1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định tài sản chung, tài sản riêng đối với quyền sử dụng đất của vợ chồng trong tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn

34 875 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định tài sản chung, tài sản riêng đối với quyền sử dụng đất của vợ chồng trong tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân và Gia Đình
Thể loại bài tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 180 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hôn nhân gia đình cho thấy gắn liền với việc giải quyết các quan hệ nhân thân là các quan

Trang 1

A.LỜI NÓI ĐẦU

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hôn nhân gia đình cho thấy gắn liềnvới việc giải quyết các quan hệ nhân thân là các quan hệ về tài sản của vợ chồng

mà cụ thể là việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng… Có thểnói, trong vụ kiện ly hôn có yêu cầu chia tài sản là nhà, đất luôn là loại việcthường xảy ra tranh chấp gay gắt Mặc dù, đã trải qua nhiều cấp xét xử nhưngcác đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại kéo dài Nghiên cứu về Luật hôn nhân giađình hiện hành cùng với các văn bản hướng dẫn của ngành Toà án chúng ta cóthể thấy có các quy định cụ thể và rõ ràng là căn cứ cho việc giải quyết các tranhchấp đến vấn đề tài sản của vợ chồng Tuy nhiên, trong thực tế việc áp dụng cácquy định này tại các cấp Toà án vẫn là một vấn đề khá khó khăn, phức tạp vàcòn tồn tại nhiều quan điểm đánh giá rất khác nhau

Trong Bộ Luật Dân Sự Bắc Kỳ (1931) và Bộ Dân Luật Trung Kỳ (1936)cho phép vợ chồng khi kết hôn được thoả thuận về nội dung của các quan hệ tàisản nhưng các thoả thuận đó không được đi ngược lại nguyên tắc chồng là ngườiđứng đầu gia đình, là chủ khối tài sản của gia đình (Điều 104- Bộ Dân Luật BắcKỳ; Điều 102 - Bộ Dân Luật Trung Kỳ) Người vợ goá mà kết hôn với ngườikhác sẽ mất quyền gia trưởng, phải đi khỏi gia đình, chỉ được mang theo tài sảnriêng và chỉ có quyền nhận một phần khối tài sản chung của vợ chồng nếu chồngkhông có con (Điều 360- Dân Luật Bắc Kỳ; Điều 369 - Dân Luật Trung Kỳ).Nếu không có tài sản riêng thì vợ goá kết hôn lại có thể được hội đồng gia tộcbên chồng cấp cho một ít tài sản thuộc khối tài sản chung, tuỳ theo công sứcđóng góp của người vợ vào khối tài sản chung ấy (Điều 359 - Bộ Dân LuậtTrung Kỳ)

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã được Quốc hội khoá X thông qua

ngày 9/6/2000 tại Điều 27: "Quy định quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc

Trang 2

chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng thì chỉ là tài sản chung của

vợ chồng khi vợ chồng có thoả thuận Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất."

Sau khi nhận được bài tập, từng thành viên của nhóm A1 - HS30A đều nhận

định rằng vấn đề: " Xác định tài sản chung, tài sản riêng đối với quyền sử dụng đất của vợ chồng trong tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn" là vấn

đề khá hay nhưng cũng không phải là dễ hơn nữa phạm vi bài tập lại khá rộngkhả năng của nhóm còn hạn chế nên nhóm chỉ nghiên cứu vấn đề này ở một sốkhía cạnh Kính mong sự đóng góp và tham gia ý kiến của thầy cô và các bạn đểbài tập của nhóm 1 được hoàn thiện hơn

Trang 3

B NỘI DUNG

1 Khái niệm quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất được hiểu là quyền của người sử dụng đất được khaithác những thuộc tính có ích từ đất theo những quy định của pháp luật về đấtđai Quyền sử dụng đất để khai thác những thuộc tính có ích từ đất, bao gồmmột số nội dung sau:

1.1 Khái thác đất Nông Nghiệp

Đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trongcác hoạt động như chăn nuôi (lợn, gà, vịt ) trồng trọt (lúa nước, làm màu…) vànuôi trồng thuỷ sản (tôm, cá….) thực hiện việc nghiên cứu thí nghiệm về nôngnghiệp

Đất nông nghiệp được phân loại thành:

- Đất trồng cây hàng năm: là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng(từ khi trồng đến khi thu hoạch không quá 365 ngày) cụ thể là một số loại câynhư: Ngô, lúa, khoai, lạc, đậu… và cây trồng một lần cho thu hoạch vài nămnhưng không phải qua thời kỳ xây dựng cơ bản như: chuối, mía, dứa…

- Đất trồng cây lâu năm: là đất trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởngtrên 365 ngày, trồng một lần cho thu hoạch trong nhiều năm và phải trải qua mộtthời kỳ xây dựng cơ bản như: cao su, chè, cà phê, cam, quýt, cọ, dừa…

- Đất trồng cỏ: là đất sử dụng vào việc trồng cỏ để phục vụ việc chăn nuôigia súc như: bò, trâu ,

- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là đất chuyên dùng để nuôi trồngthuỷ sản như: cá, tôm, cua và vừa nuôi trồng thuỷ sản vừa trồng trọt như với một

số loại cây như: đước, tràm… Nhưng nuôi trồng thuỷ sản vẫn là mục đích chính

1.2 Đất lâm nghiệp:

Đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất làm nông nghiệp gồmcó: đất rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích

Trang 4

lâm nghiệp như: trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên nuôidưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp

Như vậy, đất lâm nghiệp còn được hiểu là đất có rừng và đất không có rừngđược sử dụng vào mục đích lâm nghiệp

1.3 Đất ở:

Đất ở là đất trên đó là nơi cư trú của các cá nhân hộ gia đình và cộng đồngcon người Đất này chiếm phần lớn trong và là thành phần lớn trong khu dân cư.Đất ở bao gồm:

- Đất ở đô thị: được hiểu là đất để làm nhà, nơi cư trú của cá nhân, của hộgia đình, các khu trung cư và các công trình phục vụ đời sống, sinh hoạt củangười dân đô thị

- Đất ở nông thôn: là đất của các hộ gia đình, cá nhân gồm đất để làm nhà ở

và các công trình phục vụ cho đời sống của gia đình Như vậy khái niệm đất của

hộ gia đình ở nông thôn còn gọi là " đất thổ cư" gồm nền nhà, sân phơi, nhà bếp…

Ngoài ra còn có các loại đất để khai thác đá, cát làm đồ gốm nói chung là làmvật liệu xây dựng

2 Xác định tài sản chung, tài sản riêng là quyền sử dụng đất của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình

2.1 Tài sản chung:

2.1.1 Tài sản chung của vợ chồng (Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000)

Điều 58 - Hiến pháp năm 1992 về chế độ tài sản giữa vợ và chồng thuộc

phạm trù quyền sở hữu của công dân đã có quy định "công dân có quyền sở hữu

về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp của các tổ chức kinh tế khác"

Điều 27 - Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về tài sản chungcủa vợ chồng trên cơ sở kế thừa của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 vàxác định cụ thể hơn về các loại tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng Dướichế độ XHCN, nam nữ kết hôn dựa trên cơ sở tình yêu chân chính, bình đẳng và

tự nguyện Khi trở thành vợ chồng, tính cộng đồng tài sản giữa hộ được thiết

Trang 5

lập, đó là chế độ tài sản chung của vợ chồng, gồm có hai căn cứ để xác định tàisản chung của vợ chồng:

Thứ nhất, việc xác định khối tài sản chung của vợ chồng căn cứ vào sự tồntại của quan hệ hôn nhân - quan hệ vợ chồng Theo Khoản 1 Điều 27 - Luật Hôn

nhân Gia đình năm 2000 "tài sản chung của vợ chồng do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân…" Khoản 7 Điều 8 - Luật Hôn nhân

và Gia đình năm 2000 "thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân" mọi tài sản có

được trong thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, vợchồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà khôngphụ thuộc vào khả năng trực tiếp tạo ra tài sản hay công sức đóng góp của mỗibên Tài sản chung của vợ chồng gồm những tài sản sau:

Tài sản được vợ chồng xác lập trong thời kỳ hôn nhân là những tài sản do

vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân Tài sản chung của vợ chồng có thể

do công sức của cả hai vợ chồng tạo ra hoặc của vợ hay của chồng bằng cáchtrực tiếp (lao động sản xuất, tiền lương, ) hoặc gián tiếp thông qua các giaodịch dân sự (buôn bán, đầu tư tìm kiếm lợi nhuận….) Hoa lợi, lợi tức có được

từ tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ chồng cũng được coi là tài sản chung,

là thu nhập có được trong thời kỳ hôn nhân Ngoài ra, tài sản chung của vợ

chồng là "thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế chung hoặc được tặng chung…." như vậy căn cứ vào nguồn gốc tài

sản và căn cứ pháp lý thời kỳ hôn nhân luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Những tài sản có nguồn gốc hợp pháp phát sinh trong thời kỳ hôn nhân đều làtài sản chung của vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng còn là những tài sảnriêng của vợ chồng đã thoả htuận là tài sản chung Điều này có thể hiểu: cónhững tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng là do vợ hoặc chồng có đượctrước khi kết hôn, được thừa kế, được tặng cho riêng về nguyên tắc là tài sảnriêng, tuy nhiên những tài sản này sẽ trở thành tài sản chung vợ chồng nếu như

Trang 6

trong thời kỳ hôn nhân có thoả thuận coi tài sản riêng là tài sản chung của vợchồng Tài sản chung của vợ chồng còn là những tài sản mà khi xảy ra tranhchấp không đủ căn cứ xác định là tài sản riêng của mỗi người.

Ngoài ra, phải xác định những tài sản do vợ, chồng tạo ra thu nhập do laođộng, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác mà mỗibên vợ, chồng có được kể từ khi vợ hcồng có đơn yêu cầu ly hôn được Toà ánthụ lý giải quyết Những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạtđộng sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác mà mỗi bên vợ,chồng tạo ra trong thời gian giải quyết ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật điều trịcoi là tài sản chung và tài sản riêng của mỗi người theo quyết định của pháp luậtgiống như trong thời kỳ hôn nhân

Tất cả những tài sản nêu trên đều là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên,trên thực tế khi vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm yêu thương, gắn bótrong vợ chồng đã hết, trước khi ly hôn, vợ hoặc chồng thường có hành vi phântán tài sản, giấu diếm tài sản là tài sản chung của vợ , chồng Mặt khác, như trênthì tài sản chung của vợ chồng vẫn có thể được xác lập khi vợ chồng đã nộp đơn

ly hôn và trong thời gian phán quyết ly hôn của Toà án chưa có hiệu lực phápluật Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn địch cuối cùng thời điểm khi tính xáclập tài sản, tài sản chung của vợ, chồng Nếu không khi Toà án giải quyết việc lyhôn thì vợ chồng sẽ không có tài sản chung để phân chia

Một số vấn đề đáng lưu ý nữa là "những thu nhập hợp pháp khác" của vợ

chồng trong thời kỳ hôn nhân Đó có thể là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trứng

sổ số mà vợ , chồng có được hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sởhữu theo quy định tại Điều 239 - Xác lập quyền sở hữu đối với vô chủ, vậtkhông xác định được chủ sở hữu Điều 240 - Xác lập quyền đối với vật bị chôngiấu, bị chìm đắm được tìm thấy, iều 241- Xác lập quyền sở hữu đối với vật dongười khác đánh rơi, bỏ quên Điều 242 - Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc

bị thất lạc, Điều 243 - Xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc; Điều244- xác lập quyền sở hữu đối với vật chôn dưới nước…của Bộ Luật hình sựnăm 2005, trong thời kỳ hôn nhân Mặt khác K1 Điều 32 đã quy định về tài sản

Trang 7

riêng vợ chồng Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợptài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phảiđăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi têncủa vợ hoặc của chồng, nếu không có tranh chấp thìđó là tài sản chung của vợchồng, nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhậnquyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này có được từ nguồn tài sản riêngquy định tại Khoản 1 Điều 32 Trong trường hợp không chứng minh được thì đó

là tài sản chung của vợ chồng

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợpnhất có thể phân chia Điều này cũng được quy định tại Điều 219 - Bộ Luật dân

sự năm 2005 sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sởhữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung Do vậy,bình thường chúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ, phầntài sản nào là của chồng trong một khối tài sản chung hợp nhất, chỉ khi có sựphân chia tài sản chung của vợ chồng thì mới xác định được phần tài sản củatừng người trong khối tài sản chung đó

Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng được xác lập trong thời gian chungsống như vợ chồng

Theo Nghị quyết 35/2000/ NĐ - QH ngày 9/6/2000

- Đối với trường hợp Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987(ngày luật 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả haibên có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn củaluật 2000 để giải quyết

Trang 8

Trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng được xác lập họ mới thực hiện đăng

ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họbước đầu chung sống như vợ chồng) chứ không phải chỉ được công nhận kể từngày đăng ký kết hôn (có thể hiểu đây là trường hợp đặc biệt theo nghị quyết35/2000/ NĐ - QH ngày 9/6/2000 thì trường hợp này được "khuyến khích" đăng

ký kết hôn, sau khi luật hôn nhân năm 2000 có hiệu lực, có đăng ký kết hônhoặc không thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận trước pháp luật).Đối với trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 mà

có đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống vớinhau như vợ chồng thì theo quy định tại điểm b Khoản 3 - Nghị quyết 35 thì họ

có nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm kể từ ngày 1/1/2001 đến1/1/2003 Trường hợp này cần phân biệt:

- Từ ngày 1/1/2001 đến hết 1/1/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đãđăng ký mà họ yêu cầu lý hôn thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về lýhôn của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 để giải quyết ly hôn theo thủ tụcchung Cần chú ý là trong trường hợp họ thực hiện việc đăng ký kết hôn theoquy định tại điểm b Khoản 3 - NQ 35 thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn đượccông nhận là đã xác lập kể từ ngày bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồngchứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn

- Kể từ sau 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm bKhoản 3 - NQ 35 thì họ không được công nhận là vợ chồng Nếu một bên hoặc

cả hai bên có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý giải quyết và áp dụng điểm bKhoản 3 - NQ 35 bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng, nếu họ

có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản thì Toà án áp dụng Khoản 2,3 Điều 1 LuậtHôn nhân gia đình năm 2000 để giải quyết

- Kể từ ngày 1/1/2003 họ mới đăng ký kết hôn hoặc cả hai bên có yêu cầu

ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn với Luật Hôn nhângia đình năm 2000 để giải quyết và ly hôn theo thủ tục chung Cần chú ý làtrong trường hợp này, quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xáclập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn Như vậy theo quy định của các văn bản trên

Trang 9

về vấn đề giải quyết hậu quả pháp lý của tình trạng lý hôn trên thực tế sau khiLuật Hôn nhân và gia đình 2000 có hiệu lực thì thời điểm phát sinh quan hệ hônnhân được tính như sau:

Đối với các trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 3/1/1987 khiLuật Hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực dù họ có đăng ký kết hôn vớinhau hay không thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật công nhận vàthời điểm xác lập quan hệ hôn nhân được tính từ ngày họ chung sống với nhaunhư vợ chồng

Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng (không đăng kýkết hôn) mà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn trong 2 năm, để hợp thức hoá quan

hệ vợ chồng của họ trước pháp luật (từ ngày 1/1/2001 đến 1/1/2003) nếu trongthời gian này dù họ có đăng ký kết hôn hoặc không thì quan hệ vợ chồng của họvẫn được công nhận và phát sinh quan hệ hôn nhân được tính từ ngày họ chungsống với nhau như vợ chồng chứ không phải là từ ngày họ đăng ký kết hôn.Nếu sau 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn theo thủ tục luật định thìpháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ Nếu sau ngày 1/1/2003

mà họ mới đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được xác lập từ ngàyđăng ký kết hôn chứ không phải từ ngày chung sống với nhau như vợ chồng

2.1.2 Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất của vợ chồng

có sau khi kết hôn Theo quy định của Bộ Luật dân sự và pháp luật về đất đai,quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản có tính chất đặc thù Đất đai thuộc

sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạchbảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổchức, các cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (Điều 17, 18 Hiến pháp năm 1992), cánhân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để lại thừa kếquyền sử dụng đất Vợ chồng chỉ có quyền sử dụng đất khi được Nhà nước giaođất hoặc cho thuê đất, quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hônthuộc khối tài sản chung của vợ chồng Đối với quyền sử dụng đất vợ chồngkhông có đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu như đối với các tài sản khác

Trang 10

(không có quyền cho mượn, tặng cho, tiêu huỷ…) Đồng thời khi thực hiệnquyền sử dụng đất vợ chồng phải chịu những điều kiện chặt chẽ được quy địnhtrong pháp luật về hình thức, thời hạn, thực hiện quyền và mục đích sử dụng.Quyền sử dụng đất thông thường là tài sản có giá trị lớn hoặc đem lại thunhập chính cho vợ chồng, xuất phát từ tính đặc thù, tầm quan trọng và vị trí đặcbiệt của quyền sử dụng đất trong đời sống gia đình Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 đã có những quy định riêng, cụ thể để làm rõ chế độ pháp lý về loạitài sản này giữa vợ và chồng Đây là điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.

Đoạn 2 Khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định

"quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi có thoả thuận" Quyền sử dụng đất là tài sản

chung của vợ chồng theo quy định của nghị quyết - NĐ70/2001/NĐ - CP thì:

 Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hay chồng đượcNhà nước giao kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ chồng (các quyền sửdụng đất đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủysản, đất làm muối, đất làm lâm nghiệp để trồng rứng, đất ở được Nhà nước giaođất chuyên dùng )

 Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng hay chỉ một bên

vợ hoặc chồng được Nhà nước cho thuê là tài sản chung của vợ chồng, cũng làtài sản chung của vợ chồng đối với giá trị quyền sử dụng đất mà vợ chồng nhậnthế chấp quyền sử dụng đất của người khác

 Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, được là tàisản chung của vợ chồng nếu có thoả thuận

 Ngoài ra, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng còn kể đếnquyền sử dụng đất được chuyển đổi, chuyển nhượng được thừa kế chung vàphần quyền được sử dụng đất giao chung với hộ gia đình

Trong thời kỳ hôn nhân nếu vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng được cơquan Nhà nước có thẩm quyền giao hoặc cho thuê đất ở, giao đất nông nghiệp

Trang 11

trồng cây, đất lâm nghiệp để trồng rừng… thì các loại đất này cũng được xácđịnh là tài sản chung ngay cả khi một bên vợ hoặc chồng không trực tiếp sửdụng đất đó (Điều 24,25 NĐ70/2001/NĐ - CP) Ví dụ: người vợ được giao đấtnông nghiệp trồng cây lâu năm, trong khi người trồng thoát ly nông nghiệp đilàm ăn buôn bán thì người chồng vẫn là đồng sở hữu cùng với người vợ đối vớiquyền sử dụng đất mà người vợ được giao.

Tuy nhiên, để tránh mâu thuẫn với quy định trong Luật đất đai sửa đổi năm

1998 được sử dụng đất phải đảm bảo đúng mục đích luật định thì sẽ không bịNhà nước thu hồi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định đối với loạiđất gắn liền với mục đích sử dụng, nếu được Nhà nước giao cho vợ chồng thìbắt buộc chủ sở hữu đối với quyền sử dụng đất đó Nhưng nếu khi ly hôn ngườikhông có đăng ký sở hữu đất đảm bảo đúng mục đích luật định thì không đượcchia đất mà chỉ được tính phần giá trị của mình ra bằng tiền để được thanh toán

Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cụ thể căn cứ xáclập tài sản riêng của vợ chồng rộng hơn, cụ thể hơn, theo đó tài sản riêng của vợchồng gồm:

Tài sản riêng mà mỗi người có được trước khi kết hôn: đó có thể là thunhập do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp của bản thân mỗingười: Tài sản riêng này cũng có thể do vợ, chồng được tặng cho, thừa kế Tàisản được thừa kế, được tặng cho riêng từng thời kỳ hôn nhân, phần tài sản này

Trang 12

nếu vợ hoặc chồng không tự nguyện nhập vào khối tài sản chung thì đươngnhiên vẫn là tài sản riêng của mỗi người.

Tài sản riêng mà vợ, chồng được chia từ tài sản chung của vợ chồng trongthời kỳ hôn nhân Vấn đề này được Điều 8 - NĐ 70/2007 hướng dẫn như sau:

1 Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng củamỗi người trừ trường hợp vợ, chồng có thoả thuận khác Hoa lợi, lợi tức phátsinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng

2 Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhậphợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trườnghợp vợ chống có thoả thuận khác

Tài sản riêng của vợ chồng còn là đồ dùng, tư trang cá nhân Hiện nay,chưa có văn bản nào quy định "đồ dùng tư trang cá nhân là gì" và giá trị của nónhư thế nào, cần hiểu đồ dùng tư trang cá nhân là những đồ dùng phục vụ chonhu cầu sinh hoạt tối thiểu của mỗi con người (quần áo, giầy dép….)

Quyền sử dụng của vợ chồng đối với tài sản riêng không phụ thuộc vàotình trạng hôn nhân của họ nên trong những trường hợp cần chia tài sản vợchồng theo quy định của pháp luật thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó.Nhưng người có tài sản riêng phải chứng minh được tài sản đó là tài sản riêngcủa mình Việc chứng minh có thể thực hiện bằng sự công nhận của bên kia, cácgiấy tờ, văn tự, chứng cứ khác… Tài sản riêng của vợ, chồng dùng để thanh toánnghĩa vụ tài sản của mỗi người (Khoản 3 Điều 33 - Luật Hôn nhân và gia đình).Tuy nhiên, có một số vấn đề cần lưu ý:

- Trong trường hợp vợ chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng vào tài sảnchung của vợ chồng và tài sản riêng đó đã chi dùng cho gia đình mà không cònnữa thì người có tài sản riêng không có quyền đòi lại hoặc yêu cầu đền bù

- Trường hợp tài sản riêng của một bên đã được tu sửa bằng tài sản chunglàm tăng giá trị lên nhiều lần, khi có yêu cầu của Toà án cần xác định phần tănggiá trị đó để nhập vào tài sản chung

Trang 13

2.2.2 Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng

Đối với quyền sử dụng đất mà một bên vợ, chồng có trước khi kết hôn hoặcthừa kế riêng, pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu riêng của vợ chồngđối với tài sản này trừ khi họ có thoả thuận nhập quyền sở hữu đất vào khối tàisản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng gồm:Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao; quyền sử dụng đất được cho thuê;quyền sử dụng đất được chuyển đổi; quyền sử dụng đất được thừa kế; quyền sửdụng đất được chuyển nhượng; quyển sử dụng đất được thế chấp Nhìn chung,chế độ tài sản chung của vợ chồng về quyền sử dụng đất trong Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 đã tôn trọng và bảo vệ lợi ích cá nhân của vợ chồng, trên cơ

sở đó đảm bảo các lợi ích chung của gia đình, xã hội Đây là yếu tố quan trọng

để đảm bảo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Tóm lại, quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt và có giá trị lớn Trong thực

tế, người chồng thường nắm giữ toàn bộ tài sản của gia đình và đứng tên tronggiấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, việc quy định quyền sử dụng đất cóđược sau khi kết hôn cũng là tài sản chung đối với vợ chồng có ý nghĩa đảm bảo

sự bình đẳng của vợ chồng trong quan hệ về tài sản Vấn đề chia tài sản chungcủa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc sau khi ly hôn là nhà cửa, quyền sửdụng đất… rất phức tạp do các giấy tờ pháp lý liên quan cho nên quyền sử dụngđất chỉ đứng tên một người và việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chunghoặc riêng để đảm bảo hành vi chính đáng đối với mỗi người là rất khó khăn.Việc Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định một cách rõ ràng cụ thể vềquyền sử dụng đất mà vợ chồng có được khi kết hôn, phải thoả thuận là tài sảnchung, hoặc là tài sản riêng với vợ chồng là cơ sở pháp lý cần thiết cho vấn đềgiải quyết tranh chấp khi chia tài sản chung của vợ chồng

Trang 14

3 Quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất của vợ chồng và chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

3.1 Quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất.

Về vấn đề quyền sử dụng đất của vợ, chồng có rất nhiều văn bản pháp luật

quy định theo Luật Đất đai năm 2003 tại Khoản 3 Điều 48 có quy định: "Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ, và họ, tên chồng" điều này đồng

nhất với quy định của pháp luật hôn nhân gia đình năm 2000 Khoản 1 Điều 27:

"Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của

vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận Tài sản chung của vợ chông thuộc sở hữu chung hợp nhất"

Luật Hôn nhân và gia đình khẳng định " Tài sản chung của vợ chồng thuộc

sở hữu chung hợp nhất" Đây là qui định mới và hoàn toàn phù hợp với nội dung

của Bộ luật dân sự về quyền sở hữu Theo quy định tại Điều 239,232 Bộ luậtdân sự năm 2005 sở hữu chung là sở hữu của nhiều người chủ sở hữu đối với tàisản bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất Sở hữu chunghợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi bên chủ sởhữu không được xác định đối với tài sản chung Các chủ sở hữu chung hợp nhất

có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung Chế độ sởhữu chung hợp nhất của vợ chồng hoàn toàn đúng đắn hoặc phù hợp với truyềnthống gia đình Việt Nam, phong tục nét đẹp của dân tộc Chính sự hợp nhất vềtài sản chung của vợ chồng là yếu tố tạo nên sự hài hoà và bền chặt trong quan

hệ gia đình

Theo Nghị quyết số 02/2001/NQ - HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 đã hướng dẫn cụ thể hơn về tài sảnthuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sởhữu trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, ghi tên của cả vợ và chồng Thực tiễncho thấy chỉ có tài sản rất lớn, rất quan trọng đối với đời sống gia đình thì tronggiấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ, cả chồng (ví dụ: nhà ở,

Trang 15

quyền sử dụng đất……) Song không phải trong mọi trường hợp đối với các tàisản khác phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận thường ghitên của vợ hoặc chồng (xe môtô, xe máy, thuyền…) Khoản 1 Điều 32 đã quiđịnh cụ thể về tài sản riêng của vợ chồng Để bảo vệ quyền lợi chính đáng củacác bên trong trường hợp do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà phápluật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền

sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng; nếu không có tranh chấp thì đó là tài sảnchung của vợ chồng, nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên tronggiấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa

kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từnguồn tài sản riêng quy định tại Khoản 1 Điều 32

3.2 Chia tài sản đất là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là vấn đề phức tạp và có nhiềutranh chấp, đặc biệt việc chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn lạicàng phức tạp và khó khăn hơn Thực tế xét xử nhiều năm qua ở nước ta, đểđảm bảo được công bằng và hợp lý trong trường hợp vợ chồng không thể tự thoảthuận được với nhau Trường hợp cần điều tra về quan hệ tài sản của vợ chồng:xác định đâu là tài sản riêng của mỗi bên của vợ, chồng; những tài sản nào thuộckhối tài sản chung của hai vợ chồng; Xác định nguồn gốc, giá trị, số lượng, côngsức đóng góp của mỗi người….Sau đó, Toà án áp dụng các nguyên tắc quy địnhtại Điều 95 - Luật Hôn nhân và gia đình để chia Về vấn đề chia tài sản và quyền

sở hữu đất thì có rất nhiều văn bản quy định, ngay trong luật cũ của đất đai cũng

quy định:"Ruộng đất do hai không tạo ra trong thời kỳ hôn nhân được chia thaàn hai phần bằng nhau Một phần dành cho vợ chồng làm của riêng, phần còn lại chia theo tỷ lệ: 1/3 dành cho nhà chồng (nhà vợ) để lo thờ cúng, 2/3 dành cho chồng vợ để phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình bên chồng( bên vợ) Cũng giống như đối với phu điền sản, thê điền sản - 2/3 điền sản được chia từ điền sản từ chồng thì người vợ phải trả khi tái giá còn đối với người chồng một khi vợ đã chết mà lấy người khác thì vẫn có quyền tiếp tục sử dụng đất được chia đó " ( Lê Thị Sơn “ Quốc

Trang 16

Triều hình luật lịch sử hình thành nội dung và giá trị”, NXB Lao động xã hộinăm 2004)

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã qui định một chế độ pháp lí riêng

về quyền sử dụng đất (Điều 27) và các nguyên tắc chia tài sản là nhà ở và quyền

sử dụng đất khi li hôn tại các Điều 97, 98, 99 và được hướng dẫn từ Điều 23 đếnĐiều 30 NĐ 70/2001/NĐ - CP (03/10/2007) của Chính phủ quy định chi tiết thihành Luật Hôn nhân và gia đình Qua các quy định này, việc chia tài sản là nhà

ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn cần chú ý

- Dù đã ly hôn, mỗi bên đều có quyền có nhà ở, được lao động, sản xuấtkinh doanh để tạo thu nhập Vì vậy, việc giải quyết nhà ở và quyền sử dụng đấtphải nhằm tạo điều kiện cho mỗi bên có chỗ ở, hoạt động sản xuất, kinh doanh

ổn định Bất kỳ trường hợp nào cũng không được để một bên, nhất là vợ và cáccon ra khỏi nhà hoặc không còn đất để lao động sản xuất khi họ thực sự chưa cóchỗ ở hoặc đất để lao động sản xuất

- Phải xác định rõ nguồn gốc nhà ở và quyền sử dụng đất đang có tranhchấp có thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng haykhông về nguyên tắc, toà chỉ phân chia nhà ở, quyền sử dụng đất khi không cógiấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp được sự công nhận của chính quyềnnhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, nhu cầu cấp thiết về chỗ ở và hoạt độngsản xuất kinh doanh của vợ, chồng Toà có thể phân định tạm thời nơi ở để sảnxuất cho các bên tiền nhà ở và đất mà vợ chồng không có hoặc chưa có quyền sởhữu, quyền sử dụng hợp pháp

Đối với nhà ở và quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu riêng của vợ chồngthì khi ly hôn của bên nào thì cần thuộc về bên đó Bên có nhà phải thanh toáncho bên kia phần giá trị nhà và quyền sử dụng đất, căn cứ vào công sức bảodưỡng, nâng cấp, tu sửa tài sản (Điều 97, 98 - Luật Hôn nhân và gia đình 2000)Trong trường hợp việc giao nhà cho bên có quyền sở hữu riêng mà gây khó khăncho bên kia về chỗ ở, thì Toà án có thể yêu cầu bên vợ hoặc chồng sở hữu nhà

có nghĩa vụ hỗ trợ cho bên kia tìm chỗ ở mới, nếu bên kia có khó khăn và không

Trang 17

tự tìm được chỗ ở mới Bên chưa có chỗ ở được lưu cư trong thời hạn 6 tháng đểtìm chỗ ở khác (Điều 30 NĐ 70/2001/NĐ - CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ)

- Với quyền sử dụng đất mà vợ chồng được nhà nước giao trong thời kỳhôn nhân, kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ chồng khi lên hôn, căn cứvào Điều 97 và Điều 24 NĐ70/NĐ - CP có đường lối giải quyết như sau:

+ Đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản,đất làm muối nên cả hai vợ chồng đều có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụngthì chia theo sự thoả thuận của hai vợ chồng Khi vợ chồng không thoả thuận thìToà án quyết định chia theo các nguyên tắc chia tài sản chung tại Điều 95

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụngđất thì có quyền tiếp tục sử dụng toàn bộ đất đó sau khi đã thoả thuận với bênkia phần giá trị quyền sử dụng đất mà bên đó được hưởng theo mức và hai bênthoả thuận hoặc Toà án quyết định

Trong trường hợp một bên có nhu cầu và có điều kiện tực tiếp sử dụng đấtnhưng không thể thanh toán cho bên kia một phần giá trị quyền sử dụng đất màbên đó được hường, thì bên kia có quyền nhượng quyền sử dụng đất của mìnhcho người thứ ba, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác

+ Đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồngrừng, đất ở được Nhà nước giao, đất chuyên dùng là tài sản chung của vọ chồng,khi ly hôn việc chia tài sản này áp dụng các nguyên tắc quyết định tại Điều 95

- Đối với quyền sử mà vợ chồng được Nhà nước cho thuê là tài sản chungcủa vợ chồng khi ly hôn việc chia quyền sử dụng đất được thực hiện theo quyđịnh tại Điều 25 NĐ70/NĐ - CP như sau: Trong trường hợp vợ chồng đã trả tiềnthuê đất hàng năm mà khi ly hôn cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện tiếptục sử dụng đất đó, thì chia theo các nguyên tắc tại Điều 95; nếu chỉ có một bên

vợ chồng có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì giao đất cho người

đó, đồng thời người được giao đất phải ký lại hợp đồng thuê đất, nếu hợp đồngthuê đất trước đây do bên kia hoặc cả hai vợ chồng đứng tên và thanh toán chobên kia phần giá trị tài sản đã đầu tư trên đất mà người đó được hưởng vào thờiđiểm chia tài sản khi ly hôn căn cứ vào tài sản và công sức đầu tư của bên kia

Ngày đăng: 12/04/2013, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w