1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm

64 994 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, cùng với các biện pháp điều trị bằng thay đổi lối sống, đã có rất nhiều nhóm thuốc có tác dụng làm hạ huyết áp như nhóm thuốc lợi tiểu, nhóm thuốc chẹn kênh Ca2+, nhóm thuốc ức

Trang 1

B Ộ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG LỢI TIỂU VÀ HẠ HUYẾT ÁP

CỦA CT4 TRÊN THỰC NGHIỆM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

B Ộ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG LỢI TIỂU VÀ HẠ HUYẾT ÁP

CỦA CT4 TRÊN THỰC NGHIỆM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn tới

TS Đỗ Thị Nguyệt Quế, ThS Nguyễn Thu Hằngvà DS Nguyễn Thị Cẩm Nhung– là những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Các cô luôn là những người tận tâm giúp đỡ, chỉ bảo, chỉnh sửa cho em bằng tất cả tâm huyết của mình Các cô là những tấm gương sáng về lòng yêu nghề và tận tụy nghiên cứu khoa học mà em cần phải noi theo

Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, các anh chị kỹ thuật viên trong

bộ môn Dược lực đã giúp đỡ và tạo điều kiện về cơ sở vật chất cũng như kỹ thuật

để em hoàn thành nghiên cứu thực nghiệm tại bộ môn Đồng kính gửi các anh chị

và các bạn cùng nhóm nghiên cứu đã hỗ trợ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Nhân dịp này em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian em học tập tại trường

Và cuối cùng là lời cảm ơn con kính gửi tới gia đình và bạn bè, những người

đã luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ con trong suốt thời gian qua

Do thời gian làm thực nghiệm cũng như kiến thức của bản thân có hạn, khóa luận này còn có nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẲNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về tăng huyết áp 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Nguyên nhân 3

1.1.3 Phân loại tăng huyết áp 3

1.1.4.Điều trị tăng huyết áp 4

1.1.5 Cơ chế tác dụng của các nhóm thuốc chính trong điều trị tăng huyết áp 4

1.2 Một số mô hình gây tăng huyết áp trên thực nghiệm 8

1.2.1 Mô hình gây tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận 9

1.2.2 Mô hình gây tăng huyết áp do chế độ ăn 12

1.2.3 Mô hình gây tăng huyết áp do nội tiết 12

1.2.4 Tăng huyết áp do thần kinh 14

1.2.5 Tăng huyết áp do tâm lý 14

1.2.6 Tăng huyết áp do di truyền 14

1.2.7 Các mô hình khác 15

1.3 Một số kỹ thuật đo huyết áp trên mô hình động vật thí nghiệm 15

1.4 Tổng quan về dược liệuHarrisonia perforate 16

1.4.1 Đặc điểm thực vật 16

Trang 5

1.4.2 Phân bố, thu hái, chế biến 17

1.4.3 Thành phần hóa học 17

1.4.4 Công dụng Error! Bookmark not defined 1.4.5 Các nghiên cứu về tác dụng dược lý của H.perforate 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng 20

2.1.1 Mẫu nghiên cứu 20

2.1.2 Động vật sử dụng trong nghiên cứu 20

2.2 Hóa chất và trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm 20

2.2.1 Hóa chất 20

2.2.2 Trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm 21

2.3 Nội dung nghiên cứu 21

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

2.4.1 Đánh giá tác dụng lợi tiểu của CT4 20

2.4.2 Triển khai mô hình gây tăng huyết áp cho chuột cống bằng cortison acetat, áp dụng để đánh giá tác dụng hạ huyết áp của CT4 21

2.5 Xử lý số liệu 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 26

3.1 Tác dụng lợi tiểu của CT4 trên thực nghiệm 26

3.1.1 Ảnh hưởng của CT4 trên thể tích nước tiểu 26

3.1.2 Ảnh hưởng của CT4 lên nồng độ Na+ , K + , Cl - trong nước tiểu thu được sau 10 giờ 28

3.2 Triển khai mô hình gây tăng huyết áp cho chuột cốngbằng cortison acetat 30

Trang 6

3.3 Đánh giá tác dụng hạ huyết áp của dịch chiết CT4 35

3.4 Bàn luận 37

3.4.1 Về tác dụng lợi tiểu của CT4 trên động vật thí nghiệm 37 3.4.2 Triển khai mô hình gây tăng huyết áp cho chuột cống bằng cortison acetat 39 3.4.3 Đánh giá tác dụng hạ huyết áp của CT4 45

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACE Angiotensin converting enzym

AqE Effects of aqueous

AT1 Angiotensin II type I

BHR Borderline hypertensive rat

CA Carbonic anhydrase

DOCA Deoxycorticosteron acetat

EtE Effects of ethanolic

SHR Spontaneous hypertensive rat

RAAS Renin – angiotensin – aldosteron system 1K1C One kidney one clip

1K1L One kidney oneligature

2K1C Two kidney one clip

2K2C Two kidney two clip

2K1L Two kidney one ligature

Trang 8

3.2 Ảnh hưởng của cortison acetat liều 2,5 mg/kg lên huyết

áp tối đa và huyết áp tối thiểu của chuột

35

3.3 Ảnh hưởng của cao CT4 lên huyết áp tối đa và huyết áp

tối thiểu của chuột cống thực nghiệm

36

Trang 9

Đo huyết áp trực tiếp của chuột qua catheter nối với máy

3.7

Hình ảnh băng tần huyết áp đo được của chuột lô chứng

trắng và lô chứng bệnh 34

3.8 Ảnh hưởng của tiêm dưới da cortison acetat liều 2,5 mg/kg

lênhuyết áp trung bình của chuột 36 3.9 Ảnh hưởng của cao CT4 lên huyết áp trung bình chuột cống 37 3.10 Luồn catheter lên vùng giữa hai bả vai chuột 45 3.11 Cố định catheter bằng dụng cụ thích hợp 45

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp là một trong những bệnh lý phổ biến ở các nước phát triển Ở những nước đang phát triển, bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng Tăng huyết áp phần lớn xuất hiện ở những người từ độ tuổi trung niên trở lên, nhất là ở những người lao động trí óc Tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây nên các biến

cố tim mạch Các yếu tố nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp gồm béo phì, rối loạn lipid máu, bệnh tiểu đường, người có hút thuốc lá, thuốc lào, tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp… Đặc biệt, bệnh nhân tăng huyết áp có thể mắc những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời như đột quỵ, suy giảm nhận thức, suy tim, suy thận mạn…

Tại Việt Nam, tần suất mắc bệnh tăng huyết áp ở người lớn ngày càng tăng Theo số liệu thống kê của chương trình quốc gia phòng chống tăng huyết áp, trong những năm 1960 tỉ lệ bệnh nhân mắc tăng huyết áp là 1%, đến năm 1992 tỉ lệ này là 11,2% và tăng dần theo các năm, đến năm 2001 con số này là 16.3% và tăng lên đến 18.3% vào năm 2005 Theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam năm 2008 ở những người trên 25 tuổi tại 8 tỉnh và thành phố ở nước ta, tỷ lệ tăng huyết áp là 25,1%, điều này có nghĩa cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị tăng huyết áp

Do tính chất nguy hiểm của bệnh tăng huyết áp nên việc phòng, điều trị và kiểm soát bệnh là rất cần thiết, đòi hỏi người bệnh phải nhận thức được tính nghiêm trọng và phải tuân thủ một chế độ điều trị nghiêm ngặt để phòng ngừa và giảm thiểu các biến chứng do tăng huyết áp gây ra Hiện nay, cùng với các biện pháp điều trị bằng thay đổi lối sống, đã có rất nhiều nhóm thuốc có tác dụng làm hạ huyết áp như nhóm thuốc lợi tiểu, nhóm thuốc chẹn kênh Ca2+, nhóm thuốc ức chế men chuyển, nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin, nhóm thuốc chẹn β - adrenergic … Trong đó, thuốc lợi tiểu được dùng phổ biến do có hiệu quả đối với tăng huyết áp nhẹ, hơn nữa nhóm thuốc này khá rẻ tiền và dễ sử dụng, thường được phối hợp làm tăng tác dụng hạ áp của các thuốc điều trị tăng huyết áp khác

Trang 11

Harrisonia perforate Merr (họ Thanh thất – Simaroubaceae)là một thảo

dược nổi tiếng trong y học cổ truyền Dược liệu này cũng đã được tìm thấy ở Việt

Nam Lá của H.perforateđược coi là loại thuốc bổ và thuốc lợi tiểu, xuất hiện trong

các bài thuốc truyền thống để chữa các bệnh bao gồm rối loạn dinh dưỡng, bệnh ngoài da, sỏi và các bệnh tiết niệu khác Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy

trong dịch chiết láH.perforate có một số thành phần có tác dụng lợi tiểu làm tăng

lượng nước tiểu bài tiết và tăng nồng độ các chất điện giải trong nước tiểu Đây là những gợi ý định hướng cho việc đánh giá tác dụng của CT4, chế phẩm được chiết

xuất từ láH.perforate, theo hướng lợi tiểu, hạ huyết áp trong đề tài:“Đánh giá tác

dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm” Đề tài được thực hiện

với 2 mục tiêu:

1 Đánh giá tác dụng lợi tiểu của CT4 trên thực nghiệm

2 Đánh giá tác dụng hạ huyết áp của CT4 trên mô hình gây tăng huyết áp cho chuột cống bằng cortison acetat

Trang 12

sẽ có lợi ích trên tỉ lệ biến cố tim mạch, tử vong…từ việc điều trị hạ huyết áp [54]

1.1.2 Nguyên nhân

Tăng huyết áp ở 90 – 95% người trưởng thành là không rõ nguyên nhân, còn gọi là tăng huyết áp nguyên phát [2], [40], [54] Tăng huyết áp không rõ nguyên nhân không thể chữa khỏi được nhưng có thể kiểm soát được huyết áp bằng các biện pháp điều trị [40] 5 – 10% còn lại là tăng huyết áp có nguyên nhân, gọi là tăng huyết áp thứ phát [2], [40], [54] Nếu xác định được nguyên nhân tăng huyết áp thì

có thể làm thuyên giảm bệnh và có khả năng chữa khỏi [40].Các nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát bao gồm [2], [40], [54]: bệnh thận cấp hoặc mạn tính, viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, viêm thận kẽ, sỏi thận, bệnh thận đa nang, thận ứ nước, suy thận, hẹp động mạch thận, u tủy thượng thận (pheocromocytome), cường aldosterone tiên phát (hội chứng Cohn), hội chứng Cushing, bệnh lý tuyến giáp, …

1.1.3 Phân loại tăng huyết áp

Dựa trên huyết áp đo được, có thể phân độ tăng huyết áp như sau [24]:

Bảng 1.1 Phân loại tăng huyết áp

Phân độ huyết áp Huyết áp tâm thu

(mmHg)

Huyết áp tâm trương (mmHg) Huyết áp tối ưu <120 và <80

Huyết áp bình thường 120 – 129 và/hoặc 80 – 84

Tiền tăng huyết áp 130 – 139 và/hoặc 85 – 89

Tăng huyết áp độ 1 140 – 159 và/hoặc 90 – 99

Tăng huyết áp độ 2 160 – 179 và/hoặc 100 – 109 Tăng huyết áp độ 3 ≥ 180 và/hoặc ≥ 110

Tăng huyết áp tâm

thu đơn độc

≥ 140 và < 90

Trang 13

Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại

1.1.4 Điều trị tăng huyết áp

Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi liên tục, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài Nguyên tắc chung để điều trị tăng huyết áp là đạt huyết

áp mục tiêu và giảm tối đa nguy cơ tim mạch với huyết áp mục tiêu cần đạt là dưới 140/90mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg Tùy theo từng hướng dẫn điều trị cụ thể mà có các đích huyết áp khác nhau đối với các đối tượng khác nhau Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác

đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để có sự điều chỉnh kịp thời [22], [40].Cùng với các biện pháp tích cực thay đổi lối sống, trong điều trị tăng huyết áp cần có các biện pháp điều trị bằng thuốc với 5 nhóm thuốc chính [4], [40], [54], [74]:

(1) Nhóm thuốc chẹn β - adrenergic

(2) Nhóm thuốc chẹn kênh calci

(3) Nhóm thuốc ức chế enzyme chuyển dạng angiotensin

(4) Nhóm thuốc chẹn thụ thể của angiotensin

(5) Nhóm thuốc lợi tiểu

Ngoài ra còn các nhóm thuốc giãn mạch trực tiếp, nhóm thuốc kích thích  - adrenergic trung ương, nhóm thuốc hủy - adrenergic… [4], [40], [74]

1.1.5 Cơ chế tác dụng của các nhóm thuốc chính trong điều trị tăng huyết áp

1.1.5.1 Nhóm thuốc chẹn β – adrenergicgồm atenolol, nadolol, metopralol,…

Các thuốc chẹn β – adrenergic làm giảm lưu lượng tim, giảm trương lực giao cảm ở trung ương và giảm tiết renin, do đó nhóm thuốc này làm giảm angiotensin II hoạt hóa và giảm aldosteron, có tác dụng trong điều trị tăng huyết áp, đặc biệt với những người có hoạt tính renin huyết thanh cao Một số thuốc chẹn β – adrenergic

có tác dụng cường giao cảm nội tại của cơ tim nên ngăn bớt được sự giảm nhịp tim,

Trang 14

có thể có lợi cho những bệnh nhân có rối loạn về chức năng nút xoang, về dẫn truyền nhĩ thất và co bóp cơ tim [4]

1.5.1.2 Nhóm thuốc chẹn kênh Ca 2+bao gồm amlodipin, nifedipin, felodipin, …

Các thuốc chẹn kênh Ca2+ chủ yếu gắn đặc hiệu vào kênh Ca2+ ở tế bào cơ tim và cơ trơn thành mạch, phong tỏa kênh không cho Ca2+ đi vào trong tế bào gây giãn cơ Các thuốc thuộc nhóm dihydropyridin còn ức chế nucleotid phosphodiesterase vòng ở tế bào cơ trơn, dẫn đến tăng nucleotid vòng gây giãn cơ trơn mạch máu và giảm huyết áp Gần đây nhóm thuốc này còn được chứng minh làm tăng lưu lượng máu đến thận, dẫn đến tăng sức lọc cầu thận nên có tác dụng lợi tiểu và góp phần làm hạ huyết áp.Ngoài ra, các thuốc chẹn kênh Ca2+ làm giãn mạch ngoại vi, chủ yếu giãn động mạch, gây giảm sức cản ngoại vi nên làm hạ huyết áp; hơn nữa còn gây giãn mạch vành Nhóm thuốc này tác động trên tiểu động mạch nhiều hơn tĩnh mạch nên không làm hạ huyết áp thế đứng, không làm tăng hoạt tính renin huyết thanh, không làm ảnh hưởng đến hệ renin – angiotensin – aldosteron (RAAS), không gây giữ nước và Na+[4], [6], [7]

1.5.1.3 Nhóm thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin (angiotensin converting enzyme - ACE)như captopril, enalapril, lisinopril…

Các enzym chuyển dạng angiotensin xúc tác cho quá trình tạo angiotensin II – một chất có tác dụng co mạch, tăng giữ Na+ và làm giáng hóa bradykinin nên gây tăng huyết áp Khi dùng thuốc ức chế ACE, angiotensin II không được hình thành

và bradykinin bị ngăn cản giáng hóa dẫn đến giãn mạch và tăng thải Na+ làm hạ huyết áp

Các thuốc nhóm ức chế ACE có tác dụng giãn mạch, do giảm angiotensin II, giảm vasopressin huyết tương, dẫn đến giảm sức cản tuần hoàn ngoại biên Các thuốc này gây giãn mạch chọn lọc ở các mô quan trọng (mạch vành, mạch não, mạch thận, tuyến thượng thận, ) nên tái phân phối lưu lượng tuần hoàn tại các khu vực khác nhau làm giảm cả tiền gánh và hậu gánh Không chỉ thế, chúng còn làm giảm phì đại thành mạch, tăng tính đàn hồi của động mạch, cải thiện chức năng của mạch máu do đó làm hạ huyết áp Ngoài ra, các thuốc nhóm ức chế ACE còn làm

Trang 15

tăng thải acid uric, tăng tuần hoàn thận dẫn đến tăng sức lọc cầu thận, làm giảm tác dụng của aldosteron gây tăng thải Na+, giữ K+ nên được sử dụng trong điều trị tăng huyết áp [4]

1.5.1.4 Nhóm thuốc chẹn receptor AT1 của angiotensin IIbao gồm losartan,

ibesartan, valsartan…

Các thuốc này ức chế receptor AT1 của angiotensin II làm mất tác dụng angiotensin II, do đó gây giãn mạch và hạ huyết áp Tác dụng của các thuốc chẹn receptor AT1 của angiotensin II tương tự như các thuốc ức chế men chuyển, cơ chế chung là làm hạ huyết áp từ từ do giãn mạch trực tiếp nên giảm sức cản ngoại vi, giảm trương lực giao cảm ngoại vi, giảm giải phóng noradrenalin ở tuyến tủy thượng thận, noradrenalin tăng thu hồi vào hạt dự trữ ở dạng không hoạt tính, giảm giải phóng vasopressin từ tuyến yên và giảm đáp ứng của mạch với các chất co mạch như vasopressin và noradrenalin Trên tim, các thuốc chẹn receptor AT1 của angiotensin II ức chế mở kênh Ca2+trong tế bào cơ tim nên làm giảm co bóp cơ tim, giảm trương lực giao cảm nên làm giảm nhịp tim Ngoài ra, nhóm thuốc này còn tác dụng trên thận, làm giảm giải phóng aldosteron và tăng tuần hoàn thận, tăng sức lọc cầu thận, dẫn đến hạ huyết áp [4]

1.5.1.5 Nhóm thuốc lợi tiểu

Bao gồm hai nhóm chính là thuốc lợi tiểu giảm kali máu (gồm các thuốc phong tỏa carbonic anhydrase(CA), thuốc lợi tiểu quai, thuốc lợi tiểu nhóm thiazid)

và thuốc lợi tiểu giữ kali máu (như spironolacton, amilorid, triamter) Ngoài ra còn các thuốc lợi tiểu thẩm thấu và không gây rối loạn ion

Thuốc lợi tiểu nhóm thiazid bao gồm hydrochlorothiazid, chlorothiazid,

metylchlorothiazid… Các thuốc nhóm thiazid ức chế tái hấp thu Na+ và Cl- ở đoạn pha loãng của ống lượn xa, theo cơ chế đồng vận chuyển như ở nhánh lên quai Henle, làm tăng thải lượng Na+ và Cl- như nhau Ngoài ra, do ức chế enzym CAvà

ức chế tái hấp thu Na+ nên các thuốc nàycòn làm tăng thải trừ K+ Các thuốc lợi tiểu nhóm thiazid có tác dụng lợi tiểu trung bình, làm tăng thải 5-10% lượng Na+ lọc qua cầu thận Chúng có ưu điểm là tác dụng cả ở môi trường acid và base, ít gây rối loạn

Trang 16

dịch ngoại bào hơn các thuốc lợi tiểu khác, lại không tăng thải trừ HCO3- nên không gây nhiễm acid máu Ngoài tác dụng thải muối, nhóm thuốc lợi tiểu thiazid còn ức chế tại chỗ tác dụng co mạch của vasopressin và noradrenalin do đó làm hạ huyết áp trên những bệnh nhân tăng huyết áp Đây là nhóm thuốc được sửdụng nhiều nhất và hiệu quả nhất trong các thuốc lợi tiểu để điều trị tăng huyết áp nhẹ và trung bình khi tình trạng tim, thận bình thường Các thuốc lợi tiểu thiazid được lựa chọn cho người cao tuổi (trên 65 tuổi), dùng liều thấp 12,5 – 25mg/ngày, các bệnh nhân có tăng huyết áp tâm thu đơn độc, suy tim có và không có phù [4], [5], [7]

Thuốc lợi tiểu phong tỏa enzym CA bao gồm acetazolamid, diclophenamid, methazolamid… Khi enzym CA bị phong tỏa, lượng H+ giảm hoặc không được giải phóng, nên Na+ không được tái hấp thu sẽ bị thải trừ, kéo theo nước gây lợi tiểu Mặt khác, do sự tranh chấp bài xuất giữa H+ và K+, khi thiếu H+ thì K+ tăng thải trừ

và hạn chế chuyển NH3 thành NH4+ Như vậy thuốc phong toả CA làm tăng thải trừ

Na+, K+, HCO3-, làm giảm K+ máu, có hiệu quả trong điều trị tăng huyết áp [4]

Thuốc lợi tiểu quai như furosemid, bumetanid, acid ethacrynic… có tác dụng

phong tỏa cơ chế đồng vận chuyển ở nhánh lên quai Henle, làm tăng thải trừ Na+,

Cl-, K+ kéo theo nước nên lợi tiểu Ngoài ra, các thuốc này còn làm giãn mạch thận, tăng lưu lượng máu qua thận, tăng độ lọc cầu thận, phân phối lại máu có lợi cho vùng sâu ở vỏ thận, kháng vasopressin tại ống lượn xa, làm tăng đào thải

Ca2+, Mg2+ Nhóm lợi tiểu quai có tác dụng lợi tiểu nhanh, mạnh (tăng thải trên 25% Na+), thời gian tác dụng ngắn hơn so với các thuốc lợi tiểu khác nên được dùng để điều trị cơn tăng huyết áp kịch phát, phù phổi cấp, suy tim trái cấp và

mạn, suy thận cấp và mạn, bệnh tăng huyết áp có kèm các bệnh trên [4]

Thuốc lợi tiểu giữ K + máu như spironolacton, amilorid, triamteren, có công

thức tương tự aldosterol nên tranh chấp với aldosterol tại receptor ở ống lượn xa, làm tăng thải Na+ gây lợi tiểu Sự tăng thải Na+ này phụ thuộc vào lượng aldosterol tăng hoặc giảm bài tiết Ngoài ra, các thuốc này còn làm giảm thải K+ và H+ Trong điều trị tăng huyết áp, do có hiệu lực lợi tiểu yếu và gây tăng K+ máu nên nhóm thuốc lợi tiểu giữ K+ thường được phối hợp với nhóm thuốc lợi tiểu giảm K+ máu

Trang 17

để giữ được tác dụng của thuốc và khắc phục tình trạng tăng K+ máu Không dùng chung các thuốc lợi tiểu giữ K+ máu với các thuốc ức chế men chuyển vì dễ gây ra tai biến do tăng K+ máu [4]

Nhìn chung, các thuốc lợi tiểu làm giảm thể tích huyết tương dẫn đến giảm cung lượng tim và giảm huyết áp Thuốc lợi tiểu tác dụng mạnh trên những người

có hoạt tính renin thấp, người cao tuổi, béo phì, da đen, người có tăng thể tích huyết tương Ngược lại, nhóm thuốc này tác dụng hạn chế ở người có hoạt tính renin cao Trong điều trị tăng huyết áp, thuốc lợi tiểu được dùng phổ biến do có hiệu quả đối với tăng huyết áp nhẹ, hơn nữa lại rẻ tiền, dễ sử dụng và được phối hợp để làm tăng tác dụng của các thuốc điều trị tăng huyết áp khác [4]

1.2 Một số mô hình gây tăng huyết áp trên thực nghiệm

Các mô hình gây tăng huyết áp trên động vật được thực hiện để thử nghiệm tiềm năng gây hạ huyết áp của thuốc và nghiên cứu thêm về cơ chế bệnh sinh trong phòng và điều trị tăng huyết áp, tạo tiền đề cho các thử nghiệm lâm sàng trên người Một mô hình gây tăng huyết áp lý tưởng cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau [22]:

 Có thể triển khai trên các động vật nhỏ

 Đơn giản và có thể sử dụng lặp lại nhiều lần

 Có thể dự đoán được tiềm năng hạ huyết áp của một thuốc

 Cần dùng một lượng dược chất nhỏ

 Có cơ chế bệnh sinh gần giống ở người

Hầu hết các mô hình gây tăng huyết áp được thực hiện trên thỏ, khỉ, lợn và chuột Trong đó chuột là động vật thử nghiệm được dùng nhiều nhất [23]

Mô hình gây tăng huyết áp đã đang được sử dụng có thể chia thành các nhóm dựa vào nguyên nhân gây tăng huyết áp, cụ thể như [22]:

 Mô hình gây tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận

 Mô hình gây tăng huyết áp do chế độ ăn

 Mô hình gây tăng huyết áp do nội tiết

 Mô hình gây tăng huyết áp do thần kinh

 Mô hình gây tăng huyết áp do tâm lý

Trang 18

 Mô hình gây tăng huyết áp do di truyền

1.2.1 Mô hình gây tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận

Gây tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận là mô hình được sử dụng phổ biến nhất Hoạt tính của hệ RAAS đóng vai trò rất quan trọng trong mô hình này [24], [27]

Nguyên tắc gây tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận như sau: khi co thắt động mạch thận làm giảm lưu lượng máu đến thận, làm hoạt hóa hệ RAAS và

hệ thần kinh giao cảm, thận sẽ bài tiết renin Renin chuyển angiotensinogen thành angiotensin I Dưới xúc tác của enzym chuyển angiotensin (ACE), angiotensin I chuyển thành angiotensin II Angiotensin II là chất gây co mạch, đồng thời cũng làm bài tiết aldosteron, dẫn đến giữ muối và nước gây tăng huyết áp [24], [27], [34]

Các thuốc lợi tiểu và chẹn β – adrenergic hầu như không có hoặc rất ít hiệu quả trên mô hình gây tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận Trong khi đó các thuốc ức chế hệ RAAS để ngăn sản xuất angiotensin II như các thuốc ức chế ACE, thuốc chẹn receptor AT1 của angiotensin II…, lại có tác dụng rất tốt [27], [31], [34], [43], [76].Một số mô hình gây tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận đã được công bố như:

 Mô hình của Goldblatt

Nghiên cứu của Goldblatt chỉ ra rằng nếu thắt một phần động mạch thận ở chó, chuột, thỏ và khỉ sẽ làm tăng huyết áp [15] Trên thỏ và chuột, dụng cụ được sử dụng là một kẹp bạc hình chữ U để thắt động mạch thận [30]

Cách tiến hành: Chuột cống được gây mê bằng natri hexobarbital (liều 40mg/kg) Dùng một kẹp bạc có đường kính trong là 0.2mm cặp lên động mạch thận trái ở đoạn gần với động mạch chủ [39], nên đảm bảo thắt được hơn 50% động mạch thận Chuột được coi như mắc tăng huyết áp tâm thu nếu có huyết áp lớn hơn

160 mmHg trong 2 ngày liên tiếp sau 4 tuần thắt động mạch [57] Ở chó và thỏ, tiến hành rạch 1 đường ở bụng song song với bờ sườn, từ đó tách cơ và phúc mạc để bộc

lộ động mạch thận [30] Ở chó, động mạch thận có thể được thắt bằng một kẹp bạc hoặc bằng chỉ khâu lụa [67] Ở thỏ, thắt động mạch thận hai bên sẽ được tiến hành

Trang 19

trong hai giai đoạn cách nhau 1 - 4 tuần Huyết áp sẽ tăng từ mức độ trung bình đến nặng trong vòng 12 tháng [30] Kết quả, 65% số thỏ thử nghiệm có huyết áp tâm thu tăng từ 106 mmHg (mức bình thường) lên đến 160 – 190 mmHg sau 4 tuần đến

9 tháng [15] Mô hình cho hiệu quả cao nhất trên thỏ khi cắt thận phải và sau hơn 2 tuần sẽ đặt một kẹp bạc vào động mạch thận trái [21] Có 3 hình thức gây tăng huyết áp theo phương pháp của Goldblatt:

 Mô hình 2K1C (two kidney one clip)

Trong mô hình này thực hiện thắt động mạch một bên thận, thận còn lại vẫn

để hoạt động bình thường Thắt động mạch một bên thận làm tăng hoạt tính renin huyết thanh dẫn đến tăng angiotensin II gây co mạch mạnh và làm tăng huyết áp Tuy nhiên, phương pháp thắt động mạch một bên thận không gây giữ muối và nước

ở động vật thí nghiệm vì vẫn có một bên thận hoạt động bình thường Vì vậy, trong giai đoạn đầu (khoảng 6 tuần sau phẫu thuật), tăng huyết áp phụ thuộc vào hệ RAAS Sau 6 tuần phẫu thuật, angiotensin II tăng dẫn đến tăng bài tiết aldosteron từ

vỏ thượng thận gây giữ muối và nước làm giảm bài tiết renin Từ giai đoạn này trở

đi, tăng huyết áp phụ thuộc vào khối lượng tuần hoàn [27], [30], [34] Do đó, cân bằng muối - nước có liên quan chặt chẽ đến cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận Nếu tháo kẹp thắt hoặc cắt bỏ thận ở bên có nút thắt động mạch sẽ đưa huyết áp và hoạt tính renin huyết thanh trở về mức bình thường [34]

 Mô hình 1K1C (one kidney one clip)

Trong mô hình này một bên thận được cắt bỏ và thắt động mạch thận của bên thận còn lại Huyết áp sẽ tăng lên trong vòng vài giờ Do cắt một bên thận nên không có áp lực lợi tiểu và thải Na+ gây giữ muối và nước nhanh, hoạt tính renin huyết thanh không thay đổi nên tăng huyết áp sẽ phụ thuộc vào khối lượng tuần hoàn [27], [30], [34] Các thuốc ức chế ACE và các thuốc chẹn receptor AT1 của angiotensin II không có hiệu quả trên mô hình này [27], [34]

 Mô hình 2K2C (two kidney two clip)

Mô hình 2K2C thực hiện thắt động mạch chủ hoặc cả 2 động mạch thận gây thiếu máu cục bộ thận làm tăng tiết renin dẫn đến tăng huyết áp Mô hình này có

Trang 20

tính thực tế cao vì thiếu máu đến thận chính là một trong những nguyên nhân gây tăng huyết áp do bênh lý động mạch thận [27]

 Mô hình gây tăng huyết áp do chèn ép vỏ ngoài thận

Mô hình này có thể được tiến hành trên chó, thỏ và chuột

 Gây tăng huyết áp nhờ “bọc thận”

Tiến hành bọc một tờ giấy bóng kính xung quanh thận và giữ cố định bằng một sợi chỉ khâu lụa gắn lỏng lẻo quanh cuống thận Có thể tiến hành “bọc” cả hai thận hoặc chỉ “bọc” một bên thận và cắt bỏ thận còn lại [59] Do đáp ứng của thận với các dị vật, sau 3 - 5 ngày bên thận bị “bọc” sẽ hình thành một vỏ fibrocollagen Lớp vỏ này ép vào nhu mô thận, gây giảm áp lực mạch máu thận, làm tăng khối lượng dịch ngoại bào, do đó làm tăng huyết áp Tuy nhiên, khi áp dụng mô hình này

sẽ có một tỷ lệ lớn động vật thí nghiệm bị tăng huyết áp tiến triển lên mức độ nặng

và chết trong vòng 8 tuần [15]

 Mô hình gây tăng huyết áp theo Grollman

Theo Grollman, gây thắt nén mô thận bằng cách buộc vòng quanh thận theo vòng số 8 Mô hình này có thể áp dụng trên chó, thỏ, chuột và chia thành hai dạng

là 2K1L (two kidney one ligature) và 1K1L (one kidney one ligature) [32] Trong

mô hình 2K1L, thắt động mạch của một bên thận, thận còn lại vẫn để hoạt động bình thường Trong mô hình 1K1L, cắt bỏ một bên thận và thắt động mạch thận của bên thận còn lại

 Gây tăng huyết áp do hẹp eo động mạch chủ

Mô hình gây tăng huyết áp do hẹp eo động mạch chủ được áp dụng trên các động mạch thận, giữa động mạch thận với động mạch mạc treo tràng trên hay giữa hai động mạch thận cùng với động mạch trên thận phải và động mạch dưới thận trái ngay dưới vị trí chèn ép [72] Khi động mạch chủ bị chèn ép, lưu lượng máu thận giảm đi, gây nên tình trạng tăng huyết áp Nếu sử dụng một băng cao su để làm hẹp động mạch chủ ở bụng cùng với thắt động mạch thận phải trong vòng 8 tuần sẽ gây tăng huyết áp tương tự như mô hình 2K1C của Goldblatt Tăng huyết áp cũng có

Trang 21

thể hình thành khi phẫu thuật làm hẹp eo động mạch chủ đồng thời cắt bỏ một bên thận [26], [34]

 Mô hình giảm khối lượng thận

Theo nghiên cứu của Anderson S và cộng sự, huyết áp sẽ tăng lên nếu giảm đến 5/6 khối lượng nhu mô thận Phương pháp này được thực hiện bằng cách cắt bỏ thận phải đồng thời thắt 2 hoặc 3 nhánh động mạch thận trái để tạo nhồi máu trong 2/3 thận trái, gây ra tăng huyết áp [11]

Kết quả thu được ở nhóm chuột áp dụng các mô hình gây tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận, huyết áp động mạch trung bình (231,64 ± 3,10 mmHg) cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (160,00 ± 2,84 mmHg) [69]

1.2.2 Mô hình gây tăng huyết áp do chế độ ăn

Có thể gây tăng huyết áp bằng cách tăng lượng muối NaCl trong thức ăn và nước uống của động vật nghiên cứu Hàng ngày, thận có khả năng bài tiết lượng muối ăn nhất định nên không làm tăng thể tích dịch ngoại bào Tuy nhiên, có nhiều

dữ liệu dịch tễ học chỉ ra rằng khi chuột ăn liên tục một lượng dư thừa muối sẽ gây tăng huyết áp, cũng tương tự như gây tăng huyết áp trên người [19] Tăng huyết áp gây ra do chế độ ăn nhiều muối đã được thử nghiệm ở chuột, thỏ và gà con bằng cách thay nước uống hàng ngày bởi dung dịch NaCl 1 – 2% trong 9 – 12 tháng [15], [65] Cũng có thể gây tăng nhanh huyết áp trên chuột bằng cách thắt vòng số 8 quanh một bên thận và cắt bỏ thận còn lại, đồng thời thay nước uống bằng dung dịch NaCl 1 – 2% trong vòng 3 tuần [69]

1.2.3 Mô hình gây tăng huyết áp do nội tiết

 Gây tăng huyết áp bởi corticoid

Mineralocorticoid là tác nhân gây giữ muối và nước trong cơ thể Selye và cộng sự là những người đầu tiên chứng minh rằng deoxycorticosteron acetat (DOCA) gây tăng huyết áp trên chuột [68]

Nguyên tắc: Khi nồng độ DOCA tăng, gây tăng tái hấp thu muối và nước dẫn

đến tăng thể tích máu làm tăng huyết áp Ngoài ra DOCA còn làm tăng tiết vasopressin dẫn đến giữ nước và co mạch mạnh Thêm vào đó, hoạt tính của hệ

Trang 22

RAAS thay đổi làm tăng hoạt động giao cảm [19], [35] Chuột cái và chuột trưởng thành dễ bị gây tăng huyết áp bởi DOCA [19], [65] Mô hình này cũng được áp dụng trên chó và lợn, với nhiều mineralocorticoid khác (như aldosteron) và glucocorticoid [46], [68]

Tăng huyết áp gây ra bởi DOCA là mô hình tăng huyết áp phụ thuộc vào lượng muối Vì nếu động vật thí nghiệm không sử dụng muối mà chỉ cho uống DOCA và chỉ cắt bỏ thận cũng không thể làm tăng huyết áp.Mô hình sử dụng chuột khỏe mạnh, cho ăn chế độ ăn tự do với hàm lượng muối cao và uống NaCl 2% Sau khi đạt đến khối lượng 250g, chuột được sử dụng DOCA liều 10mg/kg, 2 lần/tuần, liên tục trong 43 ngày [65], [66]

Trong một mô hình khác, chuột được cắt một bên thận trước khi dùng DOCA một tuần [44] Sau đó tiêm dưới da DOCA liều 25mg/kg/tuần trong vòng 5 tuần và theo dõi huyết áp Ngoài ra, cũng có thể thay tiêm dưới da DOCA bằng cấy DOCA dưới da động vật thí nghiệm theo phương pháp cấy ghép silicon với liều 200mg/chuột [10]

Abbie I.Knowlton và cộng sự (1952) tiến hành đánh giá tác dụng gây tăng huyết áp trên chuột của một glucocorticoid, cụ thể là cortison acetat liều 2.5mg/ngày, so sánh với tác dụng gây tăng huyết áp của DOCA liều 2,5mg/ngày, trên nền chế độ ăn hạn chế muối và chế độ ăn với hàm lượng muối cao, trên động vật đã cắt bỏ tuyến thượng thận và trên động vật bình thường Kết quả thu được cho thấy mức huyết áp tăng nhanh tương tự giữa hai nhóm dùng cortison acetat và DOCA khi cho động vật ăn chế độ ăn nhiều muối Các thuốc lợi tiểu như chlorothiazid và hydrochlorothiazid và các thuốc chẹn kênh Ca2+có hiệu quả trong điều trị tăng huyết áp do corticoid trong khi đó các thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin và chẹn thụ thể AT1 lại không có hiệu quả trên mô hình này [15], [48], [58]

 Mô hình tăng huyết áp gây ra bởi sự tái sinh tuyến thượng thận

Thủ thuật khoét tuyến thượng thận được thực hiện bằng cách rạch 1 đường nhỏ ở hang thượng thận, dùng kẹp cong để tạo áp lực, làm cho các mô tuyến trong

Trang 23

thận bị đẩy ra ngoài theo đường rạch Nước uống được thay bằng dung dịch NaCl 1% Tăng huyết áp tiển triển trong suốt quá trình tái sinh tuyến thượng thận, khoảng

2 tuần [15] Sau khi tăng huyết áp được hình thành, nếu cắt bỏ tuyến thượng thận đã tái sinh hay thay dung dịch NaCl 1% trở về nước uống bình thường cũng không làm

hạ huyết áp được [70] Theo phương pháp này, tăng huyết áp tiến triển nhanh hơn ở chuột cái và chuột trưởng thành Mô hình này chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu vai trò khác nhau của các yếu tố như steroid… trong sinh lý bệnh tăng huyết áp [25], [70]

1.2.4 Tăng huyết áp do thần kinh

Có rất nhiều bằng chứng cho thấy hệ thống thần kinh trung ương tham gia vào hình thành bệnh lý tăng huyết áp Khi kích thích bằng điện hoặc bằng hóa chất vào những vùng khác nhau của não sẽ dẫn đến tăng huyết áp trên chuột, ví dụ kích thích điện vùng dưới đồi, tiêm glutamat vào vùng hành tủy [41], [52]

1.2.5 Tăng huyết áp do tâm lý

Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, stress là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tăng huyết áp ở người, nếu tình trạng căng thẳng lặp đi lặp lại nhiều lần có thể dẫn đến tăng huyết áp liên tục [37]

Trong mô hình chuột tăng huyết áp giới hạn (Borderline hypertensive rats - BHR), chuột được chia làm 2 nhóm Hàng ngày 2 nhóm chuột này được tiếp xúc với yếu tố gây stress trong 20 phút hoặc 120 phút Sau 2 tuần, kết quả thu được cho thấy nhóm tiếp xúc với stress trong 120 phút có huyết áp tâm thu cao hơn đáng kể

so với nhóm chuột tiếp xúc với stress trong 20 phút [37] Với nhiều tác nhân gây stress khác như kích thích cảm xúc, kích thích điện, căng thẳng tâm lý… cũng cho kết quả tăng huyết áp tương tự [38], [49] Đây là mô hình tăng huyết áp không phụ thuộc renin vì khi có tăng huyết áp, hoạt tính renin huyết thanh vẫn ở mức bình thường [49]

1.2.6 Tăng huyết áp do di truyền

Năm 1963, Okamoto và Aoki giới thiệu một mô hình thử nghiệm tăng huyết

áp mới mà không cần phẫu thuật can thiệp, đó là chuột tăng huyết áp tự phát

Trang 24

(spontaneous hypertensive rat – SHR) Chúng là kết quả của việc giao phối cận huyết dẫn đến 100% thế hệ sau có tăng huyết áp tự phát Trong nhóm chuột này, huyết áp tăng dần từ lúc chuột mới ra đời và tăng ổn định sau 12 tuần tuổi Kết quả

ở nhóm chuột đực tăng huyết áp tự phát, huyết áp động mạch trung bình trong khoảng 190 - 200 mmHg, so với mức huyết áp ở chuột nhóm đối chứng là 115-130 mmHg Chuột SHR không chỉ bị tăng huyết áp tiến triển, mà còn gặp nhiều biến chứng của tăng huyết áp trong đó biến chứng hay gặp nhất là đột quỵ, chiếm đến hơn 80% Ngoài ra chuột còn bị các biến chứng khác như xuất huyết não, huyết khối, tổn thương cơ tim và đặc biệt là tổn thương não Do tính chất tương tự của các biến chứng tăng huyết áp tự phát trên chuột với các biến chứng trên người, mô hình này được sử dụng hiệu quả trong nghiên cứu về sinh lý bệnh và dự phòng các biến chứng tăng huyết áp Trong mô hình sử dụng chuột SHR, thuốc lợi tiểu và thuốc chẹn β – adrenergic cho hiệu quả hạ áp rõ rệt Tăng huyết áp di truyền được ưu tiên thử nghiệm trên chuột vì chuột có kích thước nhỏ, tuổi thọ ngắn và không tốn nhiều chi phí [27], [57], [73]

1.2.7 Các mô hình khác

Ngoài các mô hình nêu trên, nhiều mô hình gây tăng huyết áp khác cũng được sử dụng như mô hình gây tăng huyết áp liên quan đến béo phì, gây tăng huyết

áp bởi các tác nhân cholinergic và angiotensin II…

1.3 Một số kỹ thuật đo huyết áp trên mô hình động vật thí nghiệm

Trong nghiên cứu tác dụng của thuốc trên huyết áp của động vật thí nghiệm, một trong nhiều kĩ thuật quan trọng buộc phải thực hiện là đo huyết áp của động vật Nếu như ở người việc đo huyết áp khá đơn giản thì việc đo huyết áp ở động vật thí nghiệm lại phức tạp hơn nhiều, đặc biệt với những động vật nhỏ như chuột Huyết áp trên động vật được đo trực tiếp hoặc gián tiếp bằng nhiều kỹ thuật như:

Kỹ thuật đo huyết áp trực tiếp trong động mạch

Đối với chó, thỏ chuột, đo huyết áp trực tiếp có thể gây mê hoặc không gây

mê động vật thí nghiệm, đặt catheter vào động mạch cảnh hoặc động mạch đùi để

đo huyết áp bằng máy ghi chuyên dụng [15], [28]

Trang 25

Kỹ thuật đo huyết áp gián tiếp

Với kỹ thuật đo huyết áp này không gây chảy máu nên không cần gây mê động vật thí nghiệm

Ở chó, dùng một vòng bít để quấn quanh động mạch xương chày ở bề mặt chân sau hay ở động mạch quay của chân trước Huyết áp được ghi lại bằng cách sử dụng ống nghe microphone Tuy nhiên tính đàn hồi vốn có của các mô xung quanh động mạch sẽ ảnh hưởng đến kết quả huyết áp đo được [15]

Trên thỏ, tiến hành chèn ép động mạch trung tâm tai thỏ bằng một màng cứng trong suốt Huyết áp tâm thu chính là áp lực nén gây ra thông dòng máu tại vị trí chèn ép Phương pháp này rất đơn giản và không tốn quá nhiều chi phí Tuy nhiên sử dụng kỹ thuật này cũng có nhiều bất lợi vì huyết áp thỏ không ổn đinh, huyết áp ở động mạch trung tâm thấp hơn nhiều so với động mạch cảnh và huyết áp thay đổi theo trương lực của thành động mạch và bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ [30]

Đo huyết áp gián tiếp trên chuột chủ yếu bằng cách sử dụng một vòng bít hơi

ở đuôi chuột Đây là phương pháp phổ biến và thuận tiện nhất để đo huyết áp tâm thu ở chuột Vòng bít hơi được bơm phồng đến khi bơm căng sẽ không nghe được tiếng nhịp tim Sau đó vòng bít được xì hơi dần dần, khi bắt đầu xuất hiện nhịp đập đầu tiên đó chính là huyết áp tâm thu Vòng bít hơi được gắn với một máy đo huyết

áp để ghi lại huyết áp Với phương pháp này cần làm ấm đuôi chuột trước khi tiến hành thí nghiệm [47], [51], [62]

1.4 Tổng quan về dược liệu Harrisonia perforate Merr

Tên khoa học: Harrisonia perforate Merr

Họ: Thanh thất – Simaroubaceae

Tên thường gọi: Cây Đa đa, hay còn gọi là cây Xân

1.4.1 Đặc điểm thực vật

Harrisonia perforate Merr là cây nhỏ mọc trườn, sống nhiều năm, có mủ

trắng; rễ to, cứng, thơm; thân mảnh, không có lông; lá biến thiên; phiến dài 5- 10

cm, rộng 0.5 – 4 cm, màu xám đậm có đốm ở mặt trên, có lông và đốm ở mặt dưới; cụm hoa chùm dày, mảnh, hoa nhỏ, đài có vẩy ở gốc, tràng hình chén, ống ngắn hơn

Trang 26

thùy, tràng phụ do 5 vẩy nhỏ, nhị 5, bao phấn rời quả đại mảnh, dài 10 - 15cm, hạt nhỏ đen, có lông mào ở đầu [5], [9]

1.4.2 Phân bố, thu hái, chế biến

H.perforate là loài cổ nhiệt đới, phân bố ở Trung Quốc và khu vực Đông

Nam Á Bộ phận dùng là rễ, vỏ thân, cành lá và quả Thu hái quanh năm

1.4.3 Thành phần hóa học và các nghiên cứu về tác dụng dược lý của H.perforate

Trong lá H.perforate có các limonoid như perforatin, perforatinolon và

các chất khác (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2004; Nguyễn Viết Kình, 1996) Quả có chứa các limonoid như 5,6-dehydrodesepoxyharperforin C2, harrpernoid B, v.v…(Xiao-Hui Yana, et al., 2011) Harperfolide được tìm thấy trong quả và rễ

có tác dụng chống viêm (Choodej S, et al., 2013)

Rễ và các bộ phận có vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc Người ta thường dùng vỏ thân, cành lá sắc uống chữa ỉa chảy, kiết lỵ, sốt rét, đau nhức xương, lợi tiểu và làm thuốc điều kinh Các nước khác dùng quả trị nhọt bàn chân, rễ chế thành siro trị sốt rét, làm thuốc hạ sốt (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2004; Nguyen-Pouplin J, et al., 2007; Chea A, et al., 2007)

Theo dữ liệu dân tộc học, cây Đa đa có tác dụng trị chóng mặt, đau đầu và lợi tiểu nhưng chưa có thử nghiệm chứng minh tại Việt Nam cũng như trên thế giới

Vì vậy, nghiên cứu tác dụng hạ huyết áp và tác dụng lợi tiểu đã được tiến hành trên thực nghiệm

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 27

2.1 Đối tượng

2.1.1 Mẫu nghiên cứu

Lá Đa đa (Harrisonia perforate Merr.) thu hái tại Lâm Đồng trong tháng 4

năm 2012, được giám định bởi Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Lá rửa sạch, sấy khô, bảo quản trong điều kiện sạch

Lá được sấy khô ở5000C (2kg) và nghiền thành bột mịn Tiến hành chiết nóng lá Đa đa bằng nước cất (quá trình chiết được lặp lại 3 lần) Loại nước dịch chiết dưới áp suất giảm dến khi thu được cao lỏng 1:1, bảo quản cao trong điều kiện thích hợp để thử tác dụng sinh học

2.1.2 Động vật sử dụng trong nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu sử dụng chuột cống trắng chủng Wistar, giống đực, 12 –

13 tuần tuổi, cân nặng từ 180 – 220 g, khỏe mạnh do Học viện Quân y cung cấp Chuột được nuôi ổn định trong điều kiện phòng thí nghiệm tại khu nghiên cứu động vật thực nghiệm bộ môn Dược lý trường Đại học Dược Hà Nội 5 ngày trước khi tiến hành thí nghiệm, được ăn viên thức ăn chuẩn do Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương cung cấp và uống nước tự do

2.2 Hóa chất và trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm

2.2.1 Hóa chất

 Furosemid, dung dịch tiêm 20 mg/2 mL, Lasix, Aventis

 Thiopental,bột pha tiêm 100mg, Rotex medical, Trittau, Germany

 Xylazin, thuốc tiêm 20mg/1ml, Kepro, Holland

 Heparin, thuốc tiêm 2 mg/mL, Canada

 Cortison acetat (chất chuẩn do Viện kiểm nghiệm Quốc gia cung cấp)

 Dung dịch NaCl 0.1% (g/l), Pharmedic

 Povidon Iod, dung dịch 10%, 90mL, Domesco

Trang 28

2.2.2 Trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm

 Bộ dụng cụ phẫu thuật chuột cống: bàn mổ, panh, kẹp, bơm tiêm, kéo, kim, chỉ khâu, dụng cụ cho chuột uống thuốc

 Catheter vô trùng đường kính trong 0,4 mm, đường kính ngoài 0,9 mm do hãng AD instrusment, chi nhánh Singapore cung cấp

 Ống đong có chia vạch mL

 Chuồng nuôi chuột

 Máy Powerlab với bộ cảm biến thích hợp để đo huyết áp chuột của hãng AD instrusment(hình 2.1)

Hình 2.1.Máy Powerlab với bộ cảm biến

2.3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với 2 nội dung chính:

 Đánh giá tác dụng lợi tiểu của CT4 trên chuột cống thực nghiệm

 Triển khai mô hình gây tăng huyết áp cho chuột cống bằng cortison acetat

Áp dụng để đánh giá tác dụng hạ huyết áp của CT4 trên chuột cống thực nghiệm

Trang 29

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Đánh giá tác dụng lợi tiểu của CT4

 Furosemid trong CMC – Na 0,5% liều 25mg/kg cân nặng chuột cống

 CT4 trong CMC – Na 0,5% liều 680 mg/kg và 2040 mg/kg cân nặng chuột cống

Cách tiến hành

Chuột được chia ngẫu nhiên vào 4 lô, mỗi lô 10 con và cho uống mẫu thử

như sau:

 Lô chứng (n = 10): uống dung môi pha mẫu thử CMC – Na 0,5%

 Lô chứng dương (n = 10): uống furosermid trong CMC-Na 0,5% với liều 25 mg/kg cân nặng

 Lô thử 1 (n = 10): uống CT4 trong CMC – Na 0,5% liều 680 mg/kg cân nặng

 Lô thử 2 (n = 10): uống CT4 trong CMC – Na 0,5% liều 2040 mg/kg cân nặng

Chuột được cho uống dung môi pha mẫuthử với cùng thể tích là 1 ml/100g chuột

Sau khi được uống mẫu thử, chuột được nhốt riêng từng con và thu thập nước tiểu tại các thời điểm 5 giờ, 10 giờ và 24 giờ Chuột được cho ăn tự do và uống nước cưỡng bức trong suốt quá trình thí nghiệm

Tiến hành đo tổng thể tích nước tiểu thu được của chuột sau 5 giờ, 10 giờ và

24 giờ Nước tiểu của mỗi chuột được đựng trong ống đong riêng và được bảo quản

Trang 30

lạnh Sau đó nước tiểu tích lũy sau 10 giờ của chuột được mang đi phân tích các chỉ

số Na+, K+, Cl- bằng máy phân tích điện giải Roche 9180 tại khoa Sinh Hóa – bệnh viện Bạch Mai

Nguyên tắc định lượng Na + , K + , Cl - trong nước tiểu:

Máy phân tích điện giải Roche AVL 9180 sử dụng điện cực chọn lọc ion (ion selective electrode – ISE) để định lượng nồng độ các chất điện giải trong dung dịch mẫu thử Màng chọn lọc ion có tác dụng ngăn cách dung dịch mẫu cần định lượng

và dung dịch chất điện ly chuẩn Màng hoạt động như một hệ trao đổi ion, trên màng xảy ra phản ứng đặc hiệu giữa các ion có trong dung dịch chuẩn và các ion trong dung dịch mẫu cần định lượng Trong máy Roche AVL 9180, điện cực Na+ là một điện cực màng thủy tinh gồm một ống thủy tinh chọn lọc ion Na+ Điện cực K+

và Cl- cũng có màng điện cực thủy tinh chọn lọc tương ứng các ion K+ và Cl- Thế của mỗi điện cực được tính theo thế điện cực chuẩn là Ag/AgCl theo phương trình Nerst, từ đó xác định được nồng độ các ion Na+, K+, Cl- trong mẫu nước tiểu chuột

Đánh giá dựa trên các chỉ số:

 Thể tích nước tiểu thu được sau 5 giờ

 Thể tích nước tiểu thu được sau 10 giờ

 Thể tích nước tiểu thu được sau 24 giờ

 Nồng độ Na+, K+, Cl- trong nước tiểu tích lũy sau 10 giờ

2.4.2 Triển khai mô hình gây tăng huyết áp cho chuột cống bằng cortison acetat,

áp dụng để đánh giá tác dụng hạ huyết áp của CT4

2.4.2.1 Triển khai mô hình gây tăng huyết áp cho chuột cống bằng cortison acetat

và kỹ thuật đo huyết áp trực tiếp trên động mạch chuột cống

Nguyên tắc tiến hành: Cortison acetat là một glucocorticoid quan trọng

trong các hoạt động của cơ thể Cortison acetat ảnh hưởng lên cân bằng điện giải hoặc qua tác động lên thụ thể mineralcorticoid (có tác dụng giữ Na+ và nước, tăng bài xuất K+), hoặc qua tác động lên thụ thể glucocorticoid (gây tăng sức lọc cầu

Trang 31

thận, tăng cung lượng tim) Do đó, nếu dùng cortison acetat kéo dài có thể dẫn đến tăng huyết áp mức độ vừa phải

Chuột cống trắng giống đực được gây tăng huyết áp bằng cách tiêm dưới da cortison acetat và cho uống nước chứa 1% NaCl liên tục trong 21 ngày.Áp dụng kĩ thuật đặt catheter động mạch đùi chuột cống để đo trực tiếp huyết áp tối đa, huyết

áp tối thiểu của chuột bằng máy Powerlab có gắn bộ cảm biến thích hợp

Cách tiến hành: Thí nghiệm sử dụng chuột cống đực trưởng thành, chia

chuột ngẫu nhiên làm 2 lô:

 Lô chứng (n=9): chuột được uống nước và ăn thức ăn bình thường

 Lô gây tăng huyết áp(n=9): chuột được tiêm dưới da cortison acetat hàng ngày với liều 2,5 mg/kg cân nặng, nước uống được bổ sung thêm 1% muối NaCl, được ăn thức ăn bình thường trong 21 ngày

Vào ngày thứ 22, tại thời điểm 24 giờ sau khi chuột nhận liều cortison acetat cuối cùng, đo huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu trên động mạch đùi chuột bằng máy Powerlab thông qua một catheter đặt vào động mạch đùi chuột

Quá trình gây tăng huyết áp và đo huyết áp được tiến hành tại bộ môn Dược

lý – Đại học Y Hà Nội

Đánh giá tác dụng gây tăng huyết áp của cortison acetat dựa trên các chỉ số:

 Huyết áp tối đa của chuột

 Huyết áp tối thiểu của chuột

 Huyết áp trung bình của chuột

2.4.2.2 Đánh giá tác dụng hạ huyết áp của dịch chiết rễ CT4

Mục đích: Dựa trên mô hình gây tăng huyết áp chuột cống bằng cortison

acetat đã xây dựng, tiến hành đánh giá tác dụng hạ huyết áp của dịch chiết rễ CT4,

so sánh với nhóm chứng bệnh và với tác dụng hạ huyết áp chuột của hydroclorothiazid liều 25 mg/kg cân nặng chuột Đánh giá qua các chỉ số huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu và huyết áp trung bình của chuột

Trang 32

Cách tiến hành: Chuột cống đực trưởng thành sau khi nuôi ổn định trong

điều kiện phòng thí nghiệm 5 ngày được chia thành 3 lô như sau:

 Lô chứng bệnh(n=9): uống nước muối NaCl 1%, tiêm dưới da cortison acetat 2.5 mg/kg uống dung môi dùng để pha mẫu thử (CMC-Na 0,5 %)

 Lô chứng dương(n=9): uống nước muối NaCl 1%, tiêm dưới da cortison acetat 2,5 mg/kg và uống hydroclorothiazid pha trong CMC – Na 0,5 % với liều 25 mg/kg

 Lô thuốc nghiên cứu(n=9): uống nước muối NaCl 1%, tiêm dưới da cortison acetat 2,5 mg/kg và uống CT4 pha trong CMC – Na 0,5 % với liều 680 mg/kg

Chuột trong các lô thử nghiệm đều được ăn thức ăn bình thường, được uống nước muối NaCl 1% trong suốt quá trình thí nghiệm và tiêm dưới da cortison acetat trong 21 ngày liên tục

Sau khi tiêm cortison acetat 17 ngày, bắt đầu cho uống mẫu thử hoặc dung môi dùng pha mẫu thử (đối với lô chứng bệnh) liên tục trong 5 ngày 24 giờ sau khi chuột nhận liều cortison acetat và liều mẫu thử cuối cùng, tiến hành đo huyết áp trực tiếp trên động mạch chuột cống bằng cách đặt catheter vào động mạch đùi chuột Đo huyết áp trên máy Powerlab có gắn bộ cảm biến thích hợp tại bộ môn Dược lý – Đại học Y Hà Nội

Đánh giá tác dụng hạ huyết áp của CT4 dựa trên các chỉ số:

 Huyết áp tối đa của chuột

 Huyết áp tối thiểu của chuột

 Huyết áp trung bình của chuột

Huyết áp trung bình của động vật thí nghiệm được tính theo công thức: HATB = 2 x HATT + HATĐ

3 Trong đó:

HATB: huyết áp trung bình

HATT: huyết áp tối thiểu

HATĐ: huyết áp tối đa

Ngày đăng: 26/07/2015, 21:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
ng Tên bảng Trang (Trang 8)
Hình ảnh băng tần huyết áp đo được của chuột lô chứng - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
nh ảnh băng tần huyết áp đo được của chuột lô chứng (Trang 9)
Hình 2.1.Máy Powerlab với bộ cảm biến  2.3. Nội dung nghiên cứu - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 2.1. Máy Powerlab với bộ cảm biến 2.3. Nội dung nghiên cứu (Trang 28)
Hình 3.1.Ảnh hưởng của CT4 lên thể tích nước tiểu chuột sau khi uống mẫu thử 5h - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.1. Ảnh hưởng của CT4 lên thể tích nước tiểu chuột sau khi uống mẫu thử 5h (Trang 34)
Hình 3.2.Ảnh hưởng của CT4 lên thể tích nước tiểu chuột sau uống mẫu thử 10h - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.2. Ảnh hưởng của CT4 lên thể tích nước tiểu chuột sau uống mẫu thử 10h (Trang 35)
Hình 3.3.Ảnh hưởng của CT4 lên thể tích nước tiểu chuột sau khi cho uống 24 giờ - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.3. Ảnh hưởng của CT4 lên thể tích nước tiểu chuột sau khi cho uống 24 giờ (Trang 36)
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của CT4 lên nồng độ Na + , K + , Cl -  trong nước tiểu tích lũy thu - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của CT4 lên nồng độ Na + , K + , Cl - trong nước tiểu tích lũy thu (Trang 37)
Hình 3.4.Bộc lộ động mạch đùi chuột - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.4. Bộc lộ động mạch đùi chuột (Trang 39)
Hình 3.5 Đặt catheter vào động mạch đùi chuột cống - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.5 Đặt catheter vào động mạch đùi chuột cống (Trang 40)
Hình 3.6. Đo huyết áp trực tiếp của chuột qua catheter nối với máy Powerlab - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.6. Đo huyết áp trực tiếp của chuột qua catheter nối với máy Powerlab (Trang 41)
Hình 3.7. Hình ảnh băng tần huyết áp đo được của chuột lô chứng trắng và - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.7. Hình ảnh băng tần huyết áp đo được của chuột lô chứng trắng và (Trang 41)
Hình 3.8:Ảnh hưởng của tiêm dưới da cortison acetat liều 2,5 mg/kg lên - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.8 Ảnh hưởng của tiêm dưới da cortison acetat liều 2,5 mg/kg lên (Trang 43)
Hình 3.9. Ảnh hưởng của cao CT4 lên huyết áp trung bình chuột cống - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.9. Ảnh hưởng của cao CT4 lên huyết áp trung bình chuột cống (Trang 44)
Hình 3.10Luồn catheter lên vùng giữa hai bả vai chuột - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.10 Luồn catheter lên vùng giữa hai bả vai chuột (Trang 52)
Hình 3.11. Cố định catheter bằng dụng cụ thích hợp - Đánh giá tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp của CT4 trên thực nghiệm
Hình 3.11. Cố định catheter bằng dụng cụ thích hợp (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w