1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá về tiềm năng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại của Việt Nam

29 704 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Về Tiềm Năng Phát Triển Của Hệ Thống Phân Phối Bán Lẻ Hiện Đại Của Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn cầu hoá mang lại cho nền kinh tế quốc tế nói chung và từng quốc gia nói riêng những lợi ích to lớn không thể phủ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Toàn cầu hoá mang lại cho nền kinh tế quốc tế nói chung và từng quốc gianói riêng những lợi ích to lớn không thể phủ nhận, đó là sự tăng trưởng xuấtkhẩu, đó là sự giảm giá trong chi tiêu của người dân, là sự gia tăng tỉ lệ đầu tưcùng với việc tiếp cận với nền khoa học tiên tiến dễ dàng hơn… Song không chỉ

có vậy, toàn cầu hoá cũng mang lại cho các quốc gia nhiều mối nguy, trong đó

có mối nguy hiểm tiềm tàng về cạnh tranh Cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầudiễn ra khốc liệt và hoàn toàn không nhân nhượng đối với bất kì quôc gia nào

Và thực tế là nhiều quốc gia đã trở thành một món ăn béo bở, bị xâu xé bởi cáctập đoàn kinh tế khổng lồ nước ngoài

Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thếgiới WTO, như vậy cạnh tranh và những ảnh hưởng mặt trái của toàn cầu hoáđối với nền kinh tế nước ta không còn là lý thuyết Việc cấp bách đối với nềnkinh tế non trẻ nước ta là xác định các sách lược giúp các doanh nghiệp non trẻtrong nước đương đầu với những “gã khổng lồ” bên ngoài, bảo vệ được miếngbánh thị phần mà bấy lâu nay doanh nghiệp trong nước còn nắm giữ Với đề tài:

“Nghiên cứu tiềm năng phát triển thị trường bán lẻ hiện đại của Việt Nam” emmong muốn đưa ra cái nhìn khái quát nhất về tiềm năng về thị trường hàng tiêudùng và thực trạng của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại nước ta nhằm tìm ranhững biện pháp hiệu quả nhất giúp các doanh nghiệp trong nước xác định được

vị thế của mình trên chính “sân nhà” từ đó tìm ra biện pháp hiệu quả đối phó vớicác doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài sắp xâm nhập vào thị trường nước ta trongnay mai

Đề tài chủ yếu nghiên cứu về hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại Việt Namtrong thị trưòng hàng tiêu dùng dựa trên số liệu sẽ được thu thập trong vòng từnăm 2000 trở lại đây, khi mà hệ thống này bắt đầu hình thành và phát triển ởnước ta Dựa trên các phương pháp thu thập tài liệu, tổng hợp phân tích, dự báo,

… đề tài sẽ đi sâu làm rõ một số vấn đề sau:

Xem xét hoạt động phân phối hàng tiêu dùng nói chung và thực trạng hoạtđộng của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại đồng thời chỉ ra những ưu điểmcũng như những nhược điểm còn tồn tại của doanh nghiệp kinh doanh bán lẻhiện đại Việt Nam

Dự báo xu thế phát triển của thị trường hàng tiêu dùng cũng như mức độphát triển của doanh nghiệp bán lẻ hiện đại Việt Nam trong thời gian tới

Trang 2

Đề xuất một số giải pháp nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp bán lẻ hiện đại trong nước trước sự đe doạ của các đối thủ khác đặc biệt

là các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài

Kết cấu của đề tài:

Ngoài mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 phần:

Phần I: Khái quát về thị trường hàng tiêu dùng và hệ thống phân phối Phần II: Đánh giá về tiềm năng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ

hiện đại của Việt Nam

Phần III: Những giải pháp phát triển hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại ở

Việt Nam

Trang 3

PHẦN I KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG TIÊU DÙNG

VÀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI

I Khái quát về thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam.

Hàng tiêu dùng – nói một cách khái quát nhất, là loại hàng hoá gắn với hoạtđộng tiêu dùng trực tiêp của người dân Như vậy bất kì người nào cũng là cầuđơn vị của nhóm hàng này

Xem xét qui mô thị trường của loại hàng hoá này chúng ta không chỉ xemxét số lượng người tiêu dùng mà còn phải tính đến khả năng chi trả của ngườidân

Gần đây nhất thị trường tiêu dùng Việt Nam được đánh giá là đứng thứ 3thế giới về độ hấp dẫn, vượt qua cả Trung Quốc và chỉ sau Ấn Độ và Nga. Cácnhà đầu tư nước ngoài nhận định thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam hiện naynhư một Ấn Độ thu nhỏ với tình hình thị trường gần như tương đồng nhau Thểhiện ở 2 điểm cơ bản: Thứ nhất, Việt Nam là một thị trường rộng lớn với số dânlên tới hơn 83 triệu người Thêm nữa, hệ thống phân phối của Việt Nam đang ởmức sơ khai, mới chỉ khai thác một phần rất nhỏ tiểm năng của thị trường Mộtđiều kiện thuận lợi nữa là ở Việt Nam tốc độ mở cửa của thị trường khá nhanh.Năm 2009 theo cam kết gia nhập WTO, thị trường hàng tiêu dùng Việt Namchính thức mở cửa Với những nhận định trên thị trường hàng tiêu dùng ViệtNam quả là miếng bánh béo bở cho các đại gia phân phối nước ngoài

Hiện tại qui mô tiêu dùng tại Việt Nam đã lên tới 41.5 triệu USD vàkhông ngừng tăng lên Tỷ lệ tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng sovới mức chi tiêu cuối cùng đã tăng lên nhanh chóng qua các năm Nếu năm 2000mới chỉ đạt 68.5%, thì năm 2006 đã lên tới 85.4% Tỷ lệ quĩ tiêu dùng cuối cùng

so với GDP của Việt Nam đang thuộc loại cao so với các nước trên khu vực(trên 70%), so với 55.9% của Singapore, 58.2% của Malaysia,…Điều này chứng

tỏ tiêu dùng cuối cùng thông qua mua, bán trên thị trường đã tăng khá nhanh,tính tự cấp, tự túc trong nền kinh tế đã được thay thế dần bằng tính thị trường

II Hệ thống phân phối hàng tiêu dùng tại Việt Nam.

1 Các thành viên trong hệ thống phân phối hàng tiêu dùng.

Cũng như hệ thống phân phối hàng hoá khác, hệ thống phân phối hàng tiêudùng cũng bao gồm 3 thành viên chính: nhà sản xuất, trung gian phân phối vàngười tiêu dùng cuối cùng

Trang 4

1.1 Nhà sản xuất: là những người đầu tiên đưa hàng hoá vào lưu thông

trên thị trường, họ có thể là những người sản xuất trực tiếp hoặc những ngườinhập khẩu hàng hoá Trong thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam doanh nghiệptrong nước bộ phận chủ yếu cung cấp hàng hoá cho thị trường (tỷ lệ nhập khẩuhàng tiêu dùng trong năm qua chỉ là 8.1% trong tổng lượng hàng nhập khẩu).Song khả năng bao phủ thị trường của các doanh nghiệp trong nước đang giảmdần cùng với sự mở cửa của nền kinh tế

1.2 Các trung gian phân phối: trung gian phân phối là hệ thống mạch máu

với chức năng đưa hàng hoá từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng.Hoạt động dịch vụ phân phối có tầm quan trọng lớn với nền kinh tế Việt Nam,đóng góp 13 - 14% vào GDP Theo số liệu tổng điều tra, số lượng doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối tăng hơn 2 lần trong thời kỳ 2000 -

2004, từ gần 14.100 doanh nghiệp lên gần 28.600 doanh nghiệp, trong đó doanhnghiệp hoạt động bán buôn tăng gần 170% và bán lẻ tăng gần 50%

Trung gian bán buôn được chia làm 3 loại chính: Nhà bán buôn sở hữuhàng hoá thực sự; các đại lý, môi giới và nhà buôn hưởng hoa hồng; chi nhánh

và đại diện bán của nhà sản xuất Qui mô của các trung gian bán buôn trong thịtrường hàng tiêu dùng nước ta còn nhỏ lẻ, manh mún, mang tính tự phát cao.Trung gian bán lẻ gồm: các loại hình bán lẻ truyền thống như: Chợ, cửahàng tạp hóa,…; các loại hình bán lẻ hiện đại như: siêu thị, cửa hàng tiện ích,

…; cửa hàng phân phối, giới thiệu sản phẩm của các nhà sản xuất Đây là trunggian gần với người tiêu dùng cuối cùng nhất

Với đặc điểm cơ bản của hàng tiêu dùng là tổng khối lượng cầu của thịtrường là lớn song giá trị và số lượng hàng hoá trong mỗi lần trao đổi thấp nêntrung gian bán lẻ là bộ phận quan trọng nhất trong các trung gian tham gia phânphối hàng tiêu dùng

1.3 Người tiêu dùng cuối cùng: Người tiêu dùng cuối cùng tập hợp lại trở

thành cầu của thị trường, là mắt xích cuối cùng song vô cùng quan trọng điềukhiển toàn bộ kênh phân phối Hiện tại qui mô cầu hàng tiêu dùng của Việt Nam

là rất lớn với số lượng dân số hơn 83 triệu người, xếp thứ 13 trên thế giới Mặtkhác, khả năng thanh toán của người dân Việt Nam ngày càng tăng lên, khiếncho thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam hấp dẫn các nhà đầu tư, kể cả các nhàđầu tư nước ngoài

Trang 5

2 Đánh giá chung về hệ thống phân phối hàng tiêu dùng Việt Nam.

Cùng với sự non trẻ của nền kinh tế thị trường, hệ thống phân phối hàngtiêu dùng của nước ta đang tồn tại rất nhiều nhược điểm Hệ thống phân phốihiện nay có qúa nhiều cấp trung gian trong cùng một khâu (bán buôn, bán lẻ) vàquá nhiều đầu mối trên một khu vực địa lý Bên cạnh đó, sự phân đoạn thịtrường giữa các thành viên trong hệ thống và giữa các thành viên trong cùngmột cấp độ kênh chưa hợp lý Những nhược điểm trên làm mất khả năng kiểmsoát toàn bộ hệ thống phân phối, làm giảm tính liên kết của các thành viên Dovậy không tạo ra được sức mạnh chung trong việc nghiên cứu thị trường, tậptrung đơn đặt hàng, định hướng cho sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng Khả năng

tự điều chỉnh của thị trường kém nhanh nhạy và các biện pháp can thiệp của NhàNước kém phát huy được hiệu quả Điều này dẫn tới hậu quả là tác động của thịtrường thế giới đến thị trường trong nước thường mạnh hơn so với các nướckhác, gây thiệt hại cho không chỉ một thành viên tham gia kênh mà toàn bộkênh Với cam kết mở cửa thị trường hàng tiêu dùng vào năm 2009, sự xuất hiện

ồ ạt của các tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ tấn công trực tiếp vào hệ thốngphân phối của nước ta, đẩy nguy cơ phá vỡ hệ thống lên cao hơn bao giờ hết Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây, hệ thống phân phối Việt Nam đang cónhững chuyển biến tích cực Doanh nghiệp trong nước đã nhận định được nguy

cơ sắp tới và bước đầu có sự điều chỉnh Một mặt, mỗi doanh nghiệp đang tựhoàn thiện dần hệ thống phân phối của bản thân, hàng hoá đưa vào thị trườngngày càng phong phú về mẫu mã và chất lượng hơn; các hình thức phân phốiđược đa dạng hoá với chất lượng phục vụ cao hơn trước Mặt khác, các doanhnghiệp cũng khẳng định liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước làđiều kiện cần thiết cho cuộc chiến sắp tới

Trang 6

PHẦN II ĐÁNH GIÁ VỀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI BÁN LẺ HIỆN ĐẠI CỦA VIỆT NAM.

