Hà Nội là trung tâm lớn về văn hóa, kinh tế, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế của cả nước cũng như của vùng
Trang 1Lời mở đầu
Hà Nội là trung tâm lớn về văn hóa, kinh tế, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế của cả nớc cũng nh của vùng Bắc Bộ, có vị trí địa lý, chính trị xã hội hết sức quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh tế của cả nớc Mặt khác,
Hà Nội đóng vai trò rất to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của cả nớc Hà Nội có 5 huyện ngoại thành đó là Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm,Thanh Trì, Sóc Sơn Với vị trí địa lý, những tiềm năng về tài nguyên nh đất
đai, khí hậu, lao động, trí tuệ, và vị thế của Thủ đô cho phép phát triển một nền kinh tế có tốc độ tăng trởng nhanh trong thời gian tới trên địa bàn thủ đô Hà Nội
Trong điều kiện hiện nay, cùng với sự tăng trởng của nền kinh tế, mức sống của dân c cả nớc nói chung và nhân dân Hà Nội nói riêng đang ngày một nâng cao Ngời dân không chỉ quan tâm nhiều tới số lợng trong khẩu phần ăn
mà còn rất chú trọng đến chất lợng của nó Theo xu thế nhu cầu đó, nông nghiệp ngoại thành trong những năm qua đã đạt đợc những thành tựu đáng kể Nền nông nghiệp nhiều thành phần đã phát triển với nhiều hình thức đa dạng và phong phú Hàng năm nông nghiệp ngoại thành Hà Nội sản xuất ra trên 240.000 tấn lơng thực quy thóc, trên 100.000 tấn rau các loại, trên 30.000 tấn thịt lợn hơi, hàng chục ngàn tấn thịt gia cầm và nhiều hàng hoá nông sản khác để cung cấp cho nhu cầu của nhân dân Thủ đô
Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế nớc ta, quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Thủ đô Hà Nội cũng không nằm ngoài xu thế đó Có thể nói, đô thị hoá là quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế xã hội, và đó là xu thế tích cực tạo nên động lực mới cho phát triển kinh
tế toàn vùng Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá cũng gây nên một số tác động tiêu cực, đặc biệt là đối với nông nghiệp ngoại thành Hà Nội đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết
Trang 2Do đô thị hoá là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nên những vấn đề phát sinh của quá trình đó cũng sẽ là thờng xuyên, luôn luôn
đợc đặt ra và phải giải quyết Những năm qua, các vấn đề về việc làm cho nông dân bị mất đất, phơng thức di dân, dãn dân đang phát sinh ngày càng phức tạp.…Nếu không có một chiến lợc cụ thể, chúng ta sẽ gặp nhiều vớng mắc và sẽ lúng túng trong quá trình giải quyết những vớng mắc đó
Vấn đề ảnh hởng của đô thị hoá đến nông nghiệp ngoại thành Hà Nội đợc rất nhiều cơ quan quan tâm và nghiên cứu Để hiểu thêm về vấn đề này em đã
chọn đề tài "ảnh hởng của quá trình đô thị hoá đến nông nghiệp vùng ngoại
thành Hà Nội" làm đề tài viết luận văn tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận về đô thị hoá; Phân tích thực trạng ảnh hởng của quá trình đô thị hoá đến nông nghiệp ngoại thành Hà Nội; Từ đó bớc đầu đề xuất những giải pháp giải quyết những ảnh hởng tiêu cực của đô thị hoá đến nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
Đề tài có nội dung và kết cấu nh sau:
Lời nói đầu.
Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề đô thị hoá.
Phần thứ hai: ảnh hởng của quá trình đô thị hoá đến nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội
Phần thứ ba: Phơng hớng và giải pháp giải quyết những ảnh hởng của
quá trình đô thị hoá đối với nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
Kết luận.
Trang 3phần thứ nhất
cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề đô thị hoá
I Đô thị và vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế nói chung.
1 Đô thị.
Đô thị là điểm tập trung dân c với mật độ cao, chủ yếu là dân c phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nớc, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện
(Thông t số 31/TTLB, ngày 20/11/1990 của bộ xây dựng và Ban tổ chức cán bộ của Chính phủ)
du lịch - nghỉ dỡng, đầu mối giao thông
- Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng tỉnh có thể cũng là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc toàn quốc Do đó, việc xác định một trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị
đó trong một vùng lãnh thổ nhất định
Lãnh thổ đô thị gồm: Nội thành hoặc nội thị và ngoại ô Các đơn vị hành chính của nội thị bao gồm: Quận và Phờng, còn các đơn vị hành chính của ngoại ô gồm: Huyện và xã
2 Vai trò của đô thị trong nền kinh tế
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nớc Đô thị đợc giới hạn về mặt hành chính, hoạt
động của nó có tính độc lập tơng đối, song ảnh hởng của nó có tính lan truyền mạnh mẽ Các thành tựu khoa học kỹ thuật trong các ngành kinh tế đợc nghiên
Trang 4cứu tại các trung tâm khoa học kỹ thuật ở các thành phố đợc ứng dụng rộng rãi trong cả nớc đã mang lại hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân Khi nghiên cứu các vấn đề kinh tế đô thị về mặt địa lý, chúng ta tiến hành phân tích những hoạt
động kinh tế của một hoặc từng thành phố, đồng thời cũng cần phân tích những mối quan hệ giữa các thành phố, đặc biệt là quan hệ thành thị và nông thôn
Đô thị có vai trò to lớn trong việc tham gia sản suất GDP chung của cả
n-ớc Theo số liệu thống kê năm 2000 chỉ tính riêng bốn thành phố lớn là Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng đã tham gia đóng góp trên 40% GDP của cả nớc Chỉ tiêu cơ cấu dân số và cơ cấu GDP theo địa bàn cho thấy dân số Hà Nội chiếm 3,74% dân số cả nớc nhng sản suất ra 9,33% GDP, Thành Phố Hồ Chí Minh dân số chiếm 7,07% dân số cả nớc nhng sản xuất ra đ-
ợc 24,72% GDP Ngoài ra, sự đóng góp của các đô thị vào ngân sách chiếm tỷ trọng chủ yếu Chỉ tính riêng 4 thành phố lớn đã đóng góp trên 80% ngân sách cả nớc
II Đô thị hoá
1 Khái niệm đô thị hoá và tính tất yếu khách quan của đô thị hoá
Trên quan điểm một vùng, đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát
triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá là một quá trình biến đổi
về phân bố các lực lợng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân c những vùng không phải đô thị thành đô thị đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu
Đô thị hoá là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống
đô thị của các nhóm dân c Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác
động đến đô thị hoá cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới mà biểu hiện tập trung là sự thay đổi cơ cấu dân c, cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, hình thái kiến trúc,…
Trang 5Đô thị hoá ngoại vi: là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành
phố do kết quả phát triển công nghiệp, cơ sở hạ tầng tạo ra các cụm đô thị, liên
đô thị góp phần đẩy mạnh đô thị hoá nông thôn
Đô thị hoá giả tạo: là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân c đô
thị và do dân c từ các vùng khác đến đặc biệt là từ nông thôn dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trờng, giảm chất lợng cuộc sống
Đô thị hoá là kết quả của sự biến đổi tổng hợp nhiều yếu tố và biểu hiện
dới nhiều hình thức khác nhau, vì thế có thể nêu khái niệm dới nhiều góc độ
Đô thị hoá mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số ợng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành hệ thống các đô thị
l-Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ do vậy đô thị hoá gắn liền với chế độ kinh tế xã hội
Tiền đề cơ bản của đô thị hoá là sự phát triển công nghiệp, hay công nghiệp hoá là cơ sở phát triển của đô thị hoá Đô thị hoá trên thế giới bắt đầu từ cách mạng thủ công nghiệp, sau đó là cách mạng công nghiệp là sự thay thế lao
động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao động cao hơn và sự thay đổi về cơ cấu lao động xã hội trên cơ sở sự phân công lao động xã hội
Đồng thời cách mạng công nghiệp đã tập trung hoá lực lợng sản xuất ở mức độ cao dẫn đến hình thành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mà tợng trng cho nó là cỗ máy vi tính, những siêu xa lộ thông tin và điện thoại di động thì đô thị hoá có tiền đề vững chắc hơn và tốc độ đô thị hoá đã và sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Bên cạnh tiền đề sự phát triển của công nghiệp - tiền đề cơ bản của đô thị hoá thì sự phát triển của trung tâm dịch vụ, thơng mại và du lịch cũng là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của một số khu đô thị mới, cho sự mở rộng các khu đô thị hiện có và sự hoàn thiện hơn các khu đô thị cũ
Trang 6Tóm lại, đô thị hoá là quá trình phức tạp có thể định nghĩa ở nhiều góc độ
khác nhau Một cách tổng quát: Đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố các lực lợng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân c, hình thành phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển đô thị hiện
có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số.
Phơng hớng và điều kiện phát triển của quá trình đô thị hoá phụ thuộc vào trình độ phát triển lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất Đó là biểu hiện cụ thể của sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất Sự phát triển của lực lợng sản xuất với nội dung cụ thể là công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tập trung sản xuất dẫn tới sự hình thành lối sống mới văn minh hơn của các vùng cha phải
đô thị là điều tất yếu của quá trình phát triển Sự định hớng, tạo điều kiện và khai thác các yếu tố tích cực là biểu hiện của sự nhận thức của ngời quản lý Chính vì những lẽ đó có thể coi đô thị hoá là một hiện tợng tất yếu khách quan theo tiến trình phát triển của lịch sử
ở các nớc phát triển, đô thị hoá là đặc trng cho sự bùng nổ về dân số và sự phát triển công nghiệp Song sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển kinh tế Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc hơn do sự mất cân đối, do sự độc quyền trong kinh tế
2 Những nhân tố ảnh hởng tới quá trình đô thị hoá.
Điều kiện tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế cha phát triển mạnh mẽ thì đô
thị hoá phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậu thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác sẽ thu hút dân c mạnh hơn và do đó sẽ đợc đô thị hoá sớm hơn, quy mô lớn hơn Từ đó dẫn đến sự phát triển không đồng đều hệ thống đô thị giữa các vùng Khi kinh tế phát triển, Nhà nớc có khả năng điều tiết bằng các chính sách vĩ mô và bằng phân phối vốn đầu t tạo điều kiện cho các vùng ít có lợi thế về tự nhiên phát triển công nghiệp và xây dựng các đô thị mới
Trang 7Điều kiện xã hội: Mỗi phơng thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị
t-ơng ứng và do đó quá trình đô thị hoá có những đặc trng riêng của nó Pht-ơng thức sản xuất xã hội chủ nghĩa với những quan hệ sản xuất có nhiều u việt để phát triển toàn diện nền kinh tế quốc dân, đã cố gắng hạn chế sự phát triển đô thị không đồng đều giữa các vùng trong nớc Cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế nhiều thành phần đã mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển mạnh Sự phát triển của lực lợng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hoá và hiện đại hoá, là tiền đề cho đô thị hoá Công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản của nền kinh tế sẽ tạo ra sự đô thị hoá nông thôn và các vùng ven biển
Văn hoá dân tộc: Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng của mình và nền
văn hoá đó có ảnh hởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và hình thái đô thị nói riêng Về mặt xã hội đô thị Việt Nam còn mang nhiều màu sắc nông thôn Ngời thành thị hôm nay, cách đây không lâu họ còn là những ngời nông dân, ra thành phố học tập và lao động, họ hoà nhập lối sống thành thị nhng cha bỏ hết cái chân quê của mình Sự pha trộn lối sống đó có ảnh hởng cả đến vấn đề tổ chức xã hội, tôn trọng hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trờng Về mặt xây dựng, đô thị Việt Nam chịu ảnh hởng của nhiều nền văn hoá khác nhau biểu hiện qua hình thức xây dựng nhà ở của các giai đoạn lịch sử Trên ba miền đất nớc, mỗi thành phố đều có những nét độc đáo riêng của mình
Hà Nội, Huế, Sài Gòn đều có những biểu tợng riêng mang đậm đà bản sắc dân tộc
Trình độ phát triển kinh tế : phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết định
trong quá trình đô thị hoá Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính, để xây dựng, nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn, nguồn đó có thể từ trong nớc hay từ ngoài nớc Trình độ phát triển kinh tế thể hiện trên nhiều phơng diện : quy mô, tốc độ tăng trởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế, trình độ hoàn thiện của cơ
sở hạ tầng, trình độ văn hoá giáo dục của dân c, mức sống dân c
Trang 8Tình hình chính trị: Việt Nam sau 1975 thời kỳ đất nớc thống nhất, tốc
độ đô thị hoá ngày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu t nớc ngoài, phát triển nền kinh tề nhiều thành phần thì đô thị hoá đã tạo ra sự phát triển kinh tế vợt bậc Thực trạng đô thị Việt Nam hiện nay có thể nói rằng
hệ thống các đô thị đang đợc hình thành, đô thị hoá đang diễn ra vối tốc độ cao biểu hiện cụ thể là mở rộng quy mô đô thị theo mô hình phát triển từng phần theo một quy hoạch thống nhất, đô thị hoá nông thôn và các vùng ngoại vi; việc làm ở đô thị đợc tăng thêm đáng kể, tuy nhiên tốc độ tăng việc làm còn thấp cha phù hợp với tốc độ tăng dân số đô thị, chất lợng sống của ngời dân đô thị cha cao, rất nhiều vấn đề cuả đô thị đang đợc đặt ra và cha có giải pháp hữu hiệu các nhà quản lý đô thị đang phải đối đầu với vấn đề quản lý kinh tế - xã hội ở đô thị
3.Các hình thức của đô thị hoá.
Mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sơ hình thành các khu đô thị mới, các quận, phờng mới là hình thức phổ biến với các đô thị của Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều hạn chế Việc hình thành các khu đô thị mới, các quận phờng mới đợc xem là hình thức đô thị hoá theo chiều rộng và là sự mở đờng của quan hệ sản xuất cho lực lợng sản xuất phát triển Với hình thức này dân số và diện tích đô thị tăng nhanh chóng Sự hình thành các đô thị để phát triển đồng đều các khu vực, các đô thị mới đợc xây dựng trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp và các vùng kinh tế là xu hớng tất yếu của
Trang 9Cả hai hình thức trên đây đều dẫn đến hiện tợng dân số đô thị tăng nhanh.
Sự biến đổi về pháp lý dẫn đến những ngời dân hôm qua còn là nông dân hôm nay trở thành ngời thành thị, cộng với sự nhập c ồ ạt vào các đô thị cũ với cơ sở hạ tầng sẵn có đã cung cấp cho đô thị nguồn nhân lực dồi dào là cơ sở cho các doanh nghiệp mới ra đời, cơ sở cũ mở rộng quy mô sản xuất nhng nó cũng tạo ra những mất cân đối về cung cầu lao động, việc làm
Về mặt xã hội, vấn đề quản lý kinh tế - xã hội các đô thị đợc đặt ra nh một thách thức với các chính quyền đô thị Biểu hiện mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất còn nhiều yếu kém với lực lợng sản xuất mới đợc Nhà nớc u tiên đầu t
III Những vấn đề có tính quy luật thờng phát sinh trong quá trình đô thị hoá theo chiều rộng ở Việt Nam.
1 Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp diện tích đất nông nghiệp.
Hai hình thức đô thị hoá đều dẫn đến sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Hình thức phát triển theo chiều rộng đa đến tình trạng thu hẹp đất đất canh tác nông nghiệp nhanh chóng Một phần đất do Nhà nớc thu hồi để xây dựng các công trình công cộng, một phần đất dân c bán cho những ngòi từ nơi khác đến
để ở, để làm cửa hàng kinh doanh
Hình thức phát triển theo chiều sâu cũng dẫn đến tình trạng thay đổi mục
đích sử dụng đất Đất đai là loại t liệu sản xuất đặc biệt, trong kinh tế thị trờng
đất sẽ thuộc quyền sử dụng của ai đặt giá thuê hoặc mua cao nhất tức là họ sử dụng hiệu quả nhất Trong thực tế một mảnh đất có thể sử dụng để ở hoặc để làm cửa hàng hoặc văn phòng đại diện Trong quá trình đô thị hoá Nhà nớc nắm thế chủ động chuyển đổi mục đích sử dụng đất tạo đà mạnh mẽ cho sự phát triển đô thị
Trong điều kiện kinh tế nớc ta, đô thị hoá dẫn đến tình trạng thu hẹp đất canh tác nông nghiệp diễn ra phổ biến Thực chất quá trình đó là thay đổi mục
đích sử dụng đất: Từ đất dùng cho sản xuất nông nghiệp chuyển sang sản xuất
Trang 10công nghiệp, thơng mại, dịch vụ, đất ở Quá trình này góp phần làm tăng hiệu…quả sử dụng đất nói chung nhng cũng gây ra không ít các vấn đề xã hội
Biểu 1: Đất đai và lao động nông nghiệp của Hà Nội qua 4 năm.
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2000, cục Thống kê Hà Nội
Biểu 1 cho thấy trong 4 năm qua diện tích đất nông nghiệp bình quân một lao động nông nghiệp của Hà Nội giảm nhanh Đặc biệt là huyện Từ Liêm từ năm 1995 đến 2000 diện tích đất nông nghiệp bình quân lao động nông nghiệp giảm đi 514,8 m2/ lao động và huyện Thanh Trì là 306,1m2/lao động Nh vậy, có
2 vấn đề cần phải đặt ra cho cả 2 huyện là:
- Cần tạo việc làm cho những ngời nông dân khi không có đất hoặc diện tích canh tác bị thu hẹp
- Dân c đổ xô về các vùng đô thị mới để mua đất, làm thế nào để Nhà nớc
có thể kiểm soát đợc giá đất
Trang 11Một trong những đặc điểm kinh tế quan trọng nhất của đất nói chung và
đất đô thị nói riêng ở Việt Nam là đất thuộc sở hữu Nhà nớc Các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng Đất đai đô thị tuy thuộc sở hữu toàn dân song vẫn đợc mua bán, trao đổi và thực tế mọi ng… ời đều thừa nhận đất đai có giá của nó về mặt pháp lý Thực chất giá cả của đất là những chi phí để có đợc quyền sử dụng đất trong dài hạn, nó không phải là những chi phí để mua, cải tạo Tuy nhiên, giá đất không chỉ bao gồm những chi phí để hình thành đất đai,…
mà còn bao gồm cả khả năng sinh lợi của đất đai Hơn nữa, giá đất còn phụ thuộc vào quan hệ cung, cầu Thị trờng đất đô thị đã đợc hình thành, giá cả đất phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của thị trờng đất Cung về đất có thể coi là ổn
định vì diện tích đất đai có hạn, do đó giá cả của đất phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu và một số định hớng bởi thu nhập Thu nhập thay đổi làm cho cầu thay đổi tuỳ thời gian và tuỳ vùng Mặt khác nhu cầu về đất xây dựng các công sở, các doanh nghiệp phụ thuộc vào chức năng và quy mô của đô thị
2 Quá trình đô thị hoá tác động đến vấn đề dân số, lao động và việc làm đối với nông dân.
Dân số và lao động ở đô thị gia tăng với tốc độ nhanh do nớc ta là nớc nông nghiệp, tỷ lệ nghèo đói cao, ảo tởng của ngời dân về đô thị còn nặng nề Ngời nông dân nghĩ rằng chỉ có ở đô thị mới có thể thành đạt và giàu có vì ở đô thị mới có các trờng đại học, công sở Cùng với thực tế tăng tổng việc làm ở đô…thị đã tạo ra dòng di c vào thành phố và làm tăng trởng dân số đô thị nhanh
Dòng di c bắt đầu là lao động, lao động di c đến để thực hiện các công việc mới và cạnh tranh với các công việc đã có và tạo ra một thị trờng lao động ở
Trang 12Số ngời đợc giải quyết việc làm 37.198 45.500 50.604 29.308
Số ngời đang tìm việc làm (đăng ký) 30.200 22.563 30.852 28.743
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2000, Cục thống kê Hà Nội.
Trong quá trình đô thị hoá nói chung và đô thị hoá theo chiều rộng nói riêng, cơ cấu dân c theo tuổi, giới, theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp biến
đổi nhanh chóng Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, thu nhập của dân cnói chung tăng lên nhng tốc độ tăng của mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau Nhóm giàu thờng có tuổi thọ cao hơn vì điều kiện sống, chữa bệnh tốt hơn Cơ cấu giàu nghèo có quan hệ chặt chẽ với cơ cấu nghề nghiệp, việc làm chủ yếu của họ
3 Môi trờng ở khu đô thị mới và khu vực giáp ranh đô thị
* ở khu đô thị mới:
Đối với nớc ta là một nớc nông nghiệp, kinh tế cha phát triển, tài nguyên không dồi dào, diện tích đất canh tác bình quân đầu ngời quá thấp, lao động d thừa từ các vùng nông thôn sẽ đổ về các đô thị để tìm việc làm Chính những đội ngũ ngời từ nông thôn ra đô thị sẽ kéo theo phong tục, tập quán, lối sống của ngời nông dân sản xuất nhỏ từ vùng quê về thành thị Lối sống tuỳ tiện trong sinh hoạt hàng ngày đã làm tăng thêm sự phức tạp về xã hội và môi trờng sinh thái Hiện tợng đó sẽ tiếp tục diễn ra làm cho các đô thị quá tải về dân số dẫn
đến hậu quả là các thị trờng đô thị mất cân bằng giữa cung và cầu, các chi phí xã hội tăng nh chi phí quản lý giao thông, môi trờng Hiện tợng lấn chiếm vỉa hè, hình thành các xóm liều, ô nhiễm môi trờng sẽ gia tăng
* Môi trờng ở khu vực giáp ranh đô thị.
Do quy mô dân số, quy mô sản xuất và cung cấp các dịch vụ của đô thị mà
môi trờng đô thị đang ngày càng xấu đi Để giải quyết vấn đề đó các chính quyền đô thị sẽ có chính sách di chuyển những nhà máy hay khu công nghiệp ra vùng ngoại thành hay xa trung tâm Các doanh nghiệp sẽ chọn điểm có giá đất thấp và vẫn đợc hởng các dịch vụ của đô thị, thuận tiện về giao thông, đó chính
Trang 13là khu vực giáp ranh đô thị và nông thôn ở khu vực này vấn đề quản lý môi ờng tơng đối lỏng lẻo, ngời dân có nhu cầu cuộc sống không cao Vì lẽ đó môi trờng bị đe doạ nếu không có những chính sách kịp thời.
tr-4 Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực ngoại thành.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung:
Cùng với việc tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tăng việc làm Trớc hết là chuyển đổi cơ cấu ngành nghề của kinh tế đô thị Trên góc
độ dân số và lao động, đô thị hoá là quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số từ khu vực I sang khu vực II và khu vực III của nền kinh tế Những nông dân trớc đây gắn bó với ruộng vờn, sau khi trở thành dân c đô thị họ bị mất phần lớn ruộng
đất canh tác Với số tiền đợc Nhà nớc đền bù họ dùng để tạo nghề mới, tìm việc làm mới, để xây dựng nơi c trú mới và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi.…
Trong quá trình đô thị hoá cơ cấu ngành kinh tế trong vùng và cả nền kinh tế cũng thay đổi theo hớng giảm tỷ trọng trong khu vực I, tăng tỷ trọng ở khu vực II và III Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân số, hình thành các khu dân c đô thị ở các vùng ngoại vi thì các hoạt
động thơng mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hớng tăng khu Vực III Ngoại thành là nơi có sự thay đổi mạnh mẽ về các hoạt động thơng mại, dịch vụ Hoạt động chủ yếu phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi giải trí, ăn uống của dân c nội thành và là nơi cung cấp phần lớn các loại hoa quả, lơng thực, thực phẩm cho nội thành
* Đối với khu vực đô thị mới:
Trong quá trình đô thị hoá, kinh tế ở các đô thị mới tăng trởng nhanh nhờ
có sự tập trung lực lợng sản xuất, tạo ra năng suất lao động cao, cách tổ chức lao
động hiện đại Thực chất quá trình tăng trởng kinh tế là quá trình tăng việc làm
ở đô thị Ngợc lại, việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế đô thị làm tăng ởng kinh tế đô thị theo chiều sâu, tăng năng suất lao động xã hội, tăng GDP bình quân đầu ngời ở đô thị
Trang 14Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực trên là vấn đề của nền kinh tế thị trờng:
- Sự phát triển của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng dẫn
đến những mất cân đối trong kinh tế đô thị đồng thời dẫn đến các vấn đề xã hội Vấn đề thất nghiệp, tỷ lệ tham gia lực lợng lao động và cơ cấu nghề nghiệp trong từng đô thị là vấn đề lớn cho mọi đô thị cũng nh nền kinh tế Tăng tỷ lệ có việc làm và tăng trởng việc làm dẫn đến giảm tỷ lệ dân số có việc làm trong tuổi lao động
- Mất cân đối cung cầu về các dịch vụ ở đô thị: Nhu cầu các dịch vụ điện, nớc, thông tin liên lạc tăng nhanh hơn so với khả năng cung cấp…
- Nhà ở luôn là vấn đề lớn đối với các đô thị Trong những năm vừa qua hoạt động "tự cung tự cấp" về nhà ở của dân c đô thị đã biểu hiện quá nhiều
điểm yếu kém trong công tác quản lý Nền kinh tế thị trờng với sự d thừa các yếu tố đầu vào cho ngành xây dựng nh: sắt, thép, xi măng, gạch, thiết bị vệ sinh
- Tài chính đô thị luôn là vấn đề nan giải: để bộ máy hành chính quản lý
đô thị hoạt động, để xây dựng và phát triển đô thị; để tu bổ đờng xá, công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật chính quyền đô thị cần một khối lợng tiền ngày càng lớn Khoảng cách giữa nhu cầu và thực tế về tài chính đối với các chính quyền đô thị ngày càng xa
* Đối với các khu vực giáp ranh:
Khu vực giáp ranh giữa đô thị và nông thôn luôn chịu ảnh hởng của cả những ngoại ứng tích cực và tiêu cực Mật độ dân c ở khu vực này sẽ tăng dần,
đất đai thay đổi nhanh về mục đích sử dụng Một phần những ngời dân nội thành mua làm nhà nghỉ, một phần sẽ trở thành nơi cung cấp dịch vụ giải trí cho dân c nội thành Cơ cấu kinh tế thay đổi theo hớng tích cực là khu vực I giảm dần và thay vào đó là khu vực III
Những vấn đề xã hội xảy ra, tệ cờ bạc, số đề, nghiện hút, mại dâm nh là căn bệnh lây truyền ở khu vực giáp ranh thành thị và nông thôn Chính quyền nông thôn không đủ khả năng giải quyết các vấn đề xã hội
Trang 155 Vấn đề hạ tầng kỹ thuật.
Hình thành nhanh chóng cơ sở hạ tầng: Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành nhanh chóng cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà bắt đầu bằng những con đ-ờng tiếp theo đó là hệ thống cấp điện, cấp thoát nớc, hệ thống thông tin liên lạc, trờng học, bệnh viện và khu ở của dân c Trong quá khứ, việc hình thành các khu ở của dân c trớc hoặc đồng thời với việc hình thành cơ sở hạ tầng đã gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị
Do tốc độ tăng dân số, lao động và tăng trởng kinh tế khá nhanh, nhu cầu
đi lại và vận chuyển hàng hoá cũng tăng tơng ứng, trong khi đó cơ sở hạ tầng ờng xá lại tăng quá chậm, phơng tiện giao thông chủ yếu là xe 2 bánh Do đó mật độ quá cao về xe máy, xe đạp ở các thành phố đang là vấn đề lớn cho các đô thị Tắc nghẽn giao thông trong giờ cao điểm thờng xảy ra ở các thành phố lớn Vấn đề quản lý đợc đặt ra là liệu có thể áp dụng những chính sách nào nhằm làm tắc nghẽn giao thông?
đ-6 Vấn đề văn hoá xã hội.
Đô thị hoá góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, hình thành lối sống công nghiệp, xây dựng xã hội mới, tuy nhiên khi tăng quy mô thành phố bằng các giải pháp mở rộng không gian, hình thành các quận mới, phờng mới sẽ dẫn đến tình trạng gia tăng thất nghiệp Số tiền Nhà nớc đền
bù đất để tạo công ăn việc làm mới không đợc ngời nông dân sử dụng đúng mục
đích sẽ làm cho tỷ lệ thất nghiệp và các vấn đề xã hội khác gia tăng nhanh chóng
Trong các đô thị hiện có tăng trởng việc làm và tăng của cải của dân c thành phố, các vấn đề có tính công bằng xã hội đợc đặt ra: có bao nhiêu việc làm mới do tăng trởng kinh tế tạo ra dành cho ngời mới đến và bao nhiêu dành cho dân c gốc của thành phố Đặc biệt là giải quyết vấn đề lao động trớc đó không có việc làm hay có việc làm Mối quan hệ ngời mới, ngời cũ có liên quan
đến vấn đề quy mô thành phố
Trang 16Sự thay đổi tập quán lối sống và sự phân hoá giàu nghèo diễn ra nhanh chóng nhu cầu giáo dục, y tế tăng, an ninh, tệ nạn xã hội trở thành vấn đề lớn Vấn đề nghèo đói thất nghiệp đợc đặt ra Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, phơng thức kiếm sống là kết quả tất yếu cuả quá trình đô thị hoá Ngời dân của
đô thị sẽ nhanh chóng làm biến đổi tập quán của những ngời mới đến thông qua các hoạt động xã hội, quan hệ, sinh hoạt, làm việc hàng ngày Những ngời mới
đến, về mặt tâm lý họ cần phải nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng mới Nhu cầu của họ tăng nhanh và họ cũng muốn đợc mọi ngời tôn trọng Những tục lệ
ma chay, cới xin sẽ theo kiểu đô thị để hợp với xã hội đô thị Tập quán sinh đẻ hoàn toàn thay đổi, mục tiêu nâng cao đời sống và cho con cái đợc học hành, đ-
ợc đặt lên hàng đầu
Sự pha trộn văn hoá trong một đơn vị hành chính là tất yếu Trong các đô thị cũ, các cơ sở sản xuất, cơ sở hạ tầng có nhiều u thế hơn Trong các đô thị mới ngời dân cha quen cách sống và suy nghĩ Giữa hình thức và nội dung của các đơn vị hành chính đô thị, trên quan điểm triết học có sự cha phù hợp Là đô thị về mặt pháp lý nhng nội dung còn mang nhiều dấu tích của nông thôn, cơ sở hạ tầng thấp kém
Sự khác biệt về giàu nghèo giữa các đô thị, trong từng đô thị, giữa nông thôn và thành thị ngày càng trở nên sâu sắc hơn
7 Thay đổi hình thái kiến trúc :
Hình thái kiến trúc đô thị đợc biểu hiện tập trung ở các kiểu nhà ở Kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hoá, mức sống, đặc điểm xã hội từng thời kỳ Tại các thành phố chúng ta có thể phân biệt những toà nhà cổ, những toà nhà xây dựng thời bao cấp, những toà nhà đợc xây dựng trong thời kỳ đổi mới Tại các vùng nông thôn các ngôi nhà kiểu thành thị đang dần thay thế cho nhà mái ngói ở các phờng mới, quận mới, khu đô thị mới những toà nhà hiện đại đã và
đang đợc xây dựng Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là các ngôi nhà đồ sộ đợc xây dựng bởi khu vực kinh tế t nhân thiếu sự quy hoạch chung đã làm cho thành
Trang 17phố kém đi vẻ ngăn nắp của nó, không tạo đợc bản sắc văn hoá riêng của các thành phố ở Việt Nam.
8 Vấn đề về quản lý hành chính:
Đô thị hoá theo chiều rộng bằng việc mở rộng quy mô đô thị dới hình thức xây dựng các phờng mới, quận mới dẫn đến biến động ranh giới các đơn vị hành chính cũng nh diện tích và dân số của đô thị và các quận, các phờng
* Về bộ máy hành chính:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của đô thị nhỏ không còn phù hợp khi quy mô đô thị tăng vì trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý còn yếu, còn thiếu, chi phí cho quản lý đô thị còn hạn hẹp Tuy nhiên trên góc độ vĩ mô, bộ máy quản lý của đô thị còn cồng kềnh không hiệu quả
Đồng thời, với sự tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý Nhà nớc về địa giới hành chính, quá trình đô thị hóa làm xuất hiện ở khu vực ngoại thành Hà Nội mâu thuẫn giữa cơ cấu kinh tế - xã hội hiện thực với thể chế quản lý hành chính Nhà nớc
Hiện thực cho thấy rằng đô thị hay còn gọi là thành thị và nông thôn là 2 khu vực có cơ cấu kinh tế - xã hội khác nhau
- Về vai trò, vị trí: Đô thị là trung tâm văn minh, là hạt nhân, là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, của vùng, tỉnh và huyện
- Về kinh tế: kinh tế nông thôn là đơn ngành và chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Còn kinh tế đô thị là đa ngành, phi nông nghiệp chủ yếu là công nghiệp, thơng mại và dịch vụ Kinh tế đô thị có tốc độ phát triển cao hơn và là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nớc
- Về dân c: Dân c nông thôn đơn giản, thuần nhất, gắn kết với nhau từ lâu
đời có tính chất huyết thống tạo nên những bản sắc, phong tục, tập quán riêng của từng vùng, huyện, xã, thôn Dân c đô thị rất đa dạng và phức tạp, đông đúc, tập trung với mật độ cao Dân c đô thị có nguồn gốc khác nhau "tứ xứ" tập trung lại, mang theo những phong tục tập quán và lối sống khác nhau
Trang 18Dân c đô thị có trình độ học thức và dân trí cao hơn nông thôn Thành phần dân c không thuần nhất, nhu cầu cuộc sống đa dạng và phức tạp hơn, dân ngụ c không chính thức và dân vãng lai cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể Do đó quản lý dân c, hộ tịch, hộ khẩu ở đô thị khó khăn và phức tạp gấp nhiều lần so với nông thôn.
- Về lối sống: Cuộc sống của ngời dân nông thôn đa số là tự túc, tự cấp,
còn cuộc sống của ngời dân đô thị hoàn toàn phụ thuộc vào thị trờng theo phơng thức mua bán Những nhu yếu phẩm cần cho cục sống hàng ngày, từ cáo nhỏ nhất đều do thị trờng cung cấp Bảo đảm cung cấp đủ nhu yếu phẩm cho cuộc sống hàng ngày của ngời dân là trách nhiệm nặng nề cuả chính quyền các đô thị
Chính quyền của đô thị không chỉ có trách nhiệm bảo đảm cung cấp nhu yếu phẩm mà còn có trách nhiệm giải quyết việc làm, tạo ra nguồn sống cho ng-
ời dân đô thị Chính quyền nông thôn cũng phải lo cho cuộc sống của ngời dân song mức độ phức tạp và gay gắt không thể bằng đô thị
- Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở đô thị phức tạp nhiều lần so với nông thôn, nhất
là về giao thông, cấp, thoát nớc và vệ sinh môi trờng Cơ sở hạ tầng đô thị là những mạng lới, hệ thống đồng bộ, xuyên suốt địa bàn, không phụ thuộc vào địa giới hành chính, đòi hỏi phải có sự quản lý tập trung, thống nhất cao, không thể phân tán, cắt khúc
Do đặc điểm kinh tế - xã hội và hệ thống hạ tầng kỹ thuật phát triển ở các trình độ khác nhau nên quản lý Nhà nớc ở khu vực đô thị thực hiện theo thể chế hành chính đô thị, khu vực nông thôn - tổ chức quản lý theo thể chế nông thôn
- Về tính chất quản lý: ở đô thị, nội dung quản lý phức tạp, khối lợng
công việc quản lý lớn gấp nhiều lần so với nông thôn và có nhiều nội dung khác với nông thôn ở nông thôn hầu nh không có nội dung quản lý Nhà nớc về nhà
ở, xây dựng, cấp thoát nớc, giao thông và vệ sinh đờng phố Trong khi những
Trang 19nội dung trên lại là những vấn đề bức xúc, thờng xuyên trong quản lý Nhà nớc ở
đô thị
- Về địa giới hành chính:
ở đô thị, nhất là ở nội thành, nội thị địa giới hành chính chỉ có ý nghĩa trong quản lý hành chính Nhà nớc Còn trong các lĩnh vực khác nh cơ sở hạ tầng, hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội , giao thông hầu nh không có khái niệm địa giới hành chính ở nông thôn, địa giới hành chính trùng với địa giới khác, nhất là địa giới kinh tế
Sự khác nhau giữa đô thị với nông thôn về cơ cấu kinh tế - xã hội và vai trò và vị trí của lãnh thổ trong khu vực dẫn đến sự khác nhau trong thể chế quản
lý hành chính Nhà nớc cụ thể là:
- Về hệ thống đơn vị hành chính:
Khu vực nông thôn chia thành huyện, dới huyện là xã, dới xã là các tổ chức tự quản cấp thôn làng Chính quyền Nhà nớc ở khu vực nông thôn có nhiêm vụ:
Bảo đảm an ninh chính trị trật tự, an toàn xã hội
Quản lý và phát triển kinh tế theo hớng công nghiệp hoá nông thôn Phát triển nguồn nhân lực phục vụ kinh tế nông nghiệp là chủ đạo
Thu ngân sách
Tuy nhiên khu vực nông thôn cần chia lại thành quận, dới quận là phờng, dới phờng là các tổ chức tự quản nh: cụm dân c, tổ dân phố
Vấn đề cần xác định là:
Bảo đảm an ninh trật tự an toàn xã hội cho nhân dân và các cơ quan của
Đảng và Nhà nớc, các tổ chức chính trị xã hội trong nớc và ngoài nớc
Quản lý và sử dụng hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị, cung cấp các dịch
vụ điện, nớc, nhà ở và môi trờng
Cung cấp các dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục thể dục thể thao đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên địa bàn
Trang 20Thu ngân sách.
- Về tổ chức bộ máy các đơn vị hành chính:
Đối với khu vực đô thị, bộ máy hành chính nhà nớc mang tính chuyên nghiệp cao, ở cấp cơ sở (cấp phờng) bộ máy hành chính cấp phờng đợc chuyên nghiệp cao Trong khi đó, bộ máy hành chính cấp xã lại mang tính chất nghiệp
d Do đó quá trình đô thị hoá dẫn đến chuyên nghiệp hoá chính quyền cấp cơ sở
Từ sự khác nhau trên đây, quá trình đô thị hoá dẫn đến việc tổ chức lại quản lý Nhà nớc trên địa bàn Về nguyên tắc, đô thị hóa diễn ra đến đâu cần tổ chức lại quản lý Nhà nớc trên địa bàn đó
Trang 21Phần thứ hai:
ảnh hởng của quá trình đô thị hoá đến nông
nghiệp ngoại thành Hà Nội.
I - Khái quát quá trình đô thị hoá ở Hà Nội thời kỳ 1990 - 2000.
* Sự biến động về quy mô đất đai, dân số và giá trị sản xuất ở Thành phố Hà Nội trong thời kỳ 1990 - 2000.
1 Về đất đai:
Thành phố Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên vào khoảng 92.097 ha(Tính đến ngày 31/12/2000), trong đó tổng diện tích các quận nội thành là 8.430 ha và các huyện ngoại thành là 83.667 ha
Trong thời kỳ 1990 - 2000, do sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá, cơ cấu đất đai có nhiều thay đổi: Diện tích đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp giảm tơng ứng là 0,88% và 0,09%, đất chuyên dùng và đất ở tăng lên t-
ơng ứng là 0,07% và2,07%, đất cha sử dụng giảm 1,89%
Biểu 3: Tình hình biến động cơ cấu đất đai của Hà Nội thời kỳ 1990 - 2000.
Loại đất Tình hình sử dụng Biến động tăng (+), giảm(-)
1990 1995 2000
1995 so 2000 so
với 1995
2000 so với 1990 với 1990
5 Đất cha sử dụng (%) 12,25 11,33 10,36 -0,92 0,97 -1,89
Nguồn: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội đến năm 2010.
Trang 221.1 Biến động đất đai ở khu vực nội thành.
Cùng với việc phát triển kinh tế -xã hội, quá trình đô thị hoá ở Hà Nội trong những năm qua đã diễn ra rất mạnh mẽ Năm 1995 toàn thành phố chỉ có
4 quận nội thành là: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trng và Đống Đa thì đến nay
đã lên tới 7 quận (thêm các quận mới là Thanh Xuân, Cầu Giấy và Tây Hồ)
Năm 1995 diện tích của 4 quận nội thành là 4.968 ha thì đến năm 2000 (gồm 7 quận) đã tăng thêm 3.462 ha Nh vậy diện tích của các quận nội thành lên 8.430 ha
1.2 Biến động đất đai ở khu vực ngoại thành.
Đến năm 2000, khu vực ngoại thành Hà Nội gồm 5 huyện với 118 xã và 8 thị trấn, tổng diện tích đất đai là 83.667 ha, chiếm 92% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn thành phố; năm 1995 là 85.447 ha, chiếm 93%
Biểu 4:Tình hình biến động đất đai ở khu vực ngoại thành.
Đất chuyên
Trang 23Nh vậy qua các số liệu ở biểu 4 cho thấy sự biến động đất đai trong những năm 1995 - 2000 là tơng đối giảm và không đồng đều
+ Đất nông nghiệp: Nhìn chung thời kỳ từ 1995- 2000 đất nông nghiệp
giảm, cụ thể là 1.666 ha Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều xã của Từ Liêm đã nhuyển sang các phờng để thành lập các quận mới trong đó quận Cầu Giấy là 8 xã và quận Tây Hồ là 4 xã
+ Đất lâm nghiệp: Biến động không đáng kể kể từ năm 1995 - 2000 Đặc
biệt giảm mạnh nhất là huyện Sóc Sơn, giảm 602 ha, do chuyển sang trồng cây
ăn quả, cây lâu năm
+ Đất chuyên dùng: Từ năm 1995 - 2000, diện tích của đất chuyên dùng
của các huyện tăng lên tơng đối đồng đều Nguyên nhân là do đất xây dựng, đất giao thông, đất thuỷ lợi tăng lên
+Đất ở: Nhìn chung đất ở cũng tăng lên qua các năm do tác động của quá
trình phát triển đô thị đã có sự chuyển đổi từ đất canh tác sang đất ở, do xây dựng các khu đô thị mới, do lấn chiếm…
+ Đất cha sử dụng: Nhìn chung đất cha sử dụng của các huyện đều giảm
Năm 2000 so với năm 1995 giảm đi 928 ha Trong đó huyện Từ Liêm giảm 681
ha, năm 2000 so với năm 1995 Nguyên nhân là do thành phố lấy đất để xây dựng và phát triển đô thị
Cùng với quá trình đô thị hoá, quy mô đất đai của các khu công nghiệp ngày càng đợc mở rộng trong khu vực Hà Nội do nhu cầu sử dụng đất lớn Đặc biệt là việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, các khu công nghiệp, nhu cầu cho các dự án liên doanh với nớc ngoài Hầu hết các khu này đều lấy vào đất nông…nghiệp và lâm nghiệp Hiện tại Hà Nội có 14 khu công nghiệp đó là:
1) Khu Thợng Đình : 94,3 ha
2) Khu Cầu Bơu : 49 ha
3) Khu Minh Khai - Vĩnh Tuy : 81 ha
4) Khu Trơng Định - Giáp Bát : 32 ha
5) Khu Văn Điển - Pháp Vân : 40 ha
Trang 246) Khu Cầu Diễn - Mai Dịch : 27 ha.
7) Khu Đông Anh : 70 ha
8) Khu Chèm : 14 ha
9) Khu Đức Giang - Gia Lâm : 38 ha
10) Khu Nội Bài : 100 ha
11) Khu Hà Nội - Đài T : 40 ha
Mời một khu công nghiệp trên có tổng diện tích là 585,3 ha Đó là các khu công nghiệp đợc xây dựng trớc năm 1995 và là những khu công nghiệp cũ, hình thành không theo quy hoạch Sau năm 1995 có 3 khu công nghiệp đợc xây dựng đều nằm ở ngoại vi thành phố, tập trung chủ yếu ở huyện Gia Lâm Đông Anh:
1) Khu Sài Đồng B : 97 ha
3) Khu Thăng Long : 638 ha
Ba khu này có tổng diện tích là 1.155 ha
Nh vậy cùng với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và quá trình đô thị hoá
ở Thành phố, việc phát triển các khu công nghiệp là để đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị Do vậy, trong những năm vừa qua, số lợng các khu công nghiệp tăng đã kéo theo sự biến động về đất đai của Thành phố Nếu nh trong giai đoạn
1990 - 1995 toàn thành phố có 585,3 ha diện tích đất xây dựng khu công nghiệp thì đến năm 2000 đã có thêm 3 khu công nghiệp mới, mở rộng thêm 1.155 ha
2 Sự biến động dân số ở Thành phố Hà Nội trong quá trình đô thị hoá.
2.1 Về quy mô dân số:
Hà Nội là một thành phố lớn của cả nớc, do vậy có dân số khá cao và tăng nhanh cùng với quá trình đô thị hoá, có sự chênh lệch rất lớn giữa các quận nội thành, giữa các huyện ngoại thành và giữa khu vực nội thành và ngoại thành
Đến năm 2000 dân số trung bình của toàn thành phố là 2.731,1 nghìn
ng-ời tăng gần 1,3 lần so với năm 1990 (2335,4 và 2051,9 nghìn ngng-ời) Trong đó dân số nội thành năm 2000 là 1460,4 nghìn ngời, tăng gần 1,6 lần so với năm
Trang 251990 (931,2 nghìn ngời) Dân số ngoại thành năm 2000 tăng gần 1,2 lần so với năm 1990 (1273,7/1120,7).
Đối với dân số thành thị thì năm 1990 là 1057,9 nghìn ngời đến 1995 là 1221,2 nghìn ngời và năm 2000 là 1578,7 nghìn ngời Mặt khác, năm 1990, dân
độ dân số cao nhất (34.367 ngời/km2, gấp 52,5 lần so với huyện Sóc Sơn là nơi
có mật độ thấp nhất (808 ngời/km2)
ở các quận nội thành, quân Đống Đa có mật độ dân số tăng cao nhất trong 10 năm gần đây (năm 2000 tăng 12.004 ngời /km2, gấp 1,5 lần so với năm 1991)
ở các huyện ngoại thành, dân số tăng tơng đối đồng đều trong 10 năm qua Mật độ dân số tăng cao nhất là huyện Từ Liêm, tăng 423 ngời/km2 và thấp nhất là huyện Sóc Sơn 127 ngời/km2
Sự biến động của dân số Hà Nội tơng đối phức tạp, mức tăng thất thờng phụ thuộc vào các đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ Tốc độ tăng cơ học trên địa bàn Hà Nội từ những năm 1990 - 1995 là 1,5 % và những năm gần đây tăng trung bình khoảng 1% mỗi năm
Nh vậy mức tăng chung của dân số Hà Nội khá cao, năm 2000 so với năm
1990 tăng 33,2%, bình quân hàng năm thời kỳ này tăng 3,3 %
Nhìn chung dân số thành phố tăng lên qua các năm Nguyên nhân chủ yếu là do không gian đô thị ngày càng mở rộng, các khu công nghiệp và khu
Trang 26dân c mới ngày càng phát triển, thu hút nhiều lao động, đặc biệt là trong 10 năm trở lại đây Do vậy dân số ở thành thị tăng nhanh hơn dân số ở nông thôn (năm
2000 dân số ở thành thị tăng 49% trong khi đó dân số ở nông thôn tăng 16,2%
so với 1991) Dân số phi nông nghiệp cũng tăng mạnh hơn dân số làm nông nghiệp so với 1991, năm 2000 dân số phi nông nghiệp tăng 37,9% trong khi đó dân số nông nghiệp chỉ tăng 23,7%
3 Về giá trị sản xuất.
Trong 10 năm qua, tuy còn nhiều khó khăn và thách thức lớn nhng nhìn chung kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội đã đạt đợc những thành tựu hết sức to lớn và tơng đối toàn diện
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) liên tục tăng cao từ năm 1990 trở lại đây với tốc độ tăng bình quân năm đạt 11,6%, trong đó thời kỳ 1991 - 1995 là 12,5% thời kỳ 1996 - 2000 là 10,6 Cơ cấu các ngành kinh tế tiếp tục chuyển biến theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Sản xuất công nghiệp tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1991- 1995 là 19,2%, thời kỳ 1996 - 2000 là 15,2% Do tốc độ tăng cao nên tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội chiếm trong tổng số cả nớc đã tăng từ 6,47% năm 1990 lên 8,19% năm 1995 và 8,95% năm 2000
Các ngành dịch vụ cũng đợc tăng nhanh cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội So với năm 1999, năm 2000 tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ bình quân 14,7%, trong đó xuất khẩu bình quân năm của hàng công nghệ phẩm
đã gấp gần 4 lần và chiếm tới 57,2% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội
Sản xuất nông lâm thuỷ sản tăng bình quân năm trong giai đoạn 1996 -
2000 (đạt 5,2%), cao hơn thời kỳ 1991 - 1995 (4,8%) và vợt mục tiêu do Đại hội
Đảng bộ Thành phố lần thứ VII đề ra (tăng từ 4- 4,5%)
ở khu vực ngoại thành, tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế thời kỳ
1991 - 2000 tăng bình quân hàng năm 11,1%, thời kỳ 1991 - 1995 tăng bình quân 17,15% và giai đoạn 1996 - 2000 tăng bình quân 5,35% Các ngành nông nghiệp , công nghiệp, thơng mại dịch vụ đều có tốc độ tăng trởng khá, bình
Trang 27quân 10 năm giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4,6% công nghiệp tăng 14,65%
và thơng mại dịch vụ tăng 16,34%
Cơ cấu kinh tế ngoại thành chuyển dịch theo hớng tích cực, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp đạt 28,1% giảm 16,41% so với tỷ trọng 44,51% ở thời điểm năm 1990 Ngợc lại tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng từ 39,5% năm 1990 lên 53,5% năm 2000 (tăng 14%), ngành thơng mại dịch vụ tăng từ 15,99% năm 1990 lên 18,4% năm 2000
Cơ cấu kinh tế ngoại thành phát triển theo hớng tích cực chủ yếu là do:
- Về nông nghiệp: Đã từng bớc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến,
phát triển theo hớng sản xuất hàng hoá, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất theo hớng nông hộ sản xuất hàng hoá từ đó nâng cao hiệu quả cuả sản xuất nông nghiệp Bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2000 đạt khoảng 30,4 triệu
đồng/ha (theo giá cố định), tăng 1,7 lần so với 1990
- Về công nghiệp: Nhiều ngành nghề, làng nghề thủ công nghiệp truyền
thống đợc khôi phục và phát triển (25 làng nghề) Ngoài ra thành phố đã tập trung xây dựng một số khu công nghiệp ngoại thành
- Về dịch vụ: Nhiều trung tâm buôn bán và chợ nông thôn đã đợc hình
thành Năm 1990 có 90 trung tâm thì đến năm 2000 có 128 trung tâm
Tóm lại:
Trong 10 năm qua (1990 - 2000), tốc độ đô thị hoá ở Hà Nội ngày càng cao kéo theo sự biến động về nhiều yếu tố nh đất đai, dân số, chất lợng cuộc sống Tuy vậy quá trình đô thị hoá cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết đó…là:
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật tuy đã đạt đợc những thành tựu đáng kể trong quá trình phát triển đô thị nh… ng nhìn tổng thể thì toàn bộ hạ tầng kỹ thuật cha trở thành hệ thống hoàn chỉnh: mạng lới đờng, đặc biệt là các đờng liên khu vực
và khu vực trong đô thị còn thiếu, nhiều đờng liên xã cha đợc xây dựng, cải tạo, các công trình cấp điện, cung cấp nớc sạch, thoát nớc không đáp ứng đợc cả về
số lợng và chất lợng, gây kìm hãm sự tăng trởng kinh tế, tác động tiêu cực trên
Trang 28các mặt sản xuất và đời sống, trật tự an toàn xã hội, văn minh đô thị và môi ờng.
tr Sự nghiệp y tế, văn hoá, giáo dục đã đợc đẩy mạnh trong vài năm gần
đây sung phát triển còn chậm, cơ sở vật chất ở một số huyện, xã còn yếu Chính sách đầu t cha đáp ứng đợc yêu cầu về chất lợng, đặc biệt là ở khu vực ngoại thành Môi trờng nông thôn bị ô nhiễm ngày càng nặng (huyện Thanh Trì, Sóc Sơn) nhng cha có biện pháp giải quyết một cách tích cực và có hiệu quả
- Trong 10 năm qua, kinh tế Hà Nội nhùn chung đã có bớc phát triển đáng
kể và tơng đối mạnh mẽ, toàn diện bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp và dịch
vụ Tuy nhiên tốc độ tăng trởng trong những năm gần đây chậm dần sản xuất nông nghiệp ở nhiều địa phơng vẫn trong tình trạng sản xất nhỏ thuần nông; Cơ cấu sản xuất mặc dù chuyển dịch đúng hớng nhng còn chậm và cũng không đạt chỉ tiêu Đại hội XII đề ra: năm 2000 GDP khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 37,8%, nông lâm thuỷ sản chiếm 3,8%, thơng mại dịch vụ chiếm 58,4% (chỉ tiêu tơng ứng của Đại hội XII đề ra là: 39%, 3,3% và 57,7%), cha tạo sự chuyển biến
rõ cơ cấu trong nội bộ ngành vì vậy cha dẫn đến sự phát triển vợt bậc của nền kinh tế
- Dân số ngày càng tăng cao trong quá trình đô thị hoá đã góp phần phân
bố lại lao đông trong dân c, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phơng nơi nhập c, đáp ứng kịp thời nhu cầu lao động cho các cơ sở sản xuất trên địa bàn thành phố Tuy nhiên dân số tăng cao cũng làm cho công tác quản lý khó…khăn, ảnh hởng đến phân công lao động việc làm, gây nhiều tác động tiêu cực về nhà ở, ô nhiễm môi trờng và các tệ nạn xã hội …
- Mặc dù quá trình đô thị hoá có tác động tích cực đến hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội nhng sự biến động đất đai giữa các vùng làm cho đất nông nghiệp giảm đi ảnh hởng đến cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu sản xuất bị xáo trộn, cha phù hợp để đáp ứng nhu cầu thị trờng
II ảnh hởng của quá trình đô thị hoá đến nông nghiệp ngoại thành Hà Nội.
Trang 29Với sức hấp dẫn tự nhiên nh tất cả các quốc gia khác trên thế giới, Thủ đô
Hà Nội đã và đang trở thành nơi hội tụ dòng di c tự do cũng nh các hoạt động kinh tế - xã hội từ các miền, các vùng lân cận của cả nớc, khiến tốc độ đô thị hoá ngày càng cao Đến năm 2000, tỷ lệ đô thị hoá của Hà Nội là 57,6% so với mức trung bình của cả nớc là 23,5% Cùng với sự gia tăng dân số làm nảy sinh vấn đề bức xúc giữa yêu cầu gia tăng không ngừng về diện tích đất xây dựng đô thị và khu công nghiệp với những hạn chế cả về số lợng và chất lợng của quỹ
đất đai thành phố Điều này ảnh hởng đến nhiều mặt kinh tế - xã hội, trong đó trực tiếp tác động đến nông nghiệp, đăn biệt là tác động đến khu vực ngoại thành Hà Nội
1 Quá trình đô thị hoá ảnh hởng đến cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
1.1 ảnh hởng đến cơ cấu ngành nông nghiệp.
ở giai đoạn 1990 - 2000, những chuyển biến trong nông nghiệp gắn liền với bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trờng và chịu sự tác động ngày càng mạnh của quá trình đô thị hoá ở đây đã có sự thay đổi cả về tính chất và động lực phát triển Nền nông nghiệp đang từng bớc chuyển sang nền nông nghiệp hàng hoá với cấu trúc đa dạng và năng động Tốc độ tăng giá trị sản lợng tuy cao nhng cha có bớc tiến đặc biệt trong cơ cấu
* Cơ cấu của ngành nông nghiệp mở rộng.
Đây là cơ cấu bao gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản.Trong thời kỳ 1995 - 2000, cơ cấu của ngành nông nghiệp mở rộng gần
nh không thay đổi, tỷ trọng các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản đợc thể hiện qua số liệu tơng ứng là 95%, 1% và 4% Nguyên nhân của sự chênh lệch trên là do Hà Nội là vùng đồng bằng, sản xuất nông nghiệp tuyệt đại đa số
là ở vùng đất bằng, do đó sản xuất nông nghiệp trong suốt giai đoại này đều chiếm khoảng 95% Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản và lâm nghiệp có quy mô rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 4% và 1% tơng ứng trong tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp
Trang 30đất đai trên cả phơng diện số lợng, chất lợng đất đai, vì vậy nó chịu ảnh hởng lớn của quá trình đô thị hoá Đồng thời diện tích đất nông nghiệp giảm đi cũng vì nguyên nhân là do các hộ nông nghiệp chuyển sang phát triển ngành chăn nuôi.
Tuy nhiên, trong những năm qua, sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng còn ở mức độ khiêm tốn Cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi có dịch chuyển theo hớng tiến bộ, nhng vẫn xoay quanh tỷ lệ 3:2 Tình trạng mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi vẫn cha đợc giải quyết Chăn nuôi tuy đã tăng trởng khá hơn nhng vẫn cha có một vị trí quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp
Bên cạnh tác động tích cực làm tăng giá trị sản xuất của cây trồng vật nuôi, quá trình đô thị hoá đã làm giảm đi một lợng đáng kể diện tích đất sản
Trang 31xuất nông nghiệp Nếu không có sự thu hẹp về diện tích đất sản xuất này thì chắc chắn sự phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội còn tăng hơn nhiều.
Khảo sát sự biến động trên theo từng huyện cho thấy: Trong 10 năm tỷ trọng ngành chăn nuôi ở Từ Liêm đã tăng từ 22,69% năm 1990 lên28,3% năm 1999; ở Đông Anh là 33% năm 1990 đã tăng lên 40% năm 2000; Thanh Trì mức biến động của chăn nuôi và thuỷ sản từ 40,51% năm 1995 đến 48,16%, trong đó chăn nuôi chiếm 25,4% và thuỷ sản là 31,87%; ở Gia Lâm tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu các ngành nông nghiệp, năm 2000 đã tăng lên đến 38,8%
Nhìn chung, các huyện đều ở tình trạng có sự mất cân đối giữa ngành chăn nuôi và trồng trọt ở những năm trớc đó Sự thay đổi tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong cơ cấu các ngành nông nghiệp đã thể hiện sự tăng trởng nhanh của ngành chăn nuôi những năm gần đây Điều đó thể hiện sự tác động mạnh
mẽ của quá trình đô thị hoá đến sự phát triển nông nghiệp nói chung, các ngành chăn nuôi nói riêng theo những xu hớng biến động khác nhau
Một mặt, đô thị hoá đã thu hẹp đất đai của ngành trồng trọt làm cho sản xuất của trồng trọt bị thu hẹp về quy mô diện tích và đẩy ngành trồng trọt chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hớng nâng cao hiệu quả sản xuất Mặt khác, tạo những điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quy mô sản xuất ngành chăn nuôi nh: buộc ngời dân phải chuyển dịch lao động và các điều kiện sang sản xuất chăn nuôi, đô thị hoá lấy đất của ngành trồng trọt đền bù đất cho ngời dân tạo điều kiện cho họ có nguồn vốn phát triển chăn nuôi
Khảo sát ở các huyện cho thấy: từ 35% - 54% số hộ nông dân tăng quy mô ngành chăn nuôi do nguồn vốn đầu t thuận lợi hơn, trong đó có sự đóng góp của nguồn vốn đền bù đất do đô thị hoá
Nhìn chung chăn nuôi đã và đang phát triển mạnh theo hớng sản xuất hàng hoá, tỷ trọng chăn nuôi tăng tơng đối nhanh trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, chăn nuôi đã đa dạng hơn và có bớc phát triển khá mạnh ở cả đại gia súc (trâu, bò, dê), gia súc (lợn), gia cầm và thuỷ đặc sản Đặc biệt, hình thức chăn nuôi gà công nghiệp và lợn theo mô hình kinh tế trang trại đã có
Trang 32bớc phát triển khá cả về quy mô và hiệu quả kinh tế Chính vì vậy, chăn nuôi lợn
và gia cầm đã chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất của ngành chăn nuôi ở hầu hết các huyện, chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh ở huyên Gia Lâm Nuôi trồng thuỷ sản duy trì và phát triển ở các huyện có điều kiện nh: Thanh Trì,
Đông Anh và cũng đã đợc chú ý ở những huyện khác nên cũng có bớc phát triển
Đối với ngành trồng trọt: Đã có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hớng
từ sản xuất lúa là chủ yếu sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao theo yêu cầu của xã hội và phù hợp với các điều kiện sản xuất của các huyện Các loại giống có năng suất cao đợc đa vào sản xuất, các dịch vụ từng bớc đợc đáp ứng kịp thời, rau sạch cũng từng bớc đợc mở rộng Chính nhờ xu hớng chuyển dịch trên, mặc dù diện tích đất cho nhành nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng bị thu hẹp, nhng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt của các huyện vẫn tăng tơng đối cao
Trong vòng 10 năm, giá trị sản xuất của ngành trồng trọt trên địa bàn huyện Đông Anh đã tăng 1,62 lần đạt mức tăng bình quân 3,06% Trong trồng trọt sự tăng tởng của các loại rau đậu, hoa quả ở mức cao ở Thanh Trì tốc độ tăng trởng của ngành trồng trọt vẫn tăng bình quân 1,6%/ năm mặc dù đất nông nghiệp bị giảm rất mạnh từ năm 1995 đến 2000 giảm đi 4.431,29 ha ở Từ Liêm tốc độ tăng trởng đạt trên 1%, trong khi đó tốc độ đô thị hoá diễn ra khá mạnh,
tỷ lệ đất trồng trọt bị giảm mạnh Đây là bớc chuyển phù hợp với quy luật phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất trồng trọt nói riêng từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa
Tuy nhiên, nếu xem xét trong nội bộ ngành trồng trọt của ngoại thành Hà Nội thì cây lúa vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, đợc thể hiện ở bảng dới đây
Biểu 6: Giá trị và cơ cấu giá trị một số cây trồng chủ yếu của ngoại thành Hà Nội.
Trang 33Giá trị (tr đ)
Cơ cấu (%)
Giá trị (tr đ)
Cơ cấu (%)
Giá trị (tr đ)
Cơ cấu (%) Tổng số 545.025,9 100 556.325,25 100 581.412,60 100
Nguồn niên giám thống kê Thành phố Hà Nội 1996 - 2000.
Qua biểu 6 cho thấy, năm 1996 giá trị cây lúa đạt 315138,45 triệu đồng
t-ơng ứng với 82,1% thì đến năm 2000 là 352545,16 triệu đồng tt-ơng ứng với 84,4%
Tỷ trọng giá trị của cây ngô giảm đi đáng kể từ 4,19% năm 1996 xuống còn 2,6% năm 2000, cây khoai lang tỷ trọng cũng giảm nhng không đáng kể
* Đối với cây thực phẩm ở ngoại thành Hà Nội cũng có sự chuyển biến tích cực cả về cơ cấu và giá trị: Năm 1996 giá trị đạt 104406,5 triệu (chiếm 19,16% tổng giá trị cây trồng hàng năm), đến năm 2000 đạt đợc 119864,6 triệu (chiếm 21,1%) theo giá thực tế
Trong thời gian tới việc phát triển cây thực phẩm nói chung và các loại rau nói riêng là hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng hiện nay Tăng cờng áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ sinh học vào ngành trồng trọt đã sản xuất nhiều vụ trái mùa, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngời dân thủ đô và đem lại lợi ích kinh tế cho ngời sản xuất
* Đối với cây công nghiệp hàng năm:
Chủ yếu là cây lạc và đậu tơng, trong giai đoạn 1996 - 2000 tỷ trọng của cây lạc giảm đi từ 59,8% xuống còn 50,42% Ngợc lại, cây đậu tơng lại có xu h-ớng tăng lên từ 40,20% đến 54,81%
Trang 34Tuy nhiên trong những năm qua, sự phát triển và chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp, đặc biệt là của ngành trồng trọt cũng chịu sự tác động tiêu cực của quá trình đô thị hoá trên các mặt sau:
- Đô thị hoá đã lấy đất của sản xuất nông nghiệp làm cho sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp Trên thực tế, khi xem xét kết quả của sản xuất nông nghiệp ta thấy giá trị sản xuất của ngành tăng lên qua các năm Bên cạnh những tích cực làm tăng giá trị sản xuất của cây trồng vật nuôi, đô thị hoá còn tác động tiêu cực khi lấy đi lợng không nhỏ đất đai của nông nghiệp Nếu không có sự thu hẹp về
đất đai, chắc chắn sự phát triển của sản xuất nông nghiệp còn tăng hơn nhiều
- Đô thị hoá với sự phát triển của các ngành tạo sự chênh lệch thu nhập Nông nghiệp, nhất là ngành trồng trọt trở thành ngành có thu nhập thấp, lao
động nặng nhọc nên sức hấp dẫn kém
- Sự phát triển của công nghiệp một mặt tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp tăng cao năng suất, nhng cũng tạo điều kiện cho những ngời sản xuất chạy theo lợi nhuận tạo nên sự ô nhiễm trong sản xuất, gây nên những tác động xấu trong an toàn thực phẩm
1.2 ảnh hởng của đô thị hoá đến cơ cấu vùng sản xuất nông nghiệp.
Trong những năm kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo, sản xuất nông nghiệp ngoại thành đã hình thành một số vùng sản xuất chuyên môn hoá nh vùng sản xuất rau ăn lá ở Thanh Trì, Từ Liêm và rau củ quả ở Gia Lâm, vùng lúa, vùng sản xuất cá ở Thanh Trì, vùng hoa Từ Liêm, vùng màu Đông Anh…
Trong 10 năm qua, cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, các vùng nông nghiệp chuyên môn hoá trong khu vực ngoại thành có sự biến đổi sâu sắc Một mặt, đã chuyển hớng sản xuất nhanh sang kinh doanh tổng hợp, mất dần tính chất chuyên môn hoá vốn có, điển hình là huyện Thanh Trì, nhiều xã trớc đây chuyên sản xuất rau, nay chuyển sang trồng rau, cấy lúa và nuôi cá Mặt khác, đã tự phát hình thành ngày càng nhiều các khu vực tập trung sản xuất chuyên cây, chuyên con nh vùng trồng rau ở Văn Đức (Gia Lâm), Nam Hồng -
Trang 35Bắc Hồng (Đông Anh); vùng cây ăn quả tập trung ở 12 xã của Đông Anh, 3 xã của Từ Liêm và 9 xã vùng đồi gò của Sóc Sơn vùng chăn nuôi lợn nái ở Việt Hùng, Cổ Loa, Dục Tú, Nam Hồng (Đông Anh), vùng trồng màu ở Phù Đổng, Yên Thờng (Gia Lâm); vùng nuôi thả cá ở các xã vùng trũng của Thanh Trì, vùng hoa ở Vĩnh Tuy - Định Công (Thanh trì) Quá trình hình thành các vùng sản xuất tập trung đã phát triển mô hình kinh tế trang trại
Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, toàn khu vực ngoại thành Hà Nội có tới 1010 trang trại các loại
Nhìn chung, quy mô những vùng chuyên canh còn nhỏ bé, nhng có ý nghĩa nh một nhân tố làm thay đổi nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hớng sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, trong số các vùng chuyên môn hóa sản xuất mới hình thành thì chỉ một số ít nằm trong quy hoạch, kế hoạch của Thành phố nh vùng bò sữa, vùng rau sạch ở Gia Lâm , vùng cây ăn quả ở Sóc Sơn, còn lại hầu hết đều hình thành một cách tự phát Do đó, những vùng nông nghiệp sản xuất chuyên môn hoá vẫn mang nặng tính chất phân tán, manh mún, không có sản phẩm chủ lực trong việc khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, từng khu vực, cha hình thành đợc những vùng sản xuất tập trung sản xuất nông sản chất lợng cao, quy mô lớn cho chế biến và xuất khẩu
2 ảnh hởng của đô thị hoá đến các yếu tố đầu vào chủ yếu của sản xuất nông nghiệp.
2.1 ảnh hởng đến đất nông nghiệp:
2.1.1 Biến động về diện tích đất nông nghiệp.
Trong tổng diện tích đất khu vực ngoại thành Hà Nội, đất nông nghiệp chiếm một tỷ lệ khoảng 50% Trong quá trình đô thị hoá, nhu cầu đất cho xây dựng đô thị, hệ thống cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp rất lớn Một phần đất nông nghiệp đã phải chuyển sang các mục đích sử dụng khác để đáp ứng yêu cầu của quá trình đô thị hoá Vì vậy, ngoại thành Hà Nội đang có những thay
đổi lớn trong quy mô diện tích đất nông nghiệp
Trang 36Biểu 7: Tình hình sử dụng và biến động đất nông nghiệp khu vực ngoại thành chia theo huyện.
Nguồn: niên giám thống kê Hà Nội 2000.
Ta thấy trong thời kỳ 1995-2000, quá trình đô thị hoá khu vực ngoại thành
Hà Nội ngày càng mạnh, tuy nhiên tốc độ đô thị hoá và sự ảnh hởng của nó đến diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn từng huyện khác nhau
Đối với huyện Sóc Sơn, có thể nói là huyện có tỷ lệ đô thị hoá thấp nhất trong số các huyện ngoại thành Diện tích đất nông nghiệp tăng lên nếu so sánh giữa hai thời điểm 1995 - 2000, cụ thể là 89 ha Một mặt, do huyện mở rộng diện tích bằng cách tận dụng đất cha sử dụng, đất hoang hoá, cải tạo và đa vào sử dụng Mặt khác, đất nông nghiệp Sóc Sơn ít chịu ảnh hởng của quá trình đô thị hoá
ở các huyện Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì diện tích đất nông nghiệp đều giảm trong thời kỳ 1995 – 2000, trong đó phần lớn do Nhà nớc thu hồi với mục đích đô thị hoá Đặc biệt là huyện Từ Liêm là một huyện có tốc độ
đô thị hoá cao, diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh nhất (1.261 ha) Theo quy hoạch của thành phố thì một phần lớn đất của huyện Từ Liêm nằm trong vùng phát triển của thành phố trung tâm Đây là khu vực đã có các dự án khu đô thị mới: Nam Thăng Long, khu ngoại giao đoàn, tháp truyền hình, khu đô thị mới
Mỹ Đình, Trung tâm thể thao Mỹ Đình Sự hình thành các khu đô thị mới đã…
Trang 37làm mất đi một diện tích rất lớn đất nông nghiệp trong một khoảng thời gian ngắn
Huyện Gia Lâm là một khu vực đang đợc u tiên phát triển, quá trình đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ khẩn trơng Hiện tại trên địa bàn huyện Gia Lâm
có hai khu công nghiệp lớn trong số 4 khu công nghiệp mới đầu t xây dựng sau năm 1995 của Thành phố Hà Nội là Sài Đồng và Đài T, trong đó khu công nghiệp Sài Đồng là khu công nghiệp thu hút đợc nhiều công ty nớc ngoài vào xây dựng nhà máy nhất thành phố Vì vậy, diện tích đất nông nghiệp đã giảm đi trong giai đoạn này
Huyện Đông Anh nằm trong xu thế đô thị hoá chung của toàn Thành phố
Hà Nội và đợc chọn là vùng trong chiến lợc phát triển Thủ đô, hình thành khu
đô thị mới và khu công nghiệp Bắc Thăng Long Tuy nhiên, trong thời gian qua diện tích đất nông nghiệp của huyện Đông Anh có giảm trong giai đoạn 1995 -
2000 theo xu hớng chung của toàn khu vực ngoại thành
Đối với huyện Thanh Trì, huyện này đợc chia thành 3 khu vực, trong đó 2 khu vực có tốc độ đô thị hoá cao đó là: khu vực phát triển trung tâm thành phố
và khu vực đang đô thị hoá ngoài thành phố trung tâm Nhiều xã ven nội của huyện đang trong quá trình đô thị hoá mạnh, làm giảm diện tích đất nông nghiệp từ 5.622 ha năm 1995 xuống 5.189 ha năm 2000
2.1.2 Biến động về cơ cấu đất nông nghiệp.
Quá trình đô thị hoá đã ảnh hởng trực tiếp đến đất nông nghiệp, một t liệu sản xuất cơ bản và quan trọng nhất trong nông nghiệp không chỉ về mặt số lợng
mà còn ảnh hởng đến cơ cấu đất nông nghiệp
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội, diện tích đất nông nghiệp ở khu vực ngoại thành chiếm đa số tới 95% Chính vì vậy, sự biến động trong cơ cấu đất nông nghiệp chủ yếu là do ảnh hởng biến động đất nông nghiệp khu vực ngoại thành trong quá trình đô thị hoá
Đất đai là nguồn lực chủ yếu để phát triển nông nghiệp, tuy nhiên cùng với thu hẹp về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hoá lao động trong
Trang 38nông nghiệp lại tăng lên Vì vậy, bình quân diện tích đất nông nghiệp / lao động nông nghiệp đã thấp lại có xu hớng giảm.
Cùng với xu hớng giảm đất nông nghiệp, đặc biệt là đất canh tác ngày càng thu hẹp do ảnh hởng của quá trình đô thị hoá, cơ cấu các loại đất cũng đã chuyển dịch theo hớng tích cực đa dạng hoá cây trồng để tăng hiệu qủa sử dụng
đất Xu hớng này đợc thể hiện khá rõ nét, nhất là trong những năm gần đây
Biểu 8: Diện tích gieo trồng một số cây trồng chính ngoại thành Hà Nội thời kỳ 1995 - 2000
Đơn vị: ha
Năm 1995 1997 2000 Biến động qua các thời kỳ
1997
1995-2000
1997-2000
1995-1 Diện tích gieo trồng cây hàng năm
Trang 39Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội - 2000.
Qua biểu 8 cho thấy ở huyện Đông Anh diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm đi qua các thời kỳ 1997 - 2000 (488 ha), tính chung cho giai đoạn
1995 - 2000 thì giảm đi 451 ha mặc dù trong 2 năm từ 1995 - 1997 có tăng lên nhng không đáng kể (37 ha) Nhìn chung trong 5 năm qua diện tích gieo trồng cây hàng năm của khu vực ngoại thành giảm
Tình trạng độc canh cây lúa cũng đã từng bớc đợc khắc phục Năm 1995, cả vùng ngoại thành còn 55.544 ha đất trồng lúa, đến năm 2000 giảm xuống chỉ còn 52.703 ha Đặc biệt là huyện Từ Liêm, diện tích đất trồng lúa giảm rất mạnh qua thời kỳ này (1934 ha)
Tuy nhiên trừ huyện Từ Liêm, các huyện ngoại thành đều mở rộng diện tích trồng rau Huyện Đông Anh và Gia Lâm do sự hình thành ngày càng nhiều các khu vực chuyên trồng rau nên diện tích đất trồng rau tăng khá nhiều, tơng ứng là 1.155 ha và 889 ha trong khoảng thời gian 1995 - 2000
Đồng thời diện tích trồng hoa cây cảnh cũng tăng khá nhanh Năm 1995, cả khu vực ngoại thành chỉ có 380 ha diện tích đất trồng hoa, đến năm 2000 diện tích này đã tăng lên tới 1247 ha Nổi bật là huyện Từ Liêm, một huyện có tốc độ
đô thị hoá đợc đánh giá là cao hơn trong tổng số các huyện ngoại thành, năm
Trang 402000 đã có 983 ha đất trồng hoa, chiếm tới 78,83% trong tổng diện tích đất trồng hoa khu vực ngoại thành.
Tóm lại, xu hớng chuyển dịch cơ cấu quỹ đất nông nghiệp trong những năm gần đây là tích cực, từng bớc đa dạng hoá cây trồng theo hớng sản xuất hàng hoá Xu hớng đó về cơ bản là phù hợp với quy hoạch phát triển nông nghiệp của ngoại thành Hà Nội nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện
đại hoá Có đợc sự tiến bộ trên đây là do sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là quá trình đô thị hoá ngoại thành Hà Nội Cùng với sự thu hẹp về diện tích đất nông nghiệp và cùng với những đòi hỏi ngày càng cao của thị trờng, các hộ nông dân đã tìm hớng chuyển dần những loại đất không phù hợp với trồng cây lơng thực, đất trồng lúa có năng suất thấp sang trồng các loại câykhác để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Tuy nhiên quá trình đô thị hoá đã tác động rất mạnh đến đất nông nghiệp cả về diện tích, quy mô và cơ cấu Có thể nói đây là tác động bất lợi nhất của quá trình đô thị hoá Mặt khác, xu hớng chuyển dịch đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác cũng nh trong sự chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp, còn mang nhiều tính chất tự phát Do đó ảnh hởng đến quỹ đất nông nghiệp
đang ngày càng bị thu hẹp dần
2.2 ảnh hởng của quá trình đô thị hoá đến lao động trong nông nghiệp.
2.2.1 ảnh hởng đến lao động nông nghiệp trong cơ cấu nói chung.
Thực tế hiện nay cho thấy quá trình giảm dần quỹ đất canh tác do đô thị hoá ngoại thành đang kéo theo một bộ phận lao động nông nghiệp phải chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp
Biểu 9: Cơ cấu lao động ngoại thành Hà Nội giai đoạn 1990 - 2000.
Đơn vị: %