Xây dựng chiến lược kinh doanh ở Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn
Trang 1
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, ảnhhưởng tích cực và tiêu cực tới nền kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và hoạtđộng sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp nói riêng Mức độ ảnhhưởng phụ thuộc vào tiềm năng, sức mạnh của bản thân nền kinh tế mỗi nước
và chính sách của Chính phủ Trong những năm qua, bộ mặt đất nước ta cónhiều thay đổi, kinh kế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càngđược cải thiện Đó là do đất nước ta kịp thời chuyển đổi từ cơ chế bao cấpsang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Đời sống nhân dân ngàycàng được nâng cao, do đó nhu cầu mua sắm hàng hoá cũng phát triển theo
Do vậy mà các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện công tác tiêu thụ sảnphẩm Trong cơ chế mới sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng gaygắt Vì vậy đã có nhiều doanh nghiệp đã không chịu được sức ép của thịtrường đã không đứng vững được, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp vớiđường lối kin doanh đúng đắn đã vượt qua được những khó khăn đó, nắm bắtkịp thời cơ hội, thích hợp với điều kiện mới nên đã tồn tại và phát triển bềnvững Một trong những doanh nghiệp đó có Công ty xi măng và công trìnhLạng Sơn
Ở công ty xi măng và dựng công trình Lạng Sơn Việc xây dựng công
kế hoạch của công ty mới chỉ dừng lại ở kế hoạch hóa mà chưa có tầm chiếnlược Công ty có nhiều thuận lợi: Tài nguyên dồi dào, thị trường tiêu thụ
Trang 2rộng lớn, song công ty đang ngày càng mất dần thị trường do sự cạnh tranh của các doanh nghiệp mới ra nhập nghành Vì vậy, việc hoạch định việc thựchiện chiến lược kinh doanh là rất quan trọng và cấp bách đối với sự tồn tại
và phát triển của Công ty
Với ý nghĩa thực tiễn đó, em đã chọn đề tài :” xây dựng chiến lược kinh doanh ở Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn.”
Đề tài gồm 3 phần:
Phần I : Một số lý thuyết về Quản trị chiến lược
Phần II: Thực trạng việc thực hiện chiến lược kinh doanh ở công ty.Phần III: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống việc Quản trị chiến lược
Phần I Một số lý thuyết liên quan đến Quản trị chiến lược
1.1 Một số khái niệm về Quản trị chiến lược
Các quan điểm về chiến lược kinh doanh
Thuật ngữ chiến lược xuất hiện cách đây khá lâu, nó có nguồn gốc bắtđầu từ quân sự và bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại chiến lược ra đời và phát triểncùng với các cuộc chinh phạt của các đế quốc và nó được coi như là nghệthuật để dành phần thắng cho cuộc chiến
Theo từ điển di sản văn hóa mỹ, chiến lược được định nghĩa như là:”Một khoa học và chỉ huy quân sự, được ứng dụng để lập tổng thể và tiến hànhnhững quy mô chiến dịch lớn”
Trong lĩnh vực kinh tế, sau cuộc chiến tranh thế giới lần II, nền kinh tếthế giới phục hồi một cách nhanh chóng, môi trường kinh doanh biến đổi vô
Trang 3cùng mạnh mẽ Hoạt động kinh doanh lúc này không có tính mạnh mẽ, sảnxuất quy mô nhỏ và sản xuất thủ công như trước đây Cuộc cách mạng khoahọc kỹ thuật lần hai đã thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng pháttriển, đồng thời quá trình quốc tế hóa cùng diễn ra một ngày càng mạnh mẽ vàcạnh tranh gay gắt hơn Chính bối cảnh đó cuộc các công ty phải có các biệnpháp kinh doanh lâu dài Yêu cầu này phù hợp với bản chất của khái niệmchiến lược từ lĩnh vực quân sự đưa vào lĩnh vực kinh tế Trải qua các giaiđoạn phát triển, khái niệm chiến lược có những biến đổi nhất định và chưa đạtđến sự thống nhất, vì vậy vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm chiến lược khácnhau.
Theo quan điểm truyền thống khái niệm chiến lược được hiểu như sau:
“ Chiến lược là việc nghiên cứu tìm ra một vị thế cạnh tranh phù hợp trongmột nghành công nghiệp, một phạm vi hoạt động chính mà ở đó diễn ra cáchoạt động cạnh tranh.”
Ta nhận thấy rằng trong các định nghĩa chiến lược truyền thống, nộidung và kế hoạch vẫn còn là một bộ phận quan trọng hơn nữa các quan điểmtruyền thống về nội dung chiến lược đã ngầm thừa nhận rằng chiến lược củacông ty luôn là một kết quả của quá trình kế hoạch có tính toán, dự tính từtrước Thời gian đầu quan điểm này đã được sự ủng hộ cùa các nhà nghiêncứu cũng như các nhà quản trị Tuy nhiên, môi trường kinh doanh ngày càngbiến đổi một cách nhanh chóng và phức tạp, việc ra chiến lược vốn rất khókhăn lại càng khó khăn thêm Việc xây dựng chiến lược theo phương pháp kếhoạch hóa cũng không còn phù hợp nữa Vì thực tế đã chứng minh rằng đôikhi có những kế hoạch chính thức được xây dựng cụ thể lại không thànhcông, bởi thế cần có những kế hoạch đối phó trong quá trình kinh doanh
Trang 4Chính vì vậy, các quan điểm truyền thống đã bộc lộ những yếu điểm của nó.Bản chất của chiến lược là một khoa học và là một nghệ thuật để đạt đượcmục tiêu cũng không được khẳng định.
Trong bối cảnh đó các thuật ngữ hiện đại ra đời dần thay thế cho cácquan điểm chiến lược truyền thống Các quan điểm chiến lược hiện đại đã cốgắng trở lai với bản chất thuật ngữ chiến lược đồng thời vẫn đảm bảo sự thíchnghi của thuật ngữ này với môi trường kinh doanh đang biến động Do đó,cácquan điểm chiến lược hiện đại không nhấn mạnh vào lựa chọn các chiến lượcphù hợp với mục tiêu của tổ chức đề ra
Khái niệm chiến lược kinh doanh:
Chiến lược kinh doanh là phân tích, tìm hiểu và đưa ra con đường cơ bản,phác họa quỹ đạo tiến triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh; đó là kếhoạch mang tính toàn diện, tính phối hợp và tính thống nhất được rèn giũa kỹlưỡng nhằm dẫn đắt đơn vị kinh doanh đảm bảo mục tiêu của đơn vị kinhdoanh Chiến lược kinh doanh là việc ấn định các mục tiêu cơ bản của đơn vịkinh doanh, lựa chọn phương tiện và cách thức hành động, phân bổ các nguồnlực thiết yếu để thực hiện mục tiêu kinh doanh
1.2 Vai trò, ý nghĩa của Quản trị chiến lược kinh doanh:
Ý nghĩa và vai trò của Quản trị chiến lược:
Chúng ta đang sống trong một giai đoạn khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế toàn cầu, hội nhập và toàn cầu hóa diễn ra trên khắp hành tinh,cách mạng khoa học kỹ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin,tiến nhanh như vũ bão, môi trường kinh doan biến động nhanh, phức tạp, khóbền vững Trong điều kiện biến động phức tạp, với quá niều vấn đề mới nảy
Trang 5sinh, qua nhiều thay đổi diễn ra hết sức nhanh chóng, để có thể tồn tại và pháttriển, phát triển bền vững có hiệu quả , mỗi doanh nghiệp tổ chức phải trả lờiđược câu hỏi: “ chúng ta sẽ đi về đâu? ” và bằng cách nào để đi tới ? đó lànhững câu hỏi chính của quá trình quản trị chiến lược Quản trị chiến lượcgiúp doanh nghiệp trả lời các câu hỏi cốt tử : “ làm sản phẩm gì ? bán cho thịtrường nào ? gia nhập chuỗi cung ứng nào và nhập vào vị trí nào trong chuỗi ?
”
Đối với mỗi doanh nghiệp tổ chức chiến lược cũng có vị ý nghĩa quantrọng như bánh lái đối với mỗi con tàu, nhờ có bánh lái con tàu mới có thểxác định được hướng đi, đích đến, cùng hành trình tối ưu nhất để đi đến đích,nhờ có quản trị chiến lược mà doanh nghiệp xác định được tầm nhìn,sứ mạngcủa mình,cùng hệ thống mục tiêu chiến lược, các chính sách giải pháp để thựchiện mục tiêu, nhờ xác định được hướng đi và nước bước doanh nghiệp sẽchiến thắng được đối thủ cạnh tranh, khẳng định được vị trí xứng đáng củamình trên thương trường nội địa, khu vực thế giới Quản trị chiến lược làchiếc đũa thần giúp các doanh nghiệp thoát khỏi vòng loảnh quảnh Nhữngđiều trên khẳng định ý nghĩa to lớn của quẩn trị chiến lược giúp tổ chức thấy
rõ mục đích và hướng đi của mình, nhờ vậy có thể phát triển đúng hướng vàhiệu quả
Quản trị chiến lược xuất phát từ việc phân tích môi trường bên ngoài đểxác định các cơ hội và nguy cơ, phân tích môi trường bên trong để xác địnhđiểm mạnh và điểm yếu, trên cơ sở đó tiến hành kết hợp để tìm ra nhữngchiến lược giúp tổ chức phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội, khắc phụcđiểm yếu để tận dụng cơ hội, phát huy điểm mạnh để vượt qua những nguy cơ
