1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề thi đề xuất học sinh giỏi các trường chuyên khu vực duyên hải và đồng bằng bắc bộ môn lịch sử lớp 10 năm 2015 trường chuyên HẢI DƯƠNG

7 2,3K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 67,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---Hết---HƯỚNG DẤN CHẤM1 2điểm  Vẽ sơ đồ 1điểm - Sơ đồ cơ cấu giai cấp xã hội phương Đông cổ đại QT: quý tộc, NDCX: nông dân công xã - Sơ đồ cơ cấu giai cấp xã hội phương Tây cổ đại: CN

Trang 1

SỞ GD&ĐT HẢI DƯƠNG

TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN TRÃI

Tổ Sử

ĐỀ ĐỀ NGHỊ

-KỲ THI OLYMPIC KHU VỰC DH-ĐBBB

Lần thứ VIII- Năm học: 2014 - 2015

ĐỀ THI: MÔN LỊCH SỬ, LỚP 10

(Thời gian làm bài: 180 phút)

Câu 1 (2điểm)

Vẽ sơ đồ thể hiện cơ cấu giai cấp xã hội cổ đại phương Đông và phương Tây? Từ đó rút

ra điểm khác nhau về cơ cấu xã hội phương Đông và phương Tây cổ đại

Câu 2 (2 điểm)

Bằng những kiến thức lịch sử cụ thể, hãy làm rõ nhận định của C Mác về thành thị Tây

Âu trung đại: “Thành thị trung đại như những bông hoa rực rỡ, xuất hiện trên những

vũng bùn đen tối là xã hội phong kiến lúc bấy giờ”

Câu 3 (2 điểm)

Em hiểu như thế nào về thời kỳ Bắc thuộc ở Việt Nam? Hệ quả của thời kỳ Bắc thuộc đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc?

Câu 4 (2.5 điểm)

Sông Bạch Đằng là địa danh ghi dấu nhiều chiến thắng oai hùng của dân tộc ta trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, trong đó tiêu biểu là trận Bạch Đằng năm 938 và năm

1288 Hãy làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau giữa 2 trận chiến này

Câu 5 (1.5 điểm)

Phân tích những nét mới của kinh tế Đại Việt trong giai đoạn XVI – XVIII so với giai đoạn trước

Trang 2

-Hết -HƯỚNG DẤN CHẤM

1

(2điểm)

Vẽ sơ đồ (1điểm)

- Sơ đồ cơ cấu giai cấp xã hội phương Đông cổ đại

(QT: quý tộc, NDCX: nông dân công xã)

- Sơ đồ cơ cấu giai cấp xã hội phương Tây cổ đại:

(CN: chủ nô)

0.5điểm

0.5 điểm

Nhận xét (1điểm)

- Do điều kiện tự nhiên và đặc trưng kinh tế khác nhau nên

cơ cấu giai cấp trong xã hội cổ đại phương Đông và phương Tây có những điểm khác nhau căn bản Cụ thể:

- Xã hội cổ đại phương Đông gồm ba giai cấp: quý tộc, nông

0.25điểm

QT

NDCX

Nô lệ

Thống trị

Bị trị

CN

Bình dân

Nô lệ

Thống trị

Bị trị

Trang 3

dân công xã và nô lệ, trong đó nông dân công xã đông đảo

nhất và là lực lượng sản xuất chủ đạo Trong khi xã hội cổ

đại phương Tây gồm ba giai cấp: chủ nô, bình dân và nô lệ, ngoài ra còn có một bộ phận kiều dân (những người ở nơi

khác đến sinh sống và làm ăn), trong đó nô lệ đông đảo

nhất và là lực lượng sản xuất chủ đạo.

- Ở phương Đông: mối quan hệ bóc lột giữa quý tộc với

nông dân công xã là chủ đạo, còn ở phương Tây, mối quan

hệ bóc lột giữa chủ nô với nô lệ là chủ đạo Nên xã hội

phương Đông là xã hội có giai cấp nhà nước đầu tiên, còn

xã hội phương Tây là xã hội chiếm hữu nô lệ điển hình.

0.25điểm

0.5điểm

2

(2điểm) - Chứng minh: “Thành thị trung đại như những bông hoa

rực rỡ, xuất hiện trên những vũng bùn đen tối là xã hội phong kiến lúc bấy giờ”

- Trước khi thành thị ra đời: đơn vị kinh tế, chính trị cơ bản của xã hội phong kiến Tây Âu chính là các lãnh đại phong kiến Với nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp, sự tồn tại của chế độ nông nô, sự chi phối tuyệt đối của Kit-tô giáo

trong văn hóa, giáo dục thì cả Tây Âu chìm trong “đêm

trường trung cổ”.

- Thành thị ra đời đã tạo nên những chuyển biến to lớn về mọi mặt, đưa chế độ phong kiến Tây Âu phát triển, tạo nên một diện mạo mới về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, giáo dục Cụ thể:

+ Kinh tế: thành thị ra đời đã phá vỡ nền kinh tế tự nhiên,

tự cung, tự cấp và khép kín của các lãnh địa, thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển với sự ra đời của các phường hội trong sản xuất thủ công nghiệp, các thương hội, hội chợ

và các thương đoàn trong hoạt động thương mại

0.5điểm

0.25điểm

0.25điểm

Trang 4

+ Chính trị: góp phần chuyển từ chế độ phong kiến phân quyền sang chế độ phong kiến tập quyền, tạo cơ sở thống nhất quốc gia, thị trường dân tộc

+ Xã hội: góp phần xóa bỏ chế độ nông nô, đồng thời sư ra đời của tầng lớp mới – thị dân đã tạo nên những thay đổi căn bản trong xã hội Tây Âu và là tiền thân của giai cấp mới – giai cấp tư sản sau này

+ Văn hóa – giáo dục: thành thị ra đời tạo ra bầu không khí

tự do, thúc đẩy các sáng tạo văn hóa, nghệ thuật, các hoạt động nghiên cứu khoa học và chú trọng phát triển giáo dục:

sự ra đời của các trường đại học lớn…

Như vậy, thành thị đã chấm dứt thời kỳ “đêm trường trung cổ”, mở ra một thời kỳ phát triển rực rỡ của kinh tế, văn hóa, giáo dục ở Tây Âu……

0.25điểm

0.25điểm

0.25điểm

0.25điểm

3

(2điểm)

Hiểu thế nào về thời kỳ Bắc thuộc (0.5điểm)

- Đây là một khái niệm để chỉ một giai đoạn lịch sử mà các

triều đại phong kiến phương Bắc xâm lược và thống trị nước ta, kéo dài từ 179 TCCN đến năm 938 Các triều đại

nối tiếp nhau cầm quyền và thống trị Âu Lạc nhưng đều chung một âm mưu, mục đích: biến Âu Lạc thành một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc

- Trong suốt nghìn năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến

phương Bắc đã thực hiện nhiều chính sách cai trị về chính

trị (chia nước ta thành các quận, huyện, cử người sang cai

trị…), về kinh tế (bóc lột nhân dân, cướp đất, bắt cống nạp…), về văn hóa, xã hội (chính sách đồng hóa, thẳng tay

đàn áp các phong trào đấu tranh )

0.25điểm

0.25điểm

Hệ quả của thời kỳ Bắc thuộc (1.5điểm)

- Đây là một thời kỳ đen tối, để lại nhiều hệ lụy cho dân tộc

ta, kéo lùi sự phát triển của dân tộc đến hang thế kỷ.

- Nhưng bằng sức sống mãnh liệt, tinh thần đấu tranh quật cường, bản lĩnh không chịu khuất phục, sự tiếp thu sang tạo, có chọn lọc những yếu tố từ bên ngoài, ta đã tạo nên

những chuyển biến to lớn về các mặt:

+ Về kinh tế: tiếp thu những thành quả về kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất…

+ Về văn hóa: tiếp nhận một cách chủ động, sáng tạo các yếu tố tích cực của văn hóa Trung Hoa như ngôn ngữ, văn

0.5 điểm 0.25điểm 0.25điểm 0.25điểm

Trang 5

tự, phong tục tập quán…

+ Về xã hội: mâu thuẫn dân tộc gay gắt => nhân dân ta không ngừng đấu tranh giành lại độc lập và tự chủ….Đỉnh cao là chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã kết thúc nghìn năm Bắc thuộc, mở ra một thời kỳ mới của lịch sử dân tộc…

0.25điểm

4

(2.5điểm)

- Khái quát về hai trận chiến Bạch Đằng năm 938 và Bạch

Đằng năm 1288

- Điểm giống:

+ Bố trí trận địa:

rừng rậm của khu vực này để bố trí quân mai phục

gồm cả quân thuỷ và quân bộ kết hợp và phát huy tối đa sức mạnh của các lực lượng này

Lợi dụng chế độ thuỷ triều và sự chênh lệch mực

nước rất lớn lúc nước thuỷ triều lên với khi thuỷ

triều rút để xây dựng trận địa cọc phối hợp với trận

địa mai phục; kết hợp tài tình yếu tố nhân tạo với thiên tạo

+ Cách đánh: nghi binh, khiêu chiến để đưa địch vào thế

trận bày sẵn, chọn đúng thời điểm để phản công quyết liệt

+ Ý nghĩa trận đánh: đều là trận quyết chiến chiến lược

có ý nghĩa kết thúc chiến tranh, đè bẹp hẳn ý chí xâm lược của kẻ thù

- Điểm khác:

+ Thời điểm đánh khác nhau: Trận Bạch Đằng năm 938

của Ngô Quyền là đánh quân địch trên đường tiến vào xâm lược nước ta Trận Bạch Đằng năm 1288 là đánh quân Nguyên trên đường rút khỏi nước ta

+ Khả năng chiến đấu của kẻ thù trong hai trận chiến

trên khác nhau: Nam Hán có thuỷ quân rất mạnh (thuyền chiến to khoẻ, có khả năng vượt biển xa, thuỷ quân Nam

0.25điểm

0.25điểm

0.25điểm

0.25điểm 0.25điểm

0.25điểm

0.25điểm

Trang 6

Hán dày dạn chiến trận) Trong khi đó thuỷ quân là điểm yếu của quân Nguyên (Không tinh nhuệ bằng quân kị - bộ,

đã bị đánh tơi bời một số trận nên tinh thần chiến đấu giảm sút, hơn nữa trên thuyền lại chở theo một số lớn quân bộ vốn không quen tác chiến trên sông nước )

thừa mà còn phát triển, sáng tạo ra cách đánh mới hơn trận Bạch Đằng 938, đó là dùng những thuyền nan, bè nứa chất đầy chất dễ cháy để lao theo dòng nước đốt cháy chiến thuyền địch

không chỉ là trận quyết chiến chiến lược mà còn là trận chung kết lịch sử của dân tộc ta, chấm dứt hoàn toàn thời kì Bắc thuộc, mở ra thời kì độc lập lâu dài, phát triển rực rỡ của đất nước

- KL: Những điểm giống và khác nhau của hai trận Bạch Đằng chứng tỏ sự kế thừa và phát huy nghệ thuật quân sự (nghệ thuật thủy chiến) và truyền thống đánh giặc của cha ông ta…

0.25điểm

0.25điểm

0.25điểm

5

(1.5điểm)

Nét mới của kinh tế Đại Việt XVI – XVIII so với giai đoạn trước:

- Nông nghiệp: trước đây sản xuất nông nghiệp phục vụ nhu

cầu tự cung, tự cấp thì giai đoạn này đã bắt đầu phục vụ thị

trường, nhiều sản phẩm làm ra để xuất khẩu (lúa gạo, hoa

quả…)

- Thủ công nghiệp: trước đây thủ công nghiệp chủ yếu diễn

ra trong các làng nghề hoặc quan xưởng của nhà nước, thì

nay các thợ thủ công đã ra thành thị lập phường vừa sản

xuất, vừa buôn bán, trong lĩnh vực khai mỏ đã xuất hiện

hiện tượng bao thầu, thuê nhân công.

0.25điểm

0.5điểm

Trang 7

- Thương nghiệp:

+ Nội thương: Trước đây chỉ diễn ra trong các chợ làng,

chợ huyện và thường là buôn bán nhỏ thì giờ đã có trung

tâm buôn bán của vùng, sự xuất hiện của các làng buôn với

hình thức buôn bán lớn như buôn chuyến, buôn thuyền…

+ Ngoại thương: trước đây chủ yếu buôn bán với các

thương nhân phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản thì

nay có nhiều thương nhân phương Tây như Hà Lan, Anh,

Pháp….đến xin lập phố xá, cửa hàng để buôn bán lâu dài

sản xuất mới (tư bản chủ nghĩa), tuy nhiên do sự cản trở

của chính quyền phong kiến nên không thể phát triển và

thắng thế quan hệ sản xuất cũ (phong kiến)

0.25điểm

0.25điểm

0.25điểm

Ngày đăng: 26/07/2015, 22:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức buôn bán lớn như buôn chuyến, buôn thuyền… - Đề thi đề xuất học sinh giỏi các trường chuyên khu vực duyên hải và đồng bằng bắc bộ môn lịch sử lớp 10 năm 2015 trường chuyên HẢI DƯƠNG
Hình th ức buôn bán lớn như buôn chuyến, buôn thuyền… (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w