Giữa tăng trưởng và cải thiện đời sống không phải lúc nào cũng có mối quan hệ thuận chiều ,tức là
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Giữa tăng trưởng và cải thiện đời sống không phải lúc nào cũng cómối quan hệ thuận chiều ,tức là cứ tăng trưởng là dẫn đến cải thiện đờisống Một ví dụ điển hình là các nước Mỹ La Tinh vào những năm 60,70của thế kỷ 20 các nước này có tốc độ tăng trưởng rất cao nhưng khoảngcách thu nhập giữa 20% dân số giầu nhất và 20% dân số nghèo nhất
là Điều đó đã khiến chúng ta đặt ra một câu hỏi : liệu mục tiêu của quátrình phát triển là tăng trưởng thì các vấn đề xã hội sẽ được giải quyết
Việt nam với khoảng 70% dân số là nông thôn , thì vấn đề đặt ra đểcải thiện đời sống là phải phát triển nông nghiệp nông thôn Đây sẽ là mộthướng đi bền vững và không có sự đánh đổi Đây chính là lý do em chọn
đề tài “Phát triển nông nghiệp và nông thôn nhằm cải thiện đời sống dân sinh miền Bắc Trung Bộ” Bài làm không tránh khỏi thiếu sót em mong
được sự góp ý của thầy
Trang 2Chương I : Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp nông
thôn và cải thiện đời sống
1 Mối quan hệ tăng trưởng và cải thiện đời sống.
Một thực tế là vào những năm 60 các nước đang phát triển có tỷ lệtăng trưởng khá cao nhưng sự tăng trưởng đó lại chủ yếu mang lại lợi íchcho người giầu ,nhóm người nghèo được hưởng rất ít Chẳng hạn như ở
Mỹ La Tinh , thu nhập của 10% nhóm giầu nhất gấp 50% nhóm nghèonhất
Bảng 1 : chênh lệch thu nhập ở Mỹ La Tinh năm 1997( % của thu nhập)
Quốc qia Hệ số gini 10% thấp
nhất
10% caonhất
20% thấpnhất
20% caonhất
Có rất nhiều nguyên nhân để giải thích cho tình trạng trên Chẳnghạn như chính phủ muốn tăng thêm uy tiến và sức mạnh cho quốc gia mình
Trang 3đã đầu tư vào quân sự Hoặc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở giai đoạntiếp theo, chính phủ dành phần lớn thu nhập để tái đầu tư Tuy nhiên về lýthuyết cũng như quan sát thực tế, các nhà kinh tế cho rằng nguyên nhânchính của việc tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng không dẫn đến việc cảithiện đời sống, nâng cao phúc lợi cho đa số dân chúng là xuất phát từ “phânphối thu nhập” Như vậy tẳng trưởng kinh tế là điều kiện cần nhưng khôngphải là điều kiện đủ để làm cho phúc lợi được phân phối rộng rãi hơn.
2 Tại sao phải phát triển nông nghiệp và nông thôn để cải thiện đời sống dân sinh ở miền Bắc Trung Bộ
Tác động của tăng trưởng về nông nghiệp ,công nghiệp ,dịch vụ đốivới việc cải thiện đời sống là rất khác nhau Một nghiên cứu chỉ ra rằng:Nếu chính phủ bỏ ra một đồng chi tiêu cho nông nghiệp thì tác động giảmnghèo và cải thiện đời sống là lớn nhất so với chi tiêu một đồng cho côngnghiệp và dịch vụ Điều này chứng tỏa giữa tăng trưởng nông nghiệp vàgiảm nghèo là không có sự đánh đổi
Bắc Trung bộ là vùng có tỷ lệ đói nghèo cao đứng thứ hai trong cảnước( sau vùng núi phía Bắc) Và đây cũng là vùng có điều kiện về đất đai
và điều kiện tự nhiên rất khó khăn để phát triển nông nghiệp Đất nôngnghiệp rất hạn chế,trong khi đó bão lũ luôn là vấn đề đe dọa trực tiếp đếnđời sống của nông dân Chính vì vậy việc tìm ra một hứong đi đúng chonông nghiệp là một điều rất quan trọng
Trang 4Chương 2: Tác động phát triển nông nghiệp nông thôn đến
cải thiện đời sống
1- Đặc điểm vùng Bắc Trung Bộ
Vùng bắc trung bộ gồm 6 tỉnh : Thanh Hóa,Nghệ An, HàTĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Có tổng diện tích đất tựnhiên gần 5.1 triệu ha trong đó 80% là đất đồi núi ,còn lại là các đồng bằngduyên hải Đất nông nghiệp chiếm 0.7 triệu ha ,tương đương với 14% tổngdiện tích đất tự nhiên Vùng này có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa khôkéo dài từ tháng1 đến tháng 5 ,còn mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 12 đikèm theo bão lũ với 85% lượng mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 11 Cóthể nói khí hậu ở đây rất khắc nhiệt ,vào mùa hè thì nhiệt độ rất cao ,caonhất trong các tỉnh thành cả nước có khi lên đến 41-42 độ ,gây ra hạnhán Còn vào mùa mưa thì bão lũ thường xuyên xảy ra đã ảnh hưởngnghiêm trọng đến mùa màng Nói chung khó khăn chủ yếu đối với khu vựcnày là đất trồng trọt ít ,nghèo chất dinh dưỡng ,thiết nước ngọt vào mùakhô ,trong vùng thường xuyên xảy ra bão lũ
Tuy vậy , Bắc Trung Bộ rất thích hợp cho nuôi trồng và đánh bắtthủy sản ven biển và các dịch vụ kèm theo như trại ương nuôi trồng cá tômgiống Với một bờ biển dài không chỉ là thuận lợi cho phát triển ngànhthủy sản mà còn là một địa điểm du lịch lý tưởng Về vị trí địa lý, BắcTrung Bộ tiếp giáp với Lào có ba tuyến đường 8,7,9 nối liền với Cộng hòadân chủ nhân dan Lào và các nước đông nam Á trong xu thế hội nhập và
mở cửa đó là nguồn lợi không thể tính là điều kiện trao đổi giao lưu buônbán ,kinh nghiệm.Đồng thời đây là vùng có chiến lược quan trọng trongviệc nối liền Hà Nội và Hồ Chí Minh
Trang 52 Thành tựu đã đạt được trong việc phát triển nông nghiệp và nông thôn nhằm cải thiện đời sống
2.1 Đời sống nhân dân được cải thiện
Việt Nam được liên hợp quốc đánh gía là một trong những quốc gia có tỷ lệgiảm nghèo tốt nhất từ 70% năm 1990 đến 32% năm 2000 ( giảm trên ½ tỷ
lệ hộ nghèo so với năm 1990) Để đạt được thành tựu này là nhờ tốc độtẳng trưởng liên tục bình quân 7.5% trong giai đoạn này
Với chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp nông thôn ,khuyếnkhích người dân tự cải thiện đời sống của mình ,Bắc Trung Bộ đã đạtnhững thành quả nhất định trong việc cải thiện đời sống
Bảng 2: tỷ lệ đói nghèo giữa các vùng:(%)
Nguồn :Tổng cục thống kê :” Thông báo cáo chí về tỷ lệ hộ nghèo theo
chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010”
Tỷ lệ hộ nghèo đói đã giảm ,bình quân mỗi năm là 7% trong giai đoạn
từ 2002-2004 So với các khu vực khác những con số này vẫn đang còn caonhưng đối với một vùng có điểm xuất phát thấp lại thường xuyên chịu thiêntai bão lụt thì điều này chứng tỏa sự cố gắng của người dân cũng như các
Trang 6cấp lãnh đạo đã có những chính sách đầu tư vào nông nghiệp , phát triểnnông thôn một cách hợp lý.
2.2 Chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực
Cơ cấu ngành đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóahiện đại hóa
Bảng 3: chuyển dịch cơ cấu(%)
Nông
nghiệp
Côngnghiệp
Dịch vụ Nông
nghiệp
Côngnghiệp
Bảng 4: Cơ cấu ngành nông nghiệp:
Trang 7Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Tổng
nguồn: Nien gián thống kê năm 2006
Với rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng thủysản ,đã làm cho thủy sản ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đadạng hóa cây trồng Thu nhập từ thủy sản cao gấp 50 lần so với thu nhập từcây lúa nước Đây là hướng đi cho các tỉnh miền trung giúp nhân dân cảithiện đời sống Tỷ trọng đóng góp của thuỷ sản trong tổng giá trị nôngnghiệp tăng liên tục (trừ năm 2004 do dịch bệnh)
3 Hạn chế của vùng trong việc phát triển nông nghiệp nông thôn
3.1 Mức sống dân cư trong vùng vẫn còn thấp so với các vùng khác
Tỷ lệ hộ nghèo đói vẫn còn rất cao, đứng thứ hai trong cả nước (sauTây Bắc) Năm 2002 cả nước là trong khi đó Bắc trung bộ là (bảng 2) So
Trang 8với các khu vực có tỷ lệ giảm nghèo cao như Tây Bắc ,Tây Nguyên thì tốc
độ giảm nghèo của khu vực này chậm hơn
Mức thu nhập bình quân đầu người cũng rất thấp Bình quân mộttháng là 317.1 nghìn đồng ,vùng Đông nam bộ là 833 nghìn đồng (năm2004) ,gấp 2.5 lần
Bảng 5: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo gía thực tế
Nguồn : Niên gián thống kê
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cũng cao 37% trong khi đó cả nước là26.6% Suy dinh dưỡng có rất nhiều nguyên nhân, có thể là do không biếtcách chăm sóc con cái , hoặc do không có điều kiện chăm sóc Với mộtvùng tỷ lệ đói nghèo cao, môi trường sống khó khăn thì có nhiều trẻ em suydinh dưỡng là điều dễ hiểu
3.2 Đời sống nhân dân được cải thiện nhưng thiếu tính bền vững
Với đặc tính của vùng là thường xuyên có bão lũ, hạn hán thì nguy cơ
dễ bị tổn thương của người nghèo là rất cao, 86.68% dân số sống bằngnghề nông, một nghề mà phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thiên nhiên ,chỉcần một trận bão to có thể người nông dân sẽ phải bắt đầu lại từ đầu.Không đâu xa, cơn bão tháng 10/2007 vừa qua đã gây ra thiệt hại rất lớn,
Trang 9các hệ thống sông đê điều bị phá vỡ, mùa màng, vật nuôi gia súc bị cuốntrôi Như vậy tất cả vốn liếng tích luỹ từ lâu nay đã bị bão đem đi.
Thu nhập của người dân thấp, chỉ trên mức ngưỡng nghèo một chút.Trong khi đó nông nghiệp là một khu vực rất nhạy cảm thì nguy cơ táinghèo rất cao khi có bất kỳ sự biến động nào
Tính mùa vụ trong nông nghiệp cũng là một yếu tố khiến cho đời sống nhân dân bấp bênh
3.3 Cơ cấu trong nông nghiệp còn chậm chuyển dịch
Tuy đã đạt được những thanh tựu nhất định nhưng chuyển dịch cơ cấunông, công nghiệp, dịch vụ còn chậm; mỗi năm chỉ tăng (giảm ) 1% Vớimột vùng có tiềm lực và lợi thế về du lịch nhưng tốc độ tăng trưởng du lịchlại lẹt đẹt (bảng 3), cơ cấu trong GDP vẫn còn thấp chưa tương xứng vớitiềm năng Trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng vậy, dường như cơ cấunông nghiệp không hề chuyển dịch, năm 1998 chiếm 80,83% trong GDPnhưng năm 2005 thì con số đó là 78.2(bảng 4) Sự phát triển của ngành lâmnghiệp được khôi phục trong những năm gần đây qua các chương trình phủxanh đất trống đồi núi trọc, chương trình trồng rừng mới 5 triệu ha rừng,nhưng tỷ trọng chung vẫn chưa vượt quá 10% Thuỷ sản được xem làngành có lợi thế và năng suất cao, nhưng tỷ trọng trong GDP lại thấp chỉkhoảng 11%
4 Nguyên nhân
4.1 Nguyên nhân khách quan
4.1.1 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp
Ngành sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tựnhiên như: đất đai, thời tiết, nguồn nước Mà vùng này có điều kiện tựnhiên khắc nhiệt, đất đai cằn cỗi, kém mầu mỡ, đất nông nghiệp chiếm tỷ
Trang 10trọng rất ít Vì vậy đây là vùng không thuận lợi cho phát triển các loại câynông nghiệp lúa nước.
4.1.2 Lối sản xuất truyền thống manh mún nhỏ lẻ
Từ xưa người nông dân đã quen với lối sản xuất manh mún, nhỏ lẻ,theo kiểu tự cung tự cấp, sản xuất ra chủ yếu là để tiêu dung cho người sảnxuất Cộng với điạ hình vùng bao gồm các dãy núi chia cắt xen kẽ các đồngbằng Vì vậy, rất khó cho hình thành các trang trại chăn nuôi hoặc các hợptác xã ,các tổ chức hợp tác Việc hình thành các tổ chức này thúc đẩy nôngnghiệp phát triển Đối với người nông dân, các tổ chức này sẽ giúp đỡ họ
về các kinh nghiệm cũng như kỹ thuật trồng cây, giống, công tác thu hoạch,
và tổ chức thị trường đầu ra Đối với các cơ sở chế biến, các hợp tác xã vàcác tổ chức hợp tác giúp cho cơ sở chế biến chủ động hơn trong việc đầu tưphát triển vùng nguyên liệu, giảm được đấu mối ký kết hợp đồng trực tiếp
4.2 Nguyên nhân chủ quan
4.2.1 Nông dân thiếu các nguồn lực để cải thiện đời sống
Các nguồn lực ở đây được hiểu là: ruộng đất, vốn, kỹ thuật, kiếnthức… Những nguời nghèo thường thiếu các nguồn lực, họ bị rơi vào vòngluẩn quẩn: Thu nhập thấp thì ít có điều kiện tiếp xúc với các dịch vụ y tế,tín dụng, và không được tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực phát triển dẫnđến năng suất sản xuất thấp
Một điều rất quan trọng là: việc cải thiện đời sống của người nôngdân phải xuất phát từ ý thức muốn vươn lên của họ, không thể trông chờ ỷlại vào người khác.Tuy vậy, đa phần những người nông dân có mức sốngthấp đều là những người có điểm xuất phát thấp, nguồn vốn cũng như đấtđai đều bị hạn chế Một điều quan trọng ở đây là cơ sở hạ tầng rất yếu kém,
về giao thông vận tải cũng như giao thông liên lạc Các công trình giao
Trang 11thông liên tỉnh, liên vùng rất ít, các dịch vụ hỗ trợ như internet chỉ tính trênđầu ngón tay
4.2.2 Khó khăn trong việc tìm đầu ra đối với sản phẩm nông nghiệp
Khi Việt Nam ra nhập WTO và cam kết PNTR thị trường xuất khẩunông sản và thuỷ sản sẽ được mở rộng Các sản phẩm nông nghiệp ViệtNam sẽ được tự do xâm nhập thị trường 149 nước thành viên WTO với tưcách bình đẳng không phải chịu những hạn chế về số lượng và không phảithông qua trung gian Các thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản…không còn là vùng cấm đối với nông sản Việt Nam nói chung và Bắc Trung
Bộ nói riêng Đồng thời với làn sóng đầu tư vào Việt Nam tăng mạnh (tínhcho đến tháng11/2007 thì đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đạt 15tỷ USD) thìnông nghiệp sẽ có cơ hội tăng khả năng thu hút đầu tư hoặc tăng đầu tư vàocác ngành công nghiệp chế biến là các ngành đầu ra của sản phẩm nôngnghiệp
Bên cạnh những cơ hội đó, thì nông nghiệp Bắc Trung Bộ đang đứngtrước những khó khăn Thuỷ sản được xem là ngành mũi nhọn, và là hướng
đi giúp các tỉnh này cải thiện đời sống Nhưng khi tham gia vào WTO thìviệc phải đối mặt những tiêu chuẩn bắt buộc cao hơn về chất lượng vệ sinh
an toàn thực phẩm của hàng nông sản và cạnh tranh thị trường trong nước
và quốc tế và chất lượng, giá cả ngày càng tăng Mới đây đầu năm 2007,Nhật Bản quyết định kiểm tra 100% lô hàng tôm nhập khẩu do dư lượngkháng sinh
Do đã qúa quen với lối sản xuất truyền thống nên người nông dânchưa ý thức được tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm Khi thu nhậptăng lên thì yêu cầu về nguồn thực phẩm sạch cũng tăng lên Ví dụ như mộttin đồn ăn bưởi “chùm” có nguy cơ mắc bệnh ung thư, như vậy mặt hàngnày bị “tẩy chay” gây thiệt hại cho người nông dân hàng trăm tỷ đồng
Trang 12Hàng nông sản Việt Nam nói chung và Bắc Trung Bộ nói riêng đaphần đều chưa xây dựng cho mình một thương hiệu nên gặp nhiều khókhăn trong việc xuất khẩu Như đã biết, nếu được mùa thì giá lại rớt vì thịtrường tiêu thụ hẹp chủ yếu là trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốcsau đó lại trở thành “made in china” Nên có chuyện được mùa mà nôngdân vẫn khóc
4.2.3 Người dân không có điều kiện tiếp xúc với tín dụng, các chương trình khuyến nông.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, tín dụng được xem là một công cụquan trọng để giúp nhân dân cải thiện đời sống Vấn đề là làm sao chongười dân có thể tiếp cận với nguồn lực tín dụng và sử dụng nó một cáchhiệu quả
Vai trò của tín dụng như đã biết, đó là yếu tố đầu vào trong quá trìnhsản xuất, nó cung cấp nguồn để mua vật tư máy móc nâng cao năng suấtlao động tăng thu nhập cho người dân Ngoài ra tín dụng giúp người dân
mở rộng sản xuất thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp sảnxuất có liên quan đến nông nghiệp và nông thôn
Tuy vậy, so với một bộ phận tầng lớp dân cư khác thì năng lực tiếpcận và sử dụng vốn của nông dân thường gặp khó khăn hơn Lý do của vấn
đề này không chỉ đơn thuần là nền kinh tế thiếu vốn mà một mặt họ cónăng lực kinh tế nội sinh yếu kém, và mặt khác là do các thủ tục vay vốnkhông tương thích hay phù hợp với người nông dân Ví dụ như thế chấp, đaphần nông dân là những người nghèo thì không có tài sản thế chấp
Về khuyến nông hiên tại khoảng 70-80% kinh phí khuyến nông đangđược sử dụng cho các mô hình trình diễn phục vụ sản xuất Sự tập trungquá mức vào các mô hình trình diễn đã dẫn đến việc các cơ quan khuyếnnông tập trung thời gian và nguồn lực vào các hộ nông dân có nhiều tiềm
Trang 13năng phát triển sản xuất nhất, do đó các chương trình khuyến nông thườngkhông vươn đến được các nhóm người nghèo và những người dễ bị tổnthương.
5 Ma trận SWOT cho vùng Bắc Trung Bộ
- Việt Nam ra nhập WTO và cam kết PNTRthì thị trường xuất khẩu nông sản ,thuỷ sản được
mở rộng
- Làn sóng đầu tư vào Việt Nam tăng cao ,cơ hội thu hút vốn vào nông nghiệp tăng
- Đối mặt với sự cạnh tranh với hàng hoá nông sản các nước khác
- Yêu cầu về vệ sinh anthực phẩm cao
Điểm mạnh(S)
-Tiềm năng về du lịch
(Bãi biển và quang
cảnh đẹp)
- Điều kiện vận tải
đường biển và chăn
- Kết hợp nghiên cứu đào tạo gắn với thực tế
để làm động lực cho việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp
ST
- Cần có sự gắn kết giữa “4 nhà “ trong sảnxuất nông nghiệp đặc biệt là thuỷ sản :Nhà nông, doanh nghiệp, nhà khoa học,nhà nước