư nợ quá hạnChỉ tiêu này cho thấy độ an toàn của các khỏan vay có bảo đảm bằngtài sản so với độ an toàn chung của ngân hàng
Chỉ tiêu nợ quá hạn đối với hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản:
Dư nợ quá hạn cho vay có bảo đảm bằng tài sảnTổng dư nợ cho vay có bảo đảm bằng tài sảnNếu như tỷ lệ này cao chứng tỏ chất lượng bảo đảm tiền vay bằng tàisản là kém và ngược lại Tỷ lệ này chỉ nên duy trì dưới mức 3% là có thể chấpnhận được
1.3.2.2 Các chỉ tiêu định tính
Ngoài một số chỉ tiêu mang tính định lượng thì chất lượng bảo đảm tiềnvay còn được thể hiện qua những tiêu thức không thể lượng hóa được nhưngcũng rất quan trọng và có ảnh hưởng lớn Ở đây chỉ đề cập đến một số chỉ tiêuchủ yếu:
* Chỉ tiêu về hao mòn vô hình của tài sản thế chấp: Tài sản thế chấpthường là những máy móc, dây chuyền công nghệ có tính chất công nghệcao và thường bị hao mòn vô hình nhiều, khó dự đoán Nó có thể làm cho giátrị của tài sản dùng làm bảo đảm tiền vay giảm đi rất nhiều so với khi đượcđịnh giá ban đầu và làm cho ngân hàng bị thiệt thòi khi sử dụng tài sản lànguồn thu nợ thứ hai
* Độ chính xác của các giấy tờ liên quan đến tài sản: độ chính xác, rõràng và tính hợp pháp của các giấy tờ chứng nhận sở hữu hay quyền sở hữu
Trang 19hợp pháp đối với tài sản sẽ ảnh hưởng đến việc xử lý tài sản đảm bảo có được
dễ dàng không Do chất lượng bảo đảm tiền vay phản ánh sự thu hồi cáckhỏan vay của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ, nên nếu ngânhàng không thể thanh lý tài sản đảm bảo thì không thể coi là có được chấtlượng bảo đảm tiền vay cao
* Chỉ tiêu về khả năng đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng trên
cơ sở tài sản đảm bảo: đương nhiên là ngân hàng chỉ cho vay món vay có giátrị thấp hơn giá trị tài sản đảm bảo nhưng vấn đề là thấp hơn bao nhiêu là hợp
lý Nếu mức chênh lệch về giá trị này quá lớn thì khách hàng sẽ bị thiệt thòi
và sẽ không muốn vay vốn tại ngân hàng, còn nếu ngân hàng cho vay mónvay gần với giá trị tài sản đảm bảo thì ngân hàng sẽ khó đảm bảo được chấtlượng bảo đảm tiền vay
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm tiền vay
Chất lượng hoạt động cho vay có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại vàphát triển của ngân hàng Để đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động này,phải hiểu rõ tác động của các nhân tố tác động tới chất lượng hoạt động bảođảm tiền vay Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm nhóm nhân tố thuộc về phíamôi trường, từ phía khách hàng và do cả chính ngân hàng tạo ra
1.4.2.1 Các nhân tố thuộc về môi trường
* Môi trường kinh tế : Ngân hàng cũng là một chủ thể kinh doanh trongnền kinh tế nên bất kì biến động nào của nền kinh tế nói chung cũng sẽ đều ảnhhưởng đến hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động bảo đảm tiền vay bởi
vì nó có liên quan mật thiết với tài sản của các tổ chức cá nhân tham gia trongnền kinh tế Khi nền kinh tế có những biến động như lạm phát, mất cân đối cungcầu thì các tài sản đảm bảo mà ngân hàng nắm giữ có thể sẽ biến động về giá
cả và gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý tài sản đảm bảo
* Môi trường pháp lý : Chiến lược, đường lối, chủ trương chính sáchphát triển kinh tế của Đảng và nhà nước là nhân tố định hướng quyết định
Trang 20mục tiêu kinh doanh của các chủ thể tham gia Từng chủ thể tham gia phảixây dựng kế hoạch phát triển sản xuất, kinh doanh của mình, cân đối tài chínhtheo đường lối của Đảng và nhà nước Vì thế, trong quá trình thực hiện khinhà nước thấy cần phải điều chỉnh các chính sách phát triển kinh tế cho phùhợp với mục tiêu phát triển, điều này sẽ làm cho các khách hàng bị tác độngtrực tiếp hay gián tiếp và gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ Vẫn biếtpháp luật tạo hành lang an toàn cho hoạt động cho vay có bảo đảm, quy địnhmọi chủ thể trong quan hệ này phải tuân thủ theo pháp luật, phải thực hiện tốtnghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi cho họ Nhưng nếu hệ thống pháp luật ban hànhkhông đồng bộ và chưa thật phù hợp với yêu cầu của hoạt động bảo đảm tiềnvay như thiếu các văn bản dưới luật và có những vấn đề mâu thuẫn thì sẽ ảnhhưởng đến chất lượng của hoạt động này Hiện nay, luật về thế chấp, cầm cốcòn nhiều vấn đề cần phải tranh cãi, nhiều quy trình thủ tục còn thiếu chặt chẽgây khó khăn cho ngân hàng và cả khách hàng.
