Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài chính là dịch vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vực chưa đựng nhiều rủi ro nhất của các NHTM và các định chế tài chính khác.
Trang 1DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU
Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tàichính là dịch vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vực chưa đựng nhiềurủi ro nhất của các NHTM và các định chế tài chính khác
Trang 2Trong bối cảnh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá ngàycàng tăng, hoạt động tín dụng cần phải được phát triển sao cho phù hợp nhằmđáp ứng được những nhu cầu ngày càng tăng trong xã hội Nhưng vấn đề là phảiđảm bảo chất lượng tín dụng như thế nào để NHTM hoạt động an toàn, hiệu quả
Như chúng ta đã biết, tín dụng cũng là một trong những công cụ để Đảng
và Nhà nước thực hiện các chủ trương chính sách về phát triển kinh tế Do vậy,chất lượng tín dụng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất xã hội, giúp đầu tưđúng hướng để khai thác khả năng tiềm tàng về tài nguyên lao động, đảm bảocho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cân đối giữa các ngành nghề, cáckhu vực trong cả nước Ngoài ra, tín dụng có chất lượng còn góp phần kiềm chếlạm phát, ổn định tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước
Tín dụng có chất lượng sẽ góp phần tăng chất lượng sản xuất kinh doanh
và tạo một thị trường tài chính lành mạnh Chất lượng tín dụng được đảm bảocũng có nghĩa là NH đang trên đà phát triển tốt, nhờ vậy mà có điều kiện đápứng yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh của khách hàng
Trong điều kiện nền kinh tế mở kéo theo sự cạnh tranh gay gắt của các tổchức tín dụng trên thị trường, nếu NHTM nâng cao được chất lượng tín dụng thìcũng chính là đã tạo được lòng tin ở khách hàng của mình Trong nền kinh tế thịtrường, khách hàng được coi là “thượng đế” nên họ có quyền lựa chọn bất kỳmột NH nào đó làm đối tác Hay nói cách khác, khách hàng tìm đến NH nào mà
ở đó thực sự tạo điều kiện và giúp đỡ họ thực hiện việc kinh doanh đạt hiệu quảthông qua quan hệ tín dụng và các dịch vụ khác Hơn nữa, về phía NH sẽ có cơ
Trang 3hội tăng số lượng khách hàng, thu hút được thêm nhiều nguồn vốn, tạo điều kiện
mở rộng tín dụng
Nâng cao chất lượng tín dụng, tình hình tài chính của NHTM được cảithiện, tạo ra những thế mạnh trong quá trình cạnh tranh, giúp cho NH tránh vàhạn chế được những rủi ro, những tổn thất to lớn có thể xảy ra, góp phần làmlành mạnh hoá các quan hệ tín dụng và tạo điều kiện để mở rộng các quan hệ tíndụng Chất lượng tín dụng quyết định cho sự tồn tại và phát triển của từngNHTM nói riêng và toàn bộ hệ thống NH nói chung
Qua những vấn đề được phân tích ở trên ta thấy rõ sự cần thiết kháchquan của việc củng cố tăng cường nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM
Từ thực tế ở Chi nhánh Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên, và sau
thời gian học tập nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, tôi chọn đề tài: " Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên" để làm chuyên đề
nghiên cứu của mình
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề thực tập gồm có 3 chương:
Chương I: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên
Thông qua việc phân tích thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụngđối với thành phần kinh tế này tại Ngân hàng nông nghiệp Huyện Vị Xuyên Từ
đó, tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé của bản thân mình vào việc nâng caochất lượng, hiệu quả trong hoạt động tín dụng, phòng ngừa và hạn chế những rủi
ro do nguyên nhân chủ quan Xét về khía cạnh nào đó, tôi hy vọng tại Ngânhàng nông nghiệp Huyện Vị Xuyên nói riêng và hệ thống NH nói chung luôn
Trang 4luôn phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững, góp phần thúc đẩy sự phát triểnchung của nền kinh tế đất nước theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là doanh nghiệp vừa và nhỏtại Ngân hàng nông nghiệp Huyện Vị Xuyên, thời gian trong phạm vi 03 năm, từnăm 2010 đến 31/12/2010
Do khả năng và trình độ của bản thân có hạn, nên chắc rằng đề tài này sẽkhông thể tránh khỏi có những khiếm khuyết nhất định, vì thế tôi rất mongmuốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và đặc biệt là cácthầy, cô trong bộ môn hướng dẫn để đề tài được hoàn chỉnh, mang tính thực tiễn
và khả thi cao hơn./
CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Trang 51.1 Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
1.1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
DNV&N là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanhthu DNV&N có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là DN siêunhỏ (micro), DN nhỏ và DN vừa Theo tiêu chí của Nhóm NH Thế giới, DN siêunhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ
10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước,người ta có tiêu chí riêng để xác định DN nhỏ và vừa ở nước mình Ở , khôngphân biệt lĩnh vực kinh doanh, các DN có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc
số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300 người được coi là Doanhnghiệp Vừa và nhỏ (không có tiêu chí xác định cụ thể đâu là DN siêu nhỏ, đâu lànhỏ, và đâu là vừa)
1.1.1.2 Vai trò, đặc điểm của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế, chúng ta thường nói tới "Doanh nghiệp" và đượcchúng ta hiểu một cách thông thường là những đơn vị kinh tế được thành lập bởimột cá nhân hay bởi các tổ chức, được nhà nước cho hoạt động nhằm thực hiệnhoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực nhất định vì mục đích công ích haylợi nhuận Sự vận động của nền kinh tế nhất thiết phải có một yếu tố quan trọng
đó là DN, không có hoạt động của các DN thì nền kinh tế không thể lưu thông
và hoạt động
DNV&N có vai trò lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của rất nhiều quốcgia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển Trong bối cảnh đang chuyểnđổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới,DNV&N đã và đang đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng ổnđịnh và bền vững của nền kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát
Trang 6triển; đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân; cảithiện thu nhập và giải quyết việc làm cho một bộ phận đông đảo dân cư; gópphần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống và thu hẹp khoảng cách phát triểngiữa các vùng đất nước
Các hoạt động của các DNV&N đã và đang góp một phần không nhỏ vào
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Các DN này đã tạo ra một mạng lưới liênkết giữa các thành phần kinh tế với nhau, thúc đẩy và lưu thông các nguồn lựcsẵn có trong xã hội như: vốn, nhân lực
Rõ ràng sự thành công của những cải cách trước đây trong thập niên 80phần lớn nhờ vào sự đáp ứng mạnh mẽ từ phía cung của các hộ gia đình nôngnghiệp: việc bãi bỏ hình thức nông nghiệp tập thể đã nhanh chóng biến từ chỗthiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới Trongnhững năm gần đây, các DNV&N một lần nữa lại trở thành trung tâm của nhữngtranh luận về phát triển Lần này, sự thảo luận chủ yếu liên quan đến vấn đề tạoviệc làm
Vai trò của các DNV&N gần đây cũng đã được nhấn mạnh trong cộngđồng các nhà tài trợ Cùng với vai trò tạo việc làm của mình, có thể nói cácDNV&N cũng là nhân tố chính trong việc giảm nghèo, đặc biệt là tại khu vựcnông thôn Với việc giảm nghèo là mục tiêu phát triển chính yếu hiện được ưutiên của cộng đồng các nhà tài trợ, đang nhận được nhiều sự khích lệ trongchính sách thúc đẩy sự phát triển DNVVN của mình.
Các DN trong quá trình hoạt động và sản xuất của mình đã cung cấp hànghoá, tạo ra sự lưu thông hàng hoá trong thị trường Tuy nhiên để đảm bảo hoạtđộng sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả thì các DN phải có một chiếnlược phát triển cụ thể trong quá trình kinh doanh của mình Ở các DNV&N chủyếu tập trung vào các ngành thương mại, sửa chữa thủ công nghiệp (chiếm40,6% DN của cả nước), tiếp đến là các ngành chế biến (20,9%), xây dựng(13,2%) và các ngành còn lại như kinh doanh bất động sản, tư vấn, khách sạn,nhà hàng (25,3%)
Trang 7Có nhiều loại hình DN khác nhau, nếu phân loại DN theo hình thức sởhữu thì có DN tư nhân, DN nhà nước, DN liên doanh, DN cổ phần… Nếu phânloại theo quy mô nguồn vốn thì có DN lớn và DNV&N Trong đề tài này, tôimuốn đề cập đến DNV&N vì đây là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong hệthống các DN và đây cũng là những DN đóng góp một vai trò không nhỏ trongnền kinh tế Nếu chúng ta có một định hướng đúng đắn đối với các DNV&N thì
sẽ có một sự thúc đẩy phát triển kinh tế to lớn, từ đó làm điểm tựa vững chắc đểđưa đất nước phát triển
Hiện nay, các DNV&N tập trung chủ yếu ở thành thị ,chủ yếu ở các thànhphố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và cáctỉnh thuộc khu vức đồng bằng bắc bộ
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, số lượng DNV&N ngày càngtăng mạnh Như tên gọi của mình, DNV&N mang những đặc điểm riêng rấtkhác biệt so với các DN lớn trên thị trường DNV&N mang nhưng đặc trưng cơbản sau:
* Các DNV&N chiếm số lượng lớn trên thị trường, và tốc độ gia tăng cao
Theo luật DN quy định, việc thành lập DNV&N yêu cầu số vốn thành lập nhỏ,
vì vậy số lượng DNV&N chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Với ưu điểm
là vốn điều lệ thấp, điều này đã tạo một động lực to lớn cho các tổ chức kinh tế
tư nhân đứng ra thành lập DN của mình Mặt khác, từ trước đó đã tồn tại không
ít các DN nhà nước có quy mô vốn nhỏ, lao động ít như các hợp tác xã, các DNnhà nước mới thành lập hoặc được tách ra…Với đặc điểm là vốn pháp định nhỏnhư vậy, số lượng các DNV&N đã chiếm phần lớn về số lượng trong nền kinh tế
và có tốc độ gia tăng cao
* Các DNV&N có quy mô vốn nhỏ, lao động ít
Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của cácDNV&N trong những năm gần đây thì lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2
tỷ đồng/DN Theo quy định của Luật DN, DNV&N là các DN có số vốn pháp
Trang 8định không vượt quá 10 tỷ, có số lao động không vượt quá 300 lao động Với sốvốn nhỏ như vậy, các DN gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường,nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhất là khó khăn trong việc cạnh tranhvới các DN lớn sản xuất cùng một loại sản phẩm trong thị trường Nhất là khinền kinh tế có biến động lớn, ví dụ biến động về đầu vào, DNV&N khó có khảnăng chống đỡ và dễ dẫn đến bị phá sản Đồng thời, với số lao động ít, cácDNV&N sẽ gặp nhiều cản trở trong quá trình sản xuất kinh doanh và mở rộngsản xuất kinh doanh Nhất là với tình trạng ít lao động, DNV&N sẽ khó có đượccác lao động với tay nghề cao Với số lao động ít như vậy, sẽ khó mở các lớpđào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên Mặt khác đa số ngườilao động, nhất là người lao động có tay nghề nghiệp vụ, trình độ chuyên môngiỏi, khi tìm kiếm việc làm đều có xu hướng muốn vào các DN lớn trên thịtrường, điều này khiến các DNV&N gặp khó khăn trong quá trình tuyển dụnglao động và phải đầu tư nhiều hơn cho công tác marketing tuyển dụng lao động.
* Đa số các DNV&N là các DN ngoài quốc doanh
Các DNV&N chủ yếu là các DN tư nhân (chiếm khoảng 80%) do đặcđiểm về quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ Điều này tạo khó khăn cho việcquản lý các DNV&N Nhất là đối với các DN tư nhân hoạt động linh hoạt nhưngkém hiệu quả Các DN tư nhân thường khi thành lập và trong quá trình hoạtđộng chưa có một tầm nhìn chiến lược hoạt động cho DN của mình Và trongkhi vận hành sản xuất kinh doanh, khi că một biến cố xảy ra thì không có kinhnghiệm chống đỡ hoặc không đủ khả năng chống đỡ, dẫn đến thua lỗ hoặc nặnghơn là phá sản Việc quản lý các DN tư nhân cũng rất khó khăn Nhiều DN còn
cố tình làm ăn phi pháp, cố tình trốn thuế và không thực hiện đúng chế độ kếtoán thống kê Để quản lý tốt các DNV&N, đòi hỏi một sự theo dõi sát sao vàthực sự có hiệu quả Như vậy có thể mới kiểm soát được hoạt động của loại hình
DN này
* Kinh nghiệm hoạt động còn chưa nhiều
Trang 9Không kể các DN nhà nước vừa và nhỏ đã thành lập lâu đời và hoạt động
ổn định, đa số các DNV&N đều là các DN tư nhân được thành lập trong hoặcsau thời kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các DN Nhà nước vừa được tách ra Vớinhững DNV&N thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, có hiệuquả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng ngũ những
DN lớn Như vậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình DN này chưa nhiều Với
số vốn ít và bề dày kinh nghiệm hạn chế, các DNV&N gặp khó khăn trong việcduy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chống đỡ với những thay đổi trong quátrình hoạt động của mình
* Trình độ công nghệ và phương pháp quản lý lạc hậu
Đây là vấn đề nổi cộm đối với tổng thể các DN của nước ta do đặc điểmnền kinh tế chưa thực sự phát triển Ở DN hiện nay, một thực trạng phổ biếntrong các DNV&N là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 10-15 nămtrong ngành điện tử, 15 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệtmay đã sử dụng được 15 năm Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng nămcủa chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới Công nghệ lạc hậu làm tăng chiphí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới Thực trạng này dẫnđến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30 - 50% so với các nước ASEAN, đồngthời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp
Nhiều DNV&N rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợkinh doanh Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về trình độchuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý DN, một phần
là do đầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưatheo kịp diễn biến của thị trường
Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh nghiệm
và phán đoán cảm tính, đây là điểm yếu nhất các DNV&N của trước áp lựccạnh tranh quốc tế
* Các DNV&N hoạt động linh hoạt, năng động
Trang 10Trong nền kinh tế, các DNV&N là những thành phần hoạt động linh hoạtnhất Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các DNV&N đều chịu tác động
và phải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với mỗi biến đổi đó Với tínhnăng động như vậy, các DNV&N đã đạt được hiệu quả trong hoạt động củamình và đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế Sự đa dạng về loại hình hoạtđộng, phương thức quản lý, sản phẩm của các DNV&N giúp cho họ đứng vữngđược trong thị trường
1.1.2 Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả đi vay và cho vay Tuy nhiên tíndụng khi gắn với chủ thể là NH thì tín dụng NH nghĩa là NH cho vay
Tín dụng được xem xét là một chức năng cơ bản của NH, vì vậy trên cở
sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NH thì tín dụng có thể dược hiểu nhưsau :
Tín dụng là một quan hệ về tài sản (tiền hoặc tài sản) giữa bên cho vay(Ngân hàng) và bên đi vay (Doanh nghiệp Vừa và nhỏ), trong đó bên cho vaychuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theothoả thuận, đồng thời bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc
và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NH, chiếm tỷ trọng cao nhấttrong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất Ở các nước trên thế giới thì hoạtđộng tín dụng chiếm 50-60% lợi nhuận, còn ở thì chiếm tới 60-70% Song songvới hoạt động huy động vốn, tín dụng tạo ra nguồn lợi nhuận chính duy trì hoạtđộng của NH Hoạt động tín dụng NH được dựa trên quyết định của thống đốc
NH nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm về việc banhành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với DN Theo đó quan hệ tíndụng giữa Doanh nghiệp và NH có thể hiểu như sau:
- Doanh nghiệp phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định
Trang 11Các khoản tín dụng của NH chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của
DN cùng khách hàng và các khoản vay mượn khác Bản thân NH cũng cótrách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho các khoản mượn nói trên NH thu lợinhuận là nhờ thu chênh lệch lãi suất cho vay và đi vay, đồng thời sử dụngvốn vay để thực hiện hoạt động khác như đầu tư, tài trợ… Như vậy, để duytrì sự tồn tại và phát triển của mình, NH phải yêu cầu DN thực hiện đúngcam kết này
- Doanh nghiệp phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuậnvới NH, không trái với quy định của pháp luật và các quy định khác của NHcấp trên Luật pháp quy định phạm vi hoạt động cho các NH, và mỗi NH đều
có mục đích và phạm vi hoạt động riêng Do vậy, khi cho cấp tín dụng trongphạm vi hoạt động của mình, NH yêu cầu DN phải sử dụng vốn đúng mụcđích như đã thoả thuận với NH
- NH tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả Phương án hoạt động của DNđảm bảo khả năng thu hồi vốn và lãi của NH Mặt khác, để đảm bảo đòi được
nợ, các NH thường yêu cầu tài sản đảm bảo với mỗi khoản vay
Các hoạt động tín dụng đối với DNV&N của Ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng NH được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau
NH tiến hành phân loại tín dụng để dễ quản lý các khoản tín dụng và nhằm đadạng hoá tín dụng nhằm thoả mãn nhu cầu của DN Phân loại tín dụng để NHquyết định lãi suất cho vay, cũng như loại hình cho vay thích hợp với mỗi loạitín dụng khác nhau
Việc xác định phương thức cho vay có một ý nghĩa rất quan trọng của quátrình cấp tín dụng choĐNN Nếu xác định đúng phương thức cho vay cho từng
DN từ đú sẽ tạo ra yếu tố tích cực giúp cho DN thuận lợi trong quá trình giaodịch và chủ động về tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh và thuận lợi
để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, khuyến khích được DN về quan hệvay vốn với NH, Ngân hàng chủ động trong việc cân đối giữa nguồn vốn và sử
Trang 12dụng vốn Nếu xác định sai phương thức cho vay sẽ dẫn đến NH không kiểmsoát chặt chẽ được số vốn cho vay làm tăng rủi ro tín dụng, không khuyến khíchđược DN vay vốn.
Hiện nay các NH thường áp dụng các phương thức cho vay sau
* Cho vay thấu chi
Cho vay thấu chi là nghiệp vu cho vay qua đó NH cho phép người vayđược chi trội tren số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhấtđịnh và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mứcthấu chi
Để được thấu chi, DN làm đơn xin NH hạn mức thấu chi và thời gian thấuchi (có thể phải trả phí cam kết cho NH ) Trong quá trình hoạt động, DN có thể
ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt số dư tiền gửi để chi trả (song tronghạn mức thấu chi) Khi DN có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, NH sẽ thu nợ gốc
và lãi Số lãi mà DN phải trả là :
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi.Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụnghình thức này Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của DN không phù hợp vềthời gian và quy mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dựđoán ngân quỹ song không chính xác Do vậy, hình thức cho vay này tạo điềukiện thuận lợi cho DN trong quá trình thanh toán, chủ động, kịp thời
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phầnlớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả DN lẫn cá nhân vài ngày trongtháng, vài tháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, muahàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với DN có độ tin cậy cao, thunhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn
* Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
Trang 13NH đối với các DN không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện đểđược cấp hạn mức thấu chi Một số DN sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụngthương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặcbiệt mới vay NH, tức là vốn từ NH chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định củachu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay, DN phải làm đơn và trình NH phương án sử dụng vốn vay
NH sẽ phân tích DN và ký hợp đồng cho vay, xác định mức cho vay, thời hạngiải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần Mỗi món vayđược tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau
Nhu cầu vay
-Mức cho vay= (Giá trị tài sản đảm bảo x Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản
đảm bảo)
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, NH sẽ thu gốc và lãi Trong quátrình DN sử dụng tiền vay, NH sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng, nếuthấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, NH sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợquá hạn Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản NH có thể kiểm soát từngmón vay tách biệt Tiền cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo
* Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó NH thoả thuận cấp cho DN hạn mức tín
Trang 14dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ Đó là số dư tối đatại thời điểm tính.
Mỗi lần vay, DN chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp cácchứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khikiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, NH sẽ phát tiền cho DN
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những DN vay mượn thườngxuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.Trong nghiệp vụ này, NH không ấn định trước ngày trả nợ Khi DN có thu nhập,
NH sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho DN Tuy nhiên, do cáclần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên NH khó kiểm soát hiệuquả sử dụng từng lần vay NH chỉ có thể phát hiện vấn đề khi DN nộp báo cáotài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút
* Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hànghoá DN khi mua hàng có thể thiếu vốn NH có thể cho vay để mua hàng và sẽthu nợ khi DN bán hàng Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm đơn xinvay luân chuyển NH và DN thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn mứctín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng
có thể được thoả thuận trong 1năm hoặc vài năm Đây không phải là thời hạnhoàn trả mà là thời hạn NH xem xét lại mối quan hệ giữa NH và DN cũng nhưtình hình tài chính của DN
Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá nên cả NH và DN đều phảinghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong thờigian tới
Khi vay, DN chỉ cần gửi đến NH các chứng từ hoá đơn nhập hàng và sốtiền cần vay NH cho vay và trả tiền cho người bán Theo hình thức này, giá trịhàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đốitượng được NH cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho NH
Trang 15Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượngquan hệ nợ nần của người vay Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho trởthành vật đảm bảo cho khoản cho vay Cho vay luân chuyển thường được ápdụng đối với các DN thương nghiệp hoặc DN sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắnngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với NH.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho DN Thủ tục cho vay chỉ cần thựchiện 1 lần cho nhiều lần vay DN được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời , vì vậyviệc thanh toán cho người cung ứng sẽ nhanh gọn
Nếu DN gặp khó khăn trong tiêu thụ thì NH sẽ gặp khó khăn trong việcthu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng
* Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó NH cho phép DN trả gốclàm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thoả thuận Cho vay trả gópthường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố định và tài sản lâu bền Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợpvới khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế cuả DA, hoặc
từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng)
NH thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mứcnhất định NH sẽ thanh toán cho ngưòi bán lẻ về số hàng hoá mà DN đã mua trảgóp Các cửa hàng bán lẻ nhận tiền ngay sau khi bán hàng từ phía NH và làm đại
lý thu tiền cho NH, hoặc DN trả trực tiếp cho NH Đây là hình thức tín dụng tàitrợ người mua (qua đó đến người bán) nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá
Cho vay trả góp rủi ro cao do DN thường thế chấp bằng hàng hoá mua trảgóp Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay Nếu ngườivay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của NH cũng bị ảnhhưởng Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhấttrong khung lãi suất cho vay của NH
* Cho vay gián tiếp
Trang 16Phần lớn cho vay của NH là cho vay trực tiếp Bên cạnh đó NH cũng pháttriển các hình thức cho vay gián tiếp Đây là hình thức cho vay thông qua các tổchức trung gian.
NH cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội Nông dân,Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ…Các tổ chức này thường liên kết các thànhviên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyềnlợi cho mỗi thành viên Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói giảmnghèo luôn được các tổ chức này rất quan tâm
NH có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chứctrung gian, như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng rabảo đảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh chomột thành viên vay Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không
đủ tài sản thế chấp
NH cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vàocủa quá trình sản xuất Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sửdụng tiền sai mục đích
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều mónvay nhỏ, người vay phân tán, cách xa NH Trong trường hợp như vậy, cho vayqua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của NH Tuynhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế củamình, để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên kháccho riêng mình Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượnghoặc với giá đắt cho người vay vốn
1.2 Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng
Trang 17Đối với các NHTM, cái được biểu hiện ra bên ngoài vừa cụ thể, vừa trừutượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng Chỉ khi chất lượngtín dụng tốt tức là NH có nhiều khách hàng, uy tín NH được nâng cao tạo điềukiện thúc đẩy cho NH phát triển.
Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phùhợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của NH
Như vậy khi xem xét chất lượng tín dụng của NH nói chung và đối vớiDNV&N nói riêng, cần tính đến ba nhân tố là NHTM, khách hàng, và nền kinhtế
Thứ nhất: Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ NHTM
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phảiphù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân NH và phảiđảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúnghạn và có lãi Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuậnhợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúngquy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn,trung và dài hạntrong nền kinh tế
Thứ hai: Chất lượng hoạt động xét từ giác độ khách hàng
Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ làmcho NH hiểu rõ nhu cầu tín dụng của NH, đảm bảo thoả mãn nhu cầu hợp lý vềvốn cho họ Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, chất lượng là yêu cầu hàngđầu, vì vậy chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng, lãisuất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút được khách hàng nhưngvẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù hợp với tốc độ pháttriển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH, góp phần làm lànhmạnh tài chính khách hàng
Thứ ba: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế
Trang 18Hoạt động tín dung trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năngđộng của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới Nhiều khái niệm mới vớinhững nội dung mới để đạt được sự thống nhất, về nhận thức và tạo điều kiệnnâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động,tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khảnăng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát triển
Từ những điều trên, ta có thể rút ra:
- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thíchnghi của NHTM và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnhmột NH trong quá trình cạnh tranh để tồn tại
- Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được kháchhàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phítổng thể về sản xuất, chi phí nghiệp vụ…
- Chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quytrình kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức vớinhau vì một mục đích chung, do đó để đạt được chất lượng tín dụng cần có sựquản lý
Quản lý chất lượng về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật được sửdụng nhằm đạt được chất lượng tốt
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng TDNH, trong đó có cácchỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.2.1 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu
Trang 19Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ởmột thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Chỉ tiêu nàyđược tính theo công thức (1.1) dưới đây:
Tỷ lệ nợ xấu
* Khái niệm nợ xấu:
Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu nợ quá hạn thì chưa đánh giá chính xác về chất lượngtín dụng của các NH Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước “ V/v Ban hành quy định về phân loại nợ,trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH củaTCTD” đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các TCTD TheoQuyết định 493 thì nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3,4,5 theo cách phân loại nợ dướiđây
Chỉ tiêu này phản ánh nợ xấu của một NH, tỷ lệ này càng thấp càng tốt Thực tế,rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi, nên NH thường chấp nhận một tỷ lệnhất định được coi là giới hạn an toàn Mức giới hạn này ở mỗi nước là khácnhau, riêng ở hiện nay chấp nhận tỷ lệ là 5%
* Cách phân loại nợ
Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 (có hiệu lựcngày 17/03/2005) của Thống đốc NHNN VN về việc sửa đổi, bổ sung một sốđiều của quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theoQuyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 Trong đó điều chỉnh kỳhạn nợ là việc NH chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vay trongphạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận tại HĐTD; gia hạn nợ vay là việc NHchấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vay vượt
= Nợ xấu
Tổng dư nợ
x 100% ≤ 5%
(1.1) (1.1)
Trang 20quá thời hạn cho vay đã thoả thuận trong HĐTD và chất lượng tín dụng được thểhiện là tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ.
Việc phân loại nợ quá hạn theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN đã cónhiều thay đổi nhưng việc phân loại nợ quá hạn vẫn còn dựa vào tiêu chí thờigian quá hạn của khoản vay chứ chưa tính đến tiêu chí rủi ro của khoản vay nênchưa phản ảnh chính xác chất lượng của hoạt động tín dụng
Theo Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụngdự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tíndụng” và quyết định số 18/2009/QĐ-NHNN ngày 25/04/2009 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước “V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phânloại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
NH của tổ chức tín dụng ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNNngày 22/04/2005” thì dư nợ của các tổ chức tín dụng được chia làm 05 nhóm, cụthể:
Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thuhồi đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổchức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn vàthu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ của DN trả đầy đủ
nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 01 năm đối vớicác khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và các
kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạntheo thời hạn đã được cơ cấu lại thì phân loại vào nợ nhóm 1 Trường hợp một
DN có nợ cơ cấu lại bao gồm nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn thì chỉ xem xétđưa vào nợ nhóm 01 khi DN đã trả đầy đủ (nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn) cảgốc và lãi số nợ đã được cơ cấu lại trong thời gian quy định trên, đồng thời các
Trang 21kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn đãđược cơ cấu lại
Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh
kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là DN, tổ chức thì tổ chức tín dụngphải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng
kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại
có thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầuphân loại vào nhóm 2; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàngkhông đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm
Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạntrả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Cáckhoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả
nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lầnđầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạntrả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lầnthứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợchờ xử lý
Các khoản nợ nếu có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của củakhách hàng bị suy giảm thì phải phải tính một cách chính xác, minh bạch đểphân loại nợ vào các nhóm nợ phù hợp với mức độ rủi ro, cụ thể:
Trang 22Nhóm 2: Các khoản nợ tổn thất tối đa 5% giá trị nợ gốc.
Nhóm 3: Các khoản nợ tổn thất từ trên 5%-20 % giá trị nợ gốc.Nhóm 4: Các khoản nợ tổn thất từ trên 20% - 50% giá trị nợ gốc.Nhóm 5: Các khoản nợ tổn thất trên 50% giá trị nợ gốc
Việc phân loại nợ theo Quyết định 493và quyết định 18 của Ngân hàngNhà nước vừa dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn của khoản vay, vừa dựa vàotiêu chí rủi ro của khoản vay đã làm cho các NH phải đánh giá lại thực sự cáckhoản nợ đã cho khách hàng vay và có thể đánh giá chính xác hơn về chất lượngtín dụng của mình
1.2.2.2 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.2) dưới đây:
Hiệu suất sử dụng vốn = Tổng dư nợTổng vốn huy động (1.2)
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của NH vớikhả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huyđộng Thông thường theo cách nhìn của nhiều người, chỉ tiêu này càng lớnchứng tỏ NH sử dụng nhiều vốn huy động và hoạt động của NH sẽ hiệu quả hơn,điều này sẽ không đúng Vậy tỷ lệ này lớn tốt hay nhỏ tốt? Chúng ta chưa thểkhẳng định được, bởi nếu tiền gửi ít hơn tiền cho vay thì NH phải tìm kiếmnguồn vốn có chi phí cao hơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơn tiền cho vay thì NH sẽrơi vào tình trạng thừa vốn Do đó, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúpchúng ta so sánh khả năng cho vay và huy động vốn của một NH
1.2.2.3 Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Được xác định bằng doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân của mộtNHTM trong thời gian nhất định, thường là một năm
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.3):
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ (1.3)
Trang 23Dư nợ bình quân
Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay (thường là 1năm) Chỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín dụng càng tốt, chấtlượng cho vay càng cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tươngđối, vì nếu một NHTM này cho vay các DN sản xuất chiếm tỷ trọng lớn dư nợ,thì chỉ tiêu này thấp hơn NHTM khác cho vay các DN thương mại Như vậy,không vì thế mà chất lượng cho vay của NHTM này kém hơn Từ thực tế trên,
để có nét tương đối chính xác về chất lượng tín dụng thì các tiêu thức tính toánphải thống nhất, vòng quay tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạnvay và từng đối tượng vay cụ thể
1.2.2.4 Chỉ tiêu lợi nhuận
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.4) dưới đây:
Lợi nhuận = Lợi nhuận từ hoạt động tín dụngTổng dư nợ tín dụng (1.4)
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của NHTM chiếm từ 70%-85% tổng lợinhuận của NHTM Nếu lợi nhuận của một NH nào đó tăng lên hàng năm, điều
đó chứng tỏ chất lượng tín dụng được nâng lên Chỉ tiêu này phản ánh khả năngsinh lời của tín dụng Lợi nhuận ở đây phản ánh chênh lệch giữa chi phí đầu vào(lãi suất huy động) và thu lãi đầu ra Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời củavốn tín dụng , một khoản tín dụng ngắn hạn hay dài hạn không thể xem là cóchất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận cho NH Chỉ tiêu này cao chứng
tỏ các khoản cho vay của NH sinh lời và ngược lại chỉ tiêu này thấp chứng tỏcác khoản vay không sinh lời, đồng nghĩa với chất lượng tín dụng chưa tốt.Đánh giá chất lượng khoản tín dụng trên cơ sở căn cứ vào lợi nhuận thu đượccủa các NHTM, đây cũng là chỉ tiêu tương đối vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tốnhư: chính sách lãi suất, chính sách khách hàng v.v Thông thường trong hoạt
Trang 24động NH, nếu chấtlượng tín dụng NHTM tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp thì lợi nhuận từhoạt động tín dụng sẽ cao hơn khi cùng một mức dư nợ so với các NH khác.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
Như ta đã biết, chất lượng tín dụng là chỉ tiêu để đánh giá tình hình hoạtđộng tín dụng của một NH và có ý nghĩa lớn đến sự tồn tại và phát triển của NH.Chất lượng tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của kháchhàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của NH Để có thể thực hiện được mục tiêu hoạt độngcủa mình là tìm kiếm lợi nhuận dựa trên chức năng nhiệm vụ của NH, cụ thể ởđây là hoạt động tín dụng, mỗi NH phải làm sao để nâng cao được chất lượng tíndụng Để thực hiện được điều này ta cần nghiên cứu tác động của các nhân tốảnh hưởng tới hoạt động tín dụng, đó là 3 nhóm nhân tố sau đây:
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Đối với NHTM: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạntín dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân NH và đảm bảo được tínhcạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi
Bao gồm các nhân tố như: Chính sách tín dụng, công tác tổ chức, chấtlượng cán bộ, quy mô vốn của NH, thông tin tín dụng, quy trình nghiệp vụ tíndụng
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là một hệ thống biện pháp có liên quan đến việckhuyếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã hoạchđịnh của NHTM đó
Do đó, việc hoạch định chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sựthành công hay thất bại của mỗi NH Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thuhút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụngdựa trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ chấp hành đúng luật pháp và đường lối
Trang 25của NH nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội Bất kỳ một NH nào muốn nângcao hiệu quả hoạt động của mình thì phải có chính sách tín dụng phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của NH.
Hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường chứa đựng nhiều rủi ro.Khi NH gặp những rủi ro thì có thể đi đến phá sản hoặc bị thiệt hại lớn, mất uytín với khách hàng và cơ quan quản lý Nhà nước Vì vậy khi hoạch định chínhsách tín dụng, các nhà hoạch định luôn coi trọng việc đảm bảo mục tiêu phải đạtđược, nên ta có thể nói rằng: Chất lượng tín dụng của một NH có tốt hay khôngcòn phụ thuộc vào việc xây dựng một chính sách tín dụng NH có đúng đắn, phùhợp không
* Công tác tổ chức NH
Để tạo điều kiện cho việc quản lý có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng thìcần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, có sự thống nhất đoàn kết từtrên xuống, từ ban lãnh đạo đến cán bộ công nhân viên Điều đó có ý nghĩa làcông tác tổ chức NH được thực hiện tốt chính là cơ sở tiến hành các nghiệp vụtín dụng lành mạnh Hơn nữa thực hiện tốt công tác này, NH đã làm cho guồngmáy của mình hoạt động một cách uyển chuyển linh hoạt Chính vì vậy, trongquá trình hoạt động NH nên luôn chú trọng công tác này để ngày càng pháttriển và hoàn thiện hơn
* Thông tin tín dụng
Cho vay không phải là một vấn đề đơn giản Trên thực tế không phải DNnào cũng sử dụng vốn vay có hiệu quả và đúng mục đích Đó là chưa nói tớinhững kẻ mạo danh, mạo nhận là DN để cho vay trái phép, chiếm dụng vốn bấthợp pháp, gây rủi ro và tổn thất cho NH Vì vậy, hoạt động tín dụng muốn đạthiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho côngtác này Nắm bắt kịp thời và chính xác luồng thông tin là điều kiện để xem xét,phân tích, nhằm tìm ra cơ hội tốt nhất trong kinh doanh cũng như đề phòng nhữngrủi ro có thể xẩy ra trong các hoạt động của NH
Trang 26* Chất lượng đào tạo cán bộ NH
Chất lượng cán bộ là "cơ sở vật chất" để thực hiện những kế hoạch kinhdoanh trong cơ chế thị trường thường xuyên thay đổi và có nhiều biến động nhưhiện nay Do vậy trong quá trình tuyển chọn cán bộ NH cần phải ưu đãi nhữngngười có tư cách đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, năng động sáng tạo.Trong quá trình hoạt động thường xuyên tiến hành đào tạo và đào tạo lại cán bộ
để nâng cao chất lượng cán bộ, đảm bảo quá trình thực thi nhiệm vụ được nhanhchóng, chính xác, linh hoạt trong xử lý những sai sót có thể xẩy ra
Một NH có đội ngũ cán bộ được đào tạo với chất lượng, trình độ chuyênmôn giỏi thì việc quản lý thực hiện các nghiệp vụ tín dụng NH nói riêng và cácnghiệp vụ NH nói chung sẽ trở nên quy củ, có hệ thống và đạt hiệu quả cao hơn.Ngoài ra, nó còn giúp cho NH tránh được các rủi ro có thể xẩy ra
* Những vấn đề thuộc về kiểm tra, thanh tra, kiểm soát
Mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, tăng cường cho vay mà không tínhđến rủi ro, bất chắc có thể xẩy ra thì sẽ dễ dàng dẫn đến sự sụp đổ giải thể củamỗi NH
Một trong những hoạt động có mục đích cho NH tránh được những rủi
ro đó là công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát Công tác này không chỉ đượcthực hiện đối với khách hàng (như kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay)
mà còn được thực hiện đối với bản thân NH (như quy trình thực hiện cho vay,quá trình quản lý vốn vay, loại trừ cán bộ mất phẩm chất có hiện tượng tham
ô, tham nhũng gây thất thoát tài sản làm mất uy tín của NH đối với kháchhàng
Nâng cao chất lượng tín dụng cũng đồng thời là NH phải kịp phát hiện vàngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng đến hoạt động của
NH Muốn vậy, việc đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực trình độ và trách nhiệmthực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát là một vấn đề mà không NHnào coi nhẹ
Trang 271.3.2 Nhân tố khách quan
Đối với khách hàng: do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là đểđầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng đượcđánh giá theo tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mứclãi suất và kỳ hạn hợp lý Thêm vào đó là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi, thu hútđược nhiều khách hàng nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tín dụng
Khách hàng vừa là đại diện cho bên cung ứng vốn tín dụng, vừa là đạidiện cho bên cầu vốn tín dụng Với tư cách là người cung ứng vốn tín dụng, họmong muốn nhận được từ NH một khoản lãi vay từ tiền gửi hay các dịch vụthanh toán tiện lợi, do đó sự tín nhiệm của NH đối với khách hàng sẽ tăng thêmtính ổn định của nguồn vốn huy động Với tư cách là người vay, họ mong muốnđược đáp ứng đầy đủ vốn phù hợp với yêu cầu kinh doanh có thời hạn vay và lãisuất hợp lý, thủ tục đơn giản nhanh chóng
* Yếu tố con người
Nhân tố con người: bao gồm đạo đức của khách hàng, mục tiêu kinhdoanh, nhiệm vụ, động cơ của người vay
Những thông tin sai trái về người vay là một dấu hiệu nguy hiểm ảnhhưởng đến chất lượng tín dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả của người vay
Một nhân tố khác không kém phần quan trọng là tính quyết tâm trongkinh doanh của khách hàng Một người vay có tính quyết tâm cao sẽ là một điềukiện giúp cho phương án kinh doanh có thể thắng lợi từ đó có nguồn trả nợ cho
NH đúng hạn và đầy đủ, chất lượng tín dụng của NH sẽ được đảm bảo và uy tíncủa NH được nâng cao
Năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng cũng là một dấu hiệu chokhả năng đảm bảo chất lượng tín dụng của NH Một nhà quản trị kinh doanh tốt
là một người quản lý tốt đồng tiền vào ra của DN, kiểm soát được các chi phí,nhận biết các cơ hội kiếm lời và đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác, từ
đó kiếm được lợi nhuận, có nguồn để trả nợ cho NH
Trang 28* Uy tín và khả năng tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng
NH sẽ chỉ đồng ý cho vay nếu khách hàng chứng tỏ được khả năng tàichính và khả năng trả nợ của mình đối với NH Ngân hàng không dám mạohiểm cho vay đối với khách hàng nào mà uy tín bị giảm sút, khả năng tài chínhđang có vấn đề Vì vậy tài sản đảm bảo là một đòi hỏi của NH để đáp ứng chonguồn trả nợ thứ hai bổ sung cho món vay Giá trị tài sản ảnh hưởng trực tiếpđến số tiền mà khách hàng được vay, vì NH căn cứ vào giá trị tài sản đảm bảo
để xác định số tiền cho vay tối đa chỉ được 70% giá trị tài sản đảm bảo (nếu nhưkhông có quy định khác)
* Tính khả thi của dự án vay vốn
Khi DA có khả thi thì các cán bộ sẽ dựa vào đó để quyết định cho vay,quy mô tín dụng sẽ được mở rộng Đây còn là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượngmón vay, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của NH
Mặt khác, nếu DN sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng vốn vayngắn hạn cho đầu tư sản xuất cố định hoặc kinh doanh bất động sản thì sẽ khôngthu hồi kịp vốn để hoàn trả đúng hạn, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng
1.3.3 Những nhân tố khác
* Môi trường kinh tế
Để NH có thể huy động được nhiều vốn mở rộng hoạt động tín dụng phục
vụ cho việc phát triển kinh tế thì cần có một nền kinh tế ổn định Một nền kinh
tế phát triển ổn định, sẽ giúp cho NH mở rộng quy mô hoạt động của mình, làmgiá cả luôn giữ ở mức ổn định, tránh được tình trạng lạm phát hoặc giảm phát
NH sẽ khó tránh khỏi rủi ro nếu nền kinh tế không ổn định, chu kỳ kinh tế
có tác động không nhỏ đến hoạt động cho vay của NH Trong thời kỳ nền kinh
tế thị trường bị suy thoái, sản xuất bị đình trệ, kinh doanh bị thu hẹp thì nhu cầuvốn tín dụng giảm và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện thì cũng khó có thể sửdụng có hiệu quả hay khó có thể trả nợ đúng hạn cho NH Ngược lại, thời kỳ
Trang 29nền kinh tế hưng thịnh SXKD được mở rộng dẫn đến nhu cầu về vốn tăng, từ đóchất lượng tín dụng được nâng lên, giảm bớt rủi ro tín dụng Như vậy, chu kỳkinh tế ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả của các khoản vốn tín dụng NH.
Ngoài ra, các chính sách và sự điều tiết của các cơ quan có thẩm quyền ởmỗi ngành, mỗi vùng đều có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
* Môi trường Xã hội - Chính trị
Khách hàng và NH thực hiện quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tín nhiệmgiữa hai bên Vì vậy sự tín nhiệm là cầu nối mỗi quan hệ giữa NH và kháchhàng Uy tín của NH trên thị trường ngày càng cao thì sẽ thu hút được lượngkhách hàng ngày càng đông Mối quan hệ xã hội thể hiện cụ thể giữa NH vàkhách hàng là nhân tố không kém phần quan trọng quyết định tới quy mô,phạm vi hoạt động của mỗi NH, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng
Nhân tố chính trị cũng có ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động tín dụng.Thật vậy, một quốc gia không có sự biến động về chính trị hay không xảy rachiến tranh là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi các nhà đầu
tư nước ngoài không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn chú trọng tới an toàncủa vốn đầu tư Tình hình kinh tế chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi choviệc phát triển kinh tế đất nước Riêng đối với NH, nó có ảnh hưởng tới việc huyđộng, cho vay và đầu tư vốn của NH Điều đó có ý nghĩa là nhân tố này ảnhhưởng tới chất lượng tín dụng
* Môi trường pháp lý
Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động NH nói chung
và chất lượng tín dụng nói riêng
Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được ở bất kỳ một nền kinh tế nào.Không có pháp luật hoặc các chính sách ban hành không phù hợp sẽ khiến chonền kinh tế gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, nếu hệ thống pháp luật ban hànhkhông đầy đủ, không đồng bộ, các văn bản dưới luật còn nhiều mâu thuẫn trong
Trang 30khi thực hiện và chưa thật phù hợp với các ban ngành, các đơn vị có liên quanđến hoạt động tín dụng thì có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Pháp luật sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt độngSXKD của các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành thuận tiện và đạt kếtquả cao Nó còn là cơ sở pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa các thành phầnkinh tế Các DN cũng như NH phải tuân thủ những quy định nghiêm chỉnh củapháp luật thì hiệu quả và lợi ích sẽ được đảm bảo Môi trường pháp luật nàyluôn được điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hơn để nó ngày càng phù hợp hơn với
sự phát triển chung của nền kinh tế, trong đó có hệ thống NH
* Các nhân tố khác
Ngoài những nhân tố nêu trên, hiệu quả của công tác cho vay của NH cònchịu ảnh hưởng nhiều của nhân tố chủ quan, khách quan khác như: Thái độ phục
vụ khách hàng, đạo đức xã hội, trang thiết bị phục vụ hoạt động hay những yếu
tố môi trường như thời tiết, bệnh dịch , và các biện pháp trong bảo vệ môitrường sinh thái
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PTNT HUYỆN Vị XUYÊN
2.1 Khái quát về Ngân hàng No & PTNT Huyện Vị Xuyên
2.1.1 Lịch sử hình thành
Trang 31Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ( NNo&PTNT) Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang là Chi nhánh cấp II của Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 340/QĐ-NHNQ-02 ngày 19 tháng 06 năm 1998.
một Ngân hàng thương mại theo Luật các tổ chức tín dụng.
Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Chi nhánh là cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng với 3 nghiệp vụ là:
Nhận tiền gửi
Cấp tín dụng
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Dựa trên Hệ thống IPCAS (Interbank Payment and Customer Accounting System) - Hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng, hiện đại với độ chính xác và an toàn cao.
Biểu 1 Qui mô của Chi nhánh
( Số liệu tính đến ngày 31/12/2010)
Trang 32Chi nhánh ngân hàng NNo&PTNT H.Vị Xuyên – Hà Giang hoạt động chủ yếu trên địa bàn Huyện, bao gồm: 2 thị trấn và 22 xã Gồm 01 Hội sở tại Thị trấn Vị Xuyên và 01 Phòng Giao Dịch (PDG) Bắc Vị Xuyên đặt tại Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang
(a) Mô tả cơ cấu tổ chức
Phòng Kế toán Ngân Quỹ
Trang 33Mô tả chức năng, nhiệm vụ của 3 bộ phận: Phòng kế toán, phòng tín dụng và phòng giao dịch Bắc Vị Xuyên:
Phòng kế toán - ngân quỹ:
Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc
Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến khách hàng như: mở tài khoản thanh toán, mở tài khoản tiết kiệm, chuyển tiền, thẻ ATM, trả lương qua tài khoản Phụ trách các hoạt động ngân quỹ.
Phòng tín dụng - kinh doanh:
Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của phó giám đốc
Thực hiện các nghiệp vụ cấp tín dụng chủ yếu là cho vay và bảo lãnh.
Theo dõi món vay và thu nợ
Phòng giao dịch Bắc Vị Xuyên:
Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc
Thực hiện các nghiệp vụ như ở tại chi nhánh PGD Bắc Vị Xuyên chủ yếu thực hiện các giao dịch với các xã ở phía bắc huyện Vị Xuyên và địa bàn thành phố Hà Giang do có vị trí rất thuận lợi đặt tại Phường Nguyễn Trãi, Tp Hà Giang.
Giám đốc PGD được giám đốc chi nhánh ủy quyền phê duyệt các món vay từ 800 triệu đồng trở xuống.
Ba bộ phận này có liên quan chặt chẽ với nhau, bộ phận này trợ giúp cho bộ phận kia.
Ví dụ: Cần giải ngân cho một món vay 700 triệu đồng bằng tiền mặt, khách hàng
có yêu cầu thêm sau khi nhận được tiền vay thì chuyển khoản 500 triệu cho một tài khoản khác Sau khi giao dịch viên tín dụng hoàn tất các thủ tục để giải ngân, khách hàng cầm giấy lĩnh tiền tại quầy chi của phòng kế toán-ngân quỹ Sau khi đã lĩnh được tiền khách hàng đến quầy giao dịch với giao dịch viên kế toán để thực hiện việc chuyển khoản 500 triệu.
Từ sơ đồ1 và phần giải thích về chức năng, nhiệm vụ, quan hệ giữa các bộ phận với nhau em nhận thấy rằng đây là mô hình quản trị trực tuyến.
Với đặc thù Chi nhánh có ít phòng ban (2 phòng chức năng Kế toán và Tín dụng) Quy mô Ngân hàng không lớn ( 31 cán bộ , nguồn vốn năm 2010 là 106.586 triệu đồng).
Mô hình quản trị này hiện đang phù hợp với tình hình thực tế và đem lại những hiệu quả nhất định.
Trang 34Mô tả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cá nhân GĐ, phó GĐ, từng phòng chức năng
Giám đốc _Chịu trách nhiệm chung toàn chi nhánh
_Trực tiếp chỉ đạo phòng kế toán-ngân quỹ _Có quyền cao nhấttại Chi nhánh, điều
hành công việc chung của Chi nhánh
Phó Giám
Đốc _chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc _ Trực tiếp chỉ đạo phòng tín dụng kinh doanh
Hội sở và hoạt động kinh doanh chung tại phòng giao dịch
Trang 35Trưởng
phòng
Tín dụng-
Kinh doanh
01 Trường phòng là UER kiểm soát các UER các
gíao dịch viên tín dụng, phụ trách chung công tác tín dụng và kinh doanh bộ phận tín dụng hội sở và theo dõi khoán và quyết toán khoán đối phòng
tham mưu cho Ban Giám đốc.
kiểm soát các gíao dịch viên tín dụng phụ trách chung công tác tín dụng và kinh doanh bộ phận tín dụng hội sở theo dõi khoán và quyết toán khoán đối phòng
03 CBTD phụ trách công tác cho vay thu nợ tại các địa bàn.
02 giao dịch viên trực tĩnh trực tiếp trên máy làm công tác cho vay thu nợ.
Giám đốc Quản lý chung về hoạt động của Phòng Giao Dịch
Báo cáo trực tiếp về kết quả kinh doanh với Giám đốc Ngân Hàng
Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của GĐ Ngân Hàng
Tham mưu cho Ban Giám Đốc
Có quyền cao nhất tại Phòng Giao Dịch, điều hành công việc chung tại PGD
Phó Giám
đốc
Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám Đốc PGD
Trang 36Tổ Kế
toán-Ngân quỹ
Thực hiện nghiệp vụ kế toán ngân hàng và hạch toán tiền gửi, tiền vay, thanh toán chuyển tiền cho khách hàng Thực hiện công tác huy động vốn và thu chi tiền mặt…
Phân tích hiệu quả vốn đầu
tư, phân tích hoạt động tín dụng, phân loại nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và biện pháp giải quyết
Trang 37Bảng 1: Đánh giá hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh NHNo Vị Xuyên qua 3 năm (từ 2010 đến 2010)
Trang 38Qua bảng 1 đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu chủ yếu với thời gian 3 năm từ 2010 đến 2010 có thể thấy:
Trong vòng 3 năm các chỉ tiêu nguồn vốn, dư nợ cho vay, lợi nhuận hầu hết đều tăng; đạt chỉ tiêu kế hoạch Tỉnh giao chỉ trừ năm 2010.
Năm 2010 nguồn vốn huy động thấp (58.572 triệu đồng, dư nợ cho vay chỉ đạt 93.233 triệu đồng,, lợi nhuân chỉ đạt 252 triệu đồng là do thực hiện chỉ đạo của thủ tướng Chính phủ về việc kìm chế lạm phát Cuối quý II và trong quý III năm 2010 NHNN, NH NNo&PTNT Việt Nam chỉ đạo về việc huy động tiền gửi với lãi suất cao, trả phí điều hòa vốn sử dụng vốn Trung ương cao đối với đơn vị thiếu nguồn.
NH NNo&PTNT huyện Vị Xuyên là đơn vị thường xuyên thiếu vốn phải sử dụng vốn Trung ương trả phí cao nên buộc phải điều chỉnh lãi suất tiền vay đối với các món vay trước để đảm bảo hoạt động kinh doanh của đơn vị Quá trình thực hiện điều chỉnh lãi suất gặp nhiều khó khăn, phải đầu tư mất rất nhiều thời gian.Từ những nguyên nhân trên tác động đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong năm 2010 gặp nhiều khó khăn.
Trên đây là những đánh giá hiệu quả kinh doanh của chi nhánh dựa trên số liệu qua 3 năm được so sánh theo thời gian và theo kế hoạch Để có sự đánh giá khách quan hơn về hiệu quả kinh doanh của chi nhánh Vị Xuyên ta sẽ sử dụng một số chỉ tiêu để so sánh với các chi nhánh cùng cấp khác trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Trang 39Biểu đồ 1 : Nguồn vốn huy động và dư nợ nội bảng của Ngân hàng NNo&PTNT Tỉnh Hà Giang (tính đến thời điểm
31/12/2010)
Đơn vị: Triệu đồng
Nguồn: Báo cáo Tổng vốn huy động bình quân năm 2010 và báo cáo Tổng dư nợ nội bảng bình quân năm 2010 – NH
NNo&PTNT Tỉnh Hà Giang
Trang 40Qua biểu đồ 1 ta thấy rằng so với các Chi nhánh cùng cấp khác cùng trực thuộc NHNo&PTNT Tỉnh Hà Giang thì Chi nhánh
Vị Xuyên không phải là Chi nhánh có nguồn vốn và dư nợ lớn nhất Theo như biểu đồ Hội sở NH Tỉnh Hà Giang có lượng vốn huy động và dư nợ cho vay lớn nhất với nguồn vốn huy động đạt 538.845 triệu đồng, dư nợ đạt 660.488 triệu đồng Đây là điều dễ hiểu
vì Hội sở NH Tỉnh là Chi nhánh cấp I có quy mô lớn nhất Tỉnh và nằm ở khu vực Thành phố Hà Giang, nơi tập trung nhiều dân cư, kinh tế phát triển mạnh nhất tỉnh Xét các Chi nhánh cấp II còn lại là Chi nhánh cùng cấp với Chi nhánh Vị Xuyên, vì mỗi Chi
nhánh đặt tại những huyện khác nhau, mỗi huyện lại có quy mô dân số khác nhau nên ta tính thêm chỉ tiêu nguồn vốn huy
động/người và dư nợ cho vay/người ở mỗi huyện.
Bảng 2: Nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay tính trên đầu người
Đơn vị: Triệu đồng.
CN Quang Bình CN Đồng Văn CN Mèo Vạc CN Yên Minh CN Quản Bạ CN Vị Xuyên CN Xín Mần CN H Su Phì CN Bắc Quang CN Bắc Mê Nguồn vốn 38,762 70,783 66,780 56,327 68,666 106,549 49,883 75,853 166,580 55,396
Dư nợ 80,880 39,431 39,984 47,710 41,914 152,455 32,107 32,436 380,621 38,229 Dân số 56,301 62,138 65,571 73,815 43,234 96,344 54,575 58,037 108,704 43,736 Nguồn vốn/người 0.69 1.14 1.02 0.76 1.59 1.11 0.91 1.31 1.53 1.27
Dư nợ/người 1.44 0.63 0.61 0.65 0.97 1.58 0.59 0.56 3.50 0.87
(Dân số được thống kê đến ngày 1/4/2009 theo số liệu của Tổng cục thống kê)