1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012

92 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc tìm ra và giải quyết các vấn đề bất cập của 2 BV góp phần không nhỏ trong việc giúp hội đồng thuốc và điều trị của BV ĐK 500 giường bệnh hoàn thiện hoạt động xây dựng và sử d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

[ \

TRẦN THỊ THÚY AN

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN DANH MỤC THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA LÀO CAI SỐ 1 VÀ SỐ 2 NĂM

2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

[ \

TRẦN THỊ THÚY AN

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN DANH MỤC THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA LÀO CAI SỐ 1 VÀ SỐ 2 NĂM

2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC

MÃ SỐ: 60720412

Người hướng dẫn khoa học: GS Nguyễn Thanh Bình

NCS.ThS Nguyễn Trung Nghĩa

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trải qua những tháng ngày nỗ lực, với nhiều sự giúp đỡ, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Đây cũng chính là lúc tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn tới những người đã giúp tôi có được thành công ngày hôm nay.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thanh Bình, Phó hiệu

trưởng Trường Đại Học Dược Hà Nội đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới NCS.ThS Nguyễn Trung Nghĩa ,

Trưởng khoa Dược Bệnh viện E Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn

Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới: Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, bộ môn Quản lý và kinh tế dược, các thầy cô giáo trường Đại Học Dược

Hà Nội, Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa số I & số II tỉnh Lào Cai, khoa Dược Bệnh viện Đa khoa số I & số II tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân, bạn bè, đồng nghiệp

đã tạo điều kiện và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 10 năm 2013

Học viên

DS Trần Thị Thúy An

 

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ………1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN 3

1.1.1.Nguyên tắc xây dựng danh mục 3

1.1.2 Tiêu chí lựa chọn thuốc 4

1.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC TRONG BỆNH VIỆN5 1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN 8

1.3.1 Tình trạng bệnh tật và Mô hình bệnh tật (MHBT) 8

1.3.2 Hướng dẫn điều trị chuẩn (STG) 10

1.3.3 Danh mục thuốc thiết yếu (TTY) 11

1.3.4 Hội đồng thuốc và điều trị (DTC) 15

1.4 VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG CUNG ỨNG THUỐC TRONG CÁC BỆNH VIỆN Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ HƯỚNG ĐI CỦA ĐỀ TÀI 17

1.5 VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA SỐ 1 & SỐ 2 TỈNH LÀO CAI 20 1.5.1 Chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện ĐK Lào Cai số 1 & số 2 21

1.5.2 Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực BV ĐK Lào Cai số 1 21

1.5.3 Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực Bệnh Viện ĐK Lào Cai số 2 22

1.5.4 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện ĐK LC số 1& số 2 năm 2012 22

1.5.5 Cơ cấu nhân lực Dược của 2 BV năm 2012 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU : 25

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu : 25

2.2.2 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu 26

2.2.3 Cách thu thập số liệu 27

2.2.4 Phương pháp xừ lý số liệu: 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XD DMT CỦA BV ĐK LC SỐ 1 & SỐ 2 NĂM 2012 30

Trang 5

3.1.1 Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT năm 2012 của 2 bệnh viện 30

3.1.2 Các hoạt động cụ thể trong xây dựng DMT 2 bệnh viện năm 2012 31

3.2 ĐÁNH GIÁ DMT ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG NĂM 2012 CỦA BV ĐK LC SỐ 1 & SỐ 2 38

3.2.1.Đánh giá cơ cấu DMT đã sử dụng tại BV ĐK LC số 1 & số 2 năm 201239 3.2.2 Đánh giá tính hợp lý của DMT đã xây dựng tại BV ĐK LC số 1 & số 2 năm 2012 51

Chương 4 : BÀN LUẬN 62

4.1 HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG DMT CỦA 2 BV 62

4.2 ĐÁNH GIÁ DMT SỬ DỤNG CỦA 2 BV NĂM 2012 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ABC Phân tích ABC

ADR Adverse Drug Reaction (Phản ứng có hại của thuốc)

BV Bệnh viện

BVĐK LC Bệnh viện đa khoa Lào Cai

DMT Danh mục thuốc

DMTTY Danh mục thuốc thiết yếu

DTC Hội đồng thuốc và điều trị (Drug Therapeutic Committee)

ICD - 10 International Classification Diseases – 10 (Phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ

TTY Thuốc thiết yếu

VEN Phân tích sống còn, thiết yếu và không thiết yếu

WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Cơ cấu bệnh tật chung ở Việt Nam từ năm 2006 – 2010 (%) 9

Bảng 1.2 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện ĐK LC số 1 & số 2 năm 2012 23

Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực Dược của 2 BV năm 2012 23

Bảng 3.4 Các căn cứ lựa chọn thuốc của BV ĐK LC số 1 & số 2 31

Bảng 3.5 Số thuốc có trong DMT của BV ĐK LC số 1 & số 2 năm 2011 32

Bảng 3.6 Tỷ lệ tiền thuốc so với nguồn kinh phí của bệnh viện năm

2011

32

Bảng 3.7 Nội dung thẩm định các thuốc đề nghị bổ sung vào DMTBV 33

Bảng 3.8 Kết quả lựa chọn thuốc vào danh mục hoạt chất của DTC BV

ĐK LC số 1 & số 2 năm 2012

35

Bảng 3.9 Các tiêu chí lựa chọn thuốc của BV ĐK LC số 1 & số 2 36

Bảng 3.10 Kết quả lựa chọn thuốc vào DMT sử dụng năm 2012 của 2 BV 36

Bảng 3.11 So sánh hoạt động của DTC của 2 BV 37

Bảng 3.12 Cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dược lý 40

Bảng 3.13 Cơ cấu thuốc nội – thuốc ngoại trong DMT bệnh viện năm

2012

43

Bảng 3.14 Tỷ lệ thuốc chủ yếu trong DMT của bệnh viện năm 2012 44

Bảng 3.15 Các thuốc không có trong DMT chủ yếu của BV 1 năm 2012 45

Bảng 3.16 Các thuốc không có trong DMT chủ yếu của BV 2 năm 2012 46

Bảng 3.17 Tỷ lệ thuốc thiết yếu trong DMT của bệnh viện năm 2012 47

Bảng 3.18 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần trong

DMT của bệnh viện năm 2012

Trang 8

chế chuyên môn

Bảng 3.21 Số thuốc không sử dụng và sử dụng ngoài DMTBV năm 2012 52

Bảng 3.22 Tỷ lệ các thuốc được sử dụng ngoài DMT của bệnh viện năm

Bảng 3.24 Tỷ lệ thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu trong DMTBV 55

Bảng 3.25 Kết quả phân tích ABC của DMT sử dụng tại 2 BV năm 2012 56

Bảng 3.26 Phân nhóm điều trị các thuốc nhóm A 58

Bảng 3.27 Kết quả phân tích VEN các thuốc nhóm A của 2 BV 60

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình bệnh tật của hệ thống bệnh viện 10

Hình 1.2 Sơ đồ chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả chăm

sóc và phòng bệnh

11

Hình 1.3 Sơ đồ chu trình quản lý thuốc 17

Hình 1.4 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai 21

Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai 22

Hình 3.6 Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT năm 2012 của 2 bệnh

viện

30

Hình 3.7 Cơ cấu thuốc nội – thuốc ngoại trong DMT của 2 BV 43

Hình 3.8 Tỷ lệ thuốc chủ yếu trong DMT của 2 BV 44

Hình 3.9 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần – thuốc đa thành phần trong

Hình 3.11 Kết quả phân tích ABC của DMT sử dụng tại 2 BV năm 2012 56

Hình 3.12 Kết quả phân tích VEN các thuốc nhóm A của 2 BV 61

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nước trên thế giới Tại các nước đang phát triển, 30 – 60% bệnh nhân sử dụng kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết và hơn một nửa số ca viêm đường

hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý Tại châu Âu, sự đề kháng của phế cầu penicillin tỷ lệ thuận với lượng kháng sinh được sử dụng [29] Theo các nghiên cứu kinh phí chữa bệnh chiếm khoảng 30 – 40% ngân sách ngành y tế của nhiều nước,

và số tiền đó đang bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [30]