1.4.2.2 Các nhân tố về phía khách hàng
Trước hết phải nói đến vấn đề đạo đức khách hàng Tư cách đạo đứccủa khách hàng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của bảo đảm tiền vay.Khi khách hàng đến ngân hàng vay vốn, họ thường có xu hướng che giấunhững thông tin không tốt về mình để mong được ngân hàng cho vay Ngay
cả khi tài sản đảm bảo của họ có vấn đề họ cũng không muốn để ngân hàngbiết Nếu khách hàng có hành vi cố tình lừa đảo ngân hàng, cung cấp cácthông tin sai sự thật mà ngân hàng không thể kiểm tra được thì ngân hàng sẽgặp rủi ro rất cao đồng thời việc đảm bảo tiền vay cũng không có tác dụng gìnữa Ngân hàng có thể lâm vào tình trạng có tài sản đảm bảo mà cũng nhưkhông khi tài sản thế chấp thực chất đã hết giá trị hay giấy chứng nhận sở hữugiả mạo Có nhiều trường hợp khách hàng cố tình lợi dụng các khe hở củapháp luật để cố tình chây ỳ, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý tàisản đảm bảo khiến việc thu hồi nợ của ngân hàng bị kéo dài và như vậy làmục đích của bảo đảm tiền vay cũng không thực hiện được
Trang 21Nhân tố thứ hai từ phía khách hàng là năng lực của khách hàng Cónhững doanh nghiệp có vốn tự có quá ít, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh lớn,vốn vay quá nhiều khiến doanh nghiệp không có khả năng tự chủ về tài chính,
bị động trong sản xuất kinh doanh, vì vậy nợ đến hạn thiếu khả năng thanhtoán ngay Hay năng lực quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp bị hạn chế thìcác phương án sản xuất kinh doanh có thể không phù hợp với thực tế nên bịthua lỗ trong hoạt động, dẫn đến khả năng trả nợ kém Nếu năng lực kém, họcũng không xác định được giá trị thực sự của tài sản mà họ đem đi cầm cố thếchấp hoặc có thể họ cũng là người bị lừa Vì vậy một khách hàng có năng lựckinh doanh, năng lực tài chính, có uy tín và có tư cách đạo đức tốt thì chấtlượng của hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động bảo đảm tiền vay nóiriêng sẽ được nâng cao
1.4.2.3 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
* Chất lượng công tác thẩm định và quy trình cho vay : Quá trình chokhách hàng vay được bắt đầu từ khi thẩm định cho vay, phát tiền vay, kiểmtra quá trình sử dụng vốn vay đến khi thu hồi được nợ Trong toàn bộ quátrình đó, thẩm định là khâu quan trọng nhất, đây là khâu đưa ra quyết định đểcho vay, thời gian, số tiền vay và hình thức bảo đảm Nếu khâu này được làmtốt sẽ tăng khả năng thu hồi cả gốc và lãi khi đến hạn thanh toán, tạo điều kiệncho vốn tín dụng luân chuyển nhanh Khi quyết định cho vay, ngân hàng phảitính toán đảm bảo theo đúng quy định của chế độ tín dụng hiện hành để thựchiện đầu tư vốn có hiệu quả Trước khi ký duyệt cho vay phải tính đến sự antoàn, khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của khoản vay Thực hiện tốt quytrình cho vay và khâu bảo đảm tiền vay sẽ hạn chế được nhiều bất lợi xảy ra
và đảm bảo được độ an toàn của vốn Việc thẩm định tài sản đảm bảo đượcthực hiện cẩn thận bao nhiêu thì mức độ thiệt hại của ngân hàng sẽ càng đượchạn chế trong trường hợp phải xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ
Trang 22* Năng lực trình độ của các cán bộ ngân hàng : Để có thể thực hiệncông tác thẩm định, định giá và xử lý tài sản đảm bảo một cách hiệu quả và cóchất lượng thì yếu tố quan trọng nhất là năng lực trình độ của các cán bộ ngânhàng Nếu đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn cao, am hiểu phápluật và có kinh nghiệm thì sẽ đánh giá về tài sản đảm bảo chính xác hơn vàcũng không bị khách hàng lừa bịp Hơn nữa cán bộ tín dụng cũng cần phảinắm bắt về tình hình thị trường để định giá tài sản đảm bảo cũng như khi xử
lý tài sản sẽ không làm cho ngân hàng bị thua thiệt
* Đạo đức của cán bộ tín dụng : Một người cán bộ tín dụng tốt khôngphải chỉ có năng lực cao mà còn cần phải có đạo đức nghề nghiệp Bởi nếukhông có đạo đức tốt thì cho dù người đó có giỏi đến đâu cũng chỉ là vô dụng,thậm chí là còn có hại khi người đó sử dụng năng lực của mình để trục lợi chobản thân Nếu người thẩm định cố tình định giá sai, định giá cao hơn giá trịthật của tài sản thì sẽ làm ngân hàng bị thiệt hại khi phải xử lý tài sản đảmbảo
* Thông tin: Thông tin là yếu tố không thể thiếu được và là yếu tố quantrọng cho việc ra quyết định cho vay cũng như lựa chọn hình thức bảo đảmtiền vay Thông tin ở đây là thông tin cả về khách hàng lẫn về tài sản đảmbảo Trên cơ sở những thông tin đó người quản lý có thể đưa ra những quyếtđịnh đúng đắn về việc cho vay có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảođảm, biện pháp quản lý cần thiết để theo dõi thu hồi nợ Nguồn cung cấpthông tin có thể từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống Muốn có thông tinnhanh, chính xác và toàn diện thì đòi hỏi phải có bộ phận tổng hợp, phân tích
và xử lý thông tin, loại trừ thông tin nhiễu Chất lượng thông tin ảnh hưởngđến chất lượng cho vay cũng như hoạt động bảo đảm tiền vay Nếu chất lượngthông tin càng cao thì khả năng phòng ngừa rủi ro càng lớn
* Chiến lược, định hướng cho vay trong từng thời kì và chế độ quản lý,
xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng : Trong mỗi thời kì khác nhau, do ảnhhưởng của các quy định hay tình hình thị trường cạnh tranh giữa các tổ chức
Trang 23tín dụng mà ngân hàng có những mục tiêu, chiến lược cho vay thông thoánghay chặt chẽ Nếu ngân hàng cần đẩy mạnh hoạt động tín dụng của mình thìngân hàng sẽ mở rộng danh mục tài sản đảm bảo cũng như linh hoạt hơntrong các biện pháp bảo đảm tiền vay, tất nhiên là vẫn phải đảm bảo an toàn.Bên cạnh đó công tác bảo quản, quản lý cũng như xử lý tài sản đảm bảo cũng
có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bảo đảm tiền vay Nếu quản lýkhông tốt tài sản bị giảm giá trị, gây mất lòng tin đối với khách hàng khi họđem tài sản cầm cố, thế chấp đồng thời còn làm giảm doanh thu của ngânhàng khi thanh lý tài sản Như vậy sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm tiềnvay của ngân hàng
Tóm lại, việc hoàn thiện quy trình tín dụng cùng với quy trình thực hiện
nghiệp vụ bảo đảm tiền vay và tuân thủ nghiêm túc các quy trình đó là mộtyêu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của hoạt động tíndụng Và chỉ khi mỗi cán bộ tín dụng coi những quy trình này như địnhhướng soi đường, la bàn chỉ lối trong hoạt động của mình thì khi ấy hiệu quảcủa công tác tín dụng mới được nâng cao, khả năng cạnh tranh và tiềm lựcphát triển của ngân hàng mới càng ngày càng vững mạnh
Trang 24CHƯƠNG II- THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
KHU VỰC II – HAI BÀ TRƯNG2.1 Khái quát về Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực
II Hai Bà Trưng có thể khái quát như sau:
Từ năm 1988 trở về trước , chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực
II Hai Bà Trưng là ngân hàng Nhà nước Việt Nam quận Hai Bà Trưng
Sau khi thực hiện nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của hộiđồng bộ trưởng (nay là Chính Phủ) về tổ chức bộ máy ngân hàng Nhà nướcViệt Nam chuyển sang cơ chế ngân hàng hai cấp, từ một chi nhánh ngân hàngNhà nước cấp quận và một chi nhánh ngân hàng kinh tế cấp quận thuộc địabàn quận Hai Bà Trưng, trực thuộc ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nộichuyển thành các chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực I và II quận Hai
Bà Trưng trực thuộc chi nhánh ngân hàng Công thương thành phố Hà Nộithuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam Từ 1988 đến tháng 4/1993 là chinhánh trực thuộc Ngân hàng Công thương thành phố Hà Nội Thời kỳ này cơ
sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng còn nghèo nàn ,sản phẩm dịch vụ đơn điệu,kinh doanh đối nội là chủ yếu Đội ngũ cán bộ ngân hàng được đào tạo trong
cơ chế cũ đông về số lượng nhưng yếu về chất lượng , nhất là kiến thức vàkinh nghiệm kinh doanh trong cơ chế mới Qui mô hoạt động của ngân hàngtrong thời kỳ này còn nhỏ
Trang 25Từ 1/4/1993 đến nay : chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai
Bà Trưng là chi nhánh trực thuộc ngân hàng Công thương Việt Nam theoquyết định số 93/NHCT-TCCB ngày 01/04/1993 của tổng giám đốc ngân hàngCông thương Việt Nam về sắp xếp lại bộ máy tổ chức ngân hàng Công thươngtrên địa bàn thành phố Hà Nội theo mô hình quản lý hai cấp của ngân hàngCông thương Việt Nam, bỏ cấp thành phố, hai chi nhánh ngân hàng Côngthương khu vực I và II Hai Bà Trưng là những chi nhánh trực thuộc ngân hàngCông thương Việt Nam được tổ chức hạch toán kinh tế và hoạt động như cácchi nhánh ngân hàng Công thương cấp tỉnh, thành phố Kể từ ngày 01/09/1993,theo quyết định của tổng giám đốc ngân hàng Công thương Việt Nam, sát nhậpchi nhánh ngân hàng Công thương khu vực I và chi nhánh ngân hàng Côngthương khu vực II Hai Bà Trưng Như vậy kể từ ngày 01/09/1993 trên địa bànquận Hai Bà Trưng ( Hà Nội ) chỉ còn duy nhất một chi nhánh ngân hàng Côngthương là chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng
Hiện nay, ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng đã vượtqua những khó khăn ban đầu và khẳng định được vị trí, vai trò của mình trongnền kinh tế thị trường, đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động
mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hóa các dịch vụ kinh doanh tiền tệ Mặtkhác ngân hàng còn thường xuyên tăng cường việc huy động vốn và sử dụngvốn, thay đổi cơ cấu đầu tư phục vụ phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần theo định hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa
2.1.2 Nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Chi nhánh
* Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng thựchiện 3 nhiệm vụ cơ bản :
- Sử dụng có hiệu quả ,bảo toàn và phát triển vốn và các nguồn lựckhác của Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 26- Tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn hiệu quảphục vụ tốt cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giaiđoạn đổi mới hiện nay
- Thực hiện nghĩa vụ về tài chính theo quy định của pháp luật và củaNgân hàng Công thương Việt Nam
* Bộ máy tổ chức của Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực IIHai Bà Trưng:
Chi nhánh có 315 cán bộ nhân viên và có >60% trình độ Đại học vàtrên Đại học với 2 phòng giao dịch đặt tại kiốt số 1 2 3 chợ Hôm (phố Huế -
Hà Nội ) & tại phố Trương Định &10 phòng nghiệp vụ Chi nhánh có 116cán bộ là Đảng viên Đảng bộ trực thuộc quận uỷ quận Hai Bà Trưng Nhữngnăm qua, Đảng bộ chi nhánh liên tục là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh
Ban lãnh đạo :1 Giám đốc và 2 phó Giám đốc
Chi nhánh có 11 phòng nghiệp vụ : (theo mô hình tổ chức mới từ2/2004) : Phòng tổng hợp tiếp thị, khách hàng 1(phòng khách hàng doanhnghiệp lớn), phòng khách hàng 2(phòng khách hàng doanh nghiệp vừa vànhỏ), phòng khách hàng 3 (gồm bộ phận cho vay khách hàng là cá nhân và bộphận huy động vốn có 13 quỹ tiết kiệm /điểm giao dịch ), phòng tổ chức hànhchính, phòng kiểm tra nội bộ, phòng ngân quỹ, phòng thông tin điện toán,phòng kế toán giao dịch, phòng kế toán tài chính và phòng tài trợ thương mại.Chi nhánh đã nắm bắt trình độ, năng lực của các cán bộ, đưa họ vào vị trí hợp
lý và tạo điều kiện cho họ phát huy hết năng lực đem lại hiệu quả cho hoạtđộng của Chi nhánh.Và tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét về các kết quả hoạtđộng kinh doanh mà Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai BàTrưng đã đạt được trong thời gian qua
Trang 272.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trong những năm gần đây
I Phân theo đối tượng
1 Tiền gửi dân cư 726 34% 731,5 32,7% 932 38,5%
2 Tiền gửi DN 1404 66% 1505,5 67,3% 1485 61,5%
II Phân theo kì hạn
1 Có kì hạn 1659 77,9% 1568 21,4% 1085,5 73,1%
2 Không kì hạn 471 22,1% 426 78,6% 399,8 26,9%III Phân loại theo loại tiền gửi
2 Ngoại tệ quy đổi 362 17% 427 18,6% 433 17,9%
(Nguồn:Báo cáo về tình hình huy động vốn của Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng)
Qua bảng số liệu trên ta thấy thời gian qua chi nhánh có được nguồntiền gửi ổn định về số lượng và chất lượng là do chi nhánh đã có rất nhiềuchính sách để khuyến khích khách hàng gửi tiền ,bên cạnh chính sách lãi suấtchủ động linh hoạt ,chi nhánh còn luôn phối hợp hài hoà với hình thức huyđộng vốn linh hoạt hấp dẫn lãi suất tiền gửi hợp lý cho từng đối tượng kháchhàng , đẩy mạnh cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiện ích song songvới việc đổi mới phong cách giao tiếp văn minh tận tình chu đáo Đồng thờitriển khai áp dụng công nghệ thông tin hiện đại vào công tác thanh toán nhất
là áp dụng 100% quy trình giao dịch tức thời đối với doanh nghiệp huy độngtiền gửi dân cư đảm bảo nhanh gọn ,chính xác
Trang 28Năm 2004, trong bối cảnh tình hình kinh tế, tiền tệ thế giới diễn biếnphức tạp đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình phát triển kinh tế nước ta nóichung và hoạt động ngành ngân hàng nói riêng, chi nhánh ngân hàng Côngthương Hai Bà Trưng cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó Tuy nhiên chinhánh vẫn đạt được những kết quả khả quan.
