BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN ĐOÀN THOAN KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI NGHIÊM TRỌNG ĐƯỢC GHI NHẬN TRONG THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG THUỐC TẠI VIỆT NAM
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐOÀN THOAN
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
BÁO CÁO CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI
NGHIÊM TRỌNG ĐƯỢC GHI NHẬN TRONG THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG
THUỐC TẠI VIỆT NAM NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SỸ ĐẠI HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐOÀN THOAN
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
BÁO CÁO CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI
NGHIÊM TRỌNG ĐƯỢC GHI NHẬN TRONG THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG
THUỐC TẠI VIỆT NAM NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SỸ ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn:
1 ThS Nguyễn Phương Thúy
2 ThS Võ Thị Nhị Hà Nơi thực hiện:
1 Bộ môn quản lý và kinh tế Dược
2 Cục Khoa học Công nghệ và đào tạo – Bộ Y tế
3 Ban đánh giá các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Bộ Y tế
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới
ThS Nguyễn Thị Phương Thúy – Bộ môn quản lý và kinh tế Dược, người Thầy đã
trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Người không ngại khó khăn vất vả giúp tôi vượt qua những ngày khó khăn nhất để tôi trưởng thành hơn
Tôi xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn tới:
- Th.S Võ Thị Nhị Hà – Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế đã hướng dẫn, chỉ ra những thiếu sót trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
- Th.S Nguyễn Vĩnh Nam và tập thể giảng viên, kỹ thuật viên Bộ môn quản lý và kinh
tế Dược, các thành viên Ban đánh giá các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Bộ Y tế, Phòng quản lý thử nghiệm lâm sàng và sản phẩm – Bộ Y tế đã hết lòng giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi được thực hiện đề tài
- DS Lương Anh Tùng, em Vũ Minh và em Trần Ngọc Anh đã cùng tôi tham gia nghiên cứu và làm khóa luận tại bộ môn
- Các bạn Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Duy Thế, Nguyễn Tùng, Nguyễn Văn Tựa, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Văn Hùng đã chia sẻ cùng tôi những lúc khó khăn Tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc nhất tới những người thân, anh chị, bạn bè thân của tôi, những người vẫn luôn bên tôi, hỏi thăm quan quan tâm tôi
Và tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu, các thầy
cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội, những người đã dìu dắt tôi trong suốt 5 năm học qua, cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên tôi
Hà Nội, 14 tháng 5 năm 2015
Sinh viên Nguyễn Đoàn Thoan
Trang 4MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc 3
1.1.1 Một số khái niệm 3
1.1.2 Các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng thuốc 4
1.1.3 Thực hành tốt thử nghiệm lâm sàng (Good Clinical Practice – GCP) 5
1.2 Tình hình nghiên cứu TNLS 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu TNLS trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu TNLS tại Việt Nam 9
1.3 Báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng (Serious Adverse Event – SAE) trong TNLS thuốc 10
1.3.1 Khái niệm biến cố bất lợi (AE), biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) 10
1.3.2 Quy định về báo cáo SAE trong TNLS của một số nước trên thế giới 12
1.3.3 Quy định về báo cáo SAE trong TNLS tại Việt Nam 13
1.3.4 Tình hình báo cáo SAE trong TNLS tại Việt Nam 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 16
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 16
2.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 16
2.3.2 Cỡ mẫu 16
2.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 16
2.3.4 Nội dung nghiên cứu 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Tình hình hoạt động báo cáo SAE trong các TNLS thuốc tại Việt Nam năm 2014 22
3.1.1 Thông tin chung về số lượng báo cáo SAE 22
3.1.2 Thông tin chung về tình hình báo cáo SAE 23
3.1.3 Thời gian báo cáo 24
3.1.4 Chất lượng báo cáo 26
3.2 Đặc điểm các SAE được ghi nhận trong nghiên cứu TNLS thuốc tại Việt Nam năm 2014 27
3.2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu trong các báo cáo SAE 27
3.2.2 Đặc điểm về sản phẩm nghiên cứu có SAE 29
3.2.3 Mối liên quan giữa SAE và sản phẩm nghiên cứu 30
3.2.4 Mức độ nghiêm trọng 31
3.2.5 Hệ cơ quan bị ảnh hưởng bởi SAE 31
3.2.6 Tính chất SAE 33
BÀN LUẬN 34
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 38
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
trong Nghiên cứu Y sinh học – Bộ Y
tế
CIOMS The council for International
Organisation of Medicak Science
Hội đồng các tổ chức Quốc tế về Khoa học Y học
CRO Contract Research Orgnization Tổ chức nghiên cứu hợp đồng
Administration
Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ
Harmonisation of Technical Requirements for Registration of Pharmaceuticals for Human Use
Hội nghị Quốc tế về hòa hợp các yêu cầu kỹ thuật trong đăng ký dược phẩm sử dụng cho người
IEC Independent Ethics Commitee Ủy ban Đạo đức độc lập
IRB Institutional Review Board Hội đồng thẩm định/xét duyệt
NIH National Institutes of Health Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ
SOC System Organs Classification Hệ thống phân loại cơ quan
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Đặc điểm của Phase nghiên cứu trong TNLS thuốc 5
Bảng 1.2 Trách nhiệm của một số thành phần tham gia TNLS theo GCP 6
Bảng 1.3 Một số bệnh được nghiên cứu rộng rãi tại một số nước 7
Bảng 1.4 Số lượng TNLS được tiến hành tại một số nước giai đoạn 2007 – 2011 8
Bảng 1.5 Phân biệt AE và ADR 11
Bảng 2.1 Chỉ số nghiên cứu mục tiêu 1 17
Bảng 2.2 Chỉ số nghiên cứu mục tiêu 2 19
Bảng 2.3 Thời gian báo cáo 20
Bảng 2.4 Thang điểm Vigigrade 21
Bảng 3.1 Thông tin chung về tình hình báo cáo SAE năm 2014 22
Bảng 3.2 Tỷ lệ các đơn vị báo cáo và mẫu báo cáo sử dụng 23
Bảng 3.3 Phân loại báo cáo theo loại báo cáo 24
Bảng 3.4 Thời gian báo cáo SAE 25
Bảng 3.5 Thời hạn báo cáo 26
Bảng 3.6 Một số mục thông tin thiếu nhiều nhất 26
Bảng 3.7 Chất lượng báo cáo SAE 27
Bảng 3.8 Phân loại ca SAE theo giới tính bệnh nhân xảy ra SAE 27
Bảng 3.9 Cách xử trí với bệnh nhân khi xảy ra SAE 28
Bảng 3.10 Tình trạng bệnh nhân hiện tại 28
Bảng 3.11 Tính chất của SAE 33
Trang 7
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Các tổ chức, cá nhân liên quan trong một TNLS 3
Hình 1.2 Mục đích của GCP 6
Hình 1.3 Số nghiên cứu TNLS trên toàn thế giới đã được đăng ký trên Clinicaltrials.gov theo thời gian (tính đến 15/4/2015) 8
Hình 1.4 Phân bố các TNLS trên thế giới tính đến tháng 4/2015 9
Hình 1.5 Số lượng TNLS diễn ra tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 10
Hình 1.6 Mối quan hệ giữa AE và ADR 11
Hình 1.7 Quy trình chung khi báo cáo SAE trong TNLS của một số nước trên thế giới 12
Hình 1.8 Quy trình báo cáo tính SAE trong TNLS thuốc tại Việt Nam 13
Hình 1.9 Quy trình xét duyệt báo cáo AE/SAE 14
Hình 1.10 Số lượng báo cáo SAE trong giai đoạn 2006 – 2012 15
Hình 3.1 Phân loại theo vị trí đơn vị gửi báo cáo SAE 24
Hình 3.2 Phân loại tác dụng điều trị chính của thuốc trong nghiên cứu có báo cáo SAE 29
Hình 3.3 Đường dùng của thuốc nghiên cứu 30
Hình 3.4 Mối quan hệ giữa thuốc nghiên cứu và SAE 31
Hình 3.5 Mức độ nghiêm trọng của SAE 31
Hình 3.6 Hệ cơ quan bị ảnh hưởng trong các ca SAE 32
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ nói chung
và của ngành y – dược nói riêng, Việt Nam đang ngày càng tham gia nhiều hơn vào các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (TNLS) các sản phẩm thuốc mới bao gồm: thuốc tân dược, vắc-xin, thuốc y học cổ truyền, chế phẩm sinh học Việc nghiên cứu TNLS được yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc hàng đầu của Hướng dẫn thực hành tốt thử thuốc trên lâm sàng (Good Clinical Practice – GCP)
Với mục tiêu tạo hành lang pháp lý, ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật cho việc nghiên cứu, phát triển, ứng dụng những sản phẩm mới; bảo đảm an toàn, hiệu quả; bảo
vệ quyền lợi và sức khỏe cho người tham gia vào nghiên cứu, Bộ y tế đã xây dựng các văn bản pháp luật, hướng dẫn có liên quan đến TNLS Nhằm chuẩn hóa quy trình triển khai nghiên cứu TNLS thuốc tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 799/QĐ-
BYT ngày 7 tháng 3 năm 2008 về “Hướng dẫn thực hành tốt thử nghiệm thuốc trên lâm
sàng” [6]
Trong thực hành tốt thử nghiệm thuốc trên lâm sàng, đảm bảo an toàn cho người bệnh thông qua phát hiện, báo cáo sớm các biến cố bất lợi và biến cố bất lợi nghiêm trọng là một nguyên tắc quan trọng Chính vì vậy, ngày 2/10/2012, Bộ y tế đã ban hành công văn số 6586/BYT-K2ĐT về việc báo cáo, ghi nhận SAE trong thử nghiệm lâm sàng Theo đó, việc ghi nhận, đánh giá, theo dõi, xử lý, báo cáo các biến cố bất lợi nghiêm trọng (Serious Adverse Event – SAE) trong TNLS là một yêu cầu bắt buộc được ghi trong bất kỳ đề cương nghiên cứu nào [8]
Mặc dù cơ sở pháp lý đã bước đầu được xây dựng, việc triển khai các quy định này trong thực tế vẫn chưa được đánh giá thường quy Theo kết quả tổng quan tài liệu cho thấy, hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ có 1 nghiên cứu của Thạc sỹ Lê Anh Tuấn (2014) và 1 bài báo trên tạp chí Y học Thực hành 943 – Số 12/2014 khảo sát về hoạt động báo cáo SAE trong các TNLS thuốc đang được triển khai tại Việt Nam [10], [12]
Trang 9Nhằm tìm hiểu về hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong các thử
nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu: ‘Mô tả
thực trạng hoạt động báo cáo các biến cố bất lợi nghiêm trọng được ghi nhận trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam năm 2014’ với 2 mục tiêu:
1 Khảo sát tình hình báo cáo các biến cố bất lợi nghiêm trọng được ghi nhận trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam năm 2014
2 Khảo sát đặc điểm các biến cố bất lợi nghiêm trọng được ghi nhận trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam năm 2014
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc
1.1.1 Một số khái niệm
Thử nghiệm lâm sàng (TNLS) là hoạt động khoa học nghiên cứu một cách có hệ
thống trên người (bao gồm cả bệnh nhân và người tình nguyện khỏe mạnh) [6], [14],
[28]
Mục đích: xác minh hiệu quả lâm sàng, dược lý hoặc tác dụng dược lực học, phát hiện phản ứng bất lợi do tác động của sản phẩm nghiên cứu; sự hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ của sản phẩm đó với mục tiêu xác định sự an toàn và hiệu quả của thuốc [1], [6], [14]
Tại Việt Nam, theo quy định các tổ chức, cá nhân liên quan trong TNLS bao gồm [7]:
Hình 1.1 Các tổ chức, cá nhân liên quan trong một TNLS [7]
Nghiên cứu viên chính/Chủ nhiệm đề tài là người chịu trách nhiệm tiến hành
nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng tại nơi thử nghiệm Nếu nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng được tiến hành bởi nhiều người thì người đứng đầu chịu trách nhiệm chính trong nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng được gọi là chủ nhiệm đề tài
Cơ quan chủ trì đề tài (Tổ chức nhận thử thuốc trên lâm sàng) là các cơ sở y tế
có chức năng nghiên cứu khoa học, đủ điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất cho việc thử
Chủ nhiệm đề tài
Cơ quan chủ trì đề tài (Tổ chức nhận thử thuốc trên lâm sàng)
Tổ chức, cá nhân có thuốc thử trên lâm sàng Nhà tài trợ
Tổ chức nghiên cứu lâm sàng (CRO) Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học
Trang 11thuốc trên lâm sàng, được Bộ Y Tế thẩm định và cho phép Là cơ quan chịu trách nhiệm chính về pháp lý liên quan đến toàn bộ quá trình thử thuốc trên lâm sàng
Nhà tài trợ là một cá nhân, công ty, cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm hỗ trợ tài
chính cho nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng
Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học (còn được gọi là Hội đồng đạo đức
độc lập – Independent Ethics Committee – IEC sau đây gọi là Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu) là một hội đồng được thành lập ở cấp địa phương hoặc cấp quốc gia Thành phần hội đồng gồm các nhà khoa học, chuyên gia về y tế và các thành viên khác Hội đồng có nhiệm vụ đánh giá, thẩm định về khía cạnh khoa học chuyên ngành của các đề cương nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng, xem xét những vấn đề liên quan đến sự tham gia tự nguyện của đối tượng nghiên cứu nhằm bảo đảm sự an toàn, quyền lợi và sức khoẻ của đối tượng tham gia thử thuốc trên lâm sàng, đưa ra các ý kiến chấp thuận hoặc không chấp thuận đối với các nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng Hội đồng đạo đức cấp Bộ ở Việt Nam được gọi là Ban đánh giá vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học
Tổ chức nghiên cứu lâm sàng (Contract Research Orgnization: CRO) là tổ chức
có tư cách pháp nhân, có năng lực chuyên môn phù hợp theo quy định của Bộ Y tế, độc lập với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thuốc thử trên lâm sàng, được tổ chức, cá nhân có thuốc thử trên lâm sàng ký hợp đồng để thực hiện các công việc hỗ trợ cho nghiên cứu như viết đề cương nghiên cứu, giám sát nghiên cứu, phân tích dữ liệu
1.1.2 Các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng thuốc
Thử nghiệm lâm sàng thuốc thường được chia thành các giai đoạn từ I đến IV (hay phase I đến IV), được tiến hành thử nghiệm trên cơ thể người
Trang 12Bảng 1.1 Đặc điểm của Phase nghiên cứu trong TNLS thuốc [2], [11], [18]
Phase I
Người tình nguyện khỏe mạnh
hoặc trên người bệnh có bệnh
thuộc phạm vi điều trị của
thuốc nghiên cứu
10 – 30 Xem xét sự dung nạp thuốc ở đối
tượng nghiên cứu và bước đầu xác định liều dùng thích hợp đảm bảo sự
an toàn và có hiệu lực trên người
Phase
II
Người bệnh lần đầu dùng thuốc
và sự chấp nhận mạo hiểm với
thuốc Phase II được tiến hành
ít nhất trên 2 nhóm đối tượng
Thu thập thông tin về dược động học của thuốc, và bất kỳ sự liên quan nào của thuốc tới các phản ứng bất lợi Thông tin khởi đầu về hiệu quả có thể
có được của thuốc Xác định liều dùng hàng ngày và các chú ý đặc biệt
để thử nghiệm giai đoạn III chặt chẽ hơn
Phase
III
Người bệnh đồng ý tham gia
thử nghiệm lâm sàng Các tiêu
chuẩn để lựa chọn được đề ra rõ
ràng và tuân thủ chặt chẽ
500 đến 3.000 (tối thiểu
Người bệnh khi thuốc được
phép lưu hành trên thị trường,
sau khi nghiên cứu phase III
thành công
Tối thiểu 1.000
Đánh giá lại tính hiệu quả, độ an toàn, khả năng chấp nhận và sử dụng tiếp tục của thuốc trong điều kiện thực tế, tạo thêm bằng chứng về độ
an toàn
1.1.3 Thực hành tốt thử nghiệm lâm sàng (Good Clinical Practice – GCP)
Các hướng dẫn quốc gia về TNLS có giá trị áp dụng tại nước sở tại, và chỉ được quốc tế công nhận các kết quả TNLS khi các hướng dẫn TNLS tại nước đó tuân thủ theo chuẩn mực của GCP quốc tế ban hành như GCP của ICH (International conference on Harmonisation of Technical Requirements for Registration of Pharmaceuticals for Human use – Hội nghị quốc tế về hòa hợp các yêu cầu kỹ thuật trong đăng ký dược phẩm
sử dụng trên người) hoặc GCP của WHO (World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giới)
Thực hành tốt thử nghiệm lâm sàng (Good Clinical Practice – GCP) là một tài
liệu hướng dẫn mang tính chuẩn mực quốc tế nhằm hướng dẫn cho nhà nghiên cứu, nhà
Trang 13tài trợ, các cơ quan quản lý, các hội đồng xét duyệt về đạo đức và khoa học trong thiết
kế, tiến hành, thực hiện, theo dõi, giám sát, kiểm định, ghi chép, phân tích và báo cáo đối với các TNLS [20]
Hình 1.2 Mục đích của GCP [6], [24]
Các nguyên tắc đạo đức cơ bản của nghiên cứu y sinh học được phản ánh trong tất cả các nguyên tắc và quy trình GCP, ảnh hưởng đến vai trò và trách nhiệm của các thành phần tham gia TNLS[24]
Bảng 1.2 Trách nhiệm của một số thành phần tham gia TNLS theo GCP [20], [23]
- Bảo vệ quyền, sự an toàn và phúc lợi của đối tượng tham gia TNLS
- Xem xét, phê duyệt/cung cấp ý kiến về đề cương thử nghiệm, sự phù hợp của các nghiên cứu viên, trang thiết bị và các phương pháp, vật liệu được sử dụng trong thu thập, ghi chép sự đồng ý của các đối tượng tham gia TNLS
Nghiên cứu viên - Tiến hành các TNLS tại một điểm thử nghiệm
- Đảm bảo và kiểm soát chất lượng nghiên cứu
Đảm bảo độ tin cậy, tính chính xác của dữ liệuChấp nhận quốc tế với kết quả TNLS
Sự an toàn, quyền của đối tượng tham gia TNLS
Trang 141.2 Tình hình nghiên cứu TNLS
1.2.1 Tình hình nghiên cứu TNLS trên thế giới
Hiện nay, các thử nghiệm lâm sàng thuốc có xu hướng toàn cầu hóa và thường được tiến hành tại nhiều quốc gia trên thế giới Các nghiên cứu thường là nghiên cứu đa trung tâm, nhằm bảo đảm tính phổ quát về số lượng người tham gia thử thuốc trên lâm sàng, các yếu tố nhân khẩu học hoặc nhân chủng học đa dạng hơn [21]
Số lượng TNLS có xu hướng ngày càng tăng Năm 2011, George M và cộng sự
đã tiến hành nghiên cứu về tình hình triển khai nghiên cứu TNLS tại 25 quốc gia trên thế giới (từ 1/2007 đến 12/2011) Kết quả nghiên cứu cho thấy, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đức
là những quốc gia có số lượng TNLS được triển khai nhiều nhất trong số 25 nước đã khảo sát Trong số các quốc gia mới nổi, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc là những khu vực năng động nhất tham gia vào TNLS liên quan đến một số loại bệnh như: ung thư, tiểu đường và các bệnh về đường hô hấp (Bảng 1.3) [17]
Bảng 1.3 Một số bệnh được nghiên cứu rộng rãi tại một số nước [17]
Đơn vị: Số lượng TNLS Nước Ung thư Đái tháo
đường
Bệnh đường
hô hấp HIV
Tăng huyết áp
Trong giai đoạn 2007 – 2011, trong số 140 quốc gia có TNLS trên thế giới, tổng
số TNLS tại Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc đã chiếm đến hơn 60% số TNLS đã được đăng ký (Bảng 1.4) [17]
Trang 15Bảng 1.4 Số lượng TNLS được tiến hành tại một số nước giai đoạn 2007 – 2011 [17]
Theo cơ sở dữ liệu từ clinicaltrials.gov tính đến 15/4/2015, có tổng số 188.494
TNLS đã và đang được triển khai tại 190 quốc gia [27]
Hình 1.3 Số nghiên cứu TNLS trên toàn thế giới đã được đăng ký trên
Clinicaltrials.gov theo thời gian (tính đến 15/4/2015) [27]
5635 6984 85731023812025
24935 35867 49266 66289 83449 101184 119409 139042 159452
Trang 16Hình 1.4 Phân bố các TNLS trên thế giới tính đến tháng 4/2015 [27]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu TNLS tại Việt Nam
Tại Việt Nam, ngày 11/01/2007, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số
01/2007/QĐ-BYT về việc “Quy định thử thuốc trên lâm sàng” [5]
Quyết định này đã được thay thế bằng Thông tư 03/2012/TT-BYT ngày
02/02/2012 “Hướng dẫn về thử thuốc trên lâm sàng” [9]
Mặt khác, nhằm quản lý các TNLS đang được tiến hành, trên cơ sở phù hợp với Hướng dẫn thực hành tốt thử nghiệm lâm sàng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – World Health Organization) và Hội nghị Quốc tế về hài hòa các yêu cầu kỹ thuật đối với đăng
ký dược phẩm sử dụng cho người (ICH – International Conference on Hamonization of Technical Requiments for Registration of Pharmaceuticals for Human use), phù hợp với tuyên ngôn Hensinki và các quy định pháp luật hiện hành, đảm bảo chất lượng của các
nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, Bộ Y tế đã ban hành “Hướng dẫn thực hành lâm sàng
tốt” tại Quyết định số 799/QĐ-BYT ngày 07/03/2008 Văn bản này hướng dẫn về việc
chuẩn bị hồ sơ, đề cương nghiên cứu, thẩm định, phê duyệt, tổ chức triển khai, theo dõi, giám sát và kiểm tra các nghiên cứu TNLS tại Việt Nam [6]
Trang 17Về số lượng TNLS tại Việt Nam: theo số liệu từ năm 2006 đến năm 2013, số lượng TNLS tại Việt Nam có xu hướng ngày càng tăng (từ 8 TNLS năm 2006 – 98 TNLS năm 2013 [12])
Hình 1.5 Số lượng TNLS diễn ra tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 [12]
1.3 Báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng ( Serious Adverse Event – SAE) trong TNLS thuốc
Trong các TNLS, theo dõi tính an toàn đóng vai trò quan trọng Việc báo cáo tính
an toàn của thuốc trên đối tượng thử nghiệm cần được thực hiện đột xuất (trên các trường hợp đơn lẻ) và thường quy (trên báo cáo cập nhật định kỳ về tính an toàn) Tất cả các
biến cố bất lợi (Adverse event – AE) dù nghiêm trọng (SAE) hoặc không nghiêm trọng; định trước (expected) hoặc không định trước (unexpected) đều cần phải báo cáo Trong
khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu vào các báo cáo SAE trong TNLS thuốc tân dược được ghi nhận và gửi về Ban đánh giá các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Bộ y tế
1.3.1 Khái niệm biến cố bất lợi (AE), biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE)
Trong TNLS, việc theo dõi, ghi nhận, xử trí và báo cáo các biến cố bất lợi, đặc biệt là biến cố bất lợi nghiêm trọng, xảy ra trong quá trình nghiên cứu là cần thiết và có
120
Trang 18AE là biến cố hay tình trạng y khoa không thuận lợi xảy ra trên đối tượng tham gia thử nghiệm lâm sàng, bất kể có hay không có liên quan đến sản phẩm thử nghiệm
AE có thể là bất kỳ dấu hiệu, triệu chứng, tình trạng bệnh tật hoặc giá trị xét nghiệm theo chiều hướng xấu nào xuất hiện trong thời gian đối tượng tham gia TNLS, có thể có hoặc không có liên quan đến sản phẩm nghiên cứu [8]
1.3.1.2 Phân biệt biến cố bất lợi (AE) và phản ứng bất lợi của thuốc (Adverse Drug Reaction – ADR)
Bảng 1.5 Phân biệt AE và ADR [3], [8]
Hình 1.6 Mối quan hệ giữa AE và ADR
1.3.1.3 Định nghĩa biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) trong TNLS
Là biến cố bất lợi ở bất kỳ liều nào dẫn đến một trong các tình huống sau:
Tử vong hoặc đe dọa đến tính mạng;
Đối tượng tham gia nghiên cứu phải nhập viện hoặc kéo dài thời gian nằm viện;
Định
nghĩa
Biến cố hay tình trạng y khoa không
thuận lợi xảy ra trên bệnh nhân
Đáp ứng gây hại ngoài ý muốn theo chiều hướng xấu xảy ra trên đối tượng tham gia TNLS, xuất hiện ở liều thường dùng để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc điều trị bệnh
Nguyên
nhân
Nguyên nhân chưa xác định Có thể
do thuốc hoặc tiến triển nặng thêm
của bệnh hoặc bệnh khác phát sinh
Có liên quan nhân quả với thuốc
Trang 19 Gây tàn tật hoặc mất khả năng vĩnh viễn;
Gây dị tật bẩm sinh, dị dạng thai nhi [8]
1.3.2 Quy định về báo cáo SAE trong TNLS của một số nước trên thế giới
Hình 1.7 Quy trình chung khi báo cáo SAE trong TNLS của một số nước trên thế
giới [15], [16]
Theo ICH, tất cả các biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) phải được báo cáo ngay cho nhà tài trợ ngoại trừ những SAE trong các đề cương hoặc thông tin cho người nghiên cứu xếp vào loại không cần báo cáo khẩn cấp Các biến cố bất lợi, xét nghiệm bất thường quan trọng để đánh giá độ an toàn nên được báo cáo cho các nhà tài trợ theo yêu cầu báo cáo và trong thời gian theo quy định Đối với trường hợp tử vong, nghiên cứu viên báo cáo, cung cấp cho nhà tài trợ và các IRB/IEC với bất kỳ thông tin bổ sung theo yêu cầu [20]
1.3.2.1 Tại Mỹ
- Báo cáo ban đầu: nhà tài trợ phải báo cáo bất kỳ biến cố bất lợi nghi ngờ hoặc biến cố bất lợi nghiêm trọng và không định trước
+Các biến cố bất lợi nghiêm trọng nghi ngờ không định trước: báo cáo cho FDA
báo cáo sớm nhất có thể nhưng không được muộn hơn 15 ngày sau khi nhà tài trợ nhận
thông tin ban đầu
+ Biến cố bất lợi nghi ngờ gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng: báo cáo cho FDA
báo cáo sớm nhất có thể nhưng không được muộn hơn 7 ngày sau khi nhà tài trợ nhận
thông tin ban đầu
- Báo cáo theo dõi (báo cáo cập nhật): Bất kỳ thông tin bổ sung có liên quan gắn
liền với một báo cáo an toàn đã gửi được nộp sớm nhất có thể, không muộn hơn 15 ngày
sau khi nhà tài trợ nhận thông tin [16]
1.3.2.2 Tại Châu Âu
(FDA, EMA, )
Trang 20Các nghiên cứu viên chính cần báo cáo các biến cố bất lợi nghiêm trọng ngay lập tức và cần báo cáo trong vòng 24h kể từ lúc phát hiện
Đối với các biến cố bất lợi nghiêm trọng nghi ngờ ngoài dự kiến gây tử vong hoặc
đe dọa tính mạng, nhà tài trợ cần báo cáo cho cơ quan chức năng và Ủy ban Đạo đức
trong các nước thành viên có liên quan:
+ Báo cáo ban đầu: báo cáo sớm nhất có thể nhưng không muộn hơn 7 ngày kể
từ ngày nhận thông tin và có kiến thức tối thiểu về các tiêu chuẩn cho việc báo cáo nhanh
+ Báo cáo theo dõi: báo cáo sớm nhất có thể trong vòng 8 ngày tiếp theo
Đối với các biến cố bất lợi nghiêm trọng ngoài dự kiến không gây tử vong hoặc
đe dọa tính mạng, nhà tài trợ cần báo cáo cho cơ quan chức năng và Ủy ban Đạo đức ở
các nước liên quan sớm nhất có thể không muộn hơn 15 ngày kể từ ngày nhận thông tin
[15]
1.3.2.3 Tại Ấn Độ
Theo Hội đồng nghiên cứu y học Ấn Độ, nghiên cứu viên phải báo cáo tất cả SAE
không mong muốn cho các nhà tài trợ trong vòng 24 giờ và các Ủy ban đạo đức trong vòng 7 ngày
Trong các trường hợp tử vong, Ủy ban đạo đức cũng cần được thông báo trong
vòng 24 giờ Bất kỳ SAE không mong muốn, nhà tài trợ nên báo cáo kịp thời trong vòng
14 ngày cho Cơ quan cấp phép và cho điều tra viên của các địa điểm thử nghiệm khác
tham gia nghiên cứu
Tất cả các phản ứng không mong muốn nghiêm trọng khác, không gây chết người hoặc đe dọa tính mạng phải được nộp trong thời gian sớm nhất có thể nhưng không muộn
hơn 14 ngày [19]
1.3.3 Quy định về báo cáo SAE trong TNLS tại Việt Nam
Hình 1.8 Quy trình báo cáo tính SAE trong TNLS thuốc tại Việt Nam [8]
Nghiên cứu viên tại tổ
chức nhận thử thuốc
Nhà tài trợ/ Hội đồng đạo đức cấp
cơ sở
Ban đanh giá các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh
học - Bộ Y tế
Trang 21Đối với tất cả các SAE: nghiên cứu viên có trách nhiệm báo cáo cho nhà tài trợ
và Hội đồng đạo đức cấp cơ sở trong thời gian 24h kể từ khi phát hiện
Đối với các SAE gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng: Nghiên cứu viên phối hợp
với nhà tài trợ hoàn thiện báo cáo và gửi về Ban đánh giá các vấn đề đạo đức trong
nghiên cứu y sinh học (Bộ Y tế) sớm nhất có thể nhưng không muộn hơn 7 ngày kể từ khi phát hiện Báo cáo theo dõi tiếp theo được gửi trong vòng 15 ngày kể từ khi phát
hiện
Đối với các SAE không gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng: Nghiên cứu viên phối
hợp với nhà tài trợ hoàn thiện báo cáo và gửi về Ban đánh giá các vấn đề đạo đức trong
nghiên cứu y sinh học (Bộ Y tế) sớm nhất có thể nhưng không muộn hơn 15 ngày kể từ
khi phát hiện [8]
Quy trình xét duyệt báo cáo SAE/ AE có thể tóm tắt theo sơ đồ hình 3.4
Hình 1.9 Quy trình xét duyệt báo cáo AE/SAE [26]
1.3.4 Tình hình báo cáo SAE trong TNLS tại Việt Nam
Tại Việt Nam, ngày 19/12/2002, Bộ Y tế ban hành quyết định số
5129/2002/QĐ-BYT về “Tổ chức và hoạt động của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học”
Đơn vị gửi báo cáo
Trả lời đánh giá
Phản hồi mặt chuyên môn
Phản hồi mặt hành
chính & pháp lý
Biên bản đánh giá Gửi báo cáo
Trang 22Năm 2003, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quyết định số 2488/2003/QĐ-BYT về việc thành
lập Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Nhiệm kỳ 2012 – 2017, Hội đồng đổi tên thành Ban đánh giá các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Bộ Y tế
(BĐGĐĐ – Bộ Y tế)
BĐGĐĐ – Bộ Y tế hoạt động nhiệm kỳ 5 năm với cơ cấu gồm Văn phòng thường trực, tiểu ban thường trực, 3 tiểu ban chuyên môn (tân dược, y dược cổ truyền, vắc xin), mỗi tiểu ban chuyên môn có 07 – 09 thành viên, và nhóm thư ký có 07 – 09 thành viên
Trách nhiệm của ban là bảo vệ sự an toàn cho đối tượng tham gia nghiên cứu và cộng đồng, bảo vệ quyền của đối tượng tham gia nghiên cứu và các nghiên cứu viên,
đảm bảo sự công bằng đối với tất cả các bên tham gia nghiên cứu, đảm bảo tính khoa học, tính khả thi của nghiên cứu [4]
Ngày 2/10/2012, Bộ Y tế ban hành công văn số 6586/BYT-K2DT “Hướng dẫn
báo cáo, ghi nhận SAE trong thử nghiệm lâm sàng”
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Anh Tuấn (2013 [12]), trong giai đoạn 2011 –
2013, BĐGĐĐ – BYT đã ghi nhận 168 báo cáo SAE từ 22/132 TNLS được tiến hành;
42,3% (71/168) báo cáo được gửi đúng thời gian quy định; 83,3% (140/168) báo cáo có
chất lượng tốt Sau khi ban hành công văn số 6586/BYT-K2ĐT, công tác báo cáo SAE trong các TNLS đã được cải thiện rõ ở nhiều mặt: tăng số lượng, chất lượng báo cáo; giảm thời gian gửi báo cáo trung bình
Hình 1.10 Số lượng báo cáo SAE trong giai đoạn 2006 – 2012 [12]
32 133
0 20 40 60 80 100 120 140
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Trang 23CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tân dược tại Việt Nam được gửi về Ban đánh giá các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Bộ Y tế
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Từ 3/12/2014 đến 10/5/2015
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Ban đánh giá những vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Bộ Y tế
Cục Khoa học Công nghệ và đào tạo – Bộ Y tế
Bộ môn quản lý và kinh tế dược – Đại học Dược Hà Nội
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang thông qua hồi cứu các báo cáo SAE trong TNLS thuốc tại Việt Nam được gửi đến BĐGĐĐ – Bộ y tế
2.3.2 Cỡ mẫu
Toàn bộ báo cáo SAE trong TNLS thuốc tại Việt Nam đã được gửi đến BĐGĐĐ – Bộ y tế trong năm 2014 (từ 1/1/2014 đến 31/12/2014)
+ Tiêu chuẩn lựa chọn: báo cáo SAE trong TNLS thuốc tân dược tại Việt Nam
đã được gửi đến BĐGĐĐ – Bộ y tế trong năm 2014
+ Tiêu chuẩn loại trừ: Các báo cáo SAE trong các TNLS thuốc y học cổ truyền,
vac – xin, vật tư trang thiết bị tại Việt Nam được gửi đến BĐGĐĐ – Bộ Y tế
2.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Hồi cứu dữ liệu từ báo cáo SAE trong TNLS thuốc tân dược tại Việt Nam được gửi
về BĐGĐĐ – Bộ Y tế năm 2014 theo mẫu (Mẫu số 01 – Phụ lục 1)
Dữ liệu liên quan đến nghiên cứu TNLS thuốc tân dược đang được triển khai tại
Trang 24Việt Nam được hồi cứu tại Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo – Bộ y tế
2.3.4 Nội dung nghiên cứu
2.3.4.1 Phương pháp phân tích
a Chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu 1: Khảo sát tình hình báo cáo các biến cố bất lợi nghiêm trọng được ghi nhận trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam năm 2014
Bảng 2.1 Chỉ số nghiên cứu mục tiêu 1
thu thập
Số lượng Tổng số TNLS thuốc được tiến hành tại Việt Nam năm 2014
Tổng số tổ chức nhận thử thuốc tại Việt Nam năm 2014
Tổng số nhà tài trợ TNLS thuốc năm 2014
Tổng số TNLS thuốc có báo cáo SAE năm 2014
Tổng số TNLS thuốc tại Việt Nam năm 2014
Tổng số tổ chức nhận thử thuốc có báo cáo SAE
Tổng số nhà tài trợ TNLS thuốc có báo cáo SAE
Tổng số nhà tài trợ TNLS thuốc năm 2014
Tổng số bệnh nhân tham gia nghiên cứu xảy ra SAE trong TNLS thuốc đã được báo cáo
Tổng số báo cáo SAE năm 2014
1
Trang 25 Tính tỷ lệ báo cáo SAE theo đơn vị báo cáo
Tính tỷ lệ mẫu báo cáo SAE
Tỷ lệ báo cáo SAE theo vị trí địa lý của đơn vị đã gửi báo cáo
Tỷ lệ báo cáo SAE theo loại báo cáo
Form nhập số liệu – Phụ lục
- Số lượng báo cáo SAE có thông tin, thời gian trung bình, trung vị, thời gian ngắn nhất, thời gian dài nhất và tứ phân vị thứ nhất (25th) và tứ phân vị thứ ba (75th):
Tính thời gian từ ngày phát hiện SAE đến ngày hoàn thành báo cáo ban đầu
Tính thời gian từ ngày hoàn thành báo cáo đến ngày Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế nhận báo cáo
Tính thời gian từ ngày Cục khoa học công nghệ và đào tạo –
Bộ Y tế nhận đến ngày BĐGĐĐ nhận báo cáo
- Đánh giá
Trang 26+ Báo cáo điền đầy đủ thông tin các mục từ giới tính, độ tuổi, người báo cáo, loại báo cáo, thông tin bổ sung, chỉ định, lượng thuốc dùng trong ngày, thời điểm xuất hiện SAE và hậu quả của SAE được cho 1 điểm
+ Nếu một trong các tiêu chí không đầy đủ thì trừ điểm tương ứng với trọng số
+ Tích của chúng là số điểm của báo cáo
Tính tỷ lệ báo cáo SAE có chất lượng tốt, chất lượng chưa tốt (theo thang điểm VigiGrade)
chất lượng theo thang điểm
Vigigrade – Phụ lục 3
Mục tiêu 2: Khảo sát đặc điểm các biến cố bất lợi nghiêm trọng được ghi nhận trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam năm 2014
Bảng 2.2 Chỉ số nghiên cứu mục tiêu 2
Phân loại báo cáo theo tình hình bệnh nhân hiện tại (Hồi phục có di chứng, tử vong,…) Tính tỷ lệ báo cáo theo tình hình bệnh nhân hiện tại
Form thu thập
số liệu – Phụ lục 1
Phân loại thuốc nghiên cứu trong các báo cáo SAE theo tác dụng điều trị chính tính trên tần suất xuất hiện các thuốc nghiên cứu trong các ca SAE (theo mã ATC bậc 2) Tính tỷ
- Form thu thập số liệu – Phụ lục 1
- Phân loại sản phẩm nghiên cứu theo hệ thống phân
Trang 27lệ tác dụng điều trị chính của các thuốc nghiên cứu
Phân loại ca SAE theo hệ cơ quan bị ảnh hưởng bởi SAE (theo mã SOC) Tính tỷ lệ các hệ cơ quan bị ảnh hưởng bởi SAE
Mối liên quan giữa SAE và sản phẩm nghiên cứu (chắc chắn liên quan, không liên quan, ít liên quan, có thể liên quan, nhiều khả năng liên quan) Tính tỷ lệ mỗi liên quan giữa SAE
và sản phẩm nghiên cứu
loại ATC [25]
- Phân loại ca SAE theo mã SOC [22]
Form thu thập
số liệu – Phụ lục 1
Tính chất
SAE
Phân loại báo cáo SAE theo tính chất (đã biết, ngoài dự kiến)
Tính tỷ lệ các SAE đã biết/ngoài dự kiến
b Tiêu chí đo lường:
*Thời hạn báo cáo: Trong nghiên cứu này, thời hạn báo cáo SAE cho từng trường hợp được thực hiện theo công văn số 6586/BYT-K2ĐT được coi là đúng thời hạn quy định
Bảng 2.3 Thời gian báo cáo [8]
1 SAE gây tử vong hoặc
*Chất lượng báo cáo: Để đánh giá chất lượng báo cáo, nghiên cứu sử dụng thang Vigigrade – Phụ lục 2
Mức điểm đánh giá:
Trang 28Bảng 2.4 Thang điểm Vigigrade [13]
C > 0,8 Báo cáo có chất lượng tốt
C ≤ 0,8 Báo cáo có chất lượng chưa tốt
C là điểm chất lượng báo cáo Điểm chất lượng báo cáo tính bằng phương pháp này thấp nhất là 0.07 và cao nhất là 1
*Ca SAE: SAE xảy ra với bệnh nhân tại một thời điểm
*Báo cáo trùng lặp: là những báo cáo về cùng một ca SAE có thông tin trùng nhau nhưng được gửi nhiều lần từ tổ chức nhận thử, nhà tài trợ hay CRO
* Mã SOC: Biểu hiện SAE được mô tả bằng bộ thuật ngữ WHO – ART 2012 (Adverse Reaction Terminology) Mỗi biểu hiện SAE được chuẩn hóa ở mức PT (Prefered Term – Thuật ngữ ưa thích) và mỗi PT được mã hóa bằng mã SOC (System Organ Classes – mã phân loại cơ quan bị ảnh hưởng) [22] Phân loại tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng
2.3.4.2 Xử lý dữ liệu
Dữ liệu được nhập và xử lý bằng Microsoft Excell 2013
Trang 29CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tình hình hoạt động báo cáo SAE trong các TNLS thuốc tại Việt Nam năm
2014
3.1.1 Thông tin chung về số lượng báo cáo SAE
Năm 2014, BĐGĐĐ – Bộ Y tế nhận được tổng số 474 báo cáo SAE của 25 TNLS thuốc được tiến hành tại Việt Nam Trong đó có 11 báo cáo trùng lặp Do đó, tổng số
báo cáo SAE trên thực tế khi trừ số báo cáo trùng lặp là 463 báo cáo SAE (tương ứng
với 262 bệnh nhân) Kết quả cụ thể trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Thông tin chung về tình hình báo cáo SAE năm 2014
8 Tổng số nhà tài trợ TNLS thuốc có báo cáo SAE tại Việt Nam 13
10 Tổng số bệnh nhân xảy ra SAE trong TNLS thuốc đã được báo cáo 262
13 Trung bình số đối tượng nghiên cứu xảy ra SAE/TNLS thuốc có báo
Trang 30bị SAE Mỗi ca SAE trên TNLS có ít nhất một báo cáo Trong 35 TNLS thuốc đang được tiến hành tại Việt Nam, có 10 TNLS không có báo cáo SAE năm 2014 Trung bình
mỗi TNLS thuốc trong năm 2014 có 9,7 ca SAE (340/35) Tỷ lệ số ca/tổng số bệnh nhân tham gia nghiên cứu xảy ra SAE trong TNLS thuốc đã được báo cáo = 1,3 (340/262, min
= 1, max = 5) Tỷ lệ các tổ chức nhận thử thuốc có báo cáo SAE/tổng số tổ chức nhận
thử thuốc tại Việt Nam = 0,9 (24/27)
3.1.2 Thông tin chung về tình hình báo cáo SAE
3.1.2.1 Phân loại theo đơn vị báo cáo
Trong năm 2014, BĐGĐĐ – Bộ Y tế nhận được báo cáo SAE từ cả 3 đơn vị là tổ chức nhận thử, nhà tài trợ và tổ chức nghiên cứu lâm sàng (CRO)
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, báo cáo chủ yếu được gửi từ tổ chức nhận thử
(419/463) và phần lớn sử dụng mẫu của Bộ Y tế ban hành theo công văn số
6586/BYT-K2ĐT Nhà tài trợ và CRO có số lượng báo cáo không đáng kể (44/463) Bên cạnh đó,
2 đơn vị này chủ yếu sử dụng mẫu CIOMS (bằng ngôn ngữ tiếng anh) để báo cáo
Bảng 3.2 Tỷ lệ các đơn vị báo cáo và mẫu báo cáo sử dụng
STT Đơn vị báo cáo Số lượng (N) Tỷ lệ (%)
Xét về mặt địa lý của đơn vị đã gửi báo cáo SAE, các đơn vị TNLS thuốc ở khu
vực miền Nam có số lượng báo cáo nhiều nhất (382/463), chiếm 82,5% Tiếp theo là số lượng báo cáo từ các đơn vị TNLS thuốc tại miền Bắc (75/463), chiếm 16,2% Thấp nhất
là từ các đơn vị TNLS thuốc tại miền Trung (6/463), chiếm 1,3%
Trang 31Hình 3.1 Phân loại theo vị trí đơn vị gửi báo cáo SAE
3.1.2.2 Phân loại theo loại báo cáo
Hiện nay, có 3 loại báo cáo SAE là báo cáo ban đầu, báo cáo cập nhật và báo cáo cuối cùng Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng số 463 báo cáo SAE, loại báo cáo
ban đầu và báo cáo cuối cùng là chủ yếu, chiếm tỷ lệ tương ứng là 44,7%; 44,5% trên tổng số báo cáo Tỷ lệ báo cáo không có thông tin loại báo cáo có tỷ lệ thấp nhất (2,6%)
Bảng 3.3 Phân loại báo cáo theo loại báo cáo STT Loại báo cáo Số lượng Tỷ lệ (%)
3.1.3 Thời gian báo cáo
Kết quả về thời gian báo cáo chỉ được tính trên những báo cáo có thông tin về ngày xuất hiện SAE, ngày hoàn thành báo cáo ban đầu, ngày Cục Khoa học Công nghệ
và Đào tạo nhận báo cáo, ngày BĐGĐĐ – Bộ Y tế nhận báo cáo Những báo cáo không
có thông tin không được dùng để tính kết quả Kết quả cụ thể như sau:
Miền Bắc 16%
Miền Nam 83%
Miền Trung 1%
Trang 32Bảng 3.4 Thời gian báo cáo SAE STT Thời gian
Số lượng báo cáo (N)
Thời gian (ngày) Trung
bình
Trung
vị
Min – Max
Tứ phân vị (25 th – 75 th )
1
Từ ngày xuất hiện SAE
đến ngày hoàn thành báo
cáo ban đầu
2
Từ ngày hoàn thành báo
cáo đến ngày văn phòng
công nghệ và đào tạo nhận
báo cáo đến ngày BĐGĐĐ
nhận báo cáo
Ghi chú:*Đã loại bỏ báo cáo có thời gian hoàn thành từ năm 2010, thời gian gửi đến BĐGĐĐ – Bộ Y tế năm 2014
Như vậy, năm 2014, thời gian trung bình từ:
Ngày xuất hiện SAE đến ngày hoàn thành báo cáo ban đầu là 15,5 ngày;
Ngày hoàn thành báo cáo đến ngày văn phòng Cục khoa học công nghệ và đào tạo
nhận được là 18,5 ngày;
Ngày Cục khoa học công nghệ và đào tạo đến ngày văn phòng BĐGĐĐ nhận báo
cáo là 4,4 ngày
Về thời hạn báo cáo, trong tổng số 463 báo cáo SAE, số lượng báo cáo đúng
thời hạn chiếm tỷ lệ 59,3% (275/463) (Bảng 3.5) Bên cạnh đó, còn một số báo cáo không
có thông tin về ngày hoàn thành báo cáo hoặc ngày văn phòng cục nhận được 21,0%
(97/463), vì vậy không đánh giá được thời hạn báo cáo