và khắc phục điểm yếu để vượt qua những nguy cơ, thách thức không chỉtrong giai đoạn hoạch định chiến lược mà cả trong giai đoạn tiếp theo – thực
Trang 6hiện và đánh giá chiến lược với môi trương có liên quan, nhạy bén phán đoánnhững thay đổi của môi trường để điều chỉnh chiến lược cho phù hợp Chính
vì gắn chặt với môi trường, dự báo được những biến động của môi trường,năng động và sáng tạo Quản trị chiến lược giúp tổ chức luôn ở thế chủ độngnắm bắt kịp thời các cơ hội,biến nguy cơ thành cơ hội lật ngược tình thế,chiến thắng đối thủ cạnh tranh, phát triển bền vững và hiệu quả
Đã qua rồi thời kỳ quản trị chiến lược là công việc của riêng các vị lãnhđạo cao cấp cùng các chuyên gia cố vấn, còn các nhà quản trị cấp thấp và độingũ nhân viên chỉ là người thừa hành, chỉ cần nhắm mắt thực hiện những gìcấp trên đã quyết định, giờ đây quản trị chiến lược đòi hỏi sự tham gia của tất
cả mọi người trong tổ chức trong điều kiện chuyên môn hóa, các nhà quản trị
và nhân viên ở mỗi phòng ban, bộ phận của tổ chức thường có xu hướng nỗlực thực hiện mục tiêu của bộ phận mình mà không quan tâm đến mục tiêuchung của cả tổ chức trong trường hợp, mục tiêu của bộ phận không phù hợpvới mục tiêu của tổ chức, thì sẽ không cộng hưởng được sức mạnh của cả tổchức, thậm chí còn có thể thành vật cản, gây tổn hại cho tổ chức chính vì vậycần tập trung sức mạnh của tất cả các bộ phận để đạt được mục tiêu chung.Quản trị chiến lược giúp mọi thành viên thấy rõ được tầm nhìn, sứ mạng cácmục tiêu chung của tổ chức, từ đó thu hút mọi người vào qua trình quán trịchiến lược, giúp thống nhất sức mạnh của tổ chức để thực hiện mục tiêuchung
Quản trị chiến lược giúp tổ chức gắn kết các kế hoạch thực hiện mụctiêu ngắn hạn để thực hiện mục tiêu tổng thể, bên cạnh đó còn giúp xác dịnhđược những hướng phát triển cần ưu tiên, để tập trung nguồn lực phát triển tổchức một cách hiệu quả chiến thắng đối thủ cạnh tranh, giành vị trí xứng đángtrên thương trường
Trang 7 Sự cần thiết phải Quản trị chiến lược:
Nhiều công ty Việt Nam hiện nay thường phát triển nhanh va bị cuốnvào vòng xoáy của công việc phát sinh hàng ngày, những công việc liên quanđến quá trình sản xuất hoặc mua hàng hoặc bán hàng, giao hàng thu tiền, quản
lý hàng tồn, công nợ… hầu hết những việc này phát sinh theo yêu cầu, xảy rađến đâu, giải quyết đến đó, chứ không hề được hoạch định một cách bài bản,một cách có hệ thống hoặc đánh giá một cách hiệu quả khoa học
Quản trị viên cấp cao, nhất là các giám đốc điều hành thường bị côngviệc sự vụ “dẫn dắt” đến mức lạc đường lúc nào không biết Như người đitrong rừng không có định hướng rõ ràng, chỉ thấy ở đâu có lối thì đi, dẫn đếncàng đi càng bị lạc Quản trị chiến lược giúp tổ chức, DN xác định được rõràng mục tiêu, hướng đi, vạch ra con đường hợp lý và phân bổ nguồn lực mộtcách tối ưu để đảm bảo đến mục tiêu đã định trong thời gian ngắn nhất
Mục tiêu tổ chức được xác định trên cơ sở các phân tích rất cẩn trọng và
có cơ sở khoa học về tình hình thị trường, khách hàng, xu thế tiêu dùng, đốithủ cạnh tranh, sự thay đổi về công nghệ, môi trường hợp lý, tình hình kinh tế
xã hội, những điểm mạnh yếu nội tại, các cơ hội và nguy cơ có thể từ bênngoài,…Do vậy, sẽ là những mục tiêu thách thức, nhưng khả thi, đáp ứngđược sự mong đợi của cổ đông, của cấp quản lý và nhân viên Mục tiêu của tổchức, doanh nghiệp cũng bắt nguồn từ sứ mệnh, tầm nhìn, hoài bão và giá trịcốt lõi của tổ chức doanh nghiệp Sự kết hợp giữa cái mong muốn và cái cóthể làm được thông qua sự phân tích một cách khoa học sẽ giúp tổ chứckhông sà đà vào những ảo tưởng vô căn cứ hay bỏ lỡ những cơ hội phát triển
do đật ra những yêu cầu tăng trưởng quá thấp ngay từ đầu
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình Quản trị chiến lược:
Trang 8Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp được xem như là một yếu tốtác động quan trọng tới doanh nghiệp mà daonh nghiệp không thể tránh khỏikhi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Chúng ta có thể hiểu đượcđiều tất yếu đó nếu nhận thức được doanh nghiệp như là một hệ thống mở.
Mà tại đó các bộ phận không chỉ tương tác với nhau theo một liên kết lôgic
mà còn chịu tác động chi phối của môi trường bên ngoài Trong nền kinh tếphát triển đa dạng và phức tạp thì sự nắm bắt môi trường sẽ rất là khó khăn do
sự xuất hiện quá nhiều thông tin gây nhiễu, cần phải được lựa chọn kỹ càng.Đồng thời không chỉ có một doanh nghiệp tham gia khai thác những tiềmnăng tư môi trường mà còn rất nhiều doanh nghiệp khác có cùng mối quantâm Chính điều đó tạo nên sự canh tranh giữa các doanh nghiệp với nhaugiữa các nguồn lực từ môi trường
a) Môi trường bên ngoài:
Mục đích của việc nghiên cứu môi trường bên ngoài là phát hiện một danhmục có giới hạn các cơ hội mà môi trường bên ngoài có thể mang lại chodoanh nghiệp và các nguy cơ từ môi trường này mà doanh nghiệp nên tránh.Hoạch định chiến lược mà không nghiên cứu môi trường bên ngoài cũngkhông khác nào người mù vẽ đường đi Một người mù thông minh có thể dựavào trí nhớ và sự tưởng tượng của mình vẽ được một bản sơ đồ đường đi,thậm chí một bức tranh tuyệt vời Trong hoạch định chiến lược cũng vậy, đãtừng có một thời, người ta hoạch định chiên lược, lập kế hoạch dựa vào việcphân tích môi trường bên trong Trong bối cảnh môi trường bên ngoài ổn địnhsuốt một thời gian dài Thực tế cho thấy môi trường bên ngoài có ảnh hưởngrất lớn đến tất cả các sản phẩm, dịch vụ thị trường và tổ chức trên thế giới Sựthay đổi của những yếu tố môi trương bên ngoài sẽ kéo theo những thay đổinhu cầu của người tiêu dùng đối với những sản phẩm, dịch vụ…đòi hỏi cải
Trang 9tiến, nâng cấp những sản phẩm hiện có và phát triển các sản phẩm mới Đểđáp ứng yêu cầu mới, các doanh nghiệp phải thay đổi chiến lược kinh doanh
và chiến lược cấp chức năng, chiến lược định vị sản phẩm, phân khúc thịtrường và việc lựa chọn các nhà cung cấp, khách hàng để mua hoặc bán Nhậndiện và đánh giá được các cơ hội và nguy cơ từ môi trường bên ngoài chophép doanh nghiệp xác định được chính xác rõ ràng nhiệm vụ của mình, xâydựng chiến lược để đạt được các mục tiêu dài hạn và các chính sách nhằm đạtđược các mục tiêu hàng năm Và ngay cả việc phân tích, đánh giá môi trườngbên trong muốn chính xác cũng phải gắn chặt với môi trường bên ngoài.Người ta xác định được doanh nghiệp mạnh, yếu những điểm nào, mức độmạnh, yếu cũng cần được xem xét ở từng thời điểm cụ thể
Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế:
Các nhân tố kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng có tínhchất quyết định đến hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp Các nhân tốkinh tế ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpthường là trạng thái phát triển của nền kinh tế: tăng trưởng, suy thoái hay ổnđịnh
Nếu nền kinh tế quốc dân tăng trưởng với tốc độ cao sẽ tác động đếncác doanh nghiệp theo hai hướng Thứ nhất, do tăng trưởng làm cho thu nhậpcủa các tầng lớp dân cư dẫn đến khả năng thanh toán cho nhu cầu của họ.Điều này dẫn tới đa dạng hóa các loại nhu cầu và xu hướng phổ biến là tăngcầu Thứ hai, do tăng trưởng kinh tế làm cho khả năng tăng sản lượng và mặthàng của nhiều doanh nghiệp đã làm tăng hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp này Từ đó làm tăng khả năng tích lũy vốn nhiều hơn, tăng vốn đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh làm cho môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn
Trang 10Nếu nền kinh tế quốc dân ổn định các hoạt động kinh doanh cũng giữmức ổn định Khi nền kinh tế quốc dân suy thoái nó sẽ tác động theo hướngtiêu cực đối với các doanh nghiệp.
Ngoài ra tỷ giá hối đoái cũng tác động đến các doanh nghiệp thông quanguồn hàng nhập khẩu và xuất khẩu của các doanh nghiệp
Yếu tố công nghệ kỹ thuật – công nghệ:
Trong phạm vi môi trường kinh tế quốc dân, yếu tố kỹ thuật – côngnghệ cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng, mang tính chất quyết định đốivới khả năng cạnh tranh, và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp
Trong xu thế toàn cầu hóa doanh nghiệp hiện nay Sự phát triển nhanh chóngcủa kỹ thuật công nghệ ở mọi lĩnh vực đều tác động trực tiếp đến doanhnghiệp Với trình độ khoa học công nghệ như hiện nay ở nước ta thì hiệu quảcủa các ứng dụng chuyển giao công nghệ đã, đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp
và mạnh mẽ tới các doanh nghiệp
Trang 11Xu thế hội nhập buộc các doanh nghiệp ở nước ta phải tìm mọi biệnpháp để tăng khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Mộttrong các yếu tố quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh là giá cả, doanhnghiệp đạt được điều này nhờ việc giảm chi phí trong đó yếu tố công nghệđóng vai trò rất quan trọng Vì vậy các doanh nghiệp phải chú ý nâng caonhanh chóng khả năng nghiên cứu và phát triển, không chỉ chuyển giao, làmchủ công nghệ nhập ngoại mà phải có khả năng sáng tạo được kỹ thuật côngnghệ tiên tiến.
và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến hoạch định và tổchức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường chính trị
- pháp luật tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vì nóảnh hưởng đến sản phẩm, ngành nghề phương thức kinh doanh của doanhnghiệp Không những thế nó còn tác động đến chi phí: chi phí sản xuất, chiphí lưu thông, chi phí vận chuyển, mức độ thuế suất đặc biệt là các doanhnghiệp kinh doanh XNK còn bị ảnh hưởng bởi chính sách thương mại quốc
tế, hạn ngạch do Nhà nước giao cho, luật bảo hộ cho các doanh nghiệp thamgia hoạt động kinh doanh Tóm lại môi trường chính trị - pháp luật có ảnh
Trang 12hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bằngcách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ thống công cụluật pháp, công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô
Môi trường dân số:
Là lĩnh vực dân số mà các nhà quản trị cần quan tâm bao gồm cácthông tin như: giới tính,tuổi,thu nhập,cơ cấu chủng tộc,trình đọ giáo dục,sởthích,mật độ dân cư,vị trí địa lý,tỉ lệ sinh,tỉ lệ thất nghiệp,…Điều cần nhất làphải đánh giá đúng xu thế và thay đổi của dân số Các thông tin này sẽ xác lậpnên tập khách hàng hiện tại và tiềm năng của doanh nghiệp trong tươnglai.Hơn nữa,các nhà quản trị sẽ biết đươc nhiều những cơ hội về thị trường màdoanh nghiệp đang có và những thị trường mà doanh nghiệp muốn thâmnhập
Môi trường văn hóa – xã hội:
Được hiểu như những giá trị sống tinh thần của mỗi dân tộc, mỗi đấtnước Nó tạo ra những đặc tính riêng trong cách tiêu dùng của người dân cũngnhư những hạn chế vô hình mà các doanh nghiệp bắt gặp khi thâm nhập thịtrường Do vậy cần nghiên cứu kỹ để tránh khỏi những phản ứng tiêu cực củangười dân do xâm hại tới những giá trị truyền thống của họ
Môi trường toàn cầu:
Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa, không có một quốc gia, doanhnghiệp nào lại không có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nền kinh tếthế giới, những mối quan hệ này đang hàng ngày, hàng giờ phát triển mạnh
mẽ và phức tạp tác động lên doanh nghiệp Vì vậy, sẽ là khiếm khuyết, nếuphân tích môi trường vĩ mô của một doanh nghiệp mà lại chỉ giới hạn ở phântích môi trường trong nước, bỏ qua môi trường toàn cầu
Trang 13Môi trường toàn cầu bao gồm môi trường của các thị trường mà doanh nghiệp
có liên quan Khi phân tích môi trường vĩ mô của các thị trường này cũng cầnphân tích môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa xã hội , tự nhiên,công nghệ… sự thay đổi trong môi trường toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến nhữngquyết định chiến lược của doanh nghiệp Ví dụ: Nếu như trước đây CHLBĐức là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, thì trong chiến lược tham gia chuỗicung ứng toàn cầu của doanh nghiệp chỉ tính đến việc chuẩn bị những điềukiện cần thiết để gia nhập những chuỗi cung ứng của Đức, Mỹ, Nhật Trongnữa đầu năm 2009, Trung Quốc đã vượt Đức và trở thành nước xuất khẩu lớnnhất thế giới Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp cần thay đổi chiến lược:Nghiên cứu và chuẩn bị cả những điều kiện để gia nhập chuỗi cung ứng củaTrung Quốc
b) Môi trường vi mô:
Để hoạch định chiến lược nếu chỉ dựa trên kết quả phân tích môitrường vĩ mô thì chưa đủ, mà còn phải phân tích môi trường vi mô hay còngọi là môi trường cạnh tranh hay môi trường nghành
Nghiên cứu môi trường vi mô là một nội dung hết sức quan trọng, không thểthiếu của quá trình quản trị chiến lược Môi trường vi mô là môi trường gắntrực tiếp với từng doanh nghiệp, phần lớn các hoạt động và cạnh tranh củadoanh nghiệp đều xảy ra trực tiếp trong môi trường này
Sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh trong nghành sẽ quyết định mức độđầu tư, cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận của nghành Các lực lượngcạnh tranh càng mạnh cành hạn chế khả năng của các doanh nghiệp hiện tạitrong việc tăng giá và thu được lợi nhuận cao hơn Điều đó có nghĩa là, lựclượng cạnh tranh trong nghành càng mạnh thì khả năng sinh lời và tăng giá
Trang 14hàng của các doanh nghiệp cùng nghành càng bị hạn chế, và ngược lại, khilực lượng cạnh tranh yếu sẽ tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp trong nghànhthu được lợi nhuận cao hơn Chính vì vậy các doanh nghiệp cần nghiên cứulực lượng cạnh tranh và căn cứ vào những điều kiện bên trong của mình đểquyết định lựa chọn một vị trí thích hợp trong nghành, nhằm đối phó với cáclực lượng cạnh tranh một cách tốt nhất hoặc có thể tác động đến chúng theohướng có lợi cho mình
Thị trường các nhà cung ứng:
Là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạtđộng của doanh nghiệp.Khi nhìn nhận doanh nghiệp như một hệ thống mở thìđiều tất yếu là doanh nghiệp sẽ phải tiếp nhận những yếu tố đầu vào cung ứngcho hoạt động sản xuất kinh doanh.Như vậy, Doanh nghiệp sẽ phải phụ thuộcrất nhiều vào các nhà cung ứng.Một sự chọn lựa không chính xác sẽ dẫn tớimột hậu quả là doanh nghiệp sẽ không được dáp ứng đầy đủ những gì cầnthiết phục vụ quá trình sản xuất của mình.Hoặc một sự phản ứng tiêu cực củangành cung ứng cũng coá thể làm gián đoạn sự liên tuc của quá trình sản xuấtkinh doanh.Ví dụ như nhà cung ứng giao hàng không đúng hẹn hoặc như chấtlượng không đúng trong hợp đồng cam kết.Do vậy,doanh nghiệp hết sức quantâm tới thị trường này,cần có những chính sách lựa chọn các nàh cung ứngtheo nguyên tắc không bỏ trứng vào một giỏ.Điều đó sẽ cho phép doanhnghiệp tránh được những rủi ro đem lại từ nhã cung cấp khi họ có những ýđịnh thay đổi các điều kiện hợp tác.Mặt khác cần lựa chọn những nhà cungcấp truyền thống,đảm bảo cho doanh nghiệp khai thác được tính ưu thế trongkinh doanh như giảm chi phí nghiên cứu đầu vào,nợ tiền hàng để quay vòng
Trang 15vốn…Ngoài ra sự cạnh tranh của các nhà cung ứng cĩng là những điều kiêntốt để doanh nghiệp xác định được chất lượng,cũng như giá cả của đầu vào.
Trang 16marketing có liên quan tới khách hàng như thu nhập,sở thích,nhu cầu,…đểđưa ra những sản phẩm thích hợp đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.
Sự đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng:
Đây là mối lo lắng thường trực của các doanh nghiệp không chi là riêngcủa một doanh nghiệp nào Với một ngành kinh doanh không phải chỉ córiêng một doanh nghiệp tham gia phục vụ mà còn có rất nhiều các doanhnghiệp khác cũng cùng có mối quan tâm để khai thác những lơii ích to lớnđem lại từ số đông khách hàng Cũng giống như quy luật sinh tồn thì sự sống
sẽ thuộc về những kẻ mạnh.Trong thương trường cũng vậy không có sự tồntại cuả khái niệm nhân đạo Mọi doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình nhữngcách thức riêng, có thể chống chọi với các đối thủ cạnh tranh để tồn tại vàphát triển Các đối thủ cạnh tranh sẽ sử dụng những ưu thế của mình để thuhút ca lôi kéo khách hàng về phía họ bằng các chính sách khôn khéo có lợicho khách hàng,hoặc bằng những sản phẩm mới đáp ứng được tốt nhất nhucầu đa dạng và phong phú của khách hàng
Sự đe dọa của sản phẩm thay thế:
Trong tiêu dùng thì nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi ngoại trừnhững nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi ngoại trừ những nhu cầu thiếtyếu cho cuộc sống như gạo, nước,…những mong muốn của khách hàng làmong muốn tiêu dùng một loại sản phẩm mới khác có thể thay được nhưngphải có sự khác biệt
Sự ra đời của loại sản phẩm mới sẽ là thách thức lớn cho doanh nghiệp
vì sẽ có một bộ phận khách háng sẽ quay lưng lại với những sản phẩmcũ.Điều đó sẽ làm cho Doanh nghiệp mất đi một lượng khách hàng to lớn và
Trang 17không đảm bảo cho doanh nghiệp thu được lợi ích từ khách hàng Yêu cầu đặt
ra là phải làm thế nào chống chọi đươc với những sản phẩm thay thế đó.Doanh nghiệp không thể vứt bỏ công nghệ cũ của mĩnh để theo đuổi mộtcông nghệ mới khác Nhiệm vụ là các doanh nghiệp phải cải tiến côngnghệ,tạo ra những đặc tính hay đơn giản chỉ là những thay đổi bên ngoài củasản phẩm cải tiến để níu giữ và thu hút thêm được khách hàng mới
Phần II Thực trạng về việc thực hiện quản trị chiến lược ở công
ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn.
2.1 Điều kiện, đặc điểm về công ty:
2.1.1 Sự ra đời của công ty:
Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn là một doanh nghiệpnhà nước thành lập vào tháng 10 năm 1960 lấy tên là xí nghiệp Vôi PhaiDuốc trực thuộc Ty kiến trúc Tỉnh Lạng Sơn (Sở Xây Dựng) Nhiệm vụ là sảnxuất vôi với quy mô nhỏ, số lượng công nhân viên chỉ có vài chục người
Đến năm 1972 kiến trúc tỉnh Lạng Sơn quyết định sáp nhập xí nghiệpvới đội cơ giới đá Hồng Phong lấy tên là “Xí Nghiệp Vôi Đá”, lúc này ngoàinhiệm vụ sản xuất vôi , xí nghiệp còn sản xuất đá các loại , số lượng côngnhân viên đã tăng lên trên 100 người
Đầu năm 1978 Tỉnh uỷ, UBND Tỉnh Lạng Sơn có chủ trương mở rộngmặt bằng xí nghiệp, lập dự án xây dựng một phân xưởng sản xuất xi măng lò
Trang 18đứng P300 Cuối năm 1978 “Xí Nghiệp Vôi Đá” được đổi tên thành “XíNghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng”.
Năm 1991 “Xí Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng” được đổi tên thành
“Nhà Máy Xi Măng Lạng Sơn” Sản lượng sản xuất xi măng ngày một tăng
và trở thành sản phẩm chủ đạo của đơn vị
Tháng 5 năm 2002, công ty đã đổi tên thành “Công ty xi măng và xây dựngcông trình Lạng Sơn” Lúc nay nhiệm vụ của công ty là sản xuất sản phẩm ximăng và các sản phẩm khác đồng thời tham gia xây dựng các công trình trongtoàn tỉnh
Tên giao dịch: Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn Trụ sở: Thành Phố Lạng Sơn - Tỉnh Lạng Sơn.
Điện thoại: 025.878.425
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty:
Công ty có các chắc năng, nhiệm vụ như sau:
- Thực hiện chế độ hạch toán độc lập tự chủ về tài chính
- Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch của Công ty
- Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh đúng chế độ chính sách hiện hànhcủa Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn được giao
- Chấp hành đầy đủ các chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước vàquy định của Tỉnh ủy Lạng Sơn
- Thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng đã ký kết với khách hàng
Trang 19trong việc mua bán, vận chuyển hàng hóa; hợp đồng liên doanh, liên kết.
- Quản lý toàn diện đội ngũ cán bộ công nhân viên, thực hiện chăm lođời sống vật chất, tinh thần và không ngừng nâng cao trình độ chuyên mônnghề nghiệp cho cán bộ công nhân viên
- Làm tốt công tác bảo vệ, an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ môitrường, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc phòng
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty:
Do đặc điểm của nhà máy mang tính sản xuất cô nghiệp ổn định nên
tổ chức của nhà máy theo mô hình trực tuyến chức năng
- Giám Đốc: Phụ trách chung mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy
- Phó GĐ kinh doanh: trực tiếp chỉ đạo công tác kế toán, kế hoạch vật tưcủa nhà máy, quản lý các phòng ban
- Phó GĐ kỹ thuật: Chỉ đạo sản xuất ở các bộ phận
- Phòng tiêu thụ: Có nhiệm vụ mở rộng thị trường, đảm nhiệm việc tiêuthụ sản phẩm, vận chuyển hàng hoá theo yêu cầu của khách hàng theo đúng
số lượng, chất lượng
- Phòng tổ chức hành chính: Quản lý, điều động cán bộ, tổ chức phátđộng thi đua trong nhà máy, thực hiện các hoạt động văn thư, lưu trữ hànhchính trong toàn doanh nghiệp
- Phòng kế hoạch: Lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch vật tư, cung ứng vật tưkịp thời, đảm bảo sản xuất được liên tục và tạo sự nhịp nhàng giữa các phân xưởng
Trang 20- Phòng kỹ thuật KCS: Thực hiện công tác quản lý kỹ thuật sản xuất,giám sát kỹ thuật, kiểm tra chất lượng NVL đầu vào và quản lý chất lượngsản phẩm đầu ra của nhà máy.