Năm 2004, công tác huy động vốn tiền gửi dân cư gặp rất nhiều khókhăn nhất là sự cạnh tranh hết sức sôi động, gay gắt giữa các ngân hàngthương mại hoạt động trên địa bàn quận Hai Bà Trưng Mặc dù từ cuối tháng9/2004 ngân hàng Công thương Việt Nam đã tăng lãi suất và đến tháng11/2004 đã đưa ra nhiều hình thức khuyến mại hấp dẫn, nhưng trong sự cạnhtranh của các ngân hàng thương mại khác trong quý cuối năm đã đồng loạt ápdụng các biện pháp khuyến mại và tăng lãi suất, do vậy phần nào làm ảnhhưởng đến nguồn vốn huy động Tuy nhiên chi nhánh đã chủ động triển khainhiều biện pháp để ổn định nguồn vốn tiền gửi dân cư
Khai trương thêm quỹ tiết kiệm số 51, nâng tổng số quỹ tiết kiệm củachi nhánh lên 14 quỹ, mặt khác nhằm chuẩn bị đón bắt mở rộng màng lưới tớiquận Hoàng Mai mới thành lập
Chi nhánh đã tổ chức lớp tập huấn về “Văn hóa phong cách giao tiếp”cho cán bộ, từ đó đã giúp từng cán bộ tại các quỹ tiết kiệm và các điểm giaodịch luôn chú ý đến phong cách giao dịch đối với khách hàng Mặt khác chinhánh đã cải tạo, sửa chữa, nâng cấp và bổ sung thêm trang thiết bị máy móc,chuẩn bị tốt cơ sở vật chất tại các quỹ tiết kiệm, đảm bảo phục vụ khách hàngđược ngày một tốt hơn Đồng thời chi nhánh cũng thực hiện tốt trong các đợttriển khai tiết kiệm dự thưởng, phát hành kỳ phiếu theo chỉ đạo của ngân hàngCông thương Việt Nam Từ những biện pháp tích cực và uy tín của chi nhánh
đã phần nào hạn chế được tốc độ giảm nguồn vốn huy động tiền gửi dân cư
Năm 2005, cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng ngày càng quyết liệt
Do áp lực của tiến trình hội nhập các ngân hàng tìm mọi biện pháp để nângcao năng lực cạnh tranh Ngoài ra các kênh huy động khác cũng được triển
Trang 29khai như : Trái phiếu xây dựng Thủ đô, các công ty bảo hiểm, cổ phần cácdoanh nghiệp Nhà nước càng làm cho việc cạnh tranh về nguồn vốn trở nênquyết liệt hơn.
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của chi nhánh năm 2005 sovới năm trước thấp Công tác huy động vốn tiền gửi dân cư gặp rất nhiều khókhăn Ngoài những nguyên nhân khách quan như cạnh tranh quyết liệt giữacác ngân hàng thương mại, nền kinh tế xuất hiện nhiều kênh huy động vốnkhác nhau như: các công ty Bảo hiểm, tiết kiệm Bưu điện, thị trường chứngkhoán, trái phiếu Chính Phủ thì còn do nguyên nhân chủ quan là các dịch vụngân hàng tuy đã được quan tâm phát triển nhưng tiện ích còn chưa đáp ứngđược yêu cầu của đời sống, chưa tạo được thói quen thanh toán qua ngân hàngtrong quảng đại dân chúng nên việc thu hút nguồn vốn trong thanh toán cònrất hạn chế Ngoài ra chi nhánh còn thiếu những giải pháp thuộc nhóm độnglực tinh thần nên thái độ phục vụ của giao dịch viên tuy đã được học tập nângcao văn hóa giao tiếp nhưng vẫn còn một số bất cập Đây là nguyên nhânchính dẫn tới công tác huy động vốn yếu kém so với các ngân hàng trên địabàn Hệ thống quỹ tiết kiệm của chi nhánh còn nhiều địa điểm chật hẹp khôngthuận lợi và khang trang, chưa phù hợp với hoạt động kinh doanh ngân hàng.Việc mở rộng màng lưới quỹ tiết kiệm tới các trung tâm dân cư trong nămqua chưa phát triển được
Trang 30I.Phân theo kì hạn
1.Ngắn hạn 519,5 56,5% 599 63,4% 513 30,7% 2.Trung và dài hạn 400,5 43,5% 345 36,6% 227 69,3% II.Phân loại theo chất lượng tín dụng
1.Dư nợ trong hạn 910,4 99% 807,5 92,3% 670,5 90,6% 2.Dư nợ quá hạn 9,6 1% 73,5 7,7% 69,5 9,4% III.Phân loại theo đơn vị tiền tệ
1.VNĐ 660 71,7% 735,5 78% 547 74% 2.Ngoại tệ quy đổi 260 28,3% 208,2 22% 193 26%
(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động tín dụng của Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng)
Về chất lượng tín dụng năm 2003, chi nhánh quan tâm chú ý đến việcnâng cao tiêu chuẩn tín dụng, chọn lọc khách hàng, tuân thủ chặt chẽ quy trìnhnghiệp vụ tín dụng, đặc biệt là khâu thẩm định cho vay Do vậy đã kiềm chếđược nợ quá hạn phát sinh Thực hiện chỉ đạo của ngân hàng Công thương ViệtNam, công tác xử lý nợ tồn đọng đã triển khai rất tích cực, tất cả các khỏan nợtồn đọng đều được rà soát lại và phân tích những khó khăn thuận lợi để tìm rabiện pháp xử lý phù hợp nhất Tổng số nợ xử lý trong năm 2003 được 5184triệu đồng, trong đó xử lý rủi ro 2039 triệu đồng, được ngân hàng Công thươngViệt Nam đánh giá, xếp loại khá trong công tác xử lý nợ tồn đọng