I Tổng quan về thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở Việt Nam

Như đã nói ở trên, bán lẻ là hình thức phân phối gần nhất với người tiêudùng và thực tế đã chứng minh là chi tiêu của người tiêu dùng hầu hết thông quahình thức bán lẻ Hệ thống phân phối bán lẻ hàng tiêu dùng ở Việt Nam baogồm: hệ thống phân phối truyền thống, hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại cuốicùng là hệ thống các cửa hàng phân phối trực tiếp của các nhà sản xuất

Có thể đưa ra một vài nhận định cơ bản về thị trường bán lẻ hàng tiêu dùngcủa Việt Nam nhưa sau:

Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng Việt Nam là thị trường đang mở rộng về qui mô Với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì luôn ở mức cao và ổn định

mức sống người dân được nâng cao rõ rệt Năm 2005, sức mua hàng hóa và dịch

vụ của thị trường Việt Nam tăng khá mạnh với bình quân chi tiêu đầu người lênđến 438.000 đồng/tháng, cao hơn nhiều so với mức 378.000 đồng/tháng củanăm trước đó và gấp 2 lần so với năm 2000

Tỷ lệ giữa kênh phân phối truyền thống và hiện đại ở Việt Nam hiện đang chênh lệch ở mức cao Nếu như Thái Lan tỷ lệ này là 4 : 6 (kênh phân

phối truyền thống 40%, hiện đại 60%) thì ở Việt Nam là 8,4 : 1,6 Sức hấp dẫnrất lớn ở thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam nằm ở chỗ khả năng nắm giữ được84% thị phần vốn rất rời rạc và manh mún này là rất cao

Hệ thống phân phối truyền thống vẫn là kênh phân phối chủ yếu: Hệ

thống phân phối truyền thống điển hình là các cửa hàng bán lẻ hộ gia đình nằmrải rác trong các khu dân cư và chợ vẫn là những hình thức chủ yếu cung cấp tới90% tổng nhu cầu hàng tiêu dùng của người dân, cả về hàng thực phẩm cũngnhư phi thực phẩm Mua hàng tại các cửa hàng hoặc các chợ này là thói quenxuất phát từ nhu cầu sử dụng thực phẩm tươi sống hằng ngày tồn tại từ rất lâucủa người dân Việt Nam Ngoài ra hệ thống phân phối truyền thống có khả năngcạnh tranh về giá khá cao xuất phát từ việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng thấp Với 2

ưu điểm nổi bật trên, hệ thống phân phối truyền thống vẫn áp đảo hệ thống phânphối hiện đại trong nhièu phân đoạn thị trường, điều này sẽ được xem xét ở phầntiếp theo Tuy nhiên, hệ thống phân phối truyền thống đang bộc lộ những yếuđiểm lớn, gây mất lòng tin của người tiêu dùng Sự thiếu liên kết và thống nhấtgiữa các thành viên gây ra tình trạng giá cả chênh lệch ngay trên một khu vực

Trang 7

địa lý hẹp, khách hàng buộc phải tìm hiểu giá cả trước khi mua hàng với tâm lý

chóng trong tương lai không xa.

BIỂU ĐỒ 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của cả nước

giai đoạn 2000 - 2006

Nguồn: Tổng cục thống kê

II.Thực trạng hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại hàng tiêu dùng ở Việt Nam.

Tại Việt Nam, đặc biệt là TP.HCM, bán lẻ hiện đại dưới hình thức siêu thị

tự chọn, các cửa hàng, trung tâm thương mại xuất hiện từ những năm 1994 vàphát triển mạnh trong những năm gần đây Sau đây chúng ta sẽ xem xét kĩ hơn

về thực trạng phát triển của loại hình phân phối mới mẻ này trong bức tranhphân phối tổng thể của Việt Nam

20.9 20.5

19.4 18.8

14.5 11.3 9.7

0 100000 200000 300000 400000 500000 600000 700000

Giá trị Tốc độ tăng

Trang 8

1 Số lượng và sự phát triển của loại hình bán lẻ hiện đại ở Việt Nam.

Nếu như cuối năm 1995 nước ta mới chỉ có 12 siêu thị tại 6/64 tỉnh vàthành phố, thì đến 2005 số lượng này đã lên tới trên 200 siêu thị, 30 TTTM tại30/64 tỉnh và thành phố; khoảng 1.000 cửa hàng tiện lợi và hàng nghìn cửa hàngchuyên doanh phân bố rộng khắp cả nước tuy quy mô chưa lớn, trình độ quản lý,công nghệ, thiết bị kỹ thuật và phương thức kinh doanh chưa theo được chuẩnmực quốc tế

Tốc độ tăng trưởng hàng năm của kênh phân phối hiện đại này khoảng15%-20%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của ngành bán lẻ khác 10% và của nềnkinh tế 7%-8% Từ chỗ chỉ chiếm dưới 3% thị phần bán lẻ, đã tăng lên khoảngtrên 10%-25% và tốc độ này đang ngày càng tăng cao, đến 30% - 40% Ngườitiêu dùng ngày càng có xu hướng chuyển từ mua sắm tại chợ truyền thống sangcác siêu thị hiện đại Có thể khẳng định rằng: Bán lẻ hiện đại đang tấn côngmạnh mẽ vào hệ thống phân phối truyền thống

Biểu đồ 2: Bức tranh mạng lưới bán lẻ Việt Nam

Nguồn: www.sgtt.com.vn - Kịch bản nào mở cửa ngành bán lẻ, 2006

2 Mạng lưới phân bổ và mức độ bao phủ thị trường của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại tại Việt Nam.

Kênh phân phối hiện đại của Việt Nam thông qua mạng lưới cửa hàng tiệnlợi nhỏ gọn được đặt trong khu dân cư, phục vụ cho các nhu cầu thường ngàycủa người dân Các siêu thị, đại siêu thị qui mô lớn hơn phục vụ cho những dịpmua sắm lớn của người dân như lễ tết, hội hè Với mạng lưới phân bố như vậy,kênh phân phối hiện đại dường như đang thích nghi với thói quen tiêu dùng của

Trang 9

người dân Việt Nam Qui mô hiện tại của hình thức này là 16% trên toàn bộ hệthống bán lẻ.

Thành thị, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh là thị trường tiêu thụ hàng hoá chính của kênh phân phối hiện đại Lúcđầu, các loại hình này tập trung chủ yếu ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Tp.HCM, nhưng vài năm trở lại đây đã phát triển rộng ra các thành phố khác (HảiPhòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ,…) với tốc độ khá nhanh Phân phối hiệnđại ngày càng tỏ ra phù hợp với khu vực dân cư này Mặc dù vậy, theo nhậnđịnh của các chuyên gia kinh tế, kênh phân phôi này chỉ mới đáp ứng được20%-30% nhu cầu tiêu dùng của khách hàng có mức sống trên trung bình

Nông thôn, với 75% dân số cả nước, được coi là thị trường khá rộng lớn, làmục tiêu của chuỗi phân phối bán lẻ hiện đại Tuy nhiên, xâm nhập thị trườngnông thôn trong thời điểm hiện tại quả là một bài toán nan giải đối với cácdoanh nghiệp bán lẻ hiện đại Tính đến cuối năm 2005, cả nước có 9.063 chợ;trong đó 6.788 chợ ở nông thôn và 2.275 chợ ở khu vực thành thị Nhìn vào tỉ lệphân phối chợ giữa thành thị và nông thôn, chúng ta có thể nhận định rằng đốivới người dân nông thôn chợ vẫn là hình thức mua sắm chủ yếu Người dân ởkhu vực này, đại đa số là nông dân, có yêu cầu về dịch vụ, về sự đa dạng hànghoá cùng với mức độ tinh tế của sản phẩm thấp hơn so với khu vực thành thị,song cái mà họ đặt ra để làm tiêu chí hàng đầu cho quyết định mua hàng củaminh chính là giá cả Đây lại chính là yếu điểm của kênh phân phối hiện đại sovới những cửa hàng bán lẻ truyền thống Điều này cũng lý giải tại sao nông thônvẫn chỉ là một thị trường “đầy tiềm năng, có thể khai thác được” của kênh phânphối hiện đại Rõ ràng chính sách một giá (giá chung cho thành thị và nôngthôn) và cách tiếp cận “thành thị” là không phù hợp với cầu tiêu dùng nôngthôn Các doanh nghiệp cần có các chiêu thức tiếp thị đặc biệt, nâng cao sứccạnh tranh về giá nhằm khắc phục tình trạng không có kênh phân phối trên thịtrường rộng lớn này Đây cũng là một bước để hoàn thiện và nâng cao sức cạnhtranh cho các doanh nghiệp phân phối bán lẻ hiện đại Việt Nam

Trang 10

Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá

thực tế phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 1993 – 2006.

Chia ra Kinh tế

Nhà nước

Kinh tế ngoài Nhà nước

Khu vực

có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 11

3 Chất lượng dịch vụ, sự cạnh tranh giữa các loại hình bán lẻ hiện đại tại Việt Nam

Bán lẻ hiện đại là cách gọi chỉ chung cho những phương thức bán hàngkhác biệt so với những phương thức bán hàng truyền thống của người dân ViệtNam Để xem xét chất lượng của loại hình bán lẻ này, chúng ta làm phép sosánh với kênh phân phối truyền thống

Trước hết, về đầu tư: hệ thống cửa hàng, siêu thị, đại siêu thị nằm trong

chuỗi phân phối bán lẻ hiện đại được đầu tư rất lớn tới hàng trăm tỷ đồng Trongkhi đó, để có một cửa hàng bán tạp hoá hoặc một chỗ bán hàng trong chợ, ngườibán chỉ cần số tiền lên tới vài chục triệu, có khi, tại các khu miền núi, nông thôn,con số đấy chỉ là mấy triệu Với sự chênh lệch về đầu tư như vậy, cũng dễ hiểutại sao người tiêu dùng chúng ta vẫn thích vào siêu thị, trung tâm thương mại, dùchỉ là ngắm đồ

Về cơ sở hạ tầng: Các cửa hàng chuyên doanh, siêu thị,… thường được

nhà đầu tư lựa chọn địa điểm rất kĩ, thông thường là những địa điểm gần đầumối giao thông hoặc các trục đường chính nhiêu người qua lại và thường bố tríchỗ để xe cho khách hàng, rất thuận tiện cho người dân mua sắm Cửa hàngđược xây dựng qui mô, hoặc được thiết kế độc đáo mang phong cách riêng, vàtạo cảm giác sạch sẽ, thoải mái, ấn tượng cho người mua Nhìn lại một khu chợ,

kể cả trong trung tâm thành phố, có thể cũng được xây dừng gần nơi đông dân,song hầu hết đều lụp xụp, đường xá xuống cấp, bẩn thỉu, nhầy nhụa nhất là saukhi mưa, cách bố trí hàng hoá cũng lộn xộn, không theo hệ thống làm giảm mĩquan và gây khó khăn cho người tiêu dùng

Về hàng hoá: Bước vào một siêu thị, người tiêu dùng sẽ choáng ngợp

trước lượng hàng hoá dồi dào, đa dạng cả về mẫu mã và số lượng, hơn hẳnlượng hàng trong các sạp hàng chợ, hoặc các cửa hàng tạp hoá Điều đáng nói ởđây là mỗi nhóm hàng đều được bố trí ở những địa điểm cụ thể và giá cả niêmyết rõ ràng, thường được kiểm tra về chất lượng, thờì hạn sử dùng trước khi bàybán, do đó không gây ra sự mất tin tưởng về cả giá cả cũng như chất lượng hànghoá như ở các hình thức bán lẻ truyền thống Sở dĩ có sự khác biệt trên là dophân phối bán lẻ hiện đại có hệ thống kho chứa và phương tiện chở hàng hơnhẳn hệ thống bán lẻ truyền thống

Về nguồn nhân lực: Trình độ quản lý của kênh phân phối bán lẻ tỏ ra vượt

trội do được đào tạo bài bản, có trình độ học vấn cao, am hiểu kiến thức chuyênmôn và nền kinh tế Cách quản lý khoa học, tạo ra được sự thống nhất trong cả

Trang 12

một hệ thống bán hàng của doanh nghiệp Trong khi đó, người bán lẻ truyềnthống hầu hết đều chỉ sở hữu một hoặc một số sạp hàng giá trị thấp Hoạt độngquản lý của họ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm bản thân

Như vậy, với chất lượng dịch vụ vượt trội, kênh phân phối bán lẻ hiện đạiđang đe doạ bán lẻ truyền thống

Xem xét sự cạnh tranh trong nội tại các loại hình bán lẻ hiện đại, ta thấyđang bắt đầu xuất hiện sự cạnh tranh của các nhóm sau: Cạnh tranh giữa hệthống phân phối thông qua siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện íchchiếm 10% toàn kênh phân phối với 2 hệ thống phân phối đã bắt đầu được quantâm là hệ thống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, chuyên doanh của các nhà sảnxuất trực tiếp và hệ thống phân phối bán lẻ thông qua mạng điện tử, 2 hệ thốngphân phối này chiếm gần 6% toàn kênh Thứ 2 là cạnh tranh giữa các nhà bán lẻhiện đại trong nước và những nhà phân phối bán lẻ hiện đại nước ngoài

Về sự cạnh tranh của các nhà cung ứng: nhà cung ứng có khả năng hội nhập

dọc thuận chiều, họ có khả năng tự xây dựng những cửa hàng, trung tâm phân phối

cho riêng sản phẩm của họ Tất nhiên đó không phải là một xu thế phổ biến vì dùcho các nhà cung ứng có thể xây dựng các trung tâm phân phối, bán hàng của riêng

họ thì chuỗi các loại hình kinh doanh bán lẻ của các DNBL vẫn chiếm 60% sựthành công của các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa Song điều này cũng gây nên

áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại nước ta

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đặc biệt là internet đã làm

thay đổi cả thế giới Và thương mại điên tử đang là một xu hướng tất yếu.

Amazon.com, ebay.com là các trang web thương mại điện tử (e-comerce) lớn nhấtthế giới Các loại hàng hóa mà trước đây chỉ xuất hiện trên kệ của các cửa hàngtruyền thống giờ đây đã hiện diện trên các trang web này và được NTD sẵn sàngmua (order) như họ mua ở các cửa hàng bán lẻ Ở Việt Nam hiện nay, thương mạiđiện tử vẫn chỉ đang ở dạng khai sinh, đã có nhiều trang web bán hàng trực tuyếnnhưng vẫn chỉ dừng lại ở mức thử nghiệm, thăm dò thị trường nhưng nó cũng đãbáo hiệu cho một xu thế mua sắm online ở Việt Nam

Trang 13

III Đánh giá tiềm năng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại ở Việt Nam.

1 Những điều kiện thuận lợi và cơ hội.

1.1 Xuất phát từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp.

- Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, môi trường kinh doanh của ViệtNam có mức độ rủi ro thấp Quĩ tiêu dùng của dân cư ngày càng cao, khả năngchi tiêu của người dân đang tăng lên Theo cách nói thông thường, người dân đã

chuyển từ “ăn no, mặc ấm” sang “ăn ngon, mặc đẹp”.

- Nhà nước bắt đầu có những quan tâm đúng đắn đến sự phát triển của loạihình bán lẻ này Hiện Bộ Thương mại đang đàm phán với Chính phủ Phần Lan

về khoản viện trợ 20 triệu Euro, hỗ trợ Việt Nam nâng cao kết cấu hạ tầngthương mại Đây là nguồn vốn ODA đầu tiên rót vào ngành dịch vụ phân phốinước ta

- Thói quen tiêu dùng trong dân cư đã có những chuyển biến thuận lợi Tỷ

lệ dân cư thành thị có thói quen mua sắm tại các siêu thị, trung tâm bán lẻ ngàycàng cao Khu vực phía Nam có đến gần 85% dân cư là khách hàng thườngxuyên của siêu thị

- Các nghành kinh tế khác có tốc độ tăng trưởng nhanh, hỗ trợ cho hệ thốngphân phối có điều kiện phát triển theo Ví dụ như: Ngành viễn thông cho phép

áp dụng mạng nội bộ để kiểm soát hoạt động phân phối hàng và quản lý thanhtoán…, sự phát triển của sản xuất vật chất trực tiếp, hoạt động nhập khẩu cungứng cho hệ thống phân phối lượng hàng hoá phong phú về chất lượng và chủngloại…

1.2 Xuất phát từ nội tại doanh nghiệp.

- Đã xây dựng được hệ thống phân phối trên hầu hết các thành phố

- Hầu hết các doanh nghiệp đã nắm bắt được nguy cơ khi nhà nước mở cửathị trường phân phối vào 2009 và bước đầu đã hình thành xu hướng liên kết

- Bước đầu tạo được sự tin tưởng cho khách hàng về chất lượng phục vụ vàkhả năng đáp ứng nhu cầu So với kênh phân phối truyền thống, phân phối bán

lẻ hiện đại đã thể hiện những ưu thế vượt trội về nhiều mặt

- Ngày càng nắm bắt và am hiểu hơn thói quen mua sắm của người tiêudùng

- Bắt đầu đẩy mạnh xây dựng các mô hình kinh doanh siêu thị, trung tâmthương mại

Trang 14

2 Những tồn tại của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại Việt Nam.

2.1 Xuất phát từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp.

- Đầu tiên, khó khăn xuất phát từ hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ và

còn nhiều bất cập của nước ta Hiện tại, Việt Nam chưa có một bộ luật chuẩn

nào điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường bán

lẻ Các luật định lại thưòng xuyên thay đổi, gây khó khăn cho việc hoạch địnhchiến lược dài hạn cho doanh nghiệp Điều này sẽ còn ảnh hưởng xấu đến cácdoanh nghiệp trong nước hơn nữa khi thị trường trong nước mở cửa

- Công tác qui hoạch chợ và siêu thị ở nhiều địa phương còn qúa kém,

chưa được quan tâm hợp lý Các siêu thị và chợ mọc quá gần nhau gây ra sựcạnh tranh không cần thiết, làm chia nhỏ lượng khách hàng và giảm hiệu quảkinh doanh của từng siêu thị Kể cả các siêu thị cũng được xây dựng không hợp

lý, chưa có sự hợp tác lẫn nhau gây ra tình trạng phân bố không hợp lý, có khuvực thì quá nhiều, có những khu lại hầu như chẳng có siêu thị nào được xâydựng Lấy một ví dụ điển hình: Đoạn đường Phạm Ngọc Thạch, Hà Nội với độdài gần 1km có tới 3 siêu thị được xây dựng gồm siêu thị Hà Nội Star Bow, siêuthị Asean , ngay gần đó là 2 khu chợ Kim Liên và chợ Đông Tác

- Trong cơ cấu thị trường Việt Nam, tỉ trọng người tiêu dùng nông thôn

còn khá cao (hơn 75% trên tổng số dân của cả nước) Mặt khác cầu có khả năng

thanh toán của khu vực này thấp và thói quen tiêu dùng hàng chợ, hàng rong vẫncòn lớn Đây là một thách thức to lớn trong chiến lược mở rộng thị trường củacác doanh nghiệp bán lẻ hiện đại Việt Nam

- Việc phát triển hình thức bán lẻ hiện đại cũng gặp phải rào cản tồn tại

trong chính thói quen mua sắm đặc thù của người dân Việt Nam Có tới 90%

các bà nội trợ Việt Nam đi chợ mỗi ngày, với mục đích chính là nguyên liệuthực phẩm tươi sống

2.2 Xuất phát từ phía các doanh nghiệp.

- Tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp trong nước đang còn yếu Hầuhết doanh nghiệp trong hệ thống bán lẻ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tậptrung vốn trung và dài hạn để mở rộng kênh phân phối là điều khó khăn

- Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong hệ thống Do đó, việc thựchiện các chức năng trong quá trình quản trị thiếu hiệu quả và chưa đồng bộ

- Hoạt động Marketing chưa được quan tâm đúng mức: Chưa có chiếnlược cho những phân khúc thị trường khác nhau, hoạt động quảng bá, khuyếchtrương thương hiệu vẫn chưa được trú trọng, hệ thống hậu cần chưa đồng bộ và

Ngày đăng: 12/04/2013, 16:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá - Đánh giá về tiềm năng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại của Việt Nam
Bảng 1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá (Trang 10)
Bảng  2: Dự báo thị trường bán lẻ Việt Nam. - Đánh giá về tiềm năng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại của Việt Nam
ng 2: Dự báo thị trường bán lẻ Việt Nam (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w