- Phòng kế toán tài vụ: Quản lý công tác tài chính đảm bảo tiền vốn mộtcách kịp thời phục vị sản xuất kinh doanh, hạch toán kế toán chính xác kếtquả kinh doanh của đơn vị
- Phân xưởng liệu: Có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu
- Phân xưởng lò: Có nhiệm vụ sản xuất clinke- nửa thành phẩm
- Phân xưởng khai thác đá: Có nhiệm vụ sản xuất đá hộc, đá dăm , lànguyên liệu cho sản xuất xi măng
- Phân xưởng thành phẩm: Có nhiệm vụ sản xuất xi măng rời và xi măng bao
- Phân xưởng cơ điện: Có nhiệm vụ sửa chữa, kiểm tra, bảo dưỡng thiết
bị sản xuất toàn nhà máy
2.1.4 Cơ cấu lao động của công ty:
Nói chung cơ cấu lao động của công ty trong nhiều năm gần đây có xuhướng giảm vê mặt số lượng và cơ cấu có nhứng thay đổi theo chiều hướngnhất định
Một số bảng cấu lao động của Công ty Xi măng và Xây dựng công trìnhLạng Sơn như sau:
+ Theo tính chất lao động
Bảng 1: phân loại lao động theo tính chất
Trang 21Tiêu thức Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Tóm lại, tình trạng lao động của công ty hiện nay đang có xu hướnggiảm đó là do công ty đang có chiến lược mới trong kinh doanh nên từngbước giảm dần lực lượng lao động gián tiếp thay vào những lao động trựctiếp
2.1.5 Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng đến việc thực
hiện chiến lược của công ty:
Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Trang 22Công ty xi măng và XDCT Lạng Sơn là đơn vị sản xuất công nghiệp, sảnphẩm của nhà máy mang hình thái vật chất cụ thể Trong đó sản phẩm chính
là xi măng, sản phẩm phụ gồm: vôi cục, ngói xi măng, gạch lát, bê tông, gạch
bê tông, gạch 30*30, đá xây dựng
Trong công ty ngoài bộ máy quản lý còn có các phân xưởng sản xuấtnhư: phân xưởng liệu, phân xưởng lò, phân xưởng thành phẩm, phân xưởng
cơ điện, phân xưởng khai thác đá, và phân xưởng sản xuất bê tông
Đối với phân xưởng liệu có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu, số ngườitrong phân xưởng khoảng 50 người.Trong đó có một quản đốc phân xưởng,hai phó quản đốc phân xưởng, hai thống kê và ba tổ trưởng, làm ba ca liêntục
Đối với phân xưởng lò có nhiệm vụ sản xuất clinke, số người trong phânxưởng khoảng 53 người Trong đó có một quản đốc phân xưởng, ba phó quảnđốc phân xưởng, một thống kê và sáu tổ trưởng, làm ba ca liên tục
Đối với phân xưởng thành phẩm có nhiệm vụ sản xướt xi măng rời và ximăng bao Bao gồm một quản đốc phân xưởng, một phó quản đốc phânxưởng, một cán bộ kĩ thuật, một tổ trưởng và 98 công nhân sản xuất, làm ba
ca liên tục
Đối với phân xưởng cơ điện phục vụ sửa chữa, kiểm tra, bảo dưỡng thiết
bị sản xuất toàn nhà máy Số người trong phân xưởng có 35 người Trong đó
có một quản đốc phân xưởng, một phó quản đốc phân xưởng, một tổ trưởng,chủ yếu làm theo giờ hành chính
Trang 23Đối với phân xưởng khai thác đá có nhiệm vụ khai thác và sản xuất đáhộc, đá dăm, số công nhân viên trong phân xưởng là 47 người, trong đó baogồm một quản đốc phân xưởng, một phó quản đốc phân xưởng, một thống kê,một tổ trưởng sản xuất, làm vào giờ hành chính.
Đối với phân xưởng sản xuất bê tông có nhiệm vụ sản xuất gạch bêtông, cột điện Bao gồm một quản đốc phân xưởng, một phó quản đốc phânxưởng, một thống kê và 86 công nhân sản xuất, làm hai ca
Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất xi măng ở công ty xi măng và XDCTLạng Sơn
Trong công ty xi măng thì xi măng là sản phẩm theo dây truyền có quytrình sản xuất phức tạp, kiểu chế biến liên tục Quá trình sản xuất sản phẩmtrải qua nhiều giai đoạn công nghệ chế biến theo một quy trình nhất định Quytrình này được điều khiển thông qua hệ thống máy vi tính hiện đại Do vậyphân xưởng liệu, phân xưởng lò và phân xưởng thành phẩm hoạt động khépkín sản xuất
Đặc điểm về máy móc thiết bị:
Hệ thống xi măng đen bao gồm những máy móc thiết bị chính sau:
- 4 Lò nung quay: Hệ thống lò nung quay do Rumani sản xuất và cung cấpthiết bị phụ tùng kem theo dây chuyền lò nung
- Máy nghiền nguyên liệu gồm : 5 cái Công nghệ ướt do Rumani sản xuất
- 3 Máy bừa bùn năng suất thiết kế là 60 m3 / giờ máy
- 5 Giếng điều chế mỗi cái dung tích chứa 1.500 m3
- 3 Máy nghiền than ( hệ thống nghiền bi)