Ở Việt Nam, những năm vừa qua số lượng chế phẩm thuốc lưu hành trên thị trường không ngừng gia tăng Điều này kéo theo một thực tế, đó là người kê đơn gặp khó khăn, lúng túng trong việc chọn lựa thuốc, dẫn đến dùng thuốc thiếu hợp

lý, an toàn và hiệu quả Theo số liệu của Cục quản lý Dược, hiện có khoảng 22.615

số đăng ký thuốc lưu hành còn hiệu lực, trong đó có 11.923 số đăng ký thuốc nước ngoài với khoảng 1000 hoạt chất và 10.692 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước với khoảng 500 hoạt chất [15] Đây là thuận lợi đồng thời cũng gây ra không ít khó khăn cho việc lựa chọn cung ứng thuốc trong bệnh viện.Và cũng là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh

Vì vậy, sự ra đời danh mục thuốc bệnh viện là điều vô cùng cần thiết, với đóng góp to lớn trong công cuộc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe của nhân dân, đem lại lợi ích trong công tác khám chữa bệnh và trong lĩnh vực cung ứng thuốc bệnh viện Tuy nhiên hiện nay, một điều đáng lo ngại là bước quan trọng này lại đang được các bệnh viện quan tâm chưa đúng mức, dẫn đến sự lãng phí về mặt kinh

tế cũng như chưa tối đa hóa được hiệu quả điều trị

BV ĐK LC số 1 & BV ĐK LC số 2 là 2 bệnh viện cùng cấp độ, cùng khu vực

địa lý, và có cùng một chức năng do Sở Y tế Lào Cai giao phó " thực hiện chung

chức năng của một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh" Việc xây dựng danh mục thuốc

của 2 BV đóng vai trò quan trọng trong vấn đề đảm bảo cung ứng thuốc tại Lào Cai

- một tỉnh miền núi phía Bắc còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế văn hóa, xã hội và y

Trang 11

tế Đến đầu năm 2013, 2 bệnh viện sẽ sát nhập thành 1 bệnh viện đa khoa 500 giường bệnh – bệnh viện tuyến cuối của tỉnh Lào Cai Do đó, việc tìm ra và giải quyết các vấn đề bất cập của 2 BV góp phần không nhỏ trong việc giúp hội đồng thuốc và điều trị của BV ĐK 500 giường bệnh hoàn thiện hoạt động xây dựng và sử dụng danh mục thuốc của bệnh viện mới này trong những năm tiếp theo Với mục

đích đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài "Đánh giá hoạt động xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa Lào Cai số 1 và số 2 năm 2012" với mục tiêu :

1 Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện đa khoa Lào Cai số 1

và số 2 trong năm 2012

2 Đánh giá hoạt động thực hiện danh mục thuốc của 2 bệnh viện trên trong năm 2012

Từ đó so sánh hoạt động xây dựng và thực hiện danh mục thuốc của 2 bệnh viện và

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại bệnh viện Đa Khoa Lào Cai số 1 & số 2 trong những năm tiếp theo

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN

"Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu

cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện, phù hợp với MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh Những thuốc này trong một phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng"

DMT BV là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả, phù hợp với khả năng khoa học kỹ thuật và kinh phí của bệnh viện

Hiện nay, các bệnh viện đều xây dựng DMT BV căn cứ chủ yếu theo DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh của Bộ y tế Ngoài ra còn căn

cứ theo một số yếu tố khác như : tình hình thực tế khám chữa bệnh của bệnh viện, nguồn ngân sách, mô hình bệnh tật đặc thù…[16]

1.1.1.Nguyên tắc xây dựng danh mục

Theo thông tư số 21/BYT – TT về hướng dẫn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng thuốc điều trị ở bệnh viện, ngày 22 tháng 9 năm 2013 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện như sau :

- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện

- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật

- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị

- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện

Trang 13

- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y

tế ban hành

- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [14]

1.1.2 Tiêu chí lựa chọn thuốc

Theo Thông tư số 21/BYT – TT về hướng dẫn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng thuốc điều trị ở bệnh viện, ngày 22 tháng 9 năm 2013 Tiêu chí lựa chọn thuốc như sau :

_ Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng

_ Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định;

_ Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí thì phải lựa chọn trên

cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng;

_ Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc

_ Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất _ Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể

_ Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng [14]

Trang 14

1.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC TRONG BỆNH VIỆN

Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng một quy trình để xây dựng DMT trong bệnh viện bao gồm 4 giai đoạn với 19 bước [27] DTC thể hiện vai trò rất quan trọng trong từng giai đoạn và từng bước cụ thể trong quy trình này:

Bước 4 : Xây dựng hoặc lựa chọn các phác đồ điều trị

Bước 5 : Thu thập các thông tin để đánh giá lại danh mục thuốc hiện tại Bước 6 : Phân tích MHBT và tình hình sử dụng thuốc

Bước 7 : Đánh giá lại các nhóm thuốc và xây dựng phác thảo DMT BV Bước 8 : Phê chuẩn DMT sử dụng tại bệnh viện

Bước 9 : Đào tạo cho nhân viên trong bệnh viện về DMT BV : quy định

và quá trình xây dựng, quy định bổ sung hoặc loại bỏ thuốc khỏi danh mục, quy định sử dụng thuốc không có trong danh mục và kê đơn thuốc tên gốc

Bước 10 : Quyết định xây dựng cẩm nang danh mục thuốc

Bước 11 : Xây dựng các quy định và các thông tin trong cẩm nang

Bước 12 : Xây dựng các chuyên luận trong cẩm nang danh mục thuốc Bước 13 : Xây dựng các chuyên luận đặc biệt trong cẩm nang

Bước 14 : Xây dựng các hướng dẫn tra cứu cẩm nang

Trang 15

Bước 16 : Xây dựng các hướng dẫn điều trị chuẩn

Bước 17 : Thiết kế và tiến điều tra sử dụng thuốc

Bước 18 : Thiết kế và tiến hành theo dõi các phản ứng có hại của thuốc Bước 19 : Cập nhật các thuốc trong cẩm nang danh mục thuốc [1]

Trong giai đoạn một, DTC thu thập một số thông tin để giúp Ban giám đốc bệnh viện thấy rõ hiệu quả của việc quản lý tốt DMT và thuyết phục các nhà quản

lý bệnh viện đồng ý và ra quyết định về DMT và xem đây là quy định của bệnh viện [27] Các thông tin DTC cần thu thập bao gồm: tổng giá trị và tỷ trọng tiền thuốc trong năm trước, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử dụng, giá trị và nguyên của thuốc bị huỷ trong năm trước, tên của 10 thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại của thuốc, số lượng các ca tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm sử dụng, các thuốc giả, thuốc kém chất lượng DTC chịu trách nhiệm xây dựng giám sát mọi quy định và quy trình liên quan đến thuốc tại bệnh viện [32] Một số quy định nên được DTC quy định rõ bằng văn bản: quy trình lựa chọn thuốc mới, các thuốc hạn chế sử dụng, sử dụng thuốc ngoài danh mục và kê đơn thuốc mang tên generic

Quy trình lựa chọn một số thuốc mới

Chỉ có bác sỹ, dược sỹ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ thuốc,

có xác nhận của trưởng khoa phòng lâm sàng Các đề xuất bổ sung thuốc được chuẩn bị dựa trên các mẫu chính thức đã được xây dựng, sau đó gửi cho thư ký của DTC, nếu đã được điền đầy đủ các thông tin yêu cầu, được chuyển tới đơn vị thông tin thuốc hoặc dược sỹ chịu trách nhiệm về thông tin thuốc Đơn vị thông tin thuốc tìm kiếm các thông tin để đánh giá thuốc mới được yêu cầu với các thuốc đã có trong DMTBV có cùng chỉ định Mục tiêu so sánh là chi phí - hiệu quả, độ an toàn và giá DTC đánh giá các đề nghị bổ sung thuốc dựa trên các tiêu

Trang 16

chí có cơ sở bằng chứng rõ ràng, cụ thể và được tất cả các thành viên DTC thống nhất [30]

Đối với các thuốc đề nghị chưa có trong DMTBV hiện tại, DTC cần đánh giá hiệu quả điều trị, hiệu lực và độ an toàn của thuốc theo các tài liệu đáng tin cậy, chất lượng của thuốc thông qua việc cấp số đăng ký của Bộ Y Tế và hệ thống cung cấp đảm bảo chất lượng về vận chuyển, bảo quản và sản xuất Các thuốc mới đánh giá dựa trên năng lực, kinh nghiệm lâm sàng cũng như điều kiện trang thiết bị cần cho việc sử dụng thuốc, vai trò của bác sỹ khi theo dõi điều trị và dự tính chi phí của bệnh viện khi thuốc được đưa vào sử dụng và khả năng cung ứng của thuốc [34]

Đối với các thuốc đề nghị mà đã có thuốc có tác dụng tương tự trong danh mục, DTC cần xem xét các yếu tố: thuốc mới có vượt trội hơn so với thuốc hiện có

về mặt hiệu quả điều trị, độ an toàn, tiện dụng không và so sánh tổng chi phí cho một liệu trình điều trị bằng thuốc mới so với các thuốc hiện có Đối với những thuốc

đề nghị để sử dụng cho một số trường hợp nhất định thì không nên đưa các thuốc này vào trong danh mục Những tình huống như vậy bao gồm: bệnh nhân không đáp ứng hoặc có những chống chỉ định với các thuốc hiện có hoặc trước đó đã đáp ứng tốt với thuốc không có trong DMTBV và việc thay đổi thuốc có thể gây nguy hại cho người bệnh DTC thảo luận và biểu quyết ý kiến đề xuất về thuốc mới Quyết định của DTC được phổ biến tới tất cả nhân viên trong bệnh viện [34]

Thuốc hạn chế sử dụng

DTC quy định hạn chế sử dụng một số thuốc nhất định trong DMTBV: thuốc kháng sinh thế hệ 3,4 hay một số thuốc hóa trị liệu hoặc độc cho tế bào, thuốc có giá thành cao, thuốc dễ bị sử dụng lạm dụng [34]

Sử dụng thuốc nằm ngoài DMTBV

DTC quy định mẫu đề nghị sử dụng thuốc ngoài DMTBV Khoa Dược lưu lại các biên bản đề xuất bao gồm tên bác sỹ đề nghị, tên và số lượng thuốc yêu cầu để theo dõi sự tuân thủ DMTBV và đánh giá sự đáp ứng của DMTBV với MHBT và cân nhắc có bổ sung thuốc vào DMTBV hay không [34]

Sử dụng thuốc mang tên generic

Trang 17

Thuốc mang tên generic là một thuốc thành phẩm nhằm thay thế một thuốc phát minh được sản xuất không có giấy phép nhượng quyền của công ty phát minh và được đưa ra thị trường sau khi bằng phát minh và các độc quyền đã hết hạn [6] Các quyết định về lựa chọn thuốc phải dựa trên các bằng chứng y học lâm sàng, đạo đức, luật pháp, quy tắc xã hội, chất lượng cuộc sống, các yếu tố kinh tế nhằm đạt được kết quả tối ưu trong chăm sóc bệnh nhân Nguyên tắc này được thực hiện tại nhiều quốc gia: Australia, Hà lan, Canada, Mỹ Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình xây dựng DMT [18]

Sau khi đã thiết lập được các quy định và quy trình, bước tiếp theo của DTC là xây dựng hoặc lựa chọn các nhóm thuốc cho DMTBV Trước khi xây dựng danh mục, cần thu thập những dữ liệu cần thiết để phân tích các mô hình sử dụng thuốc hiện

có Các thông tin cần thu thập trước khi xây dựng DMTBV: tổng giá trị tiền thuốc

đã sử dụng trong năm trước, tỷ lệ giá trị tiền thuốc so với tổng chi phí của bệnh viện, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử dụng tại bệnh viện, giá trị của thuốc bị huỷ trong năm, tên của 10 thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại của thuốc đã được thu thập, số lượng các ca tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm sử dụng, thuốc giả, thuốc kém chất lượng đã được thông tin [32]

Trong giai đoạn ba của quy trình xây dựng DMT, DTC cần xây dựng một cuốn cẩm nang DMT Thông tin trong cuốn cẩm nang nhằm giúp cán Bộ Y tế trong bệnh viện, đặc biệt là bác sỹ hiểu được hệ thống DMT và chức năng của DTC [27]

Giai đoạn cuối cùng trong quá trình xây dựng DMT là duy trì DMT Việc sử dụng thuốc không hợp lý vẫn xảy ra ngay cả khi có một DMT lý tưởng Hướng dẫn điều trị chuẩn hay phác đồ điều trị là công cụ hiệu quả để tăng cường kê đơn hợp lý [34] Các điều tra sử dụng thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc cũng giúp DTC quản lý DMT và việc sử dụng thuốc trong bệnh viện hiệu quả hơn

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG DANH MỤC

THUỐC BỆNH VIỆN

Trang 18

1.3.1 Tình trạng bệnh tật và Mô hình bệnh tật (MHBT)

MHBT của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó sẽ là tập hợp tất

cả những tình trạng mất cân bằng về thể xác, tinh thần dưới tác động của những yếu

tố khác nhau, xuất hiện trong cộng đồng đó, xã hội đó trong một khoảng thời gian nhất định

"Ở Việt Nam, về mặt mô hình bệnh tật, các bệnh nhiễm khuẩn là những bệnh phổ biến nhất, kể cả trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai "

MHBT của BV : Không giống mô hình bệnh tật ở cộng đồng, bệnh viện (BV) là nơi

chữa bệnh (và khám bệnh) cho người mắc bệnh trong cộng đồng Mỗi BV có một MHBT riêng Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có 2 loại MHBT BV :

▪ MHBT của BV chuyên khoa : chủ yếu là các bệnh chuyên khoa và các bệnh thông thường

▪ MHBT của BV đa khoa : chủ yếu là các bệnh thông thường và các bệnh chuyên khoa

Ngoài ra tùy theo tình trạng và tuyến của BV mà MHBT BV có thể thay đổi Căn cứ vào MHBT mà BV xây dựng cho mình một DMT phù hợp [3]

1.3.1.1 MHBT ở Việt Nam

Là một quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới, MHBT ở nước ta hiện nay là đan xen giữa các bệnh nhiễm trùng và không nhiễm trùng, giữa cấp tính và mạn tính Các bệnh không lây, các bệnh do tai nạn, ngộ độc, chấn thương có xu hướng gia tăng, cả về tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết, nhất là các bệnh tim mạch, khối u, sức khỏe tâm thần, chấn thương do tai nạn…[19]

Tuy nhiên, hiện nay MHBT đã có nhiều thay đổi, bảng 1.1 sau đây sẽ cho ta thấy

rõ hơn về MHBT ở Việt Nam [1][5][7][9][11] :

Bảng 1.1 Cơ cấu bệnh tật chung ở Việt Nam từ năm 2006 – 2010 (%)

Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Chương

Bệnh Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Mắc Chết Bệnh lây 24,9 13,2 25,7 15,4 25,2 17,2 22,9 14,1 19,8 30,1 Bệnh

Trang 19

thương

Có sự thay đổi rõ rệt về MHBT từ năm 1986 đến năm 2010 Theo số liệu về cơ cấu lượt KCB tại cơ sở y tế nhà nước trong Niên giám thống kê y tế năm 2010, xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao Nếu tỷ trọng này năm 1986 chỉ là 39% thì năm 1996 tăng lên 50%, năm 2006 là 62% và chỉ sau 5 năm, đến năm 2010, tỷ trọng này đã tăng thêm 10 điểm phần trăm, lên mức 72% Ngược lại với xu hướng này là sự giảm đi nhanh chóng của tỷ trọng số lượt KCB đối với người mắc bệnh truyền nhiễm Tỷ trọng số lượt KCB liên quan đến tai nạn, chấn thương, ngộ độc có xu hướng chững lại Như vậy, gánh nặng bệnh tật chuyển dịch mạnh sang các bệnh không lây nhiễm [13]

1.3.1.2 Mô hình bệnh tật của bệnh viện

Bệnh viện là nơi khám và chữa bệnh cho người mắc bệnh trong cộng đồng Mỗi bệnh viện có tổ chức nhiệm vụ khác nhau, đặt trên các địa bàn khác nhau, với đặc điểm dân cư – địa lý khác nhau, đặc biệt là sự phân công chức năng nhiệm vụ trong các tuyến y tế khác nhau Ở Việt Nam cũng như trên thế giới có hai loại MHBT bệnh viện theo hình 1.3

MHBT trong bệnh viện là một căn cứ quan trọng giúp bệnh viện xây dựng danh mục thuốc phù hợp

Hình 1.1 Mô hình bệnh tật của hệ thống bệnh viện

1.3.2 Hướng dẫn điều trị chuẩn (STG)

"STG (phác đồ điều trị) là văn bản chuyên môn có tính chất pháp lý nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị học

Trang 20

mỗi loại bệnh Một phác đồ điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau"

Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) : Các tiêu chí của một STG về thuốc gồm :

- Hợp lý : phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc còn hạn sử dụng

- An toàn : không gây tai biến, không làm cho bệnh nặng thêm, không có tương tác thuốc

- Hiệu quả : dễ dùng, khỏi bệnh hoặc không để lại hậu quả xấu hoặc đạt mục đích sử dụng thuốc trong thời gian nhất định

- Kinh tế : chi phí điều trị thấp nhất

Nếu chỉ đơn thuần tuân thủ theo DMT sẽ không cải thiện chất lượng điều trị nếu như việc lựa chọn không dựa trên STG Thật là lý tưởng nếu như DMT được xây dựng dựa trên cơ sở các hướng dẫn điều trị các bệnh thường gặp Ở nhiều nước trên thế giới, khi bắt đầu xây dựng DMT thì đã có sẵn những hướng dẫn điều trị hoặc những tài liệu tương tự để tham khảo và sử dụng Hình 1.3 chỉ ra mối quan hệ giữa STG, DMT và những tác động của chúng đối với việc sử dụng và dự trữ thuốc [26]

Hình 1.2 Sơ đồ chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả chăm sóc và

Chuẩn bị ngân sách

và cung ứng thuốc

Cải thiện sử dụng và khả năng

cung ứng

Trang 21

1.3.3 Danh mục thuốc thiết yếu (TTY)

Lịch sử ra đời danh mục thuốc thiết yếu :

Đầu năm 70 của thế kỷ XX, tình trạng sử dụng thuốc chưa hoàn toàn hợp lý tại tất

cả các nước trên thế giới đã đến mức lo ngại, vì vậy Đại hội đồng Y tế thế giới đã

ủy nhiệm cho Tổ chức Y tế thế giới " xây dựng các biện pháp, mà qua đó chọn và

mua với giá cả hợp lý những thuốc thiết yếu có chất lượng đã được xác định, phù hợp với nhu cầu của mỗi quốc gia" Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo "Việc sử dụng thuốc hợp lý ngay từ đầu tại các nước đang phát triển sẽ giúp các nước này tiết kiệm được ngân sách lãng phí do lạm dụng thuốc và sử dụng thuốc kém tác dụng"

Năm 1975, với nỗ lực của các chuyên gia Y tế của Tổ chức Y tế thế giới, khái niệm TTY được hình thành từ đại hội lần thứ 28 của tổ chức này Năm 1977, với nỗ lực của các chuyên gia Y tế của tổ chức Y tế thế giới, khái niệm TTY được hình thành

từ đại hội lần thứ 28 của tổ chức này Năm 1977, danh mục đầu tiên gồm 200 loại thuốc gọi là danh mục thuốc thiết yếu danh mục mẫu) được biên soạn và xuất bản Tính đến năm 1999, danh mục TTY đã 10 lần bổ sung sửa đổi và ban hành lại Sự thay đổi này ngoài mục đích cập nhật những thuốc mới còn nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong công tác CSSK nhân dân Tổ chức Y tế thế giới còn ban hành danh mục ATC ( Anatomical Therapeutic Chemical Classification) gồm 14 phân nhóm, phân loại theo giải phẫu – điều trị - hóa học nhằm tạo thuận lợi cho các quốc gia xây dựng danh mục thuốc thiết yếu [24]

1.3.3.1 Danh mục thuốc thiết yếu

Danh mục thuốc thiết yếu là danh mục những loại thuốc thỏa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân, những loại thuốc này luôn có sẵn với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý

Danh mục thuốc thiết yếu có đủ các chủng loại đáp ứng nhu cầu điều trị các bệnh thông thường Tên thuốc trong danh mục đơn giản là tên gốc, dễ nhớ, dễ biết, dễ lựa chọn, dễ sử dụng, dễ bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ và dễ quản lý [33]

Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo và đưa ra DMTTY đầu tiên vào năm 1977 với danh mục gồm 208 thuốc để điều trị một cách an toàn và hiệu quả cho các bệnh chủ

Trang 22

yếu.Và vào tháng 3 năm 2007 DMTTY lần thứ 15 đã được ban hành bởi ủy ban chuyên gia của WHO [35]

◊ Lợi ích của việc giới hạn DMTTY [29]

▪ Cung ứng

- Dễ dàng hơn trong mua sắm, bảo quản và phân phối

- Lượng dự trữ ít hơn

- Đảm bảo chất lượng tốt hơn

- Pha chế theo đơn dễ dàng hơn

▪ Kê đơn

- Đào tạo tập trung và vì thế dễ sử dụng hơn

- Có nhiều kinh nghiệm hơn với một số lượng thuốc ít hơn

- Không có nhiều các thay thế không hợp lý

- Chú trọng đến thông tin thuốc

- Dễ dàng nhận ra phản ứng không mong muốn của thuốc (ADR)

▪ Chi phí

- Giả rẻ hơn, cạnh tranh nhiều hơn

▪ Việc sử dụng của người bệnh

- Tăng cường các nỗ lực về giáo dục

- Giảm nhầm lẫn và tăng cường sự gắn bó điều trị

- Cải thiện sự sẵn có của thuốc (availability)

Danh mục TTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của Nhà nước về: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong danh mục TTY Cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chủ trương, chính sách trong việc tạo điều kiện cấp số đăng ký lưu hành thuốc, xuất nhập khẩu thuốc Các đơn vị ngành y tế tập trung các hoạt động của mình trong các khâu: xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất, phân phối, tồn trữ, sử dụng TTY, an toàn hợp lý phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân Các cơ sở kinh doanh thuốc của nhà nước và tư nhân phải đảm bảo danh mục TTY với giá thích hợp, hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý, hiệu quả

Danh mục TTY là cơ sở để xây dựng DMT chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh

Trang 23

Tại Việt Nam, Bộ y tế đã ban hành DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh Danh mục năm 2008 có 750 thuốc/ hoạt chất tân dược (chiếm gần 50% hoạt chất lưu hành trên thị trường) [21] Danh mục này tiếp tục được sửa đổi,

bổ sung vào năm 2011 trong thông tư 31/2011/TT-BYT bao gồm 900 thuốc hay hoạt chất, được sắp xếp theo mã ATC (giải phẫu, điều trị, hóa học); được ghi theo tên chung quốc tế và theo quy định của Dược thư Quốc gia Việt Nam Đây là một danh mục tương đối đầy đủ và rộng mở nếu so sánh danh mục nhiều nước trong khu vực

và trên thế giới

1.3.3.2 Tiêu chí lựa chọn thuốc của WHO

Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh tật tại chỗ, trang thiết bị điều trị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, các nguồn lực tài chính, các yếu tố môi trường, địa lý và di truyền Tổ chức Y tế thế giới năm 1999 đã xây dựng một số tiêu chí lựa chọn như sau [26] :

- Chỉ chọn những thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, độ an toàn thông qua các thử nghiệm lâm sàng và trên thực tế sử dụng rộng rãi tại

trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng

- Khi so sánh chi phí giữa các thuốc cần phải so sánh tổng chi phí cho toàn bộ quá trình điều trị chứ không phải chỉ tính theo đơn vị của từng thuốc Khi mà các thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi lựa chọn cần phải tiến hành

phân tích hiệu quả - chi phí

- Trong một số trường hợp sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số các yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những đặc điểm tại địa phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất,

cung ứng

Trang 24

- Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất, những thuốc ở dạng đa chất phải có đủ cơ sở chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị của một nhóm đối tượng cụ thể và có lợi thế vượt trội về hiệu

quả, độ an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất

- Thuốc ghi tên gốc hoặc tên chung quốc tế (INN), tránh đề cập đến tên biệt

dược hoặc nhà sản xuất cụ thể

Hội đồng thuốc và điều trị cần phải thống nhất một cách rõ ràng tất cả các tiêu chí dựa trên những tiêu chí có sẵn của WHO để chọn thuốc làm sao đảm bảo được quy trình lựa chọn khách quan và có cơ sở Nếu thiếu cơ sở bằng chứng thì các quyết định đưa ra rất có thể mang tính cá nhân hoặc thiếu khách quan và điều này cũng sẽ gây khó khăn khi thuyết phục các thầy thuốc

kê đơn thực hiện danh mục thuốc Các tiêu chí chọn thuốc cũng như toàn bộ thủ tục đề xuất đưa thuốc vào danh mục thuốc phải được công khai Không phải tất cả các bằng chứng đều có sức thuyết phục như nhau Mức độ tin cậy của bằng chứng cần phải được xác nhận khi công khai các tiêu chí lựa chọn

và đưa ra quyết định [26]

1.3.4 Hội đồng thuốc và điều trị (DTC)

Để hạn chế tình trạng sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý, một trong những giải pháp là thành lập hội đồng thuốc và điều trị (DTC) tại các bệnh viện DTC là hội đồng nhằm đảm bảo độ an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc trong bệnh viện Hội đồng này bao gồm nhiều chuyên gia trong lĩnh vực khác nhau của bệnh viện nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả và sử dụng hợp lý an toàn [29]

Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/BYT – TT Thông tư này có hiệu lực thi hành

từ ngày 08 tháng 08 năm 2013 Bãi bỏ Thông tư số 08/BYT-TT ngày 4 tháng 7 năm

1997 của Bộ Y tế hướng dẫn việc tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng thuốc

và điều trị ở bệnh viện [14]

Mục tiêu và mục đích của DTC

Trang 25

Mục đích : Mục đích của DTC là nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế

độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả ra sao và sử dụng như thế nào

Để đạt được mục đích trên, một DTC cần phải đạt được những mục tiêu sau :

Xây dựng và thực hiện một hệ thống DMT có hiệu quả kể về mặt điều trị cũng như giá thành trong đó bao gồm các hướng dẫn điều trị thống nhất, một DMT và cẩm nang hướng dẫn DMT

Đảm bảo chi phí sử dụng những thuốc thỏa mãn cá tiêu chí về hiệu quả điều trị, độ an toàn, hiệu quả - chi phí, chất lượng

Đảm bảo an toàn thuốc thông qua công tác theo dõi, đánh giá và trên cơ sở đó ngăn ngừa các phản ứng có hại (ADR) và sai sót trong điều trị

Xây dựng và thực hiện những can thiệp để nâng cao thực hành sử dụng thuốc của các thầy thuốc kê đơn, dược sỹ cấp phát và người bệnh Điều này đòi hỏi phải thực hiện công tác điều tra và giám sát sử dụng thuốc

Chức năng và nhiệm vụ của DTC

DTC là một tổ chức được thành lập nhằm đánh giá sử dụng lâm sàng của thuốc, phát triển các chính sách quản lý, sử dụng thuốc và quản lý danh mục thuốc DTC ra đời nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá

cả ra sao và sử dụng như thế nào [30]

Để đạt được mục đích trên, WHO khuyến cáo hoạt động của DTC cần phải đạt được những mục tiêu sau [34] :

Hội đồng tư vấn cho các bác sỹ, dược sỹ và các nhà quản lý

Xây dựng các chính sách thuốc

Đánh giá và lựa chọn thuốc cho danh mục thuốc bệnh viện

Xây dựng hướng dẫn điều trị chuẩn

Phân tích sử dụng thuốc để nhận định các vấn đề

Tiến hành các biện pháp can thiệp hiệu quả để nâng cao thực hành sử dụng thuốc

Xử trí các phản ứng có hại

Trang 26

Xử trí các sai sót trong điều trị

Phổ biến thông tin

DTC chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề liên quan đến dử dụng thuốc trong bệnh viện, bao gồm xây dựng và duy trì DMT, biên soạn và liên tục cập nhật các thuốc trong danh mục Nhiệm vụ quan trọng của DTC là xác định các thuốc để thay thế, dựa trên hiệu quả và độ an toàn của thuốc, giảm thiểu các lãng phí trong điều trị và tối đa hóa hiệu quả chi phí

Vai trò của DTC trong chu trình quản lý thuốc

Trong chu trình quản lý thuốc ở bệnh viện DTC là tổ chức đứng ra điều phối toàn

bộ quá trình cung ứng thuốc Thông thường DTC sẽ phải phối hợp với bộ phận chịu trách nhiệm mua thuốc và phân phối thuốc Tuy nhiên DTC thường không thực hiện chức năng mua sắm mà có vai trò đảm bảo xây dựng hệ thống danh mục và chính sách thuốc, bộ phận mua thuốc thực hiện theo yêu cầu của DTC

Vai trò của DTC trong chu trình quản lý thuốc được thể hiện theo hình 1.4 sau :

Hình 1.3 Sơ đồ chu trình quản lý thuốc 1.4 VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG CUNG ỨNG THUỐC TRONG CÁC BỆNH VIỆN Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ HƯỚNG ĐI CỦA ĐỀ TÀI

Cung ứng thuốc bệnh viện là một vấn đề quan tâm hàng đầu không những của các BV mà còn là của cục Quản lý Dược và Bộ Y tế

Trang 27

Nhà nước đã ban hành một số chính sách pháp luật mang tính chất định hướng, hướng dẫn hoạt động lựa chọn thuốc trong các BV Năm 1997, Bộ Y Tế đã ban hành thông tư 08/BYT-TT về hướng dẫn tổ chức, chức năng nhiệm vụ của DTC Theo đó, tất cả các BV và các cơ sở y tế có giường bệnh được yêu cầu thành lập DTC, đồng thời xây dựng DMT BV Năm 2013, Bộ Y tế ban hành thông tư 21/2013/ TT-BYT thay thế cho thông tư 08/BYT-TT, quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của DTC Thông tư này là cơ sở pháp lý để DTC thực hiện các chức năng của mình trong chu trình cung ứng thuốc, trong đó có hướng dẫn cụ thể về việc lựa chọn thuốc để xây dựng DMTBV

Tuy vậy, cho đến nay việc xây dựng DMT mặc dù đã được thực hiện ở nhiều

BV nhưng vẫn còn gần 10% BV chưa xây dựng danh mục dùng trong BV, 36% (10/28) BV vẫn thường xuyên kê đơn thuốc ngoài danh mục [2]

Qua báo cáo tổng kết công tác Dược năm 2008, triển khai kế hoạch năm 2009 của cục quản lý Dược, hầu hết các BV đã xây dựng DMT căn cứ theo DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh hiện hành

Mặc dù thuốc sản xuất trong nước chất lượng đã được nâng lên đáng kể và giá thành thấp hơn nhiều so với thuốc nước ngoài cùng loại nhưng tại các BV, xu hướng

sử dụng vẫn là các thuốc ngoại, đắt tiền Trong khối BV, thuốc trong nước chỉ chiếm 15% thị phần (theo giá trị) và chiếm 61% về số lượng; lượng thuốc biệt dược chiếm 86% về giá trị và 60% về số lượng [20] Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm cho thấy thuốc nội tiêu thụ tại một số BV TƯ có số lượng chiếm 59,9% nhưng về giá trị chỉ chiếm 6,7% [23] Nguyên nhân là thuốc sản xuất trong nước chủ yếu mới đáp ứng được điều trị các bệnh thông thường với các dạng bào chế đơn giản (trên 90%), chưa đầu tư sản xuất thuốc chuyên khoa, thuốc đặc trị hoặc thuốc có yêu cầu sản xuất với công nghệ cao [4] Tổng số 9046 thuốc tân dược đăng ký sản xuất trong nước chỉ là chế phẩm của 652 hoạt chất, trong đó thuốc kháng sinh chiếm 19,4%, vitamin và thuốc bổ chiếm 11,8% Các thuốc chuyên khoa như thuốc tim mạch chỉ chiếm 0,96%, hormon và cấu trúc hormon chiếm 0,6%, thuốc chống ung thư chiếm 0,0001% [20]

Trang 28

Một vấn đề bất cập nữa là việc sử dụng kinh phí mua thuốc Theo các báo cáo, kinh phí sử dụng thuốc trong BV thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng ngân sách của một BV, nó có thể chiếm tỷ trọng tới 40-60% đối với các nước đang phát triển và 15-20% đối với các nước phát triển [28] [31] Tại Việt Nam, theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ

Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong BV chiếm tỷ trọng 58,7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong BV [10] Theo thống kê nhiều năm cho thấy tiền thuốc sử dụng trong BV thường chiếm 60% ngân sách của BV [5] Những vấn đề bất cập nêu trên đòi hỏi các nhà quản lý cần phải có các giải pháp can thiệp để cải thiện Bước đầu tiên để cải thiện sử dụng thuốc là điều tra nghiên cứu các vấn đề sử dụng thuốc chưa hợp lý và phạm vi ảnh hưởng của nó Một số công cụ hữu ích dùng để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong BV hiện nay là phương pháp phân tích ABC, phân tích VEN hoặc kết hợp ma trận ABC/VEN Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Phân tích VEN dựa trên mức độ quan trọng của các nhóm thuốc: nhóm V (Vital) là nhóm quan trọng nhất; nhóm E (Essential) cũng quan trọng nhưng ít hơn nhóm V; nhóm N (Non Essential) ít quan trọng, không cần phải sẵn có Phân tích VEN được sử dụng chủ yếu để thiết lập quyền ưu tiên cho việc lựa chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cung ứng; hướng dẫn hoạt động quản lý tồn trữ và quyết định giá thuốc phù hợp Phân tích ABC, VEN đã bước đầu được sử dụng tại Việt nam Đặc biệt trong năm

2013, Bộ Y tế đã ra thông tư yêu cầu DTC tại các BV sử dụng một số phương pháp phân tích, trong đó có 2 phương pháp trên để đánh giá việc sử dụng thuốc đồng thời làm nền tảng xây dựng DMTBV phù hợp Cho đến nay, cũng đã có nhiều nghiên cứu sử dụng 2 phương pháp này để phân tích, đánh giá hoặc can thiệp tới hoạt động xây dựng DMTBV của DTC như : Một nghiên cứu sử dụng phân tích ABC danh mục thuốc tại 3 bệnh viện : Bệnh viện Hữu nghị, Bệnh viện Nhi trung ương, Bệnh viện Lao phổi Trung ương đã chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc tại Bệnh viện Nhi trung ương, Bệnh viện Lao phổi trung ương là có lẽ chưa hợp lý khi mà tỉ lệ theo chủng loại nhóm A khá thấp: 9,6% tại BV Nhi Trung ương và 9,9% tại Bệnh viện Lao

Trang 29

phổi ; Một nghiên cứu khác tại Bệnh viện nhân dân 115 đã sử dụng ma trận ABC/ VEN để làm cơ sở thực hiện can thiệp vào việc xây dựng DMT Nghiên cứu đã đạt được kết quả đáng kể khi giảm tới 167 chủng loại thuốc trong tổng số 541 thuốc trong Danh mục,…[17] Việc phân tích DMT bằng công cụ phân tích ABC tại nhiều bệnh viện đã chỉ ra vẫn còn tồn tại nhiều loại thuốc có hiệu quả điều trị không rõ ràng trong DMT nhưng lại được tiêu thụ với số lượng rất lớn và chiếm tỉ trọng không nhỏ trong kinh phí mua thuốc như vitamin, thuốc bổ,…[18]

Tại Lào Cai một nghiên cứu về hoạt động đảm bảo cung ứng thuốc chữa bệnh tại BV ĐK LC số 2 của Đoàn Bích Thảo năm 2004 đã được thực hiện và chỉ ra rằng: Hoạt động của DTC BV số 2 còn mang tính hình thức, tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn xảy ra trong điều trị, DMT BV chủ yếu dựa vào nhu cầu thuốc hàng năm của BV, khả năng tài chính của BV và BN, chưa dựa vào MHBT và cũng chưa bàn luận nhiều để chọn thuốc nào có hiệu quả điều trị hơn, có mức độ an toàn hơn

và ít tốn kém hơn [25] Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào tiến hành trên cả 2

BV số 1 & số 2 để trả lời các câu hỏi: liệu việc lựa chọn thuốc của cả 2 BV đã hợp

lý, vai trò của DTC 2 BV đã được phát huy hết hay chưa, hoạt động xây dựng danh mục thuốc của 2 BV có điểm gì giống và khác nhau, còn thiếu sót những gì Do đó, luận văn được thực hiện với mong muốn đánh giá lại hoạt động xây dựng và thực hiện danh mục thuốc mà chưa có ai nghiên cứu tại 2 BV này Từ đó, góp phần nhìn

ra những vấn đề còn tồn tại và đề xuất một sô giải pháp phù hợp

1.5 VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA SỐ 1 & SỐ 2 TỈNH LÀO CAI

Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc, đời sống của nhân dân trong khu vực còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa – xã hội, y tế…

Tỉnh được tái lập (tháng 11/1991) nhưng chưa đủ điều kiện để thành lập bệnh viện

đa khoa tỉnh Khi đó bệnh viện công ty Apatit Việt Nam (tức là bệnh viện đa khoa

số 2 tỉnh Lào Cai hiện nay) với nguồn lực và cơ sở vật chất hơn hẳn các bệnh viện huyện ở địa phương đã thực hiện chức năng của một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh Ngoài chức năng chính là khám và điều trị cho cán bộ, công nhân của công ty, bệnh viện còn có nhiệm vụ cấp cứu, khám và điều trị cho nhân dân trong khu vực

Trang 30

của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai được thành lập từ bệnh viện Công ty Apatit Việt Nam [25]

Theo quyết định của SYT tỉnh Lào Cai, BV ĐK LC số 1 & số 2 sẽ sát nhập thành BV ĐK tỉnh với quy mô 500 giường bệnh Ngày 18/3/2013 BV ĐK tỉnh Lào Cai 500 giường bệnh đã chính thức đi vào hoạt động [36]

1.5.1 Chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện ĐK Lào Cai số 1 & số 2

- Cấp cứu và khám chữa bệnh

- Đào tạo về cán bộ Y tế

- Nghiên cứu khoa học về Y học

- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kĩ thuật

- Tham gia công tác phòng bệnh ( thiên tai, thảm hoạ, dịch)

- Hợp tác Quốc Tế

- Quản lý kinh tế Bệnh Viện

1.5.2 Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực BV ĐK Lào Cai số 1

Hình 1.4 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai

BAN GIÁM ĐỐC

Khoa

Dược Khối cận lâm sàng

Khoa chẩn đoán hình ảnh

Khối lâm sàng

- Khoa khám bệnh

- Khoa Nội, Khoa Ngoại

- Khoa Nhi, Khoa Phụ sản

- Khoa HSCC

- Khoa gây mê – hồi sức

- Khoa truyền nhiễm

- Khoa tâm thần kinh

- Khoa Liên Chuyên Khoa

- Phòng Kế hoạch tổng hợp

- Phòng Y tá (điều dưỡng)

Trang 31

Bệnh viện đa khoa Lào Cai số 1 với quy mô 300 giường bệnh, gồm 12 khoa thuộc khối lâm sàng, 2 khoa thuộc khối cận lâm sàng trong đó có khoa Dược, và 5 phòng chức năng Khoa Dược nằm trong khối cận lâm sàng chịu sự quản lý của ban Giám đốc bệnh viện và sự giám sát của Cục quản lý Dược – Bộ Y tế

1.5.3 Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực Bệnh Viện ĐK Lào Cai số 2

Bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai với quy mô 150 giường bệnh, gồm 9 khoa lâm sàng, 5 khoa cận lâm sàng và 4 phòng chức năng Khoa Dược nằm trong khối cận lâm sàng chịu sự quản lý của ban Giám đốc bệnh viện và sự giám sát của Cục quản lý Dược – Bộ Y tế

Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai

1.5.4 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện ĐK LC số 1& số 2 năm 2012

Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bệnh viện Cơ cấu nhân lực của BV ĐK LC số 1 & số 2 được thể hiện qua bảng sau:

BAN GIÁM ĐỐC

Khoa

Dược

Khối cận lâm sàng

- Khoa huyết học

- Khoa chống nhiễm khuẩn

- Khoa chẩn đoán hình ảnh

-Phụ sản

Các phòng chức năng

- Phòng Kế hoạch tổng hợp

- Phòng Y tá (điều dưỡng)

- Phòng Tổ chức cán bộ

- Phòng Tài chính – Kê toán

Trang 32

Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai

1.5.4 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện ĐK LC số 1& số 2 năm 2012

Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bệnh viện Cơ

cấu nhân lực của BV ĐK LC số 1 & số 2 được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.2: Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện ĐK LC số 1& số 2 năm 2012

Nhận xét: Về cơ cấu nhân lực của bệnh viện đa khoa Lào Cai số 1& số 2 thấy rằng:

Về số lượng nhân lực của BV số 1 gần gấp đôi BV số 2 Điều này có thể giải thích

rằng, BV ĐK LC số 1 có quy mô lớn hơn BV ĐK LC số 2 cụ thể như sau: số

giường bệnh của BV số 1 nhiều gấp đôi số giường bệnh của BV số 2, BV ĐK LC

số 1 có 300 giường bệnh trong khi BV ĐK LC số 2 chỉ có 150 giường bệnh Số

lượng cán bộ có trình độ cao như: Bác sỹ, Thạc sỹ, Dược sỹ đại học của BV ĐK LC

số 1 xét về tỷ lệ có phần nhỉnh hơn so với BV ĐK LC số 2

1.5.5 Cơ cấu nhân lực Dược của 2 BV năm 2012

Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực Dược của 2 BV năm 2012

Trang 33

Nhận xét : Quy định của Bộ Y tế : 1 dược sỹ đại học cần 3 nhân viên cùng làm việc

[20] Theo như quy định của Bộ Y tế, BV ĐK LC số 2 còn thiếu dược sỹ đại học

Về quy mô : BV ĐK LC số 1 gấp đôi so với BV ĐK LC số 2 Do đó, nhân lực khoa Dược cũng phải được biên chế với số lượng nhiều hơn Nhìn vào bảng 1.4 chúng tôi thấy rằng, BV ĐK LC số 1 còn thiếu nhân lực dược đại học, dược trung, dược tá để đảm bảo nhân lực cho công tác dược bệnh viện được triển khai hiệu quả hơn Ngoài

ra, có một nguyên nhân mà số lượng nhân lực của BV ĐK LC số 1 nhiều hơn nhân lực của BV ĐK LC số 2 là do một số dược sỹ của khoa Dược BV ĐK LC số 1 được phân công nhiệm vụ làm trên phòng hành chính, phòng kế hoạch tổng hợp nhưng trong bảng thống kê bệnh viện lại không thống kê vào nhân lực của khoa Dược BV

ĐK LC số 1

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :

BV ĐK LC số 1và số 2 trong đó tập trung vào :

Hội đồng thuốc và điều trị tại 2 bệnh năm 2012, tập trung vào các hoạt động của DTC trong xây dựng danh mục thuốc bệnh viện

DMT 2 bệnh viện đã sử dụng trong năm 2012: số lượng, giá thuốc, tên generic, tên biệt dược, nguồn gốc xuất xứ

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu :

™ Phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu

Thu thập thông tin hoạt động xây dựng DMT của hội đồng thuốc và điều trị 2 BV thông qua nghiên cứu các tài liệu sau:

+ Toàn bộ biên bản họp của DTC về hoạt động xây dựng DMT năm 2012

+ Ngân sách mua thuốc năm 2011

+ Bảng đề nghị danh mục thuốc bổ sung năm 2012 của các khoa/phòng của BV + Danh mục chủng loại và số lượng thuốc dự kiến sử dụng 2012

Thu thập thông tin hoạt động sử dụng thuốc của 2 BV năm 2012 thông qua nghiên cứu các tài liệu sau:

+ Các loại Danh mục thuốc: Danh mục thuốc bệnh viện 2012; Danh mục chủng loại và số lượng thuốc dự kiến sử dụng 2012; Danh mục thuốc đã sử dụng năm

2012

Trang 35

+ Báo cáo thống kê bệnh viện năm 2012 (tổng thu, chi)

+ Danh mục thuốc chủ yếu (Bộ Y tế ban hành kèm thông tư 31/2011/TT-BYT) + Danh mục thuốc thiết yếu ( Bộ Y tế ban hành kèm quyết định 17/2005/QĐ – BYT)

+ Các Danh mục thuốc biệt dược gốc (Bộ Y tế ban hành)

+ Danh mục thuốc hướng tâm thần ( Bộ Y tế ban hành kèm theo thông thư

11/2010/TT-BYT)

+ Danh mục thuốc gây nghiện (Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số

2033/1999/QĐ-BYT)

™ Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn chuyên gia thông qua bộ câu hỏi : phỏng vấn trưởng khoa Dược BV ĐK

LC số 1 & số 2 – thông qua bộ câu hỏi có sẵn nhằm thu thập thêm những thông tin sâu nhằm nắm rõ và chính xác quy trình xây dựng danh mục thuốc Nội dung bộ câu hỏi xem phụ lục

2.2.2 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hoạt động xây dựng DMT của hội đồng thuốc và điều trị; Hoạt động sử dụng DMT của BVĐKLC số 1 & số 2 năm 2012 dựa trên phân tích các chỉ

số sau:

™ Đánh giá hoạt động xây dựng DMT của 2 BV năm 2012:

Mô tả các hoạt động cụ thể trong xây dựng DMT của 2 BV

So sánh hoạt động xây dựng DMT của 2 BV

™ Đánh giá hoạt động sử dụng DMT của 2 BV năm 2012

Đánh giá cơ cấu DMT đã được sử dụng tại 2 BV năm 2012

Cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng Dược lý

Cơ cấu thuốc nội – ngoại

Tỷ lệ thuốc chủ yếu

Tỷ lệ thuốc thiết yếu

Tỷ lệ thuốc đơn thành phần – đa thành phần

Cơ cấu DMT theo tên INN/tên biệt dược/thuốc biệt dược gốc

Trang 36

Cơ cấu DMT gây nghiện – hướng thần

Đánh giá tính hợp lý của DMT đã xây dựng tại 2 BV năm 2012

Tính hợp lý của DMT sử dụng so với DMT BV

Tính hợp lý của DMT sử dụng so với kinh phí mua thuốc của BV

Tính hợp lý của DMT sử dụng theo quy định của BYT

Tính hợp lý của DMT sử dụng từ kết quả phân tích ABC

So sánh DMT sử dụng của 2 BV

2.2.3 Cách thu thập số liệu

Các tài liệu được thu thập như sau :

Toàn bộ biên bản họp của DTC về hoạt động xây

dựng DMT và quản lý sử dụng DMT năm 2011, 2012

Khoa Dược

Danh mục thuốc bệnh viện, Danh mục thuốc dự kiến

sử dụng, Danh mục thuốc đã sử dụng năm 2012 Khoa Dược

Bảng đề nghị danh mục thuốc bổ sung năm 2012 của

các khoa/phòng của BV

Khoa Dược

Danh mục thuốc chủ yếu Bộ Y tế ban hành (kèm

thông tư BYT)

31/2011/TT-7 Danh mục thuốc Biệt dược gốc Bộ Y tế ban hành

2.2.4 Phương pháp xừ lý số liệu:

Các số liệu sau khi được thu thập được đưa vào phần mềm Microsoft Excel để xử lý

và phân tích theo các bước sau:

- Tổng hợp toàn bộ những dữ liệu về DMT đã sử dụng năm 2012 của mỗi bệnh

viện trên cùng một bản tính Excell: Tên thuốc (cả generic và biệt dược); Nồng độ,

hàm lượng; đơn vị tính; đơn giá; số lượng sử dụng của từng khoa/phòng; nước sản

xuất; nhà cung cấp

- Tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:

Trang 37

9 Cơ cấu theo nhóm tác dụng dược lý

9 Cơ cấu theo nước sản xuất: đưa ra tỷ lệ thuốc nội/ngoại

9 Cơ cấu theo tên INN/tên biệt dược gốc/tên thương mại

9 Cơ cấu theo các thuốc đơn thành phần/ đa thành phần

9 Cơ cấu theo DMT nghiện, hướng thần/ thuốc thường

9 Cơ cấu thuốc thiết yếu trong danh mục thuốc bệnh viện

9 Cơ cấu thuốc chủ yếu theo danh mục chủ yếu của Bộ y tế ban hành

- Tính tổng SLDM, trị giá của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu

(nếu cần)

Phân tích ABC

Các bước tiến hành :

9 Bước 1 : Liệt kê các sản phẩm : gồm N sản phẩm

9 Bước 2 : Điền các thông tin sau cho mỗi sản phẩm :

Đơn giá của từng sản phẩm : gi (i= 1,2,3…N)

Số lượng các sản phẩm : qi

9 Bước 3 : Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm : ci= gi x qi

Tổng số tiền sẽ bằng tổng lượng tiền cho mỗi sản phẩm C = Σ ci

9 Bước 4 : Tính giá trị % của mỗi sản phầm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền : pi = ci x 100/C

9 Bước 5 : Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm và giá trị giảm dần

9 Bước 6 : Tính giá trị % tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm (k) ; bắt đầu với sản phẩm số 1 sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách

9 Bước 7 : Phân hạng sản phẩm như sau :

- Hạng A : Gồm những sản phẩm chiếm 75 – 80% tổng giá trị tiền ( có k từ 0 ÷ 80)

- Hạng B : Gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền ( có k từ 80

÷ 95%)

- Hạng C : Gồm những sản phẩm chiếm 5 – 10% tổng giá trị tiền (có k > 95%)

Trang 38

Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 20% tổng sản phẩm ; hạng B chiếm 10 20% và 60 -80% còn lại là hạng C

-Phân tích VEN các thuốc nhóm A :

Là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ưu tiên để mua

và dự trữ trong bệnh viện theo các hạng mục: sống còn, thiết yếu và không thiết yếu

- Các thuốc sống còn (Vital – V) : gồm các thuốc dùng để cứu sống người bệnh hoặc các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản

- Các thuốc thiết yếu (Essential – E) : gồm các thuốc dùng để điều trị cho những bệnh nặng nhưng không nhất thiết phải có cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản

- Các thuốc không thiết yếu (Non- Essential – N) : gồm các thuốc dùng để điều trị những bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong DMT thiết yếu và không cần thiết phải lưu trữ trong kho

- Thuốc hết hạn nhưng cần thiết phải có để dự trữ (dùng khi cấp cứu) : V

- Thuốc hết hạn đã từng được sử dụng một cách thường xuyên : E

- Thuốc hết hạn do không được sử dụng hoặc rất ít được sử dụng : N

Phương pháp này cung cấp cho DTC các dữ liệu quan trọng để quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào là cần thiết và thuốc nào ít quan trọng hơn

Các thuốc thuộc nhóm A sẽ được phân loại thành 3 nhóm V ( sống còn), E ( thuốc thiết yếu), N (thuốc không thiết yếu) Do hạn chế của đề tài, luận văn chỉ áp dụng phương pháp phân tích VEN để phân tích các thuốc nhóm A theo phân loại ABC danh mục thuốc đã sử dụng năm 2012 [26]

- Sử dụng kiểm định phân phối nhị phân để kiểm định sự khác biệt về tỷ lệ giá trị sử dụng của thuốc đơn thành phần giữa hai bệnh viện

- Số liệu được bày bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word trong Windows bằng cách: lập bảng và mô hình hoá dưới dạng biểu đồ, đồ thị

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XD DMT CỦA BV ĐK LC SỐ 1 & SỐ 2 NĂM

2012

3.1.1 Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT năm 2012 của 2 bệnh viện

Hàng năm danh mục thuốc của Bệnh viện Đa khoa Lào Cai số 1& số 2 được xây dựng theo quy trình như sau:

Hình 3.6: Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT năm 2012 của 2 bệnh viện

Phê duyệt

Khoa dược

Tổng hợp danh mục số lượng và chủng loại thuốc

dự kiến sử dụng

DMT (hoạt chất)

Giám đốc BV phê duyệt

Nộp

Trang 40

Nhận xét : Các bước xây dựng DMT năm 2012 của 2 BV giống nhau cụ thể được

tóm tắt trong hình 3.7

Kết quả trúng thầu của 2 bệnh viện năm 2012 được kéo dài từ tháng 9/2011 đến tháng 9/2012 Đầu năm 2011, cả 2 BV đã gửi danh mục số lượng và chủng loại thuốc dự kiến của 2 BV lên Sở Y tế Lào Cai Ngày 19 tháng 1 năm 2012 Bộ Y tế,

Bộ tài chính ban hành thông tư 01/2012/ TTLT-BYT-BTC Do Bộ Y Tế ban hành thông tư 01/2012/TTLT – BYT – BTC về đấu thầu thuốc nhưng những văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện thông tư 01/2012 /TTLT – BYT – BTC vẫn chưa rõ ràng Sở Y tế không tổng hợp được nhu cầu sử dụng của các cơ sở gửi lên theo đúng yêu cầu của Bộ Y tế để tiến hành đấu thầu tập trung Sở Y tế đã có văn bản gửi lại

đến từng cơ sở khám chữa bệnh trong toàn tỉnh : năm 2012 Sở Y Tế Lào Cai không

tổ chức đấu thầu mà sử dụng danh mục thuốc trúng thầu của năm 2011 Chính vì

thế tất cả các cơ sở khám chữa bệnh trong tỉnh Lào Cai trong đó có 2 BV số 1 & số

2 đều sử dụng kết quả trúng thầu của năm 2011 làm căn cứ xây dựng danh mục thuốc sử dụng của cơ sở

3.1.2 Các hoạt động cụ thể trong xây dựng DMT 2 bệnh viện năm 2012

3.1.2.1 Các căn cứ lựa chọn thuốc của 2 bệnh viện

Bảng 3.4 : Các căn cứ lựa chọn thuốc của BV ĐK LC số 1 & số 2

Đề nghị của các khoa/phòng lâm sàng :

1 Thuốc đề nghị chưa có trong DMT BV

được BHYT chi trả

2 Thuốc đề nghị đã có trong DMT BV

Nhận xét : Các căn cứ lựa chọn thuốc của BV ĐK LC số 1 & số 2 giống nhau trên 4

căn cứ đó là : danh mục thuốc chủ yếu, đề nghị của các khoa/phòng lâm sàng, thực

tế sử dụng năm trước và khả năng kinh phí của bệnh viện Tuy nhiên các căn cứ này vẫn chưa được DTC văn bản hóa, mà các thành viên chỉ thảo luận trong các cuộc

Ngày đăng: 25/07/2015, 20:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Cơ cấu bệnh tật chung ở Việt Nam từ năm 2006 – 2010 (%) - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Bảng 1.1. Cơ cấu bệnh tật chung ở Việt Nam từ năm 2006 – 2010 (%) (Trang 18)
Hình 1.2. Sơ đồ chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả chăm sóc và - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Hình 1.2. Sơ đồ chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả chăm sóc và (Trang 20)
Hình 1.3. Sơ đồ chu trình quản lý thuốc - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Hình 1.3. Sơ đồ chu trình quản lý thuốc (Trang 26)
Hình 1.5. Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Hình 1.5. Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai (Trang 31)
Bảng đề nghị danh mục thuốc bổ sung năm 2012 của - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
ng đề nghị danh mục thuốc bổ sung năm 2012 của (Trang 36)
3.1.1. Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT năm 2012 của 2 bệnh viện - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
3.1.1. Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT năm 2012 của 2 bệnh viện (Trang 39)
Bảng 3.8 Kết quả lựa chọn thuốc vào danh mục hoạt chất của DTC BV ĐK LC - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Bảng 3.8 Kết quả lựa chọn thuốc vào danh mục hoạt chất của DTC BV ĐK LC (Trang 44)
Bảng 3.9 : Các tiêu chí lựa chọn thuốc của BV ĐK LC số 1 & số 2 - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Bảng 3.9 Các tiêu chí lựa chọn thuốc của BV ĐK LC số 1 & số 2 (Trang 45)
Bảng 3.15  Các thuốc không có trong DMT chủ yếu của BV 1 năm 2012 - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Bảng 3.15 Các thuốc không có trong DMT chủ yếu của BV 1 năm 2012 (Trang 54)
Bảng 3.16  Các thuốc không có trong DMT chủ yếu của BV 2 năm 2012 - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Bảng 3.16 Các thuốc không có trong DMT chủ yếu của BV 2 năm 2012 (Trang 55)
Hình 3.9. Tỷ lệ thuốc đơn thành phần – thuốc đa thành phần trong DMT 2 BV - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Hình 3.9. Tỷ lệ thuốc đơn thành phần – thuốc đa thành phần trong DMT 2 BV (Trang 57)
Hình 3.10. Cơ cấu thuốc sử dụng theo tên INN/tên biệt dược/ thuốc biệt dược - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Hình 3.10. Cơ cấu thuốc sử dụng theo tên INN/tên biệt dược/ thuốc biệt dược (Trang 59)
Bảng 3.20  Cơ cấu DMT của BV ĐK LC số 1 & số 2 năm 2012 theo quy chế - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Bảng 3.20 Cơ cấu DMT của BV ĐK LC số 1 & số 2 năm 2012 theo quy chế (Trang 60)
Bảng 3.26 Phân nhóm điều trị các thuốc nhóm A - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Bảng 3.26 Phân nhóm điều trị các thuốc nhóm A (Trang 67)
Hình 3.12. Kết quả phân tích VEN các thuốc nhóm A của 2 BV - Đánh giá hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện đa khoa lào cai số 1 và số 2 năm 2012
Hình 3.12. Kết quả phân tích VEN các thuốc nhóm A của 2 BV (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w