Qua tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của Chi nhánh ngân hàngCông thương khu vực II Hai Bà Trưng cho thấy vị thế của chi nhánh ổn định
và ngày một phát triển Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai BàTrưng đã trở thành địa chỉ tin cậy của mọi khách hàng, nhất là từ cuối năm
2003 thực hiện chương trình hiện đại hoá ngân hàng, các dịch vụ ngày một đa
Trang 31dạng, tiện ích và có nhiều hấp dẫn khách hàng hơn Công tác huy động vốncũng như sử dụng vốn từng bước tăng lên vững chắc, các lĩnh vực yếu kém đã
và đang từng bước được cải thiện, các khu vực chưa được quan tâm nay cónhững chú trọng thích đáng ví dụ như huy động vốn tiền gửi của các tổ chứckinh tế đặc biệt là những nơi có số lượng vốn lớn Về sử dụng vốn: chi nhánhcũng có những sách lược, chiến lược với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
Biểu 3: Cơ cấu cho vay theo loại hình kinh tế
Quán triệt nghiêm túc sự chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước và ngânhàng Công thương Việt Nam trong công tác tín dụng, về việc nâng cao chấtlượng tăng trưởng đi đôi với kiểm soát chặt chẽ vốn vay Chi nhánh đưa rađịnh hướng cụ thể nhằm minh bạch hóa chất lượng tín dụng và nâng cao chấtlượng tín dụng, tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng quản lý của chinhánh Trên cơ sở chọn lọc khách hàng, giảm dần dư nợ đối với những doanhnghiệp có tình hình tài chính yếu kém, vốn chủ sở hữu thấp hơn so với quyđịnh, nâng cao chất lượng thẩm định dự án, coi trọng hiệu quả kinh tế, thựchiện nghiêm túc các quy chế tín dụng hiện hành, năm 2004 hoạt động cho vaycủa chi nhánh đã thực hiện tốt các chỉ tiêu đã đề ra
Về nâng cao chất lượng tín dụng : chi nhánh quan tâm chú ý đến việcnâng cao tiêu chuẩn tín dụng, chọn lọc khách hàng, tuân thủ chặt chẽ quytrình nghiệp vụ tín dụng, đặc biệt là khâu thẩm định cho vay nhằm đảm bảo
an toàn vốn cho vay và hiệu quả vốn tín dụng
Cá nhân Nước ngoài
Trang 32Do tỷ trọng vốn vay của chi nhánh đầu tư đối với thành phần kinh tế doanhnghiệp Nhà nước chiếm tỷ lệ 93,6% trong tổng dư nợ, nên chi nhánh đã thực hiệnviệc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, từ đó đánh giá khả năng kinhdoanh và có kế hoạch dư nợ đối với từng doanh nghiệp phù hợp với khả năng tàichính và hoạt động kinh doanh, ổn định và nâng cao được chất lượng tín dụng.
Đối với các doanh nghiệp vốn chủ sở hữu thấp, tình hình tài chính khókhăn, vốn bị chiếm dụng, gia hạn nợ nhiều lần và có nợ quá hạn chi nhánh
đã kiên quyết giảm dần dư nợ như công ty Dệt 8/3, hoặc chỉ thu nợ không chovay tiếp tục như: công ty COMA3, xí nghiệp sửa chữa nhà cửa, công ty vậtliệu xây dựng và xuất nhập khẩu Hồng Hà
Về xử lý thu hồi nợ tồn đọng : chi nhánh đã thực hiện nghiêm túc vàkiên quyết theo chỉ đạo của ngân hàng Công thương Việt Nam Tổng số xử lý
nợ xấu là 8.619 triệu đồng Đối với khoản nợ đã có bản án của Trung tâmcông nghệ Hóa Môi Sinh, chi nhánh đã tích cực phối hợp với phòng thi hành
án để kiên quyết thu hồi và đã đạt kết quả với tổng số thu đến 31/12/2004 là
351 triệu đồng ( gồm cả nợ gốc và lãi )
Về dư nợ quá hạn đến 31/12/2004 là 73.491 triệu đồng chiếm 7,7%trong tổng dư nợ, tăng so với 31/12/2003 là 64 tỷ Chi nhánh đã thực hiệntrích dự phòng rủi ro là 17,9 tỷ đồng Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn là dobiến động thị trường, thay đổi cơ chế, các đơn vị xây dựng các công trìnhthanh toán bằng vốn ngân sách quyết toán công trình và thanh toán vốn chậmnên các đơn vị không trả nợ ngân hàng kịp thời theo kế hoạch
Về công tác bảo lãnh : đến 31/12/2004 doanh số bảo lãnh đạt 70 tỷđồng Dư bảo lãnh là 125,3 tỷ
Về cho vay không có đảm bảo bằng tài sản : Do đặc điểm của chinhánh tỷ lệ cho vay doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ lệ cao trong tổng dư nợnên tỷ lệ cho vay không có đảm bảo bằng tài sản tương đối lớn Do vậy chinhánh đã tập trung, tích cực tìm mọi biện pháp để giảm thấp tỷ lệ này từ 97%
từ đầu năm 2004 xuống còn 81,7%, phấn đấu đảm bảo kế họach đề ra
Trang 33Năm 2005 dư nợ cho vay nền kinh tế của chi nhánh chỉ đạt 78,4% sovới năm 2004, nguyên nhân của việc giảm sút này là: Xử lý các khoản nợphân nhóm 5 theo QĐ 234/QĐ-NHCT37, nếu tính cả dư nợ nhóm 5 tổng dư
nợ cũng chỉ bằng 87% so với năm 2004 và quán triệt chỉ đạo của ngân hàngCông thương Việt Nam trong công tác tín dụng về đẩy mạnh các biện pháp nângcao chất lượng tín dụng gắn liền với tăng trưởng tín dụng hợp lý đi đôi với nănglực quản lý và kiểm soát chặt chẽ vốn vay Trên cơ sở chọn lọc khách hàng, chinhánh đã giảm dần dư nợ và ngừng quan hệ cho vay đối với những doanh nghiệp
có tình hình tài chính yếu kém, vốn chủ sở hữu thấp hơn so với quy định, không
có khả năng trả nợ ngân hàng Bên cạnh đó chưa phát triển cho vay được các
dự án mới và các đơn vị vay vốn mới
Năm 2005 là năm bộc lộ chất lượng tín dụng yếu kém tồn tại của nhiềunăm trước để lại, cũng là năm đầu tiên thực hiện phân loại nợ theo quyết định234/QĐ-NHCT37, đòi hỏi các chi nhánh hạch toán phân loại nợ theo đúngquy định gần chuẩn mực quốc tế làm minh bachj hóa các khỏan nợ, do đóviệc trích dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu trong năm rất lớn lên tới124,4 tỷ đồng lớn gấp 6,9 lần so với năm 2004 nên ảnh hưởng lớn đến hiệuquả kinh doanh của chi nhánh
Dư nợ quá hạn 49,176 triệu đồng ( giảm so với đầu năm 21,1 tỷ ), chiếm6,6% trong tổng dư nợ Trong năm doanh số nợ quá hạn phát sinh 192,8 tỷ;Doanh số thu nợ quá hạn là 217 tỷ; Thu nợ sau xử lý rủi ro là 811 triệu Nợ giahạn 56,803 triệu đồng ( giảm so với đầu năm 36,7 tỷ ), chiếm 7,6% trong tổng dư
nợ Doanh số phát sinh nợ gia hạn 186,3 tỷ Doanh số thu nợ gia hạn là 253,3 tỷ
Tuy nhiên nếu tính cả nợ đã xử lý nhóm 5 thì nợ xấu đến 31/12/2005là: 187 tỷ tăng so với năm 2004 là 20 tỷ Nợ xấu thuộc nhóm 3,4 vẫn còn rấtlớn: 161.049 triệu, chiếm 21,7% trong tổng dư nợ
Việc nợ quá hạn và nợ gia hạn của chi nhánh phát sinh lớn một phầnnguyên nhân là do các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ, tài chính
Trang 34trách nhiệm của cán bộ tín dụng còn hạn chế, chưa theo sát và đánh giá đượchoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp Nhànước dẫn tới đơn vị lỗ lớn nhưng không biết vẫn tiếp tục đầu tư, thậm chíngay từ khâu thẩm định và quyết định cho vay cũng thể hiện nhiều tồn tại vàyếu kém, việc cương quyết và chủ động tìm mọi biện pháp để thu hồi nợ xấucòn hạn chế và chưa đủ mạnh nên kết quả còn rất thấp Tuy nhiên chi nhánhcũng đã đề ra những giải pháp tích cực nhằm đẩy mạnh thu nợ xấu, như giaochỉ tiêu thu nợ xấu cho từng phòng trên cơ sở đó giao cho từng cán bộ tíndụng gắn với thi đua khen thưởng và đánh giá cán bộ nên đã thu được trên 15
tỷ nợ được đánh giá là khó thu
Về tỷ lệ cho vay doanh nghiệp Nhà nước : 79%, vượt 9% so với kếhoạch ngân hàng Công thương Việt Nam giao và giảm 14,6% so với năm 2004
Về thực chất tỷ lệ này giảm là do 1 số doanh nghiệp Nhà nước thực hiện cổphần hóa, còn dư nợ đối với khu vực dân doanh tăng trưởng không lớn
Về tỷ lệ nợ cho vay không có đảm bảo bằng tài sản : 79,8%, vượt 4,8%
so với kế hoạch ngân hàng Công thương Việt Nam giao và giảm 1,9% so vớinăm 2004 Với đặc điểm của chi nhánh tỷ lệ cho vay doanh nghiệp Nhà nướcchiếm tỷ lệ cao trong tổng dư nợ, nên tỷ lệ cho vay không có đảm bảo bằngtài sản tương đối lớn, do vậy chi nhánh đã tập trung, tích cực tìm mọi biệnpháp yêu cầu khách hàng bổ sung hoàn thiện hồ sơ tài sản bảo đảm để giảmthấp tỷ lệ này Tuy nhiên cũng còn những khó khăn nhất định vì đây là cáckhoản nợ không có tài sản bảo đảm của các doanh nghiệp Nhà nước từ trước,nhiều tài sản bảo đảm chưa hoàn thiện về mặt hồ sơ pháp lý, giá trị tài sản bảođảm thấp nhất là các dây chuyền máy móc thiết bị lạc hậu, đặc chủng, nhiều đơn
vị ngân hàng đã ngừng cho vay nên việc bổ sung tài sản thế chấp là rất khó
2.2 Thực trạng tình hình bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng
2.2.1 Các qui định chung khi thực hiện hoạt động bảo đảm tiền vay
Trang 35Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng thực hiệncho vay bảo đảm theo quy định chung của Ngân hàng Công thương Việt Nam.
* Về xác định giá trị tài sản đảm bảo: Xác định đất thế chấp, bảo lãnhtheo quy định tại Nghị định số 85/2002/NĐ-CP: Trường hợp đất do Nhà nướcgiao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp;đất ở; đất mà hộ gia đình, cá nhân nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụngđất hợp pháp thì giá trị quyền sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh do Giám đốcngân hàng cho vay và khách hàng vay, bên bảo lãnh thoả thuận theo giá đấtthực tế chuyển nhượng ở địa phương tại thời điểm thế chấp, bảo lãnh, đồngthời cần thoả thuận tính toán điều chỉnh giá để bảo đảm khi giá bất động sảnbiến động giảm vẫn bán được tài sản bảo đảm dễ dàng, thu hồi đủ vốn vay cảgốc và lãi
* Thành lập tổ thẩm định tài sản bảo đảm (bao gồm cả tài sản là quyền
sử dụng đất và tài sản không phải là quyền sử dụng đất ): Các ngân hàng chovay phải thành lập tổ thẩm định tài sản bảo đảm Nhiệm vụ của tổ thẩm định :thẩm định các điều kiện của tài sản bảo đảm; thực hiện định giá và định giálại tài sản bảo đảm; chú trọng thẩm định hồ sơ, giấy tờ pháp lý xác nhậnquyền sử dụng đất hợp pháp, khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng, phátmại, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để thu nợ Việcđịnh giá và định giá lại tài sản bảo đảm phải được lập thành văn bản riêngkèm theo hợp đồng bảo đảm
* Định giá lại tài sản bảo đảm: Để tránh rủi ro, ngân hàng cho vay phảithường xuyên theo dõi và định giá lại tài sản bảo đảm trong từng thời kỳ vàtrên cơ sở định giá lại, ngân hàng cho vay yêu cầu khách hàng bổ sung thêmtài sản bảo đảm (phần giá trị còn thiếu so với dư nợ) hoặc giảm dư nợ tươngứng (kể cả hạn mức tín dụng) cho phù hợp và lập hợp đồng bảo đảm, hợpđồng tín dụng bổ sung Những trường hợp cần thiết hoặc vượt quá năng lực,trình độ chuyên môn của cán bộ, ngân hàng cho vay thuê tổ chức tư vấn,
Trang 36* Về mức cho vay so với giá trị tài sản bảo đảm: Mức cho vay tối đakhông quá 70% giá trị tài sản bảo đảm đã được xác định và ghi trên hợp đồngtín dụng, hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh Đối với tài sản bảo đảm là kimkhí quý, đá quý: Mức cho vay tối đa không quá 80% giá trị tài sản bảo đảm đãđược xác định và ghi trên hợp đồng tín dụng , hợp đồng cầm cố, bảo lãnh.Còn đối với tài sản bảo đảm là trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiềngửi, sổ tiết kiệm, và các giấy tờ có giá khác trị giá được bằng tiền do Chínhphủ, Bộ tài chính và các Ngân hàng thương mại Nhà nước phát hành: Mứccho vay so với giá trị tài sản bảo đảm do Giám đốc ngân hàng cho vay quyếtđịnh trên nguyên tắc giá trị tài sản bảo đảm vào thời điểm nợ vay đến hạn (kể
cả trường hợp rút trước hạn) đủ để thanh toán toàn bộ tiền vay, tiền lãi và cáckhoản phí khác (nếu có) Trường hợp những dự án/ phương án, có mức vốn
đề nghị vay cao hơn các tỷ lệ quy định trên, ngân hàng cho vay thẩm định nếu
có hiệu qủa, đảm bảo khả năng trả nợ thì lập tờ trình thẩm định (kèm theo hồ
sơ và biên bản họp Hội đồng tín dụng ) trình Tổng giám đốc xem xét, quyếtđịnh
* Về cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Giám đốc ngân hàng chovay chủ động lựa chọn, quyết định và tự chịu trách nhiệm việc cho vay khôngphải áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản trên cơ sở khách hàng phải
có đủ các điều kiện quy định tại Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày29/12/1999, Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ vàhướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Công thương ViệtNam Mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với một khách hàng
do Tổng giám đốc ngân hàng Công thương Việt Nam quy định từng thời kỳtrên cơ sở mức độ tín nhiệm, đặc điểm về quy mô và chất lượng hoạt động,khả năng tài chính để trả nợ khách hàng
2.2.2 Tình hình thực hiện bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng
Trang 372.2.2.1 Tình hình bảo đảm tiền vay khi cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
Biểu 4: Tình hình bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh