Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong suốt thập kỷ 90 và những năm gần đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến mức giảm tỷ lệ đói nghèo, trong đó phát triển sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh tế nông thôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, quan điểm về phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được mởrộng về nội hàm, ngoài yếu tố cơ bản là tăng trưởng kinh tế cao, ổn định cònphải đặc biệt quan tâm đến các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống Quanđiểm phát triển bền vững trở thành mục tiêu chung của cả cộng đồng thế giới.Điều đó đồng nghĩa rằng bất kỳ một quốc gia nào khi không giải quyết được tốtcác vấn đề xã hội phát sinh trong nước, không có chiến lược và hành động thiếtthực bảo vệ môi trường thì sẽ dẫn đến sự suy thoái về kinh tế - xã hội
Sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại hiện nay đã đặt ra nhiều vấn đề
mà chỉ riêng một quốc gia không thể tự giải quyết, vì vậy đòi hỏi cần có sự hợptác quốc tế với nhiều vòng đàm phán và việc ký kết các hiệp định song phương
và đa phương giữa các quốc gia Như các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làmsuy giảm một cách nghiêm trọng nền kinh tế quốc dân của nhiều nước; hay vấn
đề biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay trở thành nỗi lo không chỉ của một quốcgia; các tệ nạn xã hội …trong đó tình trạng nghèo đói của nhiều quốc gia vànhiều khu vực cũng là vấn đề được cộng đồng thế giới đặc biệt quan tâm Nghèođói ở khu vực Mỹ La Tinh, Châu Phi hay Châu Á hiện nay đã tác động xấu đến
sự tăng trưởng kinh tế thế giới, là nguyên nhân làm gia tăng các vấn đề xã hộinhư mù chữ, bệnh tật bạo hành, xung đột…Chính từ những yêu cầu bức thiếtcủa thực tế mà việc tìm giải pháp cho vấn đề đói nghèo là nội dung cấn các quốcgia, các tổ chức quốc tế và từng cá nhân góp sức giải quyết
Trong nhiều chương trình nghị sự của Liên Hợp Quốc đã thảo luận vấn đềnày và kêu gọi thế giới chống đói nghèo với tinh thần nhân văn bằng các giảipháp kinh tế, hành chính trong cơ chế thị trường đã và đang hội nhập
Trong quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam đã nêu rõ: “Thoả mãn nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần và văn hoá cho thế hệ hiện tại và tương lai thông qua việc quản lý một cách khôn khéo tài nguyên thiên nhiên; xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch hành động và cơ chế tổ chức nhằm đảm bảo khả năng sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 2được nhất thể hoá và liên kết chặt chẽ với tất cả các khía cạnh” Như vậy,
trong quan điểm phát triển của Việt Nam cũng chỉ rõ cần phải gắn liền ba yếutố: tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường Trong nhiều nămqua, tình hình kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng cao và
ổn định trong nhiều năm ( những năm 90), đây là nền tảng vững chắc cho ViệtNam thực hiện tốt các chính sách xã hội, và một trong những chính sách thànhcông đó là chính sách xoá đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo là một chủ trương lớn, một quyết sách nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta ngày từ buổi đầu sau CMT8 thành công Nó thể hiện sự lãnh đạođúng đắn và sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối với việc nâng cao mức sốngcủa nguời dân Quyết sách đó không những đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng củađông đảo quần chúng nhân dân mà còn phù hợp với xu hướng chung của thờiđại, phù hợp với các mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên hợp Quốc đề ra
Những kết quả mà Việt Nam đã đạt được là rất to lớn như giảm tỷ lệ hộ nghèotheo chuẩn quốc gia và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân lênmột bước đáng kể Tuy nhiên, cùng với tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoáđất nước thì công tác xoá đói giảm nghèo vẫn cần tiếp tục được đẩy mạnh hơnnữa, nhằm giải quyết triệt để tình trạng đói nghèo Bên cạnh việc huy độngnguồn lực cần thiết cho công tác thì việc tìm hiều nguyên nhân và thực trạng củađói nghèo cũng là nội dung không thể xem nhẹ Mọi sự vật đều có quá trình pháttriển và biến đổi theo quy luật khách quan, việc tìm hiểu nguyên nhân, thựctrạng sẽ giúp chúng ta có những định hướng cũng như tìm kiếm giải pháp phùhợp nhất Từ những phân tích trên em xin chọn đề tài này làm bài tiểu luận chomôn học, em mong cô đóng góp ý kiến cho lần viết sau được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
I NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
1 Những thành tựu trong công tác xoá đói giảm nghèo
1.1 Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong suốt thập kỷ 90 và những năm gần đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến mức giảm tỷ lệ đói nghèo, trong đó phát triển sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh tế nông thôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Nền kinh tế Việt Nam sau thời kỳ đổi mới đã có nhiêù chuyển biến rõ nét,đưa đến một giai đoạn phát triển kinh tế xã hội với nhiều thành tựu quan trọng.Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1991 – 2000 đạt 7,5%/ năm, xuất khẩu tăngnhanh, từng bước kiểm soát được lạm phát và ổn định giá cả Những kết quả đạtđược trong tăng trưởng kinh tế là nền tảng, điều kiện vô cùng quan trọng choviệc Việt Nam phấn đấu thực hiện các mục tiêu xoá đói giảm nghèo đã đề ratrong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
Cùng với các chính sách khuyến khích sản xuất kinh doanh, Chính Phủcũng đưa ra nhiều chủ trương ưu tiên phát triển nông nghiệp, nông thôn, vùngsaau, vùng xa, nhằm giải phóng sức sản xuất của dân cư nông thôn và khuyếnkhích dân cư tự mình phấn đấu cải thiện hoàn cảnh sống của mình Những thànhtựu XDGN của Việt Nam đâã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao,trong báo cáo phát triển Việt Nam 2004 đã ghi nhận:“ những thành tựu của ViệtNam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế”tạo được sự đồng thụân xã hội cao, góp phần ổn định chính trị, thu hút vốn đầu
tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế trong nước, thực hiện cam kết thiên niên kỷ
mà Việt Nam đã tham gia, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trườngquốc tế
Trang 4Tỷ lệ người nghèo tính theo chuẩn quốc tế đã giảm liên tục từ hơn 60%năm 1990, xuống còn 58% năm 1993, 37% vào năm 1998, 32% vào năm 2000,29% vào năm 2002 và còn 18,1% vào năm 2004.
Căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia do Bộ Lao động thương binh – Xã hội,
tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 30% năm 1990, 30% năm 92, xuống còn 17%năm 2002 ( tương đương 2,8 triệu hộ)
Từ năm 1992 – 2004, tỷ lệ đói nghèo ở Việt nam đã giảm từ 30% xuốngcòn 8,3% Tính đến tháng 11 năm 2004, trên địa bàn cả nước có 2 tỉnh và thànhphố cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn, 18 tỉnh tỷ lệ người nghèochiếm 3-5%, 24 tỉnh có tỷ lệ người nghèo chiếm 5-10%
Đây được xem là những thành tựu nổi bật, đáng ghi nhận của Việt Namtrong công tác XDGN, trong đó phải nhấn mạnh đến vai trò vô cùng quan trọngcủa tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định trong suốt thập kỷ 90 và những năm
2005, 2006,2007 vừa qua
1.2 Nguồn lực cho công tác xoá đói giám nghèo được tăng cường
Mặc dù kinh tế đã có sự phát triển nhưng nhìn chung Việt Nam vẫn còn ởđiểm xuất phát thấp nguồn thu cho ngân sách nhà nước còn hạn hẹp Song nhànước đã tăng cường đầu tư cho công tác xoá đói giảm nghèo thông qua chươngtrình quốc gia liên quan đến XDGN như chương trình 134, 135, 133, các chươngtrình về giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ…và các dự án quốc tế trong 5năm (2001-2005) khoảng 40.950 tỷ đồng; riêng đầu tư cho chương trình mụctiêu xoá đói giảm nghèo là khoảng 21.000 tỷ đồng
Hệ thống ngân hàng phục vụ người nghèo đã được thành lập nhằm cấp tíndụng ưu đãi cho người nghèo Nguồn vốn huy động của cộng đồng dân cư, các
tổ chức và cá nhân trong nước cũng tăng đáng kể Tổng nguốn vốn cho ngườinghèo vay đạt 5.500 tỷ đồng Ngoài ra, nhà nước có sự hỗ trợ đáng kể cho đờisống đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn với số tiền trên 70.000 tỷ đồng và chogần 90.000 hộ vay vốn sản xuất không phải trả lãi
Đặc biệt, công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam trong những năm qua
đã nhận được sự hỗ trợ giúp đỡ của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và tổ chức
Trang 5phi chính phủ về mọi mặt Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc( UNDP) đã
và đang giúp Việt Nam thực hiện các chiến lược, chương trình xoá đói giảmnghèo, trên tinh thần coi trọng sự tham gia của nhân dân, UNDP đã hỗ trợ 7 dự
án xoá đói giảm nghèo ở các Tỉnh miền núi phía Bắc Đây là yếu tