Bản thân các yếu tố tạo nên giá trị của một DN luôn có sự thay đổi, luôn có sự tăng hoặc giảm, có sự xuất hiện hoặc biến mất của một số yếu tố nào đó. Chính vì vậy, GTDN luôn thay đổi theo thời gian, giá trị của DN là một khái niệm động
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 4
Chương I Cơ sở lý luận về định giá doanh nghiệp 5
1.1 Doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp 5
1.1.1 Lý thuyết chung về doanh nghiệp 5
1.1.2 Giá trị doanh nghiệp 5
1.2 Định giá doanh nghiệp là gì 6
1.3 Sự cần thiết phải định giá doanh nghiệp 7
1.4 Các nhân tố tác động đến giá trị doanh nghiệp 8
1.4.1 Yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 9
1.4.2 Các yếu tố thuộc môi trường ngành 10
1.5 Các phương pháp định giá doanh nghiệp 12
1.5.1 Phương pháp định giá doanh nghiệp theo tài sản 13
1.5.1.1 Khái niệm 13
1.5.1.2 Đối tượng áp dụng 13
1.5.1.3 Quy trình định giá doanh nghiệp theo phương pháp tài sản 13
1.5.1.4 Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản 16
1.5.1.5 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp tài sản 20
1.5.2 Phương pháp định giá doanh nghiệp theo dòng tiền chiết khấu 22
1.5.2.1 Khái niệm 22
1.5.2.2 Đối tượng áp dụng 22
1.5.2.3 Căn cứ xác định 22
1.5.2.4 Công thức xác định 22
1.5.2.5 Ưu điểm và nhược điểm phương pháp DCF 25
1.5.3 Các phương pháp khác 27
1.5.3.1 Phương pháp lợi nhuận 27
1.5.3.2 Phương pháp chiết khấu cổ tức trong tương lai 28
1.5.3.3 Phương pháp hệ số giá trên thu nhập (P/E) 28
Chương II thực trạng công tác định giá doanh nghiệp tại công ty kim khí Hà Nội 30
2.1 Vài nét khái quát về công ty 30
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển 30
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm kinh doanh của công ty 30
2.1.2.1 Chức năng 30
2.1.2.2 Nhiệm vụ 31
Trang 22.1.2.3 Đặc điểm kinh doanh của công ty 31
2.1.2.4 Mạng lưới kinh doanh của công ty 32
2.1.3 Tổ chức quản lý của công ty 34
2.2 Thực trạng định giá tại công ty kim khí Hà Nội 36
2.2.1 Căn cứ xác định 36
2.2.2 Hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp 38
2.2.3 Xác định giá trị doanh nghiệp công ty kim khí Hà Nội 39
2.2.3.1 Nguyên tắc định giá 41
2.2.3.2 Phương pháp tính (Phương pháp tài sản) 43
2.2.4 Nhận xét công tác định giá doanh nghiệp tại công ty kim khí Hà nội 51
2.2.4.1 Nguyên nhân tăng giảm tài sản trong ĐGDN tại công ty kim khí Hà Nội .51
2.2.4.2 Kết quả đạt được 55
2.2.4.3 Một số hạn chế 56
2.2.5 Nhận xét chung về quy chế ĐGDN của Nhà nước 57
Chương III Giải pháp hoàn thiện công tác ĐGDN tại công ty kim khí Hà Nội.60 3.1 Phương hướng phát triển của công ty 60
3.1.1 Mục tiêu, kế hoạch 60
3.1.1.1 Mục tiêu 60
3.1.1.2 Kế hoạch kinh doanh của công ty sau CPH 60
3.1.2 Phương hướng phát triển của công ty 61
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác ĐGDN tại công ty kim khí Hà Nội 62
3.3 Kiến nghị với Nhà nước 66
Kết luận 69
Tài liệu tham khảo 70
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển hướng tới một nềnkinh tế thị trường và từng bước CNH-HĐH Quá trình này đã đặt ra những yêucầu rất cấp bách đối với những DN trên nhiều lĩnh vực như vốn, công nghệ,nguồn nhân lực, sức cạnh tranh
Cũng trong xu thế vận động của nền KTTT, các hoạt động sáp nhập, mualại, hợp nhất hay thành lập các liên doanh thường diễn ra một cách thườngxuyên Cơ sở nền tảng của các hoạt động này đều dựa vào các kết quả đánh giá
và xác định GTDN Đồng thời, các kết quả đánh giá vể triển vọng của DN cũng
là cơ sở cho các tổ chức, các cá nhân và công chúng đầu tư ra quyết định đầu tưvào các loại chứng khoán do DN phát hành trên các thị trường tài chính.Khi nền KTTT phát triển đến một trình độ nhất định, DN cũng trở thành mộtloại hàng hoá, và khi nhu cầu mua bán, đầu tư rộng rãi trên thị trường thì hoạtđộng Định giá DN cũng trở nên sôi nổi và ngày càng được chú trọng
Tiến hành ĐGDN là đi xác định giá trị thực tế của DN Gía trị thực tế của
DN là giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của DN mà có tính đến khả năng sinhlời của DN trong tương lai
Không nằm ngoài xu thế vận động của nền KTTT, công ty Kim khí HàNội gần đây cũng tiến hành xác định GTDN khi CPH công ty Trong quá trìnhđịnh giá,công ty dã gặp một số khó khăn trong lựa chọn phương pháp địnhgiá,kiểm kê phân loại tài sản, xác định nguyên giá, chất lượng còn lại của tàisản Những khó khăn này khiến công tác định giá DN không được tiến hànhnhanh chóng, kết quả tính thiếu chính xác Vì vậy, trong quá trình thực tập tại
công ty, em đã nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác định giá DN tại công ty
kim khí Hà Nội” mong được góp một phần nhỏ bé để nâng cao chất lượng
ĐGDN cho công ty, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể quan tâmđến kết quả định giá
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về ĐGDN
Chương II: Thực trạng công tác ĐGDN tại công ty kim khí Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác ĐGDN
Trang 5Chương I : Cơ sở lý luận về định giá doanh nghiệp
1.1.Doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp.
1.1.1.Lý thuyết chung về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một thuật ngữ chỉ các tổ chức kinh tế, một tổ chức kinh
tế chỉ được gọi là doanh nghiệp nếu nó được thừa nhận về mặt pháp luật trênmột số tiêu chuẩn nào đó Pháp luật các quốc gia thường xây dựng tiêu chuẩn về: mức vốn tối thiểu, mục tiêu hoạt động, ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinhdoanh và tư cách công dân đứng ra kinh doanh, để từ đó Nhà nước có cơ sở traocho những tổ chức kinh tế này những quyền lợi và nghĩa vụ trên một tư cáchmới đó là doanh nghiệp
Theo luật doanh nghiệp số 13/1999/QH10 ngày 12 tháng 6 năm 1999 củanước CHXHCN Việt Nam thì: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, cótài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định củapháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Xét theo mục tiêu hoạt động, người ta chia doanh nghiệp thành:DN kinhdoanh và DN công ích
DN kinh doanh là DN hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận
DN công ích chủ yếu là DN Nhà nước, hoạt động sản xuất, cung ứng dịch
vụ công cộng theo các chính sách của Nhà Nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm
vụ Quốc phòng, an ninh
Bản thân thuật ngữ DN khi ra đời đã hàm chứa một điều là nó lập ra đểkinh doanh, để tìm kiếm thu nhập, tối đa hoá giá trị vốn chủ sở hữu Chính vìvậy, trong chuyên đề này em chỉ nghiên cứu DN ở loại hình DN kinh doanh vìmục tiêu lợi nhuận
1.1.2 Giá trị doanh nghiệp
DN là một tổ chức kinh tế chứ không giống như nhiều TS thông thường
Nó là một thực thể hoạt động, thông qua sự hoạt động đó mà người ta nhận ra
DN Mặt khác, DN không phải là tập hợp các loại TS vào với nhau, khi thựchiện phá sản, DN không còn tồn tại với tư cách của một tổ chức kinh doanh nữa
Do vậy, GTDN là một khái niệm chỉ được dùng cho những DN đang còn hoạtđộng và sẵn sàng hoạt động
Trang 6DN là một hệ thống của nhiều TS, mà trong số đó có TS hữu hình như:nhà xưởng, thiết bị vật tư, đồng thời cũng có các TSVH như: lợi thế thương mại,giá trị bản quyền, Đây là một đặc điểm quan trọng cần phải lưu ý trong quátrình định giá do không thể nhận biết một cách trực quan, các TSVH có thể bịlãng quên hoặc bỏ qua Ngoài ra, việc đánh giá giá trị tạo nên bởi các TSVH nóichung khó khăn hơn giá trị tạo nên bởi TSHH.
Bản thân các yếu tố tạo nên giá trị của một DN luôn có sự thay đổi, luôn
có sự tăng hoặc giảm, có sự xuất hiện hoặc biến mất của một số yếu tố nào đó.Chính vì vậy, GTDN luôn thay đổi theo thời gian, giá trị của DN là một kháiniệm động
Hơn nữa, do hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực khác nhau, mỗi
DN thường có những đặc thù riêng Và do đó trên nhiều phương diện, giữa các
DN thường có những sự khác biệt lớn đặc biệt là DN thuộc các ngành khácnhau Vì thế, giá trị DN cần được xác định trên cơ sở xem xét các yếu tổ đặc thùcủa từng ngành
Các nhà đầu tư thành lập ra DN không nhằm vào việc sở hữu các TSCĐ,TSLĐ mà nhằm vào mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm thu nhập
Vì vậy, tại các nước có nền KTTT, GTDN được xác định là các khoản thu nhậptrong quá trình sản xuất kinh doanh, theo đó, GTDN được đo bằng lượng thunhập mà DN có thể mang lại cho nhà đầu tư
Tóm lại, GTDN là sự biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập mà DNmang lại cho các nhà đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.2 Định giá doanh nghiệp là gì?
Mỗi một hàng hoá có một giá trị nhất định của nó Giá trị này là kết tinhcủa hao phí sức lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó Chất của giá trị làlao động Vì vậy, sản phẩm nào không có sức lao động được kết tinh trong đóthì nó không có giá trị Sản phẩm nào mà hao phí sức lao động sản xuất ra chúngcàng nhiều thì giá trị càng cao
DN cũng là một loại hàng hoá, và nó cũng có giá trị nhất định bởi cũngphải mất rất nhiều hao phí lao động thì mới có thể tạo dựng được nên một DN GTDN là một khái niệm cơ bản khác với giá bán DN trên thị trường.GTDNđược đo bằng độ lớn của các khoản thu nhập mà DN có thể mang lại cho nhàđầu tư Giá bán thực tế DN là mức giá được hình thành trên thị trường,có thể cókhoảng cách rất xa so với đánh giá của các chuyên gia kinh tế và các nhà đầu tư
Trang 7Giá mua, bán DN còn chịu sự tác động của các yếu tố về cung cầu “hàng hoáDN”, cung cầu về chứng khoán và cung cầu về tiền tệ trên thị trường.
GTDN vẫn tồn tại ngay cả khi không có việc mua bán, chuyển nhượng.GTDN chỉ đơn giản là một khái niệm được các nhà đầu tư, các chuyên gia sửdụng trong việc đánh giá tổng thể các khoản thu nhập mà DN có thể đem lại Đểxác định GTDN thường đòi hỏi các chuyên gia về thẩm định giá trị có kiến thức,
có kinh nghiệm, có tính trung thực cao trong nghề nghiệp, có như vậy mới đảmbảo được tính trung thực, vô tư, khách quan, hạn chế sự chi phối của yếu tố thịtrường làm xuyên tạc GTDN
ĐGDN tức là xác định giá trị thực tế của DN Giá trị thực tế của DN là giátrị toàn bộ tài sản hiện có của DN có tính đến khả năng sinh lời trong tương laicủa DN Giá trị thực tế này được xác định trên cơ sở giá thị trường và chất lượngcủa tài sản tại thời điểm định giá Trong đó giá trị thị trường là giá cả được hìnhthành trên thị trường, được thị trường chấp nhận trên cơ sở cân bằng của quan
hệ cung-cầu
1.3 Sự cần thiết phải ĐGDN
Có thể nói, dường như mỗi quyết định ở tầm vĩ mô cũng như vi mô vềphát triển sản xuất kinh doanh đều ít nhiều liên quan đến việc ĐGDN Việc đề racác quyết định này luôn là công việc thường nhật của từng DN, trong từngngành và giữa các khu vực của nền kinh tế,trong mỗi quốc gia và trên toàn thếgiới Sự cần thiết của ĐGDN xuất phát từ những đòi hỏi sau:
Thứ nhất: Giá trị của DN là cơ sở đầu tiên và quan trọng để ra các quyết
Trang 8tranh đối với các DN Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự đánh giátrên một phạm vi rộng lớn các yếu tố tác động đến DN, trong đó, GTDN là yếu
tố có tính chất quyết định, là căn cứ trực tiếp để người ta thương thuyết với nhautrong quá trình mua bán, sáp nhập, hợp nhất, chia nhỏ DN Đồng thời, khi thịtrường chứng khoán VN phát triển thì nhu cầu ĐGDN càng trở nên cấp thiết
Thứ hai: Khi DN phát hành chứng khoán, nhằm thu hút vốn trên thị
trường, người ta cần phải xác định GTDN, có như vậy mới tính toán được sốlượng cần thiết cho mỗi lần phát hành chứng khoán Mặt khác, giá cả của chứngkhoán được quyết định bởi giá trị thực của DN có chứng khoán được giao dịch,trao đổi trên thị trường Vì vậy, trên thị phương diện quản lý vĩ mô, thông tin vềGTDN được coi là một căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các
tổ chức, các hiệp hội kinh doanh CK kịp thời nhận ra sự biến động không bìnhthường của giá chứng khoán, nhận ra những dấu hiệu của hoạt động đầu cơ, thaotúng thị trường, động cơ thâu tóm quyền kiểm soát DN, để từ đó sớm có nhữngbiện pháp cần thiết để ngăn chặn mối nguy cơ xảy ra khủng hoảng kinh tế bắtđầu từ hiện tượng của một nền “kinh tế ảo”
Thứ ba: Đối với các chủ nợ, các nhà đầu tư tiềm năng, các ngân hàng cho
vay vốn, ĐGDN làm cơ sở để đưa ra các quyết định đầu tư và các quyết địnhcho vay Một DN có cơ sở tài chính vững mạnh, có những cơ hội phát triển trênthị trường sẽ tạo tiền đề cho việc thu hút vốn đầu tư mở rộng hoạt động công ty.Ngược lại, một DN được định giá thấp sẽ có thể bị nhà đầu tư bỏ qua khi khôngquyết định đầu tư vốn và sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc vay vốn để mởrộng sản xuất
Thứ tư: Ở cấp vĩ mô, giá trị của DN là một thông tin quan trọng để Chính
phủ có thể đánh giá năng lực sản xuất hiện tại và tương lai của một ngành và củatoàn bộ nền kinh tế, nhờ đó để đưa ra các chiến lược phát triển phù hợp
Tất cả những nhận định trên có thể kết luận ĐGDN là nhu cầu cấp bách vàthường xuyên, do vậy cần phải xây dựng được một hệ thống các phương pháp
và tiêu chuẩn để hỗ trợ cho công tác ĐGDN này
1.4 Các nhân tố tác động đến GTDN
Mỗi DN đều hoạt động trong những điều kiện cụ thể nào đó của môitrường kinh doanh Các yếu tố môi trường tạo thành những tác lực tác động và
Trang 9hình thành những điều kiện ràng buộc, cưỡng chế đối với DN Bởi vậy, khi tiếnhành ĐGDN cần phải đánh giá những hoạt động của DN trong sự tương tác vớimôi trường, giữa tình hình hiện tại và tương lai của môi trường Trên cơ sở đóxác định những cơ hội và nguy cơ mà môi trường có thể đem lại cho DN Xuấtphát từ những ý nghĩa nêu trên ta nghiên cứu các nhân tố tác động đến GTDNtrên hai phạm vi là: các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô và các yếu tố thuộc môitrường vi mô.
1.4.1 Yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
- Môi trường kinh tế_xã hội
DN luôn tồn tại trong một bối cảnh kinh tế cụ thể Bối cảnh kinh tế đóđược nhìn nhận thông qua hàng loạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăngtrưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, các chỉ số trên thị trườngchứng khoán… Các chỉ tiêu này tác động trực tiếp vào DN hay GTDN Mỗi sựthay đổi nhỏ của các yếu tố trên cũng ảnh hưởng tới sự đánh giá về DN Nềnkinh tế luôn tăng trưởng với tốc độ cao, phản ánh nhu cầu đầu tư và tiêu dùngngày càng lớn, chỉ số giá chứng khoán phản ánh đúng quan hệ cung cầu, đồngtiền ổn định, tỷ giá và lãi suất có tính kích thích đầu tư sẽ trở thành cơ hội tốtcho DN mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Nguợc lại, sự suy thoái kinh tế,giá chứng khoán bị thổi phồng mang dấu hiệu “ kinh tế ảo”, lạm phát phi mã lànhững dấu hiệu xấu đối với DN Mọi sự đánh giá về DN, trong đó có GTDN sẽ
bị đảo lộn
Những thay đổi trong môi trường xã hội có thể tạo ra những cơ hội vànguy cơ đối với DN Chẳng hạn, sự thay đổi về phong cách tiêu dùng của ngườidân, sự thay đổi về cơ cấu dân cư, tuổi thọ,… có thể là cơ hội cho một số DNnày, song có thể là nguy cơ đối với DN khác.Ví dụ, khi có quy định cấm hútthuốc lá ở nơi công cộng, có thể là nguy hại cho ngành sản xuất thuốc lá, ngượclại, khi đời sống của người dân được nâng cao, tuổi thọ trung bình tăng thì xuấthiện nhiều cơ hội cho các DN trong ngành chăm sóc sức khoẻ
Bởi vậy, khi ĐGDN cần xem xét các yếu tố dân cư, tuổi thọ, mức sống,phong cách sống, phong cách tiêu dùng và những tác động của nền kinh tế đốivới hoạt động kinh doanh DN Thông qua nghiên cứu các tiêu thức này có thểxác định tiềm năng phát triển của DN
- Môi trường chính trị_Pháp luật
Trang 10Sản xuất kinh doanh chỉ có thể ổn định và phát triển trong một môi trường
ổn định về chính trị ở một mức độ nhất định Sự bất ổn về chính trị, những cuộcbạo động…đều là những nguy cơ gây ra rủi ro lớn cho DN
Hơn nữa, chính sách phát triển của một quốc gia thường có vai trò địnhhướng, chi phối toàn bộ các hoạt động kinh tế xã hội, trong đó có các hoạt độngkinh doanh Chẳng hạn, nếu Chính phủ chú trọng phát triển các ngành côngnghệ cao thì những DN trong ngành này sẽ có nhiều cơ hội phát triển.Ngược lại,nếu CP chú trọng bảo vệ môi trường tự nhiên thì ngành sản xuất có nhiều chấtthải, ô nhiễm môi trường như ngành giấy, dệt,…sẽ chịu sự kiểm soát chặt chẽcủa các cơ quan bảo vệ môi trường Hay những rào cản pháp lý như: các đạoluật, chính sách bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, bảo vệ sự cạnh tranh
tự do, chống độc quyền… có thể tạo ra cơ hội cho một nhóm DN này, song cũng
có thể tạo ra những đe doạ với nhiều DN khác
Như vậy, khi đánh giá DN cần xem xét tác động của yếu tố chính trị _pháp luật đối với đối tượng định giá ở thời điểm hiện tại và tương lai Đồng thời,cũng cần phải xem xét những đối sách mà DN dự kiến sẽ áp dụng khi các yếu tốmôi trường chính trị _pháp luật thay đổi
- Môi trường công nghệ
Những tiến bộ về công nghệ có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đờisống, và trong DN, tiến bộ công nghệ đã diễn ra các khuynh hướng sau:
Chu kỳ đổi mới công nghệ ngày càng ngắn hơn, nên tốc độ biến các ýtưởng thành các sản phẩm thương mại ngày càng nhanh hơn
Vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn hơn, do chu kỳ đổi mới công nghệngày càng ngắn nên các DN có thể liên tục tung ra thị trường những sản phẩmmới, sản phẩm cải tiến Do đó, ngày nay các sản phẩm có thể bị lạc hậu rấtnhanh chóng
Trên bình diện xã hội, tiến bộ công nghệ là những bước tiến nhảy vọt củanền văn minh nhân loại Song trên giác độ DN trong cơ chế thị trường, đó khôngchỉ là cơ hội mà còn là thách thức đối với sự tồn tại của mỗi DN Sự thiếu nhạybén trong việc áp dụng những thành tựu khoa học mới có thể là nguyên nhânđưa DN mau chóng đến chỗ phá sản Chính vì lẽ đó, ĐGDN đòi hỏi phải xemxét chúng trong môi trường khoa học công nghệ
1.4.2 Yếu tố thuộc môi trường vi mô ( môi trường ngành)
Phân tích và đánh giá môi trường ngành nhằm xác định vị thế của DNtrong ngành mà nó hoạt động Vị thế cạnh tranh của DN sẽ không thấy rõ nếu
Trang 11chỉ dựa vào những kết quả đánh giá môi trường vĩ mô Khi đánh giá môi trườngngành cần xem xét những nội dung sau:
- Chu kỳ kinh doanh và triển vọng tăng trưởng ngành
Chu kỳ kinh doanh của một ngành thường gắn liền với mức tăng trưởngGNP của quốc gia và một số biến số khác, tuỳ theo tính chất riêng của từngngành
Triển vọng tăng trưởng ngành có liên hệ chặt chẽ với chu kỳ kinh tế Mộtngành có triển vọng tăng trưởng mạnh có thể đem lại cho các DN trong ngànhnhững cơ hội thuận lợi, thể hiện ở: tiềm năng mở rộng thị trường, khả năng cảithiện vị thế tài chính
- Cạnh tranh trong ngành
Tình hình cạnh tranh trong ngành phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và nhữngyếu tố này cũng thay đổi tuỳ theo ngành Đồng thời, sự cạnh tranh giữa các DNchủ yếu diễn ra trên ba phương diện: giá cả, chất lượng sản phẩm và dịch vụ hậuthương mại( Dịch vụ bảo hành, sửa chữa)
Được sự ủng hộ từ phía Nhà nước trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, mức
độ cạnh tranh giữa các DN trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế ngàycàng trở nên quyết liệt hơn trong môi trường cạnh tranh được coi là mối nguy cơtrực tiếp đến sự tồn tại của DN Do đó, đánh giá năng lực cạnh tranh, ngoài việcxem xét ba phương diện nêu trên thì còn phải xác đinh được số lượng DN thamgia cạnh tranh, năng lực thực sự và thế mạnh của họ là gì? đồng thời, phải chỉ ranhững yếu tố và mầm mống có thể làm xuất hiện đối thủ mới Có như thế mớikết luận đúng đắn vị thế và khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường
- Các nguồn cung ứng trong ngành
Cơ cấu thị trường và áp lực cạnh tranh trong ngành chịu ảnh hưởng trựctiếp của số lượng các nhà cung cấp các loại nguyên liệu, bán thành phẩm chủyếu cho ngành
Nếu các DN trong một ngành có quyền lựa chọn giữa nhiều nhà cung ứngthì các DN sẽ có thể được lợi và ngược lại Mặt khác, nếu DN có thể tự cungứng đầy đủ các loại nguyên vật liệu và bán thành phẩm chủ yếu thì sẽ có một vịthế vững vàng khi thị trường có sự biến động về giá cả nguyên vật liệu
Trang 12Trong quan hệ với nhà cung cấp, DN đóng vai trò như một “thượng đế”.Tuy nhiên, theo Michael Porter, một DN khách hàng sẽ bị lệ thuộc vào nhà cungứng trong các tình huống sau:
Khi sản phẩm mua bán có ít hay không có sản phẩm thay thế và nó có vaitrò quan trọng đối với người mua
Khi DN không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung ứng
Khi sản phẩm có tính chuyên biệt hoá cao và việc thay đổi nhà cung ứng
sẽ gây tốn kém cho khách hàng
Như vậy, khi đánh giá cần xem xét vị thế DN với tư cách là khách hàng đểxác định lợi thế (hay bất lợi) của nó trong mối quan hệ với nhà cung cấp
1.5 Các phương pháp định giá doanh nghiệp
Định giá doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, đã có khá nhiều phươngpháp ĐGDN, các phương pháp này được xây dựng trên hai tầm nhìn cơ bản củanhà đầu tư và nhà quản trị
Mục tiêu của nhà đầu tư là độ an toàn của đồng vốn đã ra khỏi tay và khảnăng sinh lời của nó Mỗi đồng vốn bỏ ra phải thu về càng nhanh càng tốt, phảikhông ngừng sinh lời và sinh lời càng nhiều càng tốt.Trong hoạt động mua bán
DN, nhà đầu tư quan tâm là khoản thu nhập dưới các hình thức khấu hao, lợinhuận ròng, lợi tức cổ phần, giá trị nhượng bán thanh lý sẽ là thế nào? Nhà đầu
tư chỉ quyết định mua DN khi có thể nhìn thấy các dòng tiền đó trong tương laivới một độ tin cậy nhất định về số lượng và thời điểm phát sinh các khoản tiền
Vì thế, các phương pháp ĐGDN nhà đầu tư đưa ra là các phương pháp hiện tạihoá dòng thu nhập thuần có thể mang lại trong tương lai, bao gồm một hệ thốngcác phương pháp hiện tại hóa dòng lợi tức cổ phần, phương pháp lợi nhuận,phương pháp chiết khấu dòng tiền…
Nếu nhà đầu tư quan tâm đến đồng vốn của mình bỏ ra bao nhiêu và thu
về được bao nhiêu, còn nhà quản trị ít quan tâm đến điều này mà chủ yếu quantâm đến tổng nguồn vốn được cấp phát và tỷ lệ sinh lời tối thiểu của tổng nguồnvốn mà ông ta hoàn thành nhiệm vụ của mình Tức là, ông ta chỉ có bổn phậnlàm ra một “cái bánh” rồi các nhà đầu tư chia nhau cái bánh đó Mục tiêu củanhà quản trị là làm cho DN tồn tại, cũng vì thế mà động cơ trong hoạt động làtối đa hoá giá trị DN nhằm làm tăng tiềm lực tài chính, gia tăng khả năng tồn tạicủa DN
Giá trị của DN trong con mắt của nhà quản trị là khả năng trường tồn của
DN đó Họ có khuynh hướng thuyết phục các cổ đông giữ lại lợi nhuận để tái
Trang 13đầu tư Chính vì những động cơ đó, các nhà quản trị thường tư vấn cho nhà đầu
tư về giá trị DN thường dựa trên lượng tài sản thực của DN Tức là các phươngpháp như giá trị nội tại, giá trị thay thế… là những phương pháp định lượng cáckhoản thu nhập có thể trông thấy một cách rõ ràng, có độ tin cậy Các phươngpháp này sẽ thuyết phục được các nhà đầu tư ngại mạo hiểm, những người màchưa tin tưởng ở những khoản thu nhập tiềm tàng có thể phát sinh trong DN
Việc xem xét quan điểm của nhà đầu tư và nhà quản trị trong việc xácđịnh giá trị DN có ý nghĩa quan với việc giải thích cơ sở lý luận của nhiềuphương pháp khác nhau
Trong chuyên đề này em xin đưa ra 3 nhóm phương pháp xác định GTDNlà:phương pháp xác định theo tài sản, phương pháp xác định theo dòng tiền chiếtkhấu (DCF) và các phương pháp khác
1.5.1 Phương pháp định giá doanh nghiệp theo tài sản
1.5.1.1 Khái niệm
Phương pháp ĐGDN theo tài sản là phương pháp xác định giá trị của một
DN trên cơ sở giá trị thực tế của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình của
DN tại thời điểm định giá
1.5.1.2 Đối tượng áp dụng
Đối tượng áp dụng phương pháp tài sản là các DN CPH, trừ những DNthuộc đối tượng phải áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu sẽ trình bày ởphương pháp dòng tiền chiết khấu sau
1.5.1.3.Quy trình ĐGDN theo phương pháp tài sản
Bước 1 : Kiểm kê, phân loại tài sản và công nợ
Việc này được thực hiện bởi một hội đồng gọi là “hội đồng kiểm kê” baogồm: giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng kế toán, và một số thành viênkhác theo quyết định của giám đốc.Hội đồng kiểm kê có nhiệm vụ chính là phânchia các loại tài sản theo các tiêu thức khác nhau và đánh giá giá trị cho từngloại tài sản cụ thể của DN
Tài sản kiểm kê được phân loại theo các nhóm sau:
-Tài sản DN có nhu cầu sử dụng
-Tài sản DN không cần dùng, tài sản ứ đọng, tài sản chờ thanh lý theoquyết định của chủ sở hữu vốn Nhà nước tại DN
-Tài sản hình thành từ quỹ phúc lợi, khen thưởng (nếu có)
Trang 14-Tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, nhận đại
lý, nhận ký gửi
Yêu cầu kiểm kê xác định đúng số lượng và chất lượng của tài sản thực tếhiện có do DN đang quản lý, sử dụng, kiểm quỹ tiền mặt, đối chiếu số dư tiềngửi ngân hàng tại thời điểm xác định GTDN, xác định tài sản, tiền mặt thừathiếu so với sổ kế toán, phân tích rõ nguyên nhân thừa thiếu
Đối với nợ phải trả: Phải phân tích rõ các khoản nợ trong hạn, nợ quá hạn, nợlãi, nợ phải trả nhưng không phải thanh toán
Đối với nợ phải thu:+ Phân tích rõ nợ phải thu có khả năng thu hồi, nợ phải thukhông có khả năng thu hồi, các khoản trả trước cho người cung cấp hàng hoádịch vụ nhưng đã hạch toán hết vào chi phí kinh doanh như: tiền thuê đất, thuênhà, tiền mua hàng, để tính vào GTDN
Bước 2: Xử lý tài chính đối với tài sản và công nợ
Mục đích việc xử lý này nhằm giải quyết dứt điểm những tồn tại về mặt hạchtoán kế toán, xác định chế độ, trách nhiệm một cách rõ ràng đối với tài sản vàchỉ ra tài sản nào sẽ được giao lại công ty cổ phần
Đối với tài sản
Căn cứ vào kết quả kiểm kê, phân loại tài sản ở trên, DN xử lý tài sản theocách sau:
- Tài sản thừa, thiếu phải phân tích rõ nguyên nhân và xác định rõ tráchnhiệm của tổ chức cá nhân, với tài sản thiếu thì xử lý để bồi thường trách nhiệmvật chất, hạch toán vào kết quả kinh doanh, với tài sản thừa, nếu không xác địnhđược nguyên nhân và không tìm được chủ sở hữu thì xử lý tăng vốn nhà nước
- Tài sản không cần dùng, tài sản ứ đọng, tài sản chờ thanh lý: Đến thờiđiểm xác định GTDN, những tài sản này không được xử lý thì không tính vàoGTDN DN tiếp tục xử lý số tài sản này trước khi có quyết định GTDN
- Tài sản phúc lợi được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hoặc có nguồngốc từ ngân sách, nếu DN CPH tiếp tục sử dụng được tính vào GTDN CPH
Đối với nợ phải thu
- Với nợ phải thu không có khả năng thu hồi theo quy định của nhà nước
về xử lý tồn đọng thì xác định rõ nguyên nhân,trách nhiệm cá nhân, tổ chức để
xử lý, bồi thường theo quy định của pháp luật hiện hành Phần tổn thất sau khi
xử lý DN dùng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi để bù đắp, nếu thiếu thìhạch toán vào kết quả kinh doanh của DN
Trang 15- Đối với các khoản tiền DN đã trả trước cho người bán nếu đã hạch toánvào chi phí kinh doanh, DN đối chiếu, hạch toán giảm chi phí tương ứng vớiphần hàng hoá, dich vụ chưa được cung cấp.
Đối với nợ phải trả
DN phải huy động các nguồn để thanh toán các khoản nợ đến hạn trảtrước khi CPH hoặc thoả thuận với các chủ nợ để xử lý hoặc chuyển thành vốngóp cổ phần
-Trong quá trình CPH, nếu DN có khó khăn về khả năng thanh toán cáckhoản nợ quá hạn do kinh doanh thua lỗ thì xử lý nợ theo quy định hiện hànhcủa nhà nước về xử lý nợ tồn đọng
Đối với các khoản dự phòng lỗ lãi
-Các khoản dự phòng: giảm giá hàng tồn kho, nợ phải thu khó đòi, giảmgiá chứng khoán, chênh lệch tỷ giá hạch toán vào kết quả kinh doanh của DN
- Các khoản trợ cấp, mất việc làm: DN sử dụng để trợ cấp cho lao độngdôi dư trong quá trình CPH, nếu còn thì hạch toán vào kết quả kinh doanh
- Các quỹ dự phòng rủi ro, dự phòng nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng,bảo hiểm, các tổ chức tài chính được chuyển sang công ty cổ phần tiếp tục quảnlý
Quỹ dự phòng tài chính để bù lỗ (nếu có), bù đắp các khoản tài sản tổn thất, nợkhông thu hồi được, số còn lại tính vào giá trị phần vốn nhà nước tại DN
- Các khoản lãi phát sinh để bù lỗ năm trước (nếu có), bù đắp các khoản tổn thất
về tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, giảm giá tài sản, nợ không có khả năngthu hồi, số còn lại phân phối theo quy định hiện hành trước khi xác định GTDN
- Các khoản lỗ tính đến thời điểm DN CPH chuyển thành công ty cổ phần, DNdùng quỹ dự phòng tài chính và lợi nhuận trước thuế đến thời điểm CPH để bùđắp Trường hợp thiếu thì thực hiện các biện pháp xoá nợ ngân sách nhà nước,
nợ ngân hàng và nợ quỹ hỗ trợ phát triển theo quy định hiện hành của Nhà nước
-Trường hợp DN có kế thừa liên doanh, phải tính giá trị vốn góp liêndoanh vào giá trị DN theo nguyên tắc sau:
Trang 16Nếu giá trị vốn đầu tư dài hạn của công ty Nhà nước tại DN khác đượcxác định thấp hơn giá trị ghi trên sổ kế toán thì giá trị ghi trên sổ kế toán củacông ty nhà nước là cơ sở để xác định GTDN CPH
Nếu giá trị vốn góp của công ty nhà nước vào công ty cổ phần đã niêm yết trênTTCK được xác định trên cơ sở giá cổ phần giao dịch trên TTCK tại thời điểmxác định GTDN
- Trường hợp các DN CPH không kế thừa các khoản đầu tư dài hạn vào
DN khác thì báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xử lý như như sau:
Thoả thuận bán lại vốn đầu tư cho đối tác hoặc các nhà đầu tư khác,
Hay chuyển giao cho DN khác làm đối tác
Số dư bằng tiền của các quỹ khen thưởng, phúc lợi
Số dư bằng tiền của quỹ khen thưởng, phúc lợi được chia cho người lao độngđang làm việc tại DN để mua cổ phần mà không phải chịu thuế thu nhập đốivới khoản thu nhập này
1.5.1.4 Xác định GTDN theo phương pháp tài sản.
Phương pháp tài sản cho rằng, giá trị của một công ty bằng tổng của từngloại tài sản riêng trừ (-) đi các khoản nợ của công ty, người ta quan tâm đến hainội dung đó là: Giá trị thực của các tài sản mà DN đang quản lý và khả năngmang lại thu nhập từ các tài sản hiện có.Vì vậy, công thức xác định GTDN theophương pháp này sẽ là:
GTDN= Giá trị tài sản thuần + Giá trị lợi thế (nếu có)
Vo = VT-VN
Trong đó:
Vo:Giá trị tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu
VT: Tổng giá trị tài sản mà DN đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh
VN: Giá trị các khoản nợ
Có hai cách tính về Giá trị tài sản thuần như sau:
Cách 1: Dựa vào số liệu tài sản và cơ cấu nguồn tài trợ được phản ánh trênBảng cân đối kế toán tại thời điểm định giá để xác định bằng cách:
Giá trị tài sản thuần = Tổng giá trị tài sản – Các khoản nợ dài hạn và ngắn hạnĐây là một cách tính đơn giản, dễ dàng Tuy nhiên, giá trị tài sản phản ánhtrên Bảng cân đối kế toán chỉ được coi là tài liệu tham khảo trong quá trình đánhgiá toàn bộ tài sản theo giá thị trường tại thời điểm xác định GTDN vì những lý
do sau đây:
Trang 17+ Số liệu trên Bảng cân đối kế toán được tập hợp từ các sổ kế toán, cácbảng kê,… phản ánh trung thực các chi phí phát sinh tại thời điểm xảy ra cácnghiệp vụ kinh tế trong quá khứ của niên độ kế toán, những chi phí này mangtính lịch sử, không còn phù hợp ở thời điểm ĐGDN, ngay cả khi nền kinh tếkhông có lạm phát.
+ Giá trị Tài sản cố định phản ánh trên sổ kế toán thường không phù hợpvới giá thị trường tại thời điểm xác định GTDN Giá trị còn lại của Tài sản cốđịnh phản ánh trên sổ kế toán cao hay thấp phụ thuộc vào việc DN sử dụngphương pháp khấu hao nào, phụ thuộc vào thời điêm mà DN xác định nguyêngiá và lựa chọn tuổi thọ kinh tế của Tài sản cố định
+ Trị giá hàng hoá, vật tư, công cụ, dụng cụ lao động…tồn kho hoặc đangdùng trong sản xuất, một mặt phụ thuộc vào cách sử dụng giá hạch toán là giámua đầu kỳ, cuối kỳ hay giá thực tế bình quân Mặt khác, còn phụ thuộc vào sựlựa chọn các tiêu thức phân bổ chi phí khác nhau cho số hàng hóa dự trữ Dovậy, số liệu kế toán phản ánh giá trị của loại tài sản đó cũng được coi là không
có đủ độ tin cậy ở thời điểm đánh giá DN
Do vậy, người ta thường sử dụng giá thị trường để xác định giá trị tài sảnthuần trong DN
Cách 2: Xác định GT tài sản thuần theo giá thị trường
Gía trị tài sản thuần = Tổng giá trị các tài sản đã được xác định– cáckhoản nợ phản ánh bên nguồn vốn và khoản tiền thuế tính trên giá trị tăng thêmcủa số tài sản được đánh giá lại tại thời điểm xác định GTDN
Đối với tài sản là hiện vật: chỉ đánh giá lại những tài sản mà DN tiếp tục
sử dụng
Trang 18Giá trị Nguyên giá tính Chất lượng còn lại của
Trong đó, giá thị trường là:+ giá tài sản mới đang mua, bán trên thị trườngbao gồm cả chi phí vận chuyển, lắp đặt (nếu có) Nếu là tài sản đặc thù không cótrên thị trường thì tính theo giá mua mới của tài sản cùng loại, cùng nước sảnxuất, có cùng công suất hoặc tính năng tương đương Trường hợp không có tàisản tương đương thì tính theo giá tài sản ghi trên sổ kế toán
+ Đơn giá xây dựng cơ bản,suất đầu tư do cơ quan có thẩm quyền quyđịnh đối với tài sản là sản phẩm xây dựng cơ bản Trường hợp chưa có quy địnhthì tính theo giá trị quyết toán của công trình được cơ quan có thẩm quyền phêduyệt
Chất lượng của tài sản được xác định bằng tỷ lệ phần trăm so với chấtlượng của tài sản cùng loại mua sắm mới hoặc đầu tư xây dựng mới, phù hợpvới các quy định của Nhà nước về an toàn trong sử dụng, vận hành tài sản, chấtlượng sản phẩm sản xuất, vệ sinh môi trường theo hướng dẫn của các Bộ quản
lý ngành kinh tế kỹ thuật Nếu chưa có quy định của Nhà nước thì chất lượng tàisản được đánh giá không thấp hơn 20%
-Tài sản cố định đã khấu hao thu hồi đủ vốn: công cụ lao động, dụng cụquản lý đã phân bổ hết giá trị vào chi phí kinh doanh nhưng công ty cổ phần tiếptục sử dụng thì phải đánh giá lại để tính vào giá trị DN
Tài sản bằng tiền gồm: tiền mặt, tiền gửi và các giấy tờ có giá (tín phiếu,trái phiếu) của DN được xác định: Tiền mặt được xác định theo biên bản kiểmquỹ, tiền gửi được xác định theo số dư đã đối chiếu xác nhận với ngân hàng, cácgiấy tờ có giá thì xác định theo giá giao dịch trên thị trường Nếu không có giaodịch thì xác định theo mệnh giá của giấy tờ
-Các khoản nợ phải thu tính vào giá trị DN được xác định theo số dư thực
tế trên sổ kế toán sau khi xử lý
-Các khoản chi phí dở dang: đầu tư xây dựng cơ bản, sản xuất kinh doanh,
sự nghiệp được xác định theo thực tế phát sinh hạch toán trên sổ kế toán
-Giá trị tài sản ký cược, ký quỹ ngắn hạn và dài hạn được xác định theo số
dư thực tế trên sổ kế toán đã được đối chiếu xác nhận
-Giá trị tài sản vô hình (nếu có) được xác định theo giá trị còn lại đanghạch toán trên sổ kế toán Riêng giá trị quyền sử dụng đất được xác định:
+Trường hợp DN thực hiện hình thức thuê đất:
Trang 19Nếu đang thuê thì không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN, nếudiện tích đất đã được nhận giao,đã nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách, muaquyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân khác nay chuyển sang thuê đất thì chỉtính vào giá trị DN các khoản chi phí làm tăng giá trị sử dụng đất và giá trị tàisản trên đất như: chi phí đền bù, giải toả, san lấp mặt bằng.
+Trường hợp DN thực hiện hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất đểtính giá trị DN được thực hiện như sau: Đối với diện tích đất DN đang thuê: Giátrị quyền sử dụng đất tính vào giá trị DN theo giá do UBND tỉnh quy địnhnhưng không tính tăng vốn Nhà nước tại DN mà hạch toán là khoản phải nộpngân sách nhà nước Công ty cổ phần phải nộp số tiền này cho ngân sách nhànước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trình tự và thủ tục giaođất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Luậtđất đai, đối với diện tích đất DN đã được giao, đã nộp tiền sử dụng đất cho ngânsách nhà nước: phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá do UBNDtỉnh quy định Khoản chênh lệch giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại vớigiá trị hạch toán trên sổ kế toán được tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nướctại DN
= - -
Đối với DN có lợi thế kinh doanh, như vị trí địa lý, uy tín của DN, tínhchất độc quyền về sản phẩm, mẫu mã, thương hiệu (nếu có) và có tỷ suất lợinhuận sau thuế cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểmgần nhất trước thời điểm định giá thì phải tính thêm giá trị lợi thế kinh doanhvào giá trị thực tế của DN cổ phần hóa theo quy định sau:
- Xác định giá trị lợi thế kinh doanh của DN theo tỷ suất lợi nhuận của DN trong
3 năm liền kề trước khi cổ phần hoá
= x -
= x 100%
Trường hợp DN có giá trị thương hiệu đã được xác định hoặc đã được thịtrường chấp nhận cao hơn giá trị lợi thế kinh doanh xác định theo quy định trêncăn cứ vào giá thị trường đã phản ánh trên sổ kế toán hoặc giá trị đã được thịtrường chấp nhận để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá Trường hợp thấphơn thì tính thêm chênh lệch vào giá trị DN cổ phần hoá
Giá trị thực tế của DN = tổng số các khoản tại mục nói trên
Trang 201.5.1.5 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp tài sản.
Ưu điểm
Trước hết, đây là một phương pháp tính toán đơn giản, dễ áp dụng trongthực tế, đặc biệt là trong điều kiện cụ thể ở VN khi nhiều DN triển khai CPH cógiá trị thực tế không quá lớn.Phương pháp này cũng đã đề cập đến cả hai bộphận chính tạo nên giá trị DN là giá trị tài sản hữu hình hiện tại và giá trị tài sản
vô hình, đồng thời phương pháp này cũng đã tính toán đến khả năng sinh lợi củangành nói chung và của DN cụ thể nói riêng Đặc biệt, phương pháp này có cơ
sở là giá trị thực của tài sản được thiết lập thông qua quá trình kiểm kê đánh giálại
Tuy nhiên, phương pháp này có một số vấn đề cần phải xem xét lại, chủyếu là khi áp dụng phương pháp này có thể làm “mất vốn” của Nhà nước (tức làđánh giá thấp giá trị của DN khi thực hiện CPH)
Nhược điểm
Khi áp dụng phương pháp này nhiều khi không không xác định được lợithế kinh doanh của DN vì việc tính toán chỉ dựa trên các chỉ số này, sẽ khônghoàn toàn đảm bảo tính chính xác của giá trị Để xác định lợi thế kinh doanh,phương pháp này chỉ căn cứ trên tỷ suất lợi nhuận của 5 năm liền kề và lãi xuấttrái phiếu chính phủ cho thời hạn 10 năm tại thời điểm xác định giá trị; vì biếnđộng trên giá thị trường, hầu hết các tổ chức cung ứng dịch vụ đều thiếu thôngtin về giá thị trường để xác định tỷ lệ còn lại của máy móc thiết bị, phương tiệnvận tải, tiêu chuẩn cụ thể để xác định giá trị thương hiệu chưa hoàn thiện, chưatính hết được giá trị tiềm năng của DN
Mặt khác, nếu 3 năm liền kề, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN thấp hoặc bị thua lỗ thì hiệu số (2) – (3) sẽ là số âm (-).Khi đó giá trị lợi thếkinh doanh sẽ là số âm và không còn là lợi thế kinh doanh.Trong thực tế, một sốcông ty có tình hình kinh doanh có lợi nhuận không cao hoăc bị thua lỗ do quản
lý yếu, do lạc hậu về công nghệ, do tác động của cạnh tranh,…nhưng các công
ty này vẫn có lợi thế thương mại và người mua cổ phần họ vẫn quyết định mua
vì họ quan tâm đến tương lai của DN nhiều hơn hiện tại Vì thế, việc xác địnhgiá trị lợi thế kinh doanh như trên không phản ánh được bản chất của nó
Áp dụng công thức định giá trên dẫn đến việc mất vốn lớn ở những DNmới thành lập và ở những DN tạm thời hiện đang hoạt động thua lỗ nhưng lạiđang có nhiều tiềm năng trong tương lai, chẳng hạn đối với các DN có thị phần
Trang 21lớn Những DN loại này có tỷ suất lợi nhuận trên vốn khá thấp ở thời điểm hiệntại, vì vậy, giá trị lợi thế của nó sẽ được đánh giá thấp.
Trên một khía cạnh khác, phương pháp tiếp cận hiện nay ở VN (chủ yếu làphương pháp tài sản) cũng có thể không thể phản ánh được các nguy cơ tiềmtàng đối với DN trong tương lai, và vì vậy có thể dẫn tới khả năng thổi phồnggiá trị của DN Điều này được minh chứng bởi hàng loạt các vụ vỡ nợ, phá sảncủa DN trên thực tế
Cho đến nay, những căn cứ chủ yếu để xác định GTDN là bảng cân đối kếtoán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát về tàisản, nguồn vốn của DN, song còn có một số hạn chế: nhiều thông tin tài chínhcủa DN chưa được thể hiện như chỉ tiêu về giá trị dùng thước đo tiền tệ đối vớilao động trí tuệ và lao động chân tay Các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toánđược phản ánh ở một thời điểm trong quá khứ và hiện tại Vấn đề đặt ra là nhàđầu tư và những người quan tâm tới DN muốn biết các chỉ tiêu đó được phảnánh ở một thời điểm nào đó trong tương lai Thêm vào đó, các chỉ tiêu phản ánhtrên bảng cân đối kế toán mang tính chủ quan của người làm công tác kế toán, vídụ: kế toán viên lựa chọn phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho khác nhauthì kết quả sẽ khác nhau
Phương pháp này chưa phù hợp với một số loại hình DN Về cơ bản mớixem xét GTDN ở một thời điểm trong quá khứ Việc xác định giá trị DN có ít tàisản, nhưng có thu nhập cao như DN thương mại, dịch vụ… vẫn chưa hợp lý.Hơn nữa, những quy định về tính lợi thế doanh nghiệp là khó khăn
Trang 221.5.2 Phương pháp định giá DN theo dòng tiền chiết khấu.
1.5.2.1 Khái niệm
Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) là phương pháp xác định giá trị
DN trên cơ sở khả năng sinh lời của DN trong tương lai
1.5.2.2 Đối tượng áp dụng
Phương pháp này được lựa chọn để xác định giá trị các DN Nhà nước hoạtđộng trong các ngành dịch vụ thương mại, dịch vụ tư vấn, thiết kế xây dựng,dịch vụ tài chính, kiểm toán, tin học và chuyển giao công nghệ: có tỷ suất lợinhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân 5 năm liền kề của DN trước cổphần hoá cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểm gầnnhất trước thời điểm xác định giá trị DN
Trong đó
Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại DN ở thời điểm định giá được xácđịnh theo công thức:
Trang 23(1+K)n : Giá trị hiện tại của vốn Nhà nước năm thứ n
i: thứ tự các năm kế tiếp kể từ năm xác định giá trị DN (i:1→n)
D: Khoản lợi nhuận sau thuế dung để chia cổ tức năm thứ i
n: Số năm tương lai được lựa chọn (từ 3 đến 5 năm)
Pn: Giá trị vốn Nhà nước năm thứ n và được xác định theo công thức:
Dn+1
Pn =
K- g
Dn+1: Khoản lợi nhuận sau thuế dùng để chia cổ tức của năm thứ n+1
K: Tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hoàn vốn cần thiết của các nhà đầu tư khimua cổ phần và được xác định theo công thức:
K= Rf +Rp
Rf: Tỷ suất lợi nhuận thu được từ khoản đầu tư không rủi ro được tínhbằng lãi suất của trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểm gần nhất trướcthời điểm xác định giá trị DN
Rp: Tỷ lệ phụ phí rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu của các công ty ở ViệtNam được xác định theo bảng chỉ số phụ phí rủi ro chứng khoán quốc tế tại niêngiám định giá hoặc do các công ty địnhg giá xác định cho từng DN nhưng khôngvượt quá tỷ suất lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư không rủi ro (Rf)
Ví dụ phương pháp DCF
Số liệu quá khứ của công ty X từ năm 2001 đến năm 2005:
Trang 24Đơn vị:triệu đồng
Vốn nhà nước (không bao gồm
số dư Quỹ khen thưởng, phúc
Bước 1: Ước tính lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức hàng năm (theo thống kê đã
Bước 3: Xác định tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước bình quân (2006-2009)
Ký hiệu tỷ suất này là R6, R7, R8, R9
Trang 25g= b* R
b: tỷ lệ lợi nhuận sau thuế dùng để bổ sung vốn, trường hợp này được xác định
là 30% lợi nhuận sau thuế
g= 30%*0,146=0,0438
Bước 5:xác định tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hoàn vốn cần thiết:
K= Rf+Rp=8,3%+9,61%=17,91%
Rf: lãi suất trái phiếu chính phủ thời điểm xác định GTDN=8,3%
Rp: =9,61%: xác định theo bảng chỉ số phụ phí rủi ro chứng khoán quốc tế tạiniên giám định giá hoặc do công ty định giá xác định cho từng DN
Bước 6: Ước tính giá trị vốn nhà nước năm trong tương lai thứ 3 tức năm 2008
1.5.25.Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp DCF
Trang 26tiềm năng của DN, và chỉ căn cứ trên cơ sở các tài sản thực có tại thời điểm xácđịnh GTDN.Trong khi đó áp dụng phương pháp DCF giải quyết được hầu hếtcác vướng mắc trong xác định lợi thế thương mại và tiềm năng giá trần của DN.Việc hạn chế áp dụng phương pháp DCF như ở các DN Việt Nam hiện nay sẽmột phần ảnh hưởng đến độ chính xác của GTDN, đặc biệt là các DN đang làm
ăn có lãi và có thương hiệu, thị phần trên thị trường
DN không phải tiến hành kiểm kê, phân loại tài sản và xác định giá trị củatừng loại tài sản riêng lẻ, do vậy giảm được khá nhiều rắc rối cho bản thân DN
Nhược điểm
Công thức tính toán phức tạp hơn rất nhiều, hơn nữa các thông số để xácđịnh GTDN mang tính ước đoán cao như dự tính lợi nhuận sau thuế các nămtrong tưong lai của DN Việc dự đoán quy mô khoản thu nhập hàng năm, đặcbiệt là số lợi nhuận sau thuế cũng là một việc phức tạp và có thể mắc sai lầm Vìvậy, nếu thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán không phát triển, việc sửdụng phương pháp này sẽ gây ra sai sót khá lớn
Phương pháp này có sử dụng những giá trị trong tương lai, tức là có tínhđến khả năng hoạt động của DN sau khi chuyển đổi sở hữu Tuy nhiên, ở đâycũng nảy sinh một vấn đề khó khăn gây nhiều tranh cãi là khi tính các giá trịtương lai, DN sẽ giả định hoạt động trong mấy năm nữa để phản ánh đúng giá trịcủa DN?
Sử dụng phương pháp này tiềm ẩn hai mối quan ngại cho các nhà đầu tư:+ Giá trị vốn Nhà nước dựa trên khả năng sinh lời trong tương lai, trongkhi đó, thực tiễn cho thấy rất khó để xác định khả năng này trong điều kiện ViệtNam hiện nay, đặc biệt đối với DN cổ phần hoá từ DN Nhà nước
+ Khi tính giá trị thực tế của DN lại bao hàm luôn cả các khoản nợ, số dưquỹ khen thưởng, phúc lợi và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có) Đây lànguyên nhân quan trọng khiến không ít các DN (dưới tác động của người quản
lý và người lao động) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn khi thựchiện cổ phần hoá, kể cả các DN thuộc diện bắt buộc phải áp dụng phương phápdòng tiền chiết khấu
Mặc dù vẫn còn một số hạn chế như trên khi áp dụng vào định giá DN ở
VN trong điều kiện hiện nay, song đây là phương pháp tiến bộ và khắc phụcđược nhược điểm của phương pháp tài sản
1.5.3 Các phương pháp khác
1.5.3.1 Phương pháp lợi nhuận
Trang 27Phương pháp này dựa trên cơ sở xem xét, đánh giá DN không phải đơnthuần là tổng số học các giá trị tài sản hiện có mà là một hệ thống phức tạp cácgiá trị kinh tế được đo bằng khả năng sinh lời của DN Điều mà nhà đầu tư trôngđợi là lợi nhuận, là khả năng sinh lợi của DN trong tương lai.
DN sẽ dự kiến lợi nhuận năm t và chiết khấu về hiện tại theo tỷ suất hiệntại hoá k
i=1 (1+k)t (1+k)n
Trong đó
Pt: lợi nhuận dự kiến năm t
k: hệ số hiện tại hoá (hay tỷ suất vốn hoá)
n: thời gian tính bằng năm phát sinh lợi nhuận theo tính toán
Vn: giá trị thanh lý năm n của tài sản
Khi cho n→∞ (chúng ta bỏ qua thời điểm thanh lý vì nó xuất hiện quá xathời điểm tính toán) thì ta có:
Nếu Pt không thay đổi qua các năm
k-gNếu lợi nhuận DN tăng theo tỷ lệ g>k trong n năm đầu và g’<k trong nnăm tiếp theo thì
Trang 28∑Pt/n (t=1,n) : là lợi nhuận bình quân thu được hang năm
Tk: tỷ suất lợi nhuận bình quân của DN kinh doanh trong ngành (ta có thểlấy lãi suất trái phiếu kho bạc)
1.5.3.2 Phương pháp chiết khấu cổ tức trong tương lai
Phương pháp này thường được sử dụng để định giá vốn chủ sở hữu củacác DN thanh toán cổ tức tương ứng cổ đông và được mong đợi là không có sựthay đổi quan trọng nào về vốn hoá trong tương lai Thêm vào đó, phương phápnày thích hợp hơn đối với những cổ phiếu thứ yếu của DN
Khi đó Giá cổ phiếu = Tổng giá trị hiện tại của các khoản cổ tức trongtương lai + Giá trị hiện tại của cổ phiếu tại thời điểm bán sau này (t)
Nếu cổ phiếu được người đầu tư nắm giữ vô thời hạn thì có nghĩa là t sẽtiến tới ∞ (thông thường, quãng đời của cổ phiếu là vô hạn,vì nó không có thờigian đáo hạn Một cổ phiếu thường được chuyển quyền sở hữu cho nhiều ngườithuộc nhiều thế hệ, song điều đó không ảnh hưởng tới giả định người đầu tưnắm giữ cổ phiếu đó vô thời hạn) Khi đó, giá trị hiện tại của vốn gốc sẽ tiến tới
0 và công thức trên trở thành:
Giá cổ phiếu= Tổng giá trị hiện tại của các khoản cổ tức trong tương lai
1.5.3.3 Phương pháp hệ số giá trên thu nhập (P/E)
Hệ số giá trên thu nhập là quan hệ tỷ lệ giữa giá thị trường một cổ phiếuvới thu nhập (lợi nhuận sau thuế) của một cổ phiếu Nó phản ánh, để có đượcmột đồng thu nhập người đầu tư phải bỏ ra bao nhiêu tiền Hệ số này càng caocông ty càng kinh doanh có hiệu quả nên được thị trường trả giá cao, và ngượclại hệ số P/E thấp chứng tỏ DN kinh doanh không hiệu quả
Đây là phương pháp thông dụng nhất trong các phương pháp dựa vào hệ
số Đối với một thị trường chứng khoán phát triển thỉ tỷ lệ P/E rất có ích choviệc định giá cổ phiếu Giả sử, người đầu tư X chưa được giao dịch trên thịtrường Muốn tính giá hợp lý của cổ phiếu X trong các cách là chỉ cần nhìn vào
Trang 29giá trị P/E được công bố đối với các loại cổ phiếu có cùng độ rủi ro như cổ phiếu
X nhân(*) với thu nhập ròng trên đầu cổ phiếu của công ty phát hành ra cổ phiếu
X là có thể tìm ra được giá cổ phiếu X
Tuy nhiên, thị trường chứng khoán còn non trẻ như ở nước ta thì việc sủdụng phương pháp này nhiều khi không mang lại thông tin đáng tin cậy
Trang 30Chương II Thực trạng công tác định giá DN
tại Công ty kim khí Hà Nội
2.1.Vài nét khái quát về công ty
2.1.1.Sơ lược quá trình hình thành và phát triển
Tên công ty : Công ty Kim khí Hà Nội
Công ty Kim khí Hà Nội ban đầu có tên là công ty thu hồi phế liệu kimkhí, được thành lập từ năm 1972 Với chức năng thu mua thép, phế liệu trongnước tạo nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc nấu thép tại nhà máy gang thépThái Nguyên.Công ty thu hồi phế liệu Kim khí là đơn vị hạch toán độc lập, có tưcách pháp nhân, trực thuộc tổng công ty kim khí Việt Nam-Bộ vật tư
Tháng 10 năm 1985, Bộ vật tư đã ra quyết định số 628/QĐ-VT hợp nhất hai đơnvị:”Công ty thu hồi phế liệu kim khí” và trung tâm giao dịch vụ vật tư ứ đọngluân chuyển” thành công ty vật tư thứ liệu Hà Nội, trực thuộc Tổng công ty kimkhí Việt Nam, hạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân Ngày 28/05/1993, BộThương mại đã ra quyết định số 600/TM-TCCB thành lập công ty kim khí HàNội trực thuộc tổng công ty Thép Việt Nam
Ngày 15/04/1997, Bộ công nghiệp ra quyết định số 511/QĐ-TCCB sápnhập xí nghiệp dịch vụ vật tư (là đơn vị trực thuộc tổng công ty thép Việt Nam)vào công ty thứ liệu Hà Nội
Ngày 05/06/1997, theo quyết định số 1022/QĐ-HĐQT của hội đồng quảntrị Tổng công ty thép VN đổi tên Công ty vật tư thứ liệu Hà Nội thành công tykinh doanh thép và vật tư Hà Nội
Ngày 12/11/2003, Bộ công nghiệp ra quyết định số 1852/2003/QĐ-BCN về việcsáp nhập công ty Kinh doanh thép và vật tư Hà Nội vào công ty Kim khí HàNội Hiện nay công ty có trụ sở chính tại 20 Tôn Thất Tùng-Hà Nội
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm kinh doanh của công ty
2.1.2.1 Chức năng
Công ty Kim khí Hà Nội là một DN nhà nước trực thuộc tổng công tyThép Việt Nam, chức năng chủ yếu của công ty là:
Trang 31- Kinh doanh các loại sản phẩm thép, vật liệu xây dựng, nguyên vật liệuphục vụ cho hoạt động sản xuất của ngành thép trong nước.
- Kinh doanh các mặt hàng thiết bị phụ tùng
- Nhập khẩu các mặt hàng thép, vòng bi, phôi thép để phục vụ cho hoạtđộng kinh doanh của công ty
- Sản xuất, nhận gia công các mặt hàng thép
- Công ty phải chấp hành và thực hiện đầy đủ nghiêm túc chính sách, chế
độ của Luật pháp Việt Nam về hoạt động sản xuất kinh doanh và có nghĩa vụđối với ngân sách Nhà nước
- Trong mọi loại hình kinh tế, công ty luôn phải xem xét khả năng sảnxuất kinh doanh của mình, nắm bắt nhu cầu tiêu dùng của thị trường để từ đóđưa ra những kế hoạch nhằm cải tiến tổ chức sản xuất kinh doanh đáp ứng đầy
đủ nhu cầu cho khách hàng và đạt được lợi nhuận tối đa
- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nhân viênnhằm đáp ứng được yêu cầu kinh doanh và quản lý của công ty Thực hiện cácchính sách, chế độ thưởng phạt đảm bảo quyền lợi cho người lao động
2.1.2.3 Đặc điểm kinh doanh của công ty
Hoạt động kinh tế cơ bản của công ty là lưu chuyển hàng hoá Đó là sựtổng hợp của quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ hàng hoá Công ty tổ chứcthu mua hàng hoá của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước sau đó cung cấphàng hoá cho những khách hàng có nhu cầu Quá trình lưu chuyển hàng hoáđược thực hiện theo hai phương thức: bán buôn và bán lẻ
Công ty kim khí Hà Nội là DN kinh doanh có quy mô lớn, chuyên bánbuôn bán lẻ các mặt hàng thép, vật liệu xây dựng và kinh doanh các mặt hàng
Trang 32phụ tùng thông qua hệ thống các cửa hàng của công ty.Mặt hàng kinh doanh củacông ty bao gồm:
- Dây thép đen, thép mạ có kích thước nhỏ, thép thường (thép thanh),thép hình (thép L,U,I), thép lá (thép tấm, thép lá từ 0.1→0.3 ly)
- Ngoài ra công ty còn kinh doanh các mặt hàng khác như ốngVinapipe, xi măng, phụ tùng, vòng bi, gang phục vụ cho xây dựng Hơn nữacông ty còn tổ chức các hoạt động dịch vụ như: cho thuê kho bãi, kiốt, cửa hàng,tài sản và còn có dịch vụ gửi hàng
- Nguồn hàng do công ty khai thác tương đối đa dạng nhưng chủ yếu
là khai thác nguồn hàng sản xuất trong nước từ các nhà máy sản xuất (nhà máythép liên doanh Việt úc, nhà máy gang thép Thái Nguyên, VPS ) như: mặt hàngkim khí, xi măng, phụ tùng, vòng bi Ngoài ra, công ty còn khai thác nguồnhàng nhập khẩu từ các nước: Hàn Quốc, Nga như các loại thép, vòng ốngFKF, phôi thép, vòng bi
Thị trường kinh doanh của công ty tương đối rộng và đa dạng Các mặthàng của công ty được tiêu thụ rộng rãi trên cả nước Bên cạnh đó, công ty cònhợp tác kinh doanh với nhiều DN trong nước
Trải qua chặng đường hơn 30 năm hoạt động, công ty kim khí Hà Nội đãphát triển không ngừng và ngày càng đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu khách hàng
Từ những ngày mới thành lập, mọi hoạt động của công ty đã gặp rất nhiều khókhăn về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật Nhưng do có sự cải tiến không ngừng vềphương thức kinh doanh và tổ chức cán bộ nên công ty càng ngày càng khẳngđịnh được vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường, quy mô công ty ngàycàng mở rộng Cơ sở vật chất của công ty ngày càng được nâng cao phù hợp vớiđiều kiện kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Mặt hàng kinh doanh củacông ty phong phú, đa dạng hơn Mặc dù trong quá trình hoạt động,công ty gặpmột số khó khăn nhất định nhưng công ty vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
2.1.2.4 Mạng lưới kinh doanh của công ty:
1 Cửa hàng kinh doanh thép và vật tư số 1: Tại số 9 Tràng Tiền, Hà Nội
2 Cửa hàng kinh doanh thép và vật tư số 2: Tại số 658 Trương Định,
Trang 335 Cửa hàng kinh doanh thép và vật tư số 5: Thị trấn Đức Giang, Hà Nội
6 Xí nghiệp kinh doanh phụ tùng và thiết bị: Tại số 105 Trường Chinh,
10.Xí nghiệp kinh doanh thép hình: Tại Km 12 đường Tây Sơn, Hà Nội
11 Xí nghiệp kinh doanh kim khí và vật tư chuyên dùng: Tại số 198Nguyễn Trãi, Hà Nội
12.Chi nhánh công ty kinh doanh thép và vật tư Hà Nội tại TP.HCM: Tại
số 23 Nguyễn Thái Bình, quận Tân Bình,TP.HCM
13 Kho Đức Giang: Tại thị trấn Đức Giang, Hà Nội
14 Kho Mai Động: Tại Mai Động, Hà Nội
Trang 34Sơ đồ mạng lưới kinh doanh của Công ty Kim khí Hà Nội:
Xí nghiệp kinhdoanh kim khí và vật
Chi nhánh công tykinh doanh thép vàvật tư Hà Nội tạiTP.HCM
Cửa hàng kinh
doanh thép và vật
tư số 3
Cửa hàng kinhdoanh thép và vật
2.1.3 Tổ chức quản lý của công ty
Công ty Kim khí Hà Nội hiện nay có 425 cán bộ công nhân viên, trong đó
có 89 nhân viên quản lý trên văn phòng (chiếm 20,9%) Trình độ cán bộ côngnhân viên của công ty đa số là tốt nghiệp đại học Hiện nay, tại công ty có banlãnh đạo gồm1 giám đốc công ty, 1 phó giám đốc, 1kế toán trưởng và 4 phòngban giúp việc Công ty có 6 cửa hàng, 9 xí nghiệp, và 1 chi nhánh, ở các đơn vị
Công ty Kim khí HàNội
Trang 35này đều có cửa hàng trưởng, giám đốc chi nhánh, xí nghiệp quản lý tình hìnhhoạt động của từng đơn vị.
Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty
Cơ cấu bộ máy của công ty được sắp xếp theo chức năng, nhiệm vụ củacác phòng ban, đảm bảo được sự thống nhất, tự chủ và sự phối hợp nhịp nhànggiữa các phòng ban
Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban như sau:
- Ban giám đốc:
+ Giám đốc công ty: Do chủ tịch HĐQT Tổng công ty thép bổ nhiệm hoặcmiễn nhiệm Là người đại diện pháp nhân của công ty, điều hành mọi hoạt độngcủa công ty theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước, chịu trách nhiệmtrước Tổng công ty và nhà nước về mọi hoạt động của công ty đến kết quả cuốicùng
+ Phó giám đốc công ty: Do Tổng giám đốc Tổng công ty thép bổ nhiệm
và miễn nhiệm, được uỷ quyền điều hành một số lĩnh vực hoạt động của công ty
và chịu trách nhiệm về kết quả công việc của mình trước pháp luật và trướcGiám đốc công ty
+ Kế toán trưởng: Do Tổng giám đốc Tổng công ty thép bổ nhiệm hoặcmiễn nhiệm Kế toán trưởng giúp Giám đốc công ty công việc quản lý tài chính
và là người điều hành chỉ đạo,tổ chức công tác hạch toán thống kê của công ty
- Phòng tổ chức hành chính: Gồm trưởng phòng lãnh đạo chung và cácphó phòng giúp việc Phòng tổ chức hành chính được biên chế 14 cán bộ côngnhân viên có nhiệm vụ tham mưu giúp việc cho Giám đốc công ty về công tác tổ
Ban giám đốc
Phòng tổ chức
hành chính
Phòng tài chính-kế toán Phòng kinh doanh
Ban thu hồi công nợ
Các đơn vị trực thuộc (14 đơn vị)