tài liệu về chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm hình sự là một trong những chế định cơ bản, trung tâm
và quan trọng nhất của luật hình sự Việt Nam Tính chất và mức độ thể hiệncủa các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam nh pháp chế, nhân
đạo, dân chủ xã hội chủ nghĩa phụ thuộc chủ yếu vào việc giải quyết vấn
đề trách nhiệm hình sự
Bộ luật hình sự năm 1999, kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự năm
1985, là bớc phát triển mới trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sựtrong luật hình sự nớc ta Nhiều quy phạm của chế định trách nhiệm hình sự
đã đợc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơquan áp dụng pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả Tuynhiên, một số quy phạm của chế định trách nhiệm hình sự trong Bộ luậthình sự hiện hành, ở các mức độ khác nhau, vẫn bộc lộ những hạn chế,thiếu sót nhất định Mặt khác, công tác giải thích, hớng dẫn áp dụng phápluật hình sự trong thời gian qua cha đợc quan tâm đúng mức nên một sốquy phạm pháp luật hình sự, trong đó có các quy phạm của chế định tráchnhiệm hình sự, còn có những nhận thức không thống nhất, gây khó khăncho việc áp dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn
Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đềliên quan đến chế định trách nhiệm hình sự của các tác giả trong và ngoàinớc Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều nội dung của chế định trách nhiệm hình
sự còn có những nhận thức khác nhau Mặt khác, cùng với sự phát triển trêncác lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của đất nớc, nhiều vấn đề của luậthình sự, trong đó có vấn đề trách nhiệm hình sự, cũng luôn vận động vàphát triển đòi hỏi phải đợc tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
Trang 2Trớc tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn
đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định trách nhiệm hình sự, trên cơ
sở đó đa ra những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện hành
và giải quyết những vớng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự làviệc làm cần thiết, không những có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận, màcòn có ý nghĩa cả về thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở nớc ta
Tất cả những điều trên đây là lý do luận chứng để chúng tôi lựa
chọn vấn đề "Chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam"
làm đề tài nghiên cứu khoa học cho luận án tiến sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm hình sự là một trong những vấn đề cơ bản, phong phú
và phức tạp của luật hình sự nên từ trớc đến nay luôn đợc các nhà luật hình
sự trên thế giới và trong nớc quan tâm
ở Liên Xô trớc đây đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
vấn đề trách nhiệm hình sự, điển hình là các công trình: "Trách nhiệm hình
sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Xô viết" (1963) của
Brainhin Ia M; "Nhân thân ngời phạm tội và trách nhiệm hình sự" (1968) của Lêikina N X; "Trách nhiệm hình sự và cấu thành tội phạm" (1974) của Karpusin M P., Kurlianđxki V I; "Trách nhiệm hình sự và hình phạt" (1976) của Bagri-Sakhmatôv L V; "Những vấn đề lý luận của trách nhiệm
hình sự" (1982) của Xantalôv A I v.v
ở nớc ta, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nộidung liên quan đến chế định trách nhiệm hình sự Đáng chú ý là nhữngcông trình sau:
- Hoàn thiện các quy phạm về trách nhiệm hình sự - yếu tố cơ bản
và quan trọng nhất trong việc bảo vệ con ngời bằng pháp luật hình sự (Tạp
chí Tòa án nhân dân, các số 2, 3, 4/1990); Chế định trách nhiệm hình sự
trong Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4/2000);
Trang 3Trách nhiệm hình sự của pháp nhân: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
(Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2000); Những vấn đề lý luận cơ bản về
trách nhiệm hình sự, Chuyên khảo thứ hai (trong sách Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự, Tập III, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2000) của TSKH Lê Cảm
- Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1991; Một số hình thức đặc biệt của tội phạm (trong sách Tội phạm
học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1994); Cấu thành tội phạm - lý luận và thực tiễn, Nxb T pháp, Hà
Nội, 2004 của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa
- Hoàn thiện chế định cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật học, số 6/1996); Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật học, số 5/1997); Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị
phạm tội và phạm tội cha đạt (Tạp chí Luật học, số 4/2002) của TS Lê Thị
Sơn
- Trách nhiệm hình sự và hình phạt của tập thể tác giả do PGS.TS
Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001
- Trách nhiệm hình sự và hình phạt của TS Trơng Quang Vinh (trong sách Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trờng Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000)
- Trách nhiệm hình sự của PGS.TS Trần Văn Độ (trong sách Giáo
trình luật hình sự Việt Nam Phần chung, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001)
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đa ra bàn luận và giảiquyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự đặt ra Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các công trình này cũng chothấy, chế định trách nhiệm hình sự mặc dù là một trong những chế định cơbản, quan trọng nhất của luật hình sự nhng cũng là một trong những chế
Trang 4định còn nhiều nội dung cha đạt đến sự đồng thuận và gây tranh luận sôinổi nhất trong giới khoa học luật hình sự từ trớc đến nay.
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận
sự một số nớc, làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định trách nhiệm hình
sự theo luật hình sự Việt Nam
Về mặt thực tiễn:
Nghiên cứu việc áp dụng các quy phạm pháp luật của chế định tráchnhiệm hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nớc ta Trên cơ sởphân tích những thiếu sót, khuyết điểm và những vớng mắc của việc ápdụng pháp luật hình sự liên quan đến chế định trách nhiệm hình sự, đề xuất
Trang 5những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức và áp dụng phápluật đợc thống nhất.
* Đối tợng nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sựViệt Nam Cụ thể là nghiên cứu các vấn đề nh: Khái niệm trách nhiệm hìnhsự; mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự với miễn trách nhiệm hình sự; cơ
sở của trách nhiệm hình sự; trách nhiệm hình sự trong một số trờng hợp đặcbiệt nh: trách nhiệm hình sự của ngời phạm tội trong trong tình trạng say;trách nhiệm hình sự của ngời chuẩn bị phạm tội, phạm tội cha đạt; tráchnhiệm hình sự trong đồng phạm; trách nhiệm hình sự của ngời cha thànhniên phạm tội
Chế định trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều vấn đề khác củaluật hình sự và luật tố tụng hình sự nh hình phạt, quyết định hình phạt, cácgiai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm, miễn trách nhiệm hình sự, miễnhình phạt, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cỡng chế hình sựkhác Việc đề cập đến các vấn đề trên của luật hình sự và luật tố tụng hình
sự cũng chỉ nhằm giải quyết một cách có hệ thống và làm rõ hơn chế địnhtrách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sựViệt Nam dới góc độ của luật hình sự Đồng thời, cũng đề cập đến một sốquy phạm của luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết nhiệm vụ và đối tợngnghiên cứu
4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t ởng Hồ Chí Minh, đờng lối, chính sách của Đảng về Nhà nớc, pháp luật, về tộiphạm, hình phạt; những thành tựu của các khoa học triết học, lịch sử các học
Trang 6t-thuyết chính trị và pháp lý, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, lôgíc học Luận
án đợc trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự, tốtụng hình sự; các văn bản hớng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan nhànớc có thẩm quyền; các văn bản pháp lý khác; những luận điểm khoa họctrong các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nớc
Trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, luận án đặc biệt chú trọng các phơng pháp nghiên cứu
nh phơng pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổng hợp để chọnlọc kinh nghiệm thực tiễn, tri thức khoa học trong và ngoài nớc
5 Những đóng góp mới của luận án
Đây là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên trong khoa học luật hình sự đềcập đến việc nghiên cứu một cách có hệ thống chế định trách nhiệm hình sựtheo luật hình sự Việt Nam Luận án đã có một số đóng góp sau đây:
- Phân tích một cách có hệ thống và cố gắng làm rõ những vấn đề cơbản của chế định trách nhiệm hình sự nh: Khái niệm trách nhiệm hình sự;mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự; cơ sởcủa trách nhiệm hình sự; trách nhiệm hình sự trong một số trờng hợp đặcbiệt nh: trách nhiệm hình sự của ngời phạm tội trong tình trạng say; tráchnhiệm hình sự của ngời chuẩn bị phạm tội, phạm tội cha đạt; trách nhiệmhình sự trong đồng phạm; trách nhiệm hình sự của ngời cha thành niênphạm tội theo luật hình sự Việt Nam Với việc phân tích, lý giải và rút ramột số kết luận khoa học, luận án góp phần xác định cơ sở khoa học choviệc nhận thức chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam đ-
ợc thống nhất, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranhphòng, chống tội phạm ở nớc ta
- Luận án nghiên cứu khái quát việc áp dụng chế định trách nhiệmhình sự trong hoạt động thực tiễn ở nớc ta, phân tích một số điểm cha phùhợp của Bộ luật hình sự và một số vớng mắc trong quá trình áp dụng pháp
Trang 7luật hình sự liên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự, qua
đó góp phần đánh giá đúng thực trạng tình hình áp dụng pháp luật hình sựliên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự ở nớc ta trong thờigian qua Luận án cũng đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần giảithích, hớng dẫn áp pháp luật hình sự đợc thống nhất, đồng thời nêu ra kiếnnghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự hiện hành liên quan
đến chế định trách nhiệm hình sự nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầucủa thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa lý luận và thựctiễn quan trọng sau:
Ngoài ra, luận án có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trongviệc nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyênngành luật ở nớc ta
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm có 3 chơng, 8 mục
Trang 8Chơng 1
Khái niệm trách nhiệm hình sự và mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự với miễn trách nhiệm hình sự
1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trong sách báo cũng nh thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ "trách
nhiệm" thờng đợc hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ,
bổn phận của một ngời trớc ngời khác, trớc xã hội hoặc Nhà nớc Ví dụ,trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trờng sống; trách nhiệm
của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái v.v Thứ hai, trách nhiệm
là hậu quả bất lợi mà một ngời phải gánh chịu trớc ngời khác, trớc xã hộihoặc Nhà nớc do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó
Trách nhiệm pháp lý, trong đó có trách nhiệm hình sự, đợc dùngtheo nghĩa thứ hai Tuy nhiên, cho đến nay, xung quanh khái niệm trách
nhiệm hình sự vẫn còn những quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là một loại quan hệ pháp
luật giữa Nhà nớc và ngời phạm tội Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ phảichịu các biện pháp cỡng chế nhà nớc của ngời phạm tội do việc ngời đóthực hiện tội phạm Thời điểm ngời phạm tội thực hiện tội phạm là thời
điểm bắt đầu trách nhiệm hình sự [55, tr 73], [66, tr 32], [67, tr 31-32]
Quan điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm
pháp lý, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Nhà nớc và ngời phạm tội,
đợc thể hiện ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luậthình sự quy định, áp dụng đối với ngời thực hiện tội phạm, bao gồm hìnhphạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không
Trang 9phải hình phạt và đợc bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớimột ngời [27, tr 8], [79, tr 335; 348].
Quan điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài
pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với ngời phạm tội [49, tr 59], [75, tr 61]
Quan điểm thứ t: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc
phạm tội, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và đợcthể hiện trớc hết ở việc kết án của Tòa án, nhân danh Nhà nớc, đối với ngờiphạm tội [13, tr 124], [20, tr 91], [32, tr.14], [62, tr 39-40], [81, tr 24]
Về vấn đề án tích có thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự không,trong khoa học luật hình sự cũng có hai quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất: án tích không phải là sự thể hiện nội dung của
trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự kết thúc từ thời điểm một ngời đãchấp hành xong hình phạt hoặc đợc miễn chấp hành hình phạt [20, tr 89], [53,
tr 166], [60, tr 92], [65, tr 124], [69, tr 9], [71, tr 44], [74, tr 12]
Quan điểm thứ hai: án tích là một trong những hình thức thể hiện
trách nhiệm hình sự Thời điểm một ngời đợc xóa án tích là thời điểm kếtthúc của trách nhiệm hình sự [13, tr 128], [26, tr 126], [55, tr 61-62],
[80, tr 30], [88, tr.155], [90, tr 35-38]
Trớc hết, về quan điểm coi trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ phảichịu các biện pháp cỡng chế nhà nớc của ngời phạm tội do việc ngời đó thựchiện tội phạm và bắt đầu từ thời điểm ngời phạm tội thực hiện tội phạm
Về bản chất, nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm pháp lý là khác nhau.Khi đề cập đến nghĩa vụ pháp lý của một ngời là đề cập đến khả năng ngời
đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý, còn khi nói đến trách nhiệm pháp
lý của một ngời chính là nói đến việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của ngời
Trang 10đó trái với ý chí của họ Trách nhiệm hình sự, với tính cách là một dạng củatrách nhiệm pháp lý, không phải là nghĩa vụ mà một ngời có thể phải chịuhậu quả pháp lý bất lợi do việc ngời đó thực hiện tội phạm mà chính là việcphải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của ngời phạm tội trớc Nhà nớc trong tìnhtrạng bị cỡng chế do việc ngời đó đã thực hiện tội phạm Đúng nh Bratux X.
N đã viết:
Trách nhiệm - đó không phải là nghĩa vụ phải chịu nhữnghậu quả phát sinh từ sự vi phạm pháp luật mà chính là hậu quảcủa nó trong tình trạng bị cỡng chế Trách nhiệm - đó là nghĩa
vụ đã đợc thực hiện bằng cỡng chế Nghĩa vụ thì có thể đợc thựchiện hoặc không đợc thực hiện, nhng khi đã bắt đầu trách nhiệm,nghĩa là khi bộ máy cỡng chế đã đi vào hoạt động thì ngời cótrách nhiệm không đợc lựa chọn Ngời đó không thể không thựchiện hành vi tạo thành nội dung của nghĩa vụ phải thực hiện [57,
tr 103]
Thời điểm ngời phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầuphát sinh mối quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nớc và ngời phạm tội Từkhi đó, Nhà nớc có quyền áp dụng các biện pháp cỡng chế cần thiết, cóquyền buộc ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự Ngời phạm tội cónghĩa vụ phải chịu các biện pháp cỡng chế, chịu trách nhiệm hình sự doNhà nớc áp dụng Nhng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự của ngờiphạm tội sẽ không đợc thực hiện trên thực tế nếu tội phạm không bị pháthiện, tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc ngời phạmtội đợc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự
Ngời phạm tội có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và có thể đợcmiễn trách nhiệm hình sự Giống với ngời phải chịu trách nhiệm hình sự,ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự là ngời đã thực hiện tội phạm, nghĩa là
Trang 11đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm đợcluật hình sự quy định Từ thời điểm thực hiện tội phạm, ngời phạm tội cónghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm hình sự, nhng vì cónhững căn cứ để đợc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình
sự, ngời đó lại đợc miễn trách nhiệm hình sự Đối với ngời đợc miễn tráchnhiệm hình sự, nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi đã không trở thành hậuquả bất lợi thực tế mà ngời đó phải chịu
Nh vậy, trách nhiệm hình sự chỉ có thể áp dụng đối với ngời phạm tộinhng không có nghĩa ngời phạm tội nào cũng đều phải chịu trách nhiệmhình sự Trong nhiều trờng hợp, theo quy định của pháp luật hình sự, ngờiphạm tội không bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự Do vậy, không thể
đồng nhất nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hình sự
mà một ngời phải chịu trên thực tế do việc thực hiện tội phạm
Về quan điểm cho rằng, trách nhiệm hình sự bao gồm các biện pháptác động có tính chất pháp lý hình sự, bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệmhình sự
Theo chúng tôi, quan điểm này cũng cần đợc xem xét lại vì chứa
đựng những mâu thuẫn khó giải quyết Đúng là từ thời điểm khởi tố bị can,nghĩa là thời điểm bắt đầu của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đốivới một ngời, các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền đã có thể áp dụng cácbiện pháp cỡng chế đối với ngời phạm tội (thậm chí có những biện pháp c-ỡng chế còn đợc áp dụng đối với một ngời trớc khi ngời đó có thể bị khởi tố
bị can Ví dụ, biện pháp bắt ngời trong trờng hợp khẩn cấp, bắt ngời phạmtội quả tang, tạm giữ) Tuy nhiên, các biện pháp cỡng chế mà các cơ quan
có thẩm quyền áp dụng đối với một ngời trớc khi ngời đó có thể bị Tòa ánkết án bằng bản án kết tội không phải là sự thể hiện nội dung của tráchnhiệm hình sự nếu sau đó các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã
Trang 12ra các quyết định nh: quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án vìhành vi của bị can không cấu thành tội phạm; quyết định đình chỉ điều trahoặc đình chỉ vụ án vì có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị canhoặc Tòa án tuyên bố bị cáo vô tội hoặc tuyên bị cáo đợc miễn trách nhiệmhình sự tại phiên tòa
Nếu nh chấp nhận quan điểm cho rằng, trách nhiệm hình sự bắt đầu
từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một ngời, nghĩa là từ khi khởi tố
bị can, thì trong trờng hợp này, phải chăng trớc khi có bản án mà Tòa ántuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với một ngời, ngời đó đã phải chịu mộtphần trách nhiệm hình sự? Điều này khó có thể đợc coi là phù hợp Khi nói
đến miễn trách nhiệm hình sự là nói đến miễn toàn bộ hậu quả pháp lý thểhiện nội dung của trách nhiệm hình sự mà đáng ra ngời phạm tội phải chịutrớc Nhà nớc chứ không phải là miễn một phần trách nhiệm hình sự Mộtngời đã phải chịu trách nhiệm hình sự thì không thể nói đến miễn tráchnhiệm hình sự đối với ngời đó nữa Nếu ngời phạm tội đã phải chịu tráchnhiệm hình sự trớc khi có bản án của Tòa án, thì Tòa án sẽ không thể nhândanh Nhà nớc tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối ngời đó tại phiên tòa
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nớc ta, trớc khi bị kết tội,một ngời có thể đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biệnpháp ngăn chặn nh: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi c trú, bảo lĩnh,
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Những biện pháp này đợc ápdụng nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bịcan, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếptục phạm tội, cũng nh khi cần bảo đảm thi hành án Về bản chất, các biệnpháp ngăn chặn không phải là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự mà chỉ làcác biện pháp cỡng chế có tính chất tố tụng hình sự để ngăn chặn tội phạm,bảo đảm hiệu quả của việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm cho việcthực hiện trách nhiệm hình sự sau này (bảo đảm thi hành án) Mặc dù các
Trang 13biện pháp ngăn chặn chỉ có thể đợc áp dụng đối với ngời phạm tội, nhngchúng không phải là hậu quả tất yếu của việc phạm tội Việc các cơ quantiến hành tố tụng có áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với một ngời haykhông không phải là do đã xác định đợc ngời đó phạm tội hay không phạmtội mà là ở chỗ có căn cứ để chứng tỏ, nếu không áp dụng các biện phápngăn chặn thì ngời đó có thể sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét
xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội hoặc sau này việc thi hành án sẽ gặp khókhăn Một ngời đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể đợc miễntrách nhiệm hình sự nếu sau đó xác định đợc có căn cứ để miễn trách nhiệmhình sự đối với ngời đó Ngợc lại, một ngời có thể không bị áp dụng biệnpháp ngăn chặn nhng vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu sau đóTòa án tuyên bản án kết tội đối với ngời đó và bản án đó có hiệu lực phápluật Bản thân thuật ngữ "các biện pháp ngăn chặn" đã nói lên tính chấtphòng ngừa của các biện pháp này, đúng nh Enhikêev Z Đ đã viết: "Cácbiện pháp ngăn chặn là một phạm trù tố tụng thuần túy, có ý nghĩa phòngngừa" [61, tr 64]
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các biện pháp ngăn chặn màcác cơ quan nhà nớc có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với ngờiphạm tội trớc khi có bản án kết tội của Tòa án không có ảnh hởng gì đếntrách nhiệm hình sự mà ngời phạm tội phải chịu sau đó Một số biện phápngăn chặn áp dụng đối với ngời phạm tội cũng có thể chuyển thành bộ phậncấu thành của việc thực hiện trách nhiệm hình sự nếu ngời đã bị áp dụngcác biện pháp ngăn chặn sau đó đã bị Tòa án kết án bằng bản án kết tội cókèm theo việc quyết định một số loại hình phạt nhất định Theo Điều 31 Bộluật hình sự, nếu ngời bị kết án cải tạo không giam giữ đã bị tạm giữ, tạmgiam trớc khi chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì thời gian tạmgiữ, tạm giam đợc trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giamgiữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ
Trang 14Còn theo Điều 33 Bộ luật hình sự, nếu ngời bị kết án phạt tù có thời hạn đã
bị tạm giữ, tạm giam trớc khi chấp hành hình phạt tù thì thời gian tạm giữ,tạm giam đợc trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ,tạm giam bằng một ngày tù
Nh vậy, khi ngời phạm tội bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội cóhiệu lực pháp luật thì các biện pháp tạm giữ, tạm giam đã áp dụng đối vớingời phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đợcchuyển thành một bộ phận cấu thành của việc chấp hành hình phạt, nghĩa làchuyển thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự
Cũng giống các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp t pháp cũng cóthể đợc áp dụng đối với ngời phạm tội trớc khi có bản án kết tội của Tòa án
có hiệu lực pháp luật Nhng bản thân việc áp dụng các biện pháp t phápkhông phải bao giờ cũng thuộc nội dung của việc thực hiện trách nhiệmhình sự Ngời bị áp dụng biện pháp t pháp vẫn có thể đợc miễn trách nhiệmhình sự nếu có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luậthình sự Thậm chí, biện pháp t pháp có thể áp dụng cả đối với ngời không
có năng lực trách nhiệm hình sự Ví dụ, theo quy định tại khoản 1 Điều 13
Bộ luật hình sự, biện pháp t pháp bắt buộc chữa bệnh đợc áp dụng cả đốivới ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không cónăng lực trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 44 Bộ luậthình sự, nếu ngời phạm tội đã bị áp dụng biện pháp t pháp bắt buộc chữabệnh mà sau đó bị kết án phạt tù thì "thời gian bắt buộc chữa bệnh đợc trừvào thời hạn chấp hành hình phạt tù" Điều này chứng tỏ việc thực hiện biệnpháp bắt buộc chữa bệnh của ngời phạm tội trớc khi bị kết án, giống nhbiện pháp tạm giữ, tạm giam, cũng có thể đợc chuyển thành một bộ phậncủa việc thực hiện trách nhiệm hình sự
Trang 15Theo khoản 4 Điều 69 Bộ luật hình sự, khi xét xử, nếu thấy khôngcần thiết phải áp dụng hình phạt đối với ngời cha thành niên phạm tội thìTòa án áp dụng một trong các biện pháp t pháp là giáo dục tại xã, phờng,thị trấn hoặc đa vào trờng giáo dỡng Thực chất, đây là quy định về việcTòa án không áp dụng hình phạt mà áp dụng các biện pháp t pháp thay thếhình phạt đối với ngời cha thành niên phạm tội Trong trờng hợp này, ngờicha thành niên phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, vẫn phải chịu sựlên án của Nhà nớc mà Tòa án là ngời đại diện tuyên bản án kết tội tạiphiên tòa (chịu sự kết tội bằng bản án kết tội của Tòa án) và các biện pháp
t pháp do Tòa án áp dụng cũng tạo thành bộ phận cấu thành của việc thựchiện trách nhiệm hình sự đối với ngời cha thành niên phạm tội, mặc dù theoquy định tại khoản 2 Điều 77 Bộ luật hình sự, ngời cha thành niên phạm tội
bị áp dụng biện pháp t pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn hoặc đa vào ờng giáo dỡng thì không bị coi là có án tích
tr-Về quan điểm coi trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp
lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với ngời phạm tội
Quan điểm này thực chất đã thu hẹp nội dung của trách nhiệm hình
sự Nh chúng ta đã biết, trong số các biện pháp cỡng chế của Nhà nớc cótính chất pháp lý hình sự áp dụng đối với ngời phạm tội thì hình phạt là biệnpháp cỡng chế chủ yếu và nghiêm khắc nhất Tuy nhiên, trách nhiệm hình
sự và hình phạt là những khái niệm không đồng nhất Trách nhiệm hình sự
là một chế định pháp lý, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp đểthực hiện, để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự Trong Bộ luật hình sự nớc ta,thuật ngữ "trách nhiệm hình sự" và "hình phạt" cũng đã đợc phân biệt quamột số quy định cụ thể Điều 2 Bộ luật hình sự quy định: "Chỉ ngời nàophạm một tội đã đợc Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệmhình sự" Đoạn cuối Điều 26 Bộ luật hình sự quy định: "Hình phạt do Tòa
Trang 16án quyết định" Điều 25 Bộ luật hình sự quy định về "miễn trách nhiệmhình sự", Điều 54 Bộ luật hình sự quy định về "miễn hình phạt" Sự tồn tạicủa thuật ngữ "miễn hình phạt" cùng với thuật ngữ "miễn trách nhiệm hìnhsự" trong Bộ luật hình sự cũng đã phản ánh sự không đồng nhất của haikhái niệm trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự nớc ta
Khái niệm trách nhiệm hình sự là khái niệm rộng hơn khái niệmhình phạt Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội đợc ápdụng đối với ngời thực hiện hành vi phạm tội, còn hình phạt chỉ là mộttrong những biện pháp cỡng chế chủ yếu của trách nhiệm hình sự Tráchnhiệm hình sự, theo luật hình sự Việt Nam, đã đợc phân ra thành hai loại:loại có hình phạt và loại không có hình phạt (miễn hình phạt) Trong trờnghợp có hình phạt, trách nhiệm hình sự mà ngời phạm tội phải chịu trớc hếtthể hiện ở bản án kết tội kèm theo việc quyết định hình phạt của Tòa án đốivới ngời phạm tội Ngời phạm tội không chỉ bị kết tội, "bị coi là có tội" màcòn phải chịu hình phạt do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đó Trongtrờng hợp miễn hình phạt, trách nhiệm hình sự đợc thể hiện ở bản án kết tộicủa Tòa án mà không có quyết định hình phạt đối với ngời phạm tội Ngờiphạm tội bị Tòa án, nhân danh Nhà nớc, kết án vì đã thực hiện hành viphạm tội Với bản án kết tội có hiệu lực pháp luật, ngời phạm tội chính thức
"bị coi là có tội" nhng ngời đó không bị Tòa án quyết định hình phạt mà
đ-ợc miễn hình phạt
Vì những lẽ đó, không thể coi trách nhiệm hình sự là việc thực hiệnchế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với ngờiphạm tội
Theo quan điểm chúng tôi, để xác định khái niệm trách nhiệm hình
sự trớc hết phải làm rõ các đặc điểm vốn có của nó
Trang 17Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý chỉ có thể đợc
áp dụng đối với ngời thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa
là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đợcquy định trong luật hình sự Không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sựcoi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự
Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào
đó là tội phạm và buộc ngời thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình
sự, ngời áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiệnvới các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đợc quy định trong Bộ luật hình sự,chứ không đợc áp đặt theo ý thức chủ quan, bất chấp những quy định củapháp luật Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, ngời áp dụng pháp luậtxác định đợc hành vi của một ngời thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tộiphạm đợc Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tộiphạm và mới có thể buộc ngời thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hìnhsự
Theo luật hình sự nớc ta, Bộ luật hình sự là văn bản pháp lý duynhất quy định hành vi nào đó là tội phạm Nếu không đợc quy định trong
Bộ luật hình sự thì một hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu cũngkhông thể bị coi là tội phạm và ngời thực hiện hành vi không thể phải chịutrách nhiệm hình sự
Tội phạm là hành vi đợc quy định trong Bộ luật hình sự Điều này
có nghĩa là các dấu hiệu pháp lý của từng tội phạm cụ thể đợc quy định ở cảPhần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự Phần chung Bộ luậthình sự không chỉ quy định khái niệm tội phạm mà còn quy định các dấuhiệu có ý nghĩa xác định chung đối với mọi tội phạm nh: nội dung của lỗi
Trang 18cố ý và lỗi vô ý, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, vấn đề năng lực trách nhiệmhình sự, các dấu hiệu của chuẩn bị phạm tội, phạm tội cha đạt và tráchnhiệm hình sự của ngời chuẩn bị phạm tội và phạm tội cha đạt, các dấu hiệu
đồng phạm và các loại ngời đồng phạm, v.v Phần các tội phạm của Bộluật hình sự quy định về các cấu thành tội phạm cụ thể, trong đó xác địnhcác dấu hiệu pháp lý của từng tội phạm cũng nh loại và mức hình phạt ápdụng đối với ngời phạm tội đó
Theo luật hình sự Việt Nam, tội phạm là hành vi đợc quy địnhtrong Bộ luật hình sự Những vi phạm pháp luật không phải tội phạm, vềhình thức, cũng có thể có các dấu hiệu gần giống với tội phạm (cả về kháchthể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của hành vi vi phạm) Trongtrờng hợp này, yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định để phân biệt tộiphạm và các vi phạm khác lại là yếu tố tính nguy hiểm (tính chất và mức độnguy hiểm) cho xã hội của hành vi có đáng kể hay không Nếu hành vinguy hiểm cho xã hội đáng kể thì hành vi đó là tội phạm và ngời phạm tộiphải chịu trách nhiệm hình sự Còn nếu hành vi nguy hiểm cho xã hộikhông đáng kể thì hành vi đó chỉ là vi phạm pháp luật và ngời thực hiệnhành vi chỉ có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý khác ngoài trách nhiệmhình sự
Xác định hành vi thực hiện có tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể làyếu tố cần thiết, quan trọng để xác định tội phạm Trên cơ sở đó buộc ngờiphạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự Trong quá trình làm luật, nhà làmluật đã cố gắng đa ra những tiêu chí (dấu hiệu) cụ thể để xác định tính chất,mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể của nhiều loại tội phạm, giúp chocác cơ quan áp dụng pháp luật và ngời áp dụng pháp luật có cơ sở để đánhgiá, phân định giữa hành vi đến mức nào là nguy hiểm đáng kể cho xã hội
bị coi là tội phạm với hành vi nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, khôngphải tội phạm Tuy nhiên, khó có thể quy định đợc hết các tiêu chí đánh giá
Trang 19cụ thể về tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể trong tất cả các loại tội phạm.Trong những trờng hợp điều luật quy định về tội phạm cụ thể nào đó mànhững tiêu chí để đánh giá về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đókhông cụ thể thì đòi hỏi ngời áp dụng pháp luật trong quá trình xem xét mộthành vi nào đó để kết luận có phải tội phạm hay không phải đánh giá tổnghợp các tình tiết có liên quan.
Ví dụ, trong Điều 136 Bộ luật hình sự về tội cớp giật tài sản, nhàlàm luật không quy định những tiêu chí cụ thể làm ranh giới để phân biệttội cớp giật tài sản với hành vi cớp giật tài sản chỉ là vi phạm hành chính.Trong trờng hợp này, ngời áp dụng pháp luật phải xem xét tổng hợp cáctình tiết có liên quan để kết luận hành vi đó có nguy hiểm đáng kể cho xãhội hay không Nếu là nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì là tội phạm và nếukhông có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệmhình sự đối với ngời phạm tội Nếu hành vi đã thực hiện nguy hiểm cho xãhội không đáng kể thì không thể coi hành vi đó là hành vi phạm tội
Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đã xảy ra những trờng hợp donhận thức không đúng bản chất của hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luậthình sự coi là tội phạm nên các cơ quan áp dụng pháp luật đã đa ra truy tố,xét xử cả những hành vi không phải là tội phạm, trong đó có hiện tợng
"hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế" Ví dụ: Năm 1996, do cần vốn đểxây dựng lò sấy lúa, vợ chồng Nguyễn Thị Vân, Phùng Văn Hiệp đã giao12.000 m2 đất nông nghiệp cho ông Trơng Ngọc Niếu canh tác trong 1 năm
để mợn 5 lợng vàng 24K, khi hết hạn ông Niếu sẽ trả lại đất và nhận lạivàng Đến tháng 4/1997, hai bên gia hạn thêm 1 năm nữa Cũng trong thờigian này, Nguyễn Thị Vân đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 12.000m2
thế chấp cho ông Nguyễn Thành Khiêm để vay 45.000.000 đồng với lãisuất 6% một tháng Do sau một tháng vợ chồng Vân, Hiệp không trả đợc lãinên ông Khiêm làm giấy mua bán đất với vợ chồng Vân, Hiệp với giá
Trang 2054.000.000 đồng và hai bên thỏa thuận trong vòng 1 tháng vợ chồng Vân,Hiệp có quyền trả lại tiền vốn và lãi để nhận lại đất Sau hơn 1 tháng, vợchồng Vân, Hiệp không trả đợc tiền, ông Khiêm đến ủy ban nhân dân làmthủ tục chuyển quyền sử dụng đất thì vợ chồng Vân, Hiệp ngăn cản và camkết đến ngày 21/6/1977 sẽ trả cho ông Khiêm 63.300.000 đồng (trớc đó đãtrả 6.900.000 đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 243 ngày 16/12/1998, Tòa án nhândân tỉnh C áp dụng điểm c khoản 2 Điều 157, điểm h khoản 1 và khoản 3
Điều 38, khoản 1 Điều 44 Bộ luật hình sự năm 1985, xử phạt Nguyễn ThịVân 36 tháng tù, Phùng Văn Hiệp 24 tháng tù, cho hởng án treo, thời gianthử thách 3 năm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân, buộc hai bịcáo phải liên đới bồi thờng cho ông Khiêm 70.875.000 đồng
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 763 ngày 25/4/2000 Tòa phúcthẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã giảm hình phạtcho Nguyễn Thị Vân còn 18 tháng tù, giữ nguyên hình phạt đối với PhùngVăn Hiệp
Tại Quyết định số 59/UBTP-HS ngày 5/9/2002, ủy ban Thẩm phánTòa án nhân dân tối cao đã tuyên Nguyễn Thị Vân và Phùng Văn Hiệpkhông phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân với nhận định:Quan hệ giữa vợ chồng Vân, Hiệp với ông Niếu là quan hệ dân sự, hai bêncho nhau vay mợn tài sản, không phải bị cáo thế chấp đất để vay tiền ôngNiếu Vân, Hiệp có quyền dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thếchấp vay tiền ông Khiêm nên Vân, Hiệp không phạm tội lừa đảo (không cóhành vi lừa đảo ông Khiêm) Mặt khác, việc thế chấp đất để vay tiền của
ông Khiêm cha đầy đủ thủ tục pháp lý, chỉ là quan hệ dân sự (nguyên đơn
là ông Khiêm và bị đơn là vợ chồng Vân, Hiệp) Tòa án cấp sơ thẩm vàphúc thẩm kết án Nguyễn Thị Vân và Phùng Văn Hiệp phạm tội lừa đảochiếm đoạt tài sản của công dân là không đúng pháp luật
Trang 21Vụ án trên cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng đã không đánhgiá đúng bản chất của quan hệ giữa vợ chồng Vân, Hiệp với ông Niếu và
ông Khiêm chỉ là quan hệ dân sự Vân, Hiệp không có thủ đoạn gian dối đểchiếm đoạt tài sản của ông Khiêm Bởi vậy, ủy ban Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao tuyên Nguyễn Thị Vân và Phùng Văn Hiệp không phạmtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân là đúng
Ngời thực hiện hành vi chỉ có thể bị coi là tội phạm và phải chịutrách nhiệm hình sự nếu họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đã
đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự
Theo Điều 12 Bộ luật hình sự nớc ta, ngời từ đủ 16 tuổi trở lên phảichịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; ngời từ đủ 14 tuổi trở lên, nhngcha đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng
do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nớc ta đã có trờng hợp các cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mắc sai lầm, truy tố, xét xử cả ngờicha đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự Ví dụ: Ngày 7/6/2001, Cơ quanCông an bắt quả tang Chu Đức Hanh có hành vi mua bán trái phép chất matúy, thu giữ của Hanh các vật dụng có liên quan Tại Cơ quan điều tra,Hanh khai nhận do nghiện ma túy nên từ tháng 5/2001 đến khi bị bắt, thôngqua Đinh Trọng Quý, Hanh đã xuống Bắc Giang mua hêrôin của NguyễnThị Thu 5 lần, trong đó có 4 lần mua 200.000 đồng và 1 lần mua 300.000
đồng Sau khi mua về, Hanh chia nhỏ thành từng gói để sử dụng và bán chocác con nghiện khác tại khu vực bến xe Q, thị xã L Khi bị Công an bắt,Hanh vừa bán hết 8 gói hêrôin nhỏ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/HSST ngày 31/1/2002, Tòa ánnhân dân tỉnh L áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, Điều 41, điểm p khoản 1
Điều 46, Điều 68, 69 và 74 Bộ luật hình sự, xử phạt Chu Đức Hanh 5 năm
Trang 22tù về tội mua bán trái phép chất ma túy Ngày 56/2/2002 Chu Đức Hanhkháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 660 ngày 28/5/2002 Tòa phúc thẩmTòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tuyên Chu Đức Hanh không phạm tộimua bán trái phép chất ma túy với nhận định: Chu Đức Hanh sinh ngày4/8/1985, tính đến ngày Hanh phạm tội (ngày 7/6/2001) mới 15 tuổi 10 tháng
3 ngày Cơ quan Công an bắt quả tang Hanh bán ma túy cho con nghiện đãkhông thu đợc ma túy Trong quá trình điều tra Hanh khai nhận đã nhiềulần bán hêrôin cho các con nghiện với giá từ 40.000 đồng đến 80.000 đồng
1 gói Các con nghiện mua hêrôin của Hanh đều khai nhận nh trên, nhng Cơquan điều tra đã không xác định tổng trọng lợng hêrôin các lần Hanh báncho các con nghiện là bao nhiêu Do đó, chỉ đủ cơ sở kết luận hành vi muabán trái phép chất ma túy của Hanh thuộc trờng hợp đợc quy định tại khoản
1 Điều 194 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt cao nhất đến 7 năm tù (đây làtội phạm nghiêm trọng) Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự thì Chu
Đức Hanh không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại
điều khoản này vì khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túyHanh cha đủ 16 tuổi
Nh vậy, sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh L là ở chỗkhi Công an bắt quả tang Hanh mua bán trái phép chất ma túy, Hanh mới
có 15 tuổi 10 tháng 3 ngày, Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quantiến hành tố tụng tỉnh L đã không quan tâm làm rõ tổng trọng lợng mua bántrái phép chất ma túy của Hanh là bao nhiêu, có đến 5 gam hêrôin (mứckhởi điểm để truy tố theo điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự) không?Việc truy tố, xét xử Hanh theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự(tình tiết phạm tội nhiều lần) là không đúng quy định của pháp luật Bởivậy, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội tuyên bố Hanhkhông phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là đúng
Trang 23Một ngời chỉ có thể bị coi là ngời phạm tội và phải chịu trách nhiệmhình sự nếu khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do luật hình quy
định họ có năng lực trách nhiệm hình sự Theo luật hình sự Việt Nam, ngời
có năng lực trách nhiệm hình sự là ngời thực hiện hành vi khi đã đạt độ tuổichịu trách nhiệm hình sự (theo Điều 12 Bộ luật hình sự) và không ở trongtình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (theo Điều 13 Bộ luậthình sự)
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình
sự và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, có thể xác định:ngời có năng lực trách nhiệm hình sự là ngời thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội khi đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (theo Điều 12 Bộluật hình sự), có khả năng nhận thức đợc tính chất nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi của mình và có khả năng điều khiển đợc hành vi ấy
Điều đáng lu ý là khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự khi đề cập về kháiniệm tội phạm chỉ quy định tội phạm là hành vi "do ngời có năng lực tráchnhiệm hình sự thực hiện " chứ không quy định dấu hiệu đủ tuổi chịu tráchnhiệm hình sự Theo chúng tôi, khái niệm ngời có năng lực trách nhiệmhình sự đã bao hàm trong đó dấu hiệu đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự rồi.Bởi vì, chỉ những ngời đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mới có thể là ngời
có năng lực trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, trong lý luận luật hình sự, yếu
tố chủ thể của tội phạm thờng đợc xác định là có hai dấu hiệu: đủ tuổi chịutrách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự Việc phân biệt nàydựa trên lập luận cho rằng, thông thờng đạt đến độ tuổi chịu trách nhiệmhình sự là điều kiện để có thể có khả năng nhận thức và khả năng điềukhiển hành vi chứ không phải mọi trờng hợp đạt đến tuổi chịu trách nhiệmhình sự đều có các khả năng ấy Một ngời đạt đến độ tuổi chịu trách nhiệmhình sự nhng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi bị mắc bệnh
Trang 24đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì ngời
đó vẫn là ngời ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự phải là ngời có lỗi (cố
ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình
sự cấm
Lỗi là thái độ tâm lý của một ngời đối với hành vi nguy hiểm cho xãhội do ngời đó thực hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành
vi đó gây ra đợc biểu hiện dới hình thức cố ý hoặc vô ý
Về bản chất, lỗi thể hiện thái độ phủ định chủ quan của chủ thể đốivới những đòi hỏi của xã hội Một ngời bị coi là có lỗi nếu ngời đó thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có đủ điều kiện lựa chọn,quyết định hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Việc coi ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi là mộttrong những điều kiện bắt buộc để có thể áp dụng trách nhiệm hình sự đốivới ngời đó xuất phát từ bản chất của lỗi là thái độ phủ định chủ quan củamột ngời trớc các yêu cầu và chuẩn mực xã hội và từ mục đích của tráchnhiệm hình sự nhằm làm thay đổi thái độ phủ định chủ quan của ngời phạmtội đối với những đòi hỏi của xã hội, "giáo dục ngời phạm tội trở thành ngời
có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộcsống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới" (Điều 21 Bộ luật hìnhsự) Mục đích đó không thể đạt đợc nếu trách nhiệm hình sự đợc áp dụng cả
đối với ngời không có lỗi
Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân ngời phạm tội
Theo luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự chỉ có thể là tráchnhiệm của cá nhân ngời đã thực hiện hành vi mà luật hình sự coi là tộiphạm Về nguyên tắc, trách nhiệm hình sự phải tơng xứng với tính chất và
Trang 25mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do ngời phạm tội thực hiện.Mác đã viết:
Nếu nh khái niệm tội phạm giả định phải có sự trừng phạt,thì tội phạm thực tế lại giả định phải có một mức độ trừng phạtnhất định Tội phạm thực tế là có giới hạn Vì vậy, cả sự trừngphạt phải có giới hạn, dầu chỉ là để cho nó có tính chất thực tế, -
nó phải đợc hạn chế bởi nguyên tắc của pháp luật để trở thànhhợp pháp Vấn đề là ở chỗ làm cho sự trừng phạt trở thành hậuquả thực tế của việc phạm tội Dới con mắt của kẻ phạm tội, sựtrừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính ngời đó -
do đó phải là hành vi của chính ngời đó Giới hạn của hành vi của
y phải là giới hạn của sự trừng phạt [30, tr.169]
Ngời phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là ngời phạm tội,nghĩa là ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi làtội phạm khi đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực tráchnhiệm hình sự và có lỗi (cố ý hoặc vô ý) Trong trờng hợp tội phạm đợcthực hiện dới hình thức đồng phạm thì từng ngời đồng phạm cũng phải chịutrách nhiệm hình sự độc lập Hình phạt quyết định đối với từng ngời đồngphạm đợc quyết định căn cứ vào tính chất đồng phạm, tính chất và mức độtham gia phạm tội của từng ngời đồng phạm
Cùng với trách nhiệm hình sự của cá nhân, pháp luật hình sự nhiềunớc cũng đã quy định cả trách nhiệm hình sự của pháp nhân Ví dụ, Mỹ, HàLan, Bồ Đào Nha, Pháp, Phần Lan, Bỉ Gần đây, Trung Quốc cũng đã quy
định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự (năm 1997).Việc quy định hay không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trongpháp luật hình sự của các nớc phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế,chính trị - xã hội và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và
vi phạm pháp luật của từng nớc trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 26Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, pháp luật hình sự nớc ta mớichỉ thừa nhận trách nhiệm hình sự của cá nhân mà cha coi pháp nhân là chủthể của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trờng hợp tộiphạm do ngời đại diện pháp nhân thực hiện không chỉ vì lợi ích của cá nhânngời đó mà còn vì lợi ích của cả pháp nhân thì trách nhiệm hình sự cũng chỉ
có thể áp dụng đối với cá nhân ngời phạm tội
Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự đợc thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.
Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nớc (thông quacác cơ quan nhà nớc có thẩm quyền) và ngời phạm tội Trách nhiệm hình sự
là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện trớc hết ở việc Tòa án, nhândanh Nhà nớc, kết án ngời phạm tội Nếu không có bản án kết tội của Tòa
án thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một ngời Điều 72Hiến pháp năm 1992 của nớc ta đã khẳng định một trong những nguyên tắcquan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con ngời trong hoạt động t pháphình sự - nguyên tắc suy đoán vô tội, với nội dung nh sau: "Không ai bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt khi cha có bản án kết tội của Tòa án đã cóhiệu lực pháp luật" Nguyên tắc này cũng đã đợc ghi nhận tơng tự tại Điều 9
Bộ luật tố tụng hình sự
Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xácnhận ngời phạm tội chính thức "bị coi là có tội" Đó chính là hậu quả pháp
lý thể hiện một trong những nội dung quan trọng của trách nhiệm hình sự
mà ngời phạm tội phải chịu trớc Nhà nớc
Đa số các trờng hợp bản án kết tội của Tòa án đối với ngời phạm tội
đi kèm với việc Tòa án quyết định hình phạt đối với ngời đó Trong trờnghợp này, trách nhiệm hình sự đợc thể hiện ở bản án kết tội và hình phạt.Trong trờng hợp khác, bản án kết tội của Tòa án áp dụng đối với ngời phạm
Trang 27tội không gắn với việc Tòa án quyết định hình phạt mà gắn với việc Tòa ánquyết định miễn hình phạt đối với ngời đó
Nh vậy, trách nhiệm hình sự có thể có hình phạt và cũng có thểkhông có hình phạt Trong trờng hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theoquyết định miễn hình phạt đối với ngời phạm tội thì trách nhiệm hình sựcủa ngời phạm tội thể hiện ở việc ngời phạm tội bị Tòa án, nhân danh Nhànớc kết án bằng bản án kết tội mà không đợc thể hiện bằng việc ngời đóphải chịu hình phạt Trong trờng hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theoquyết định hình phạt thì trách nhiệm hình sự không chỉ thể hiện ở bản ánkết tội mà còn thể hiện ở loại và mức hình phạt cụ thể mà Tòa án quyết định
đối với ngời phạm tội và dấu hiệu án tích của ngời đó
Cơ sở phát sinh trách nhiệm hình sự bắt đầu từ thời điểm ngời phạmtội thực hiện tội phạm Từ khi đó, các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền tronghoạt động tố tụng có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp do pháp luật
tố tụng hình sự quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạmtội Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội trong tốtụng hình sự đợc thể hiện ở quyết định khởi tố bị can (Điều 126 Bộ luật tốtụng hình sự), kết luận điều tra và đề nghị truy tố (Điều 163 Bộ luật tố tụnghình sự), quyết định truy tố bằng bản cáo trạng (Điều 166 Bộ luật tố tụnghình sự) Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nhất vớiviệc thực hiện trách nhiệm hình sự Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sựcủa các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền trong tố tụng hình sự chỉ là hoạt
động tố tụng nhằm xác định các căn cứ để truy tố ngời phạm tội ra xét xửtại Tòa án Thực chất hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt độngcông tố, trong đó vai trò quyết định việc truy tố thuộc về Viện kiểm sát.Còn chức năng xét xử, kết tội ngời bị truy tố lại thuộc về Tòa án Trên cơ sởquyết định truy tố của Viện kiểm sát, Tòa án sẽ ra quyết định kết tội haykhông kết tội ngời bị truy tố Nếu một ngời không bị Tòa án kết tội bằng
Trang 28bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì ngời đó không thể "bị coi là có tội".Trong trờng hợp Tòa án xác định ngời bị truy tố đã thực hiện hành vi thỏamãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đợc luật hình sự quy định nhnglại có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho ngời đó theo quy định của Bộluật hình sự, thì Tòa án sẽ không ra bản án kết tội mà tuyên miễn tráchnhiệm hình sự đối với ngời phạm tội Trong trờng hợp xét thấy có đủ căn cứ
để buộc ngời phạm tội phải chịu sự lên án của Nhà nớc về hành vi phạm tộicủa mình, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với ngời đó Bản án kết tội của Tòa
án đối với một ngời là kết quả của cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử của cáccơ quan nhà nớc có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia giải quyết vụ ánhình sự Bản án kết tội của Tòa án thể hiện sự lên án có tính chất phủ định củaNhà nớc, mà Tòa án là ngời đại diện, đối với hành vi phạm tội và ngời phạmtội Ngời phạm tội có thể bị Tòa án kết tội nhng không phải chịu hình phạt,nếu bản án kết tội gắn với việc Tòa án quyết định miễn hình phạt đối vớingời bị kết án Trong trờng hợp này Tòa án không quyết định loại hình phạtnhất định đối với ngời phạm tội
Trong trờng hợp bản án kết tội của Tòa án có quyết định hình phạt
đối với ngời phạm tội thì nội dung của trách nhiệm hình sự mà ngời phạmtội phải chịu không chỉ thể hiện ở việc ngời đó bị kết án, bị coi là có tội màcòn thể hiện ở việc ngời đó bị áp dụng loại hình phạt cụ thể và bị coi là có
án tích từ thời điểm bản án kết tội của Tòa án đối với ngời đó có hiệu lựcpháp luật Nh vậy, trong trờng hợp này, mức độ trách nhiệm hình sự mà ng-
ời phạm tội phải chịu đã đợc cá thể hóa bằng loại và mức hình phạt cụ thể
mà Tòa án quyết định đối với ngời đó, mức độ nặng, nhẹ của trách nhiệmhình sự đợc thể hiện ở mức độ nặng, nhẹ của loại hình phạt mà Tòa án ápdụng đối với ngời bị kết án
Cùng với bản án kết tội của Tòa án và hình phạt mà Tòa án quyết
định đối với ngời phạm tội, án tích đối với ngời bị kết án cũng là một trong
Trang 29những hình thức thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự Trách nhiệmhình sự và các dạng trách nhiệm pháp lý khác có thể có những điểm gầngiống nhau về hình thức thể hiện Ví dụ, trách nhiệm hình sự và tráchnhiệm hành chính đều có hình thức xử lý là cảnh cáo, phạt tiền Nh ng cảnhcáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự, khác với cảnh cáo, phạttiền với tính cách là hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở chỗ, ngời bịphạt cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự luôn gắn với hậuquả pháp lý là ngời đó bị coi là có án tích án tích chỉ có thể đợc xóa khi
đáp ứng những điều kiện do luật định (từ Điều 63 đến Điều 67 Bộ luật hìnhsự) án tích gắn liền với bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.Một ngời bị coi là còn án tích nghĩa là bản án kết tội đối với ngời đó vẫncòn hiệu lực pháp luật Đúng nh Iakôvlev A M đã viết: "án tích cha đợcxóa có nghĩa là bản án vẫn còn hiệu lực cả khi một ngời đã chấp hành xonghình phạt quyết định đối với ngời đó" [90, tr 38] Trong trờng hợp ngời bịkết án cha đợc xóa án tích lại phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩaquan trọng, ảnh hởng trực tiếp đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình
sự của ngời đó Ngời cha đợc xóa án tích lại phạm tội mới có thể bị coi làtái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49 Bộ luật hình sự) và gắn vớiviệc bị coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm, ngời phạm tội phải chịu tráchnhiệm hình sự nặng hơn những ngời không có án tích mà phạm tội khi các
điều kiện khác giống nhau (ngời tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm có thể
bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng của tội phạm đã thực hiện hoặc bị ápdụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 47 Bộ luật hìnhsự) án tích luôn tồn tại cùng với bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực phápluật, thể hiện sự lên án của Nhà nớc đối với ngời phạm tội Nói cách khác,
án tích chính là một trong những hình thức thể hiện hậu quả pháp lý bất lợi
mà ngời phạm tội phải gánh chịu, một trong những hình thức thể hiện tínhnghiêm khắc của trách nhiệm hình sự so với các dạng trách nhiệm pháp lýkhác
Trang 30Nh vậy, theo quan điểm chúng tôi, bản án kết tội của Tòa án có hiệulực pháp luật là cơ sở pháp lý chính thức xác nhận ngời phạm tội bị coi là
có tội Cùng với bản án kết tội, Tòa án có thể quyết định hình phạt hoặcquyết định miễn hình phạt đối với ngời phạm tội Bản án kết tội của Tòa án
có hiệu lực pháp luật gắn liền với dấu hiệu án tích của ngời bị kết án (trừ ờng hợp ngời cha thành niên phạm tội bị Tòa án áp dụng biện pháp t phápthay thế hình phạt) Trách nhiệm hình sự luôn gắn liền với bản án kết tộicủa Tòa án đối với ngời phạm tội Trong trờng hợp bản án kết tội của Tòa
tr-án có kèm theo việc Tòa tr-án quyết định hình phạt đối với ngời phạm tội thìtrách nhiệm hình sự mà một ngời phải chịu không chỉ thể hiện ở việc bị kếttội, bị coi là có tội, mà còn thể hiện ở việc ngời đó bị coi là có án tích, ántích chỉ đợc xóa khi có những điều kiện do luật định
Các biện pháp cỡng chế mà các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng
đối với ngời phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án nh các biện phápngăn chặn: tạm giữ, tạm giam hoặc các biện pháp t pháp: bắt buộc chữabệnh, giáo dục tại xã, phờng, thị trấn; đa vào trờng giáo dỡng, nếu đợc ápdụng đối với ngời phạm tội mà ngời đó bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội
có hiệu lực pháp luật thì cũng đợc chuyển thành một bộ phận của việc thựchiện trách nhiệm hình sự nếu chúng đợc tính trừ vào thời gian chấp hànhhình phạt của ngời bị kết án hoặc đợc áp dụng thay thế hình phạt (biện pháp
giáo dục tại xã, phờng, thị trấn và biện pháp đa vào trờng giáo dỡng)
Đặc điểm thứ t: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm trớc Nhà nớc, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, đợc xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Việc xác định các căn cứ để có thể áp dụng trách nhiệm hình sự làkết quả của cả một quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan có
Trang 31thẩm quyền trong tố tụng hình sự Song trách nhiệm hình sự chỉ có thể doTòa án, nhân danh Nhà nớc, áp dụng đối với ngời phạm tội.
Theo Bộ luật tố tụng hình sự nớc ta, các cơ quan nhà nớc có thẩmquyền khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án, khi có đủ căn cứ
để xác định một ngời đã thực hiện tội phạm thì khởi tố bị can Trong quátrình giải quyết vụ án, các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền có thể áp dụngcác biện pháp ngăn chặn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định nh bắt, tạmgiữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi c trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị
để bảo đảm Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nhằm ngănchặn việc bị can, bị cáo có thể gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xétxử; ngăn chặn việc bị can, bị cáo có thể phạm tội mới hoặc ngăn chặn việc
bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc có hành vi khác gây cản trở cho việc việc thihành án Ngời đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể không phảichịu trách nhiệm hình sự nếu sau đó Cơ quan điều tra quyết định đình chỉ
điều tra (Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự), Viện kiểm sát hoặc Tòa án đìnhchỉ vụ án (Điều 169 và Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự) hoặc tại phiên tòa,Tòa án không kết tội mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Cácbiện pháp ngăn chặn không phải là hậu quả pháp lý tất yếu của việc phạmtội, không phải ngời phạm tội nào cũng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án gắn với các quyết định tố tụng nh khởi
tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, quyết định truy
tố bị can Song quá trình giải quyết vụ án cùng với việc áp dụng các biệnpháp đó của các cơ quan tiến hành tố tụng không phải là quá trình thực hiệntrách nhiệm hình sự mà chỉ là quá trình xác định những điều kiện cần và đủ
để có thể truy tố ngời phạm tội và buộc tội họ trớc Tòa án Chức năng xét
xử, kết tội ngời phạm tội thuộc về Tòa án Căn cứ vào kết quả của quá trình
điều tra và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra phán quyết vềviệc có kết tội ngời đã bị truy tố hay không Nếu có đủ cơ sở để kết án ngời
Trang 32phạm tội, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với ngời đó, bản án kết tội của Tòa
án chính là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với ngời phạmtội Việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nớc và việc phải chịutrách nhiệm hình sự từ phía ngời phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội củaTòa án đối với bị cáo có hiệu lực pháp luật
Thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là thời
điểm bắt đầu thực hiện trách nhiệm hình sự, ngời phạm tội chính thức phảichịu trách nhiệm hình sự trớc Nhà nớc, chính thức "bị coi là có tội" Nếukhông có những lý do đặc biệt, ngời phạm tội sẽ phải chấp hành toàn bộhình phạt do Tòa án quyết định trong bản án kết tội
Theo luật hình sự Việt Nam, ngời đợc miễn hình phạt vẫn phải chịutrách nhiệm hình sự, chịu sự kết án của Nhà nớc mà Tòa án là ngời đại diện,tuyên trớc phiên tòa Tuy nhiên, sau khi bản án kết tội của Tòa án có hiệulực pháp luật, trách nhiệm hình sự của ngời đợc miễn hình phạt cũng chấmdứt luôn vì, theo quy định của Bộ luật hình sự, ngời đợc miễn hình phạt đ-
ơng nhiên đợc xóa án tích mà không cần phải trải qua một khoảng thời giannào Theo chúng tôi, đây là điều không hợp lý, bởi vì trong trờng hợp đợcmiễn hình phạt, trách nhiệm hình sự không đợc thể hiện ở dấu hiệu án tích,một trong những hình thức thể hiện tính nghiêm khắc hơn của trách nhiệmhình sự so với các dạng trách nhiệm pháp lý khác Để đảm bảo tính nghiêmkhắc của trách nhiệm hình sự và đảm bảo tính đồng bộ trong các biện pháp
xử lý, theo chúng tôi, Bộ luật hình sự cần sửa đổi quy định về việc đơngnhiên đợc xoá án tích của ngời đợc miễn hình phạt Theo đó, cần quy định
đối với ngời đợc miễn hình phạt thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật quamột thời gian nhất định mà ngời đó không phạm tội mới thì mới đợc xóa ántích
Thông thờng, bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật sẽ đợc
đem ra thi hành Song có thể xảy ra trờng hợp việc thi hành án không đợc
Trang 33thực hiện vì hết thời hiệu thi hành bản án (quy định tại Điều 55 Bộ luật hìnhsự) do những nguyên nhân khác nhau, nh cơ quan có thẩm quyền ra quyết
định thi hành án vì sơ suất đã không ra quyết định thi hành án hoặc mặc dù
đã có quyết định thi hành án nhng quyết định đó bị thất lạc hoặc cơ quan, tổchức có nhiệm vụ thi hành án đã quên không thi hành án và thời hiệu thihành bản án đã hết Trong những trờng hợp này, ngời bị kết án không phảichấp hành bản án mà Tòa án đã tuyên
Trong những trờng hợp hết thời hiệu thi hành bản án, mặc dù bản ánkết tội của Tòa án có kèm theo việc quyết định hình phạt đối với ngời bị kết
án, nhng trách nhiệm hình sự của ngời bị kết án sẽ không đợc thể hiện ởviệc ngời đó phải chấp hành bản án của Tòa án Tuy nhiên, việc hết thờihiệu thi hành bản án không có nghĩa là trách nhiệm hình sự đối với ngời bịkết án đã chấm dứt Trong trờng hợp này, ngời bị kết án vẫn còn án tích,nghĩa là trách nhiệm hình sự của ngời đó vẫn còn án tích đối với ngời đóchỉ đợc xóa sau một khoảng thời gian nhất định kể từ khi hết thời hiệu thihành bản án
Ngoài trờng hợp hết thời hiệu thi hành bản án, thông thờng, ngời bịTòa án kết tội bằng bản án kết tội có kèm theo quyết định hình phạt sau khi
có quyết định thi hành bản án sẽ phải chấp hành hình phạt, nghĩa là phảichấp hành biện pháp cỡng chế nghiêm khắc nhất thể hiện nội dung củatrách nhiệm hình sự
Theo quy định tại Điều 258 và Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự, đốivới trờng hợp ngời bị kết án bị xử phạt tử hình, sau khi bản án có hiệu lựcpháp luật, bản án tử hình đợc thi hành, nếu trong thời hạn hai tháng kể từngày nhận đợc bản án và hồ sơ vụ án không có kháng nghị của Chánh ánTòa án nhân dân tối cao hoặc của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.Trong trờng hợp ngời bị kết án xin ân giảm án tử hình thì bản án tử hình đ-
ợc thi hành sau khi Chủ tịch nớc bác đơn xin ân giảm Tử hình là hình phạt
Trang 34nghiêm khắc nhất trong các loại hình phạt Đối với ngời bị kết án tử hình,trách nhiệm hình sự kết thúc khi hình phạt tử hình đợc thi hành xong.
Đối với ngời bị phạt các hình phạt khác không phải hình phạt tửhình, theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thờihạn bảy ngày, kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm hoặc kể từ ngày nhận
đợc bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết địnhtái thẩm, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành ánhoặc ủy thác cho Tòa án cùng cấp ra quyết định thi hành án
Thông thờng, sau khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật
có kèm theo quyết định hình phạt tù đối với ngời bị kết án, ngời bị kết án sẽphải chấp hành hình phạt khi có quyết định thi hành án của cơ quan cóthẩm quyền Tuy nhiên, trong một số trờng hợp, việc thi hành án phạt tù cóthể bị hoãn nếu ngời bị kết án cha chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉchấp hành hình phạt tù nếu ngời bị kết án đang phải chấp hành hình phạt tùkhi có những điều kiện đợc quy định tại Điều 61 Bộ luật hình sự Việc hoãnhoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù không có nghĩa là hoãn hoặc tạm
đình chỉ việc thực hiện trách nhiệm hình sự của ngời bị kết án Vì án tíchcủa ngời bị kết án đợc hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vẫn
đang tồn tại
Theo khoản 3 Điều 31 Bộ luật hình sự, ngời bị kết án cải tạo khônggiam giữ phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo khônggiam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhànớc Trong trờng hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho ngời đó đợc miễn việckhấu trừ thu nhập Việc phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định
về cải tạo không giam giữ [18] và bị khấu trừ một phần thu nhập là những
bộ phận cấu thành việc chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nghĩa
là bộ phận cấu thành của việc thực hiện trách nhiệm hình sự của ngời bị kết
án Trong quá trình chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nếu ngời
Trang 35bị kết án chấp hành tốt các nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ, tỏ ra cónhiều tiến bộ, thì có thể đợc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, nghĩa là
đợc xét giảm thời hạn chịu trách nhiệm hình sự
Ngời bị kết án phạt tù đợc hởng án treo ngoài việc bắt buộc phảichịu thời gian thử thách với điều kiện là trong thời gian thử thách không đ-
ợc phạm tội mới còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một
đến năm năm Ngời đợc hởng án treo đã chấp hành đợc một phần hai thờigian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức cótrách nhiệm giám sát và giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thờigian thử thách (khoản 3, 4 Điều 60 Bộ luật hình sự) Cơ sở để đánh giá sựtiến bộ của ngời bị kết án hởng án treo cũng là việc ngời bị kết án chấphành tốt các quy định về nghĩa vụ của ngời đợc hởng án treo [19]
Theo khoản 5 Điều 5 Nghị định số 60/2000/NĐ-CP và Nghị định số61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ, ngời bị phạt cải tạo khônggiam giữ và ngời bị kết án phạt tù đợc hởng án treo, nếu là cán bộ, côngchức, quân nhân, ngời lao động làm công ăn lơng, thì thời gian chấp hànhhình phạt cải tạo không giam giữ và thời gian thử thách của án treo vẫn đợctính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ nhng không đợc tính vào thờigian xét nâng lơng, phong quân hàm theo niên hạn [18], [19]
Nh vậy, ngời bị phạt tù nhng đợc hởng án treo và ngời bị phạt cảitạo không giam giữ mặc dù vẫn đợc sống, sinh hoạt trong cuộc sống cộng
đồng, nhng do họ đang phải chịu trách nhiệm hình sự, đang phải mang ántích, vẫn bị hạn chế những quyền và lợi ích nhất định so với những ngờikhông có án tích
Trong quá trình chấp hành hình phạt ngời bị kết án có thể đợc giảmthời hạn chấp hành hình phạt so với mức hình phạt mà Tòa án đã tuyên khi
có những căn cứ đợc quy định tại Điều 58, 59 Bộ luật hình sự Việc giảm
Trang 36thời hạn chấp hành hình phạt đối với ngời đang phải chấp hành hình phạt làbiểu hiện của việc đợc giảm trách nhiệm hình sự của ngời bị kết án trongquá trình ngời đó chấp hành hình phạt
Khi có bản án kết tội có kèm theo việc quyết định hình phạt đối vớingời bị kết án, thì về nguyên tắc, ngời bị kết án phải chấp hành hình phạt.Tuy nhiên, theo Điều 57, khoản 2 Điều 58 Bộ luật hình sự, trong một số trờnghợp, ngời bị kết án có thể đợc miễn chấp hành hình phạt (miễn chấp hành toàn
bộ hình phạt hoặc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại) Tuy nhiên, việcmiễn chấp hành hình phạt không có nghĩa là miễn thực hiện trách nhiệm hình
sự mà chỉ là miễn chấp hành một trong những biện pháp thể hiện nội dungcủa trách nhiệm hình sự Ngời đợc miễn chấp hành hình phạt vẫn còn phảimang án tích, án tích chỉ đợc xóa khi có những điều kiện nhất định
Khoản 1 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự đã quy định về các ờng hợp miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; khoản 4, 5 Điều 57 và khoản 2
tr-Điều 58 Bộ luật hình sự quy định về các trờng hợp miễn chấp hành phầnhình phạt còn lại, khoản 2 Điều 57 Bộ luật hình sự quy định cả trờng hợpmiễn chấp hành toàn bộ hình phạt (nếu ngời bị kết án cha chấp hành hìnhphạt) và miễn chấp hành phần hình phạt còn lại (nếu ngời bị kết án đangphải chấp hành hình phạt)
Vấn đề đặt ra là trong trờng hợp ngời bị kết án cải tạo không giamgiữ hoặc tù có thời hạn đã chấp hành hình phạt đợc một thời gian nhất định
mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu ngời đó không cònnguy hiểm cho xã hội nữa thì có thể đợc miễn chấp hành phần hình phạtcòn lại không? Đây là trờng hợp cha đợc quy định cụ thể trong Bộ luật hình
sự
Theo chúng tôi, khi đã thừa nhận trong trờng hợp đợc quy định tạikhoản 1 Điều 57 Bộ luật hình sự, ngời bị kết án có thể đợc miễn chấp hànhtoàn bộ hình phạt nếu ngời đó cha chấp hành hình phạt, thì cũng cần phải
Trang 37thừa nhận trờng hợp có những điều kiện tơng tự khi ngời bị kết án đã chấphành đợc một phần hình phạt cũng có thể đợc miễn chấp hành phần hìnhphạt còn lại.
Có ý kiến cho rằng, trờng hợp một ngời đang phải chấp hành hìnhphạt có thể đợc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đã đợc quy định cụthể tại khoản 1 Điều 58 và Điều 59 Bộ luật hình sự Theo chúng tôi, ý kiếnnày không xác đáng vì Điều 58 và Điều 59 Bộ luật hình sự không phải quy
định về miễn chấp hành hình phạt mà là quy định về giảm thời hạn chấphành hình phạt Miễn chấp hành hình phạt và giảm thời hạn chấp hành hìnhphạt là khác nhau Việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt bị ràng buộc bởinhững điều kiện nhất định Khoản 3 Điều 58 Bộ luật hình sự quy định: "mộtngời có thể đợc giảm nhiều lần, nhng phải đảm bảo chấp hành đợc mộtphần hai mức hình phạt đã tuyên" Đối với trờng hợp miễn chấp hành phầnhình phạt còn lại thì không bị ràng buộc bởi điều kiện này
Vấn đề khác đặt ra là trong trờng hợp một ngời đợc miễn chấp hànhtoàn bộ hình phạt chính hoặc đợc miễn phần hình phạt chính còn lại thì ng-
ời đó có thể đợc miễn toàn bộ hoặc giảm một phần hình phạt bổ sung haykhông?
Bộ luật hình sự nớc ta cha có quy định cụ thể về vấn đề này, ngay cả
đối với hình phạt bổ sung, Bộ luật hình sự cũng mới chỉ có quy định vềmiễn một phần hình phạt còn lại trong một số trờng hợp (khoản 5 Điều 57,khoản 2 Điều 58 Bộ luật hình sự), chứ cha có quy định về việc miễn chấphành toàn bộ hình phạt bổ sung trong trờng hợp hình phạt bổ sung cha đợcchấp hành và cha có quy định về giảm việc chấp hành hình phạt bổ sungtrong trờng hợp hình phạt bổ sung cha chấp hành xong
Theo chúng tôi, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sựViệt Nam, để khuyến khích ngời bị kết án cải tạo tiến bộ và đảm bảo tính
đồng bộ trong việc quy định các trờng hợp miễn, giảm hình phạt, khi đã có
Trang 38những quy định về miễn chấp hành toàn bộ hình phạt chính và giảm thờihạn chấp hành hình phạt chính thì cũng cần có những quy định về miễntoàn bộ việc chấp hành hình phạt bổ sung và giảm một phần việc chấp hànhhình phạt bổ sung khi có những điều kiện nhất định, nhất là khi ngời bị kết
án đợc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt chính hoặc đợc miễn chấp hànhhình phạt chính còn lại
Vấn đề khác đặt ra là vào thời điểm một ngời đợc miễn chấp hànhtoàn bộ hình phạt chính và không phải chấp hành hình phạt bổ sung thì ngời
đó có đơng nhiên đợc xóa án tích không, nghĩa là việc thực hiện tráchnhiệm hình sự đối với ngời đó đã kết thúc cha?
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự cho thấy, Bộ luật hình
sự nớc ta mới chỉ có quy định về việc đơng nhiên xóa án tích đối với trờnghợp ngời bị kết án đợc miễn hình phạt và những trờng hợp ngời bị kết án đãchấp hành xong bản án sau khi đã qua một thời gian nào đó chứ không cóquy định cụ thể về việc xóa án tích trong trờng hợp ngời bị kết án đợc miễnchấp hành toàn bộ hình phạt
Xuất phát từ quan điểm cho rằng án tích là một phần của trách nhiệmhình sự và căn cứ vào điều kiện của việc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt
so với điều kiện miễn hình phạt và điều kiện miễn chấp hành phần hìnhphạt còn lại, chúng tôi cho rằng, không thể coi trờng hợp ngời bị kết án đợcmiễn chấp hành toàn bộ hình phạt là trờng hợp đơng nhiên đợc xóa án tích
Để đợc coi là xóa án tích, ngời bị kết án đợc miễn chấp hành toàn bộ hìnhphạt cũng cần phải trải qua một thời gian nhất định Nếu trong khoảng thờigian đó, ngời bị kết án không phạm tội mới thì mới có thể đợc xóa án tích.Theo chúng tôi, Bộ luật hình sự cần có quy định bổ sung về vấn đề này đểtránh những cách hiểu và vận dụng khác nhau
Ngoài trờng hợp miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đợc quy
định tại khoản 2, 4, 5 Điều 57 và khoản 2 Điều 58 Bộ luật hình sự, khoản 3
Trang 39Điều 43 Bộ luật hình sự còn quy định về việc Tòa án có thể đa ngời đangchấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khảnăng điều khiển hành vi của mình vào một cơ sở điều trị chuyên khoa đểbắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, ngời bị áp dụng biện pháp bắt buộcchữa bệnh phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác đểmiễn chấp hành hình phạt
Nh vậy, theo quy định tại Điều 43 Bộ luật hình sự, một ngời đangphải chấp hành hình phạt mà bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, saukhi khỏi bệnh có thể đợc xem xét để miễn chấp hành phần hình phạt cònlại Tuy nhiên, Điều 57 Bộ luật hình sự về các trờng hợp đợc miễn chấphành hình phạt lại không quy định về việc miễn chấp hành hình phạt trongtrờng hợp này
Theo chúng tôi, đây là điều cần đợc bổ sung vào Bộ luật hình sự
Điều kiện để đợc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đối với ngời đangchấp hành hình phạt mà bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh sau khi
đã khỏi bệnh cũng cần đợc xác định giống nh trờng hợp miễn chấp hànhhình phạt quy định tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật hình sự, nghĩa là chỉ nênquy định áp dụng đối với ngời bị kết án cải tạo không giam giữ và tù có thờihạn, nếu sau khi khỏi bệnh ngời đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa
Nh vậy, khi quy định các biện pháp miễn, giảm hình phạt trong quátrình thực hiện trách nhiệm hình sự, Bộ luật hình sự hiện hành còn thiếunhững quy định cụ thể về việc ngời bị kết án có thể đợc miễn chấp hànhhình phạt còn lại trong trờng hợp ngời đó bị phạt cải tạo không giam giữhoặc phạt tù đang phải chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnhhiểm nghèo và nếu ngời đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Bộ luậthình sự cũng không có quy định về việc ngời bị kết án đợc miễn chấp hànhhình phạt chính (miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc miễn chấp hànhphần hình phạt còn lại) cũng có thể đợc miễn chấp hành hình phạt bổ sung
Trang 40trong những trờng hợp nhất địn; không quy định cụ thể về việc ngời bị kết
án có thể đợc giảm hình phạt bổ sung nếu trong thời gian chấp hành hìnhphạt, ngời đó đã lập công hoặc có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt Theochúng tôi, những vấn đề trên cần đợc bổ sung vào Bộ luật hình sự để tạo ra
sự đồng bộ trong các quy định về miễn, giảm hình phạt và phù hợp với cácnguyên tắc pháp chế, nhân đạo, công bằng của luật hình sự
Khoản 4 Điều 67 Bộ luật hình sự quy định về việc ngời đợc miễnchấp hành hình phạt còn lại đợc coi nh chấp hành xong hình phạt Theochúng tôi, cũng cần bổ sung vào điều khoản này việc ngời đợc miễn chấphành toàn bộ hình phạt cũng đợc coi nh chấp hành xong hình phạt để tínhthời hạn xóa án tích đối với ngời đó và để khẳng định sự khác biệt giữa hậuquả của việc miễn hình phạt với hậu quả của việc miễn chấp hành toàn bộhình phạt
Theo quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự, thời gian mà ngời bị kết
án phải chấp hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh đợc trừ vào thời gian chấphành hình phạt tù Điều này có nghĩa là trong trờng hợp ngời phạm tội bịkết án phạt tù mà bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, thì thời gian bắtbuộc chữa bệnh đã đợc chuyển thành một bộ phận của việc chấp hành hìnhphạt tù, nghĩa là một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự Nếuthời gian bắt buộc chữa bệnh của ngời bị kết án bằng hoặc dài hơn thời gianngời đó phải chấp hành hình phạt tù thì đơng nhiên sau khi khỏi bệnh, ngời
bị kết án sẽ không phải chấp hành hình phạt tù nữa Hay nói cách khác,trong trờng hợp này, ngời đó đợc coi nh đã chấp hành xong hình phạt
Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xácnhận một ngời đã phải chịu trách nhiệm hình sự Việc chấp hành bản án kếttội là thể hiện việc thực hiện trách nhiệm hình sự của ngời bị kết án Theoquy định tại khoản 3 Điều 67 Bộ luật hình sự, việc chấp hành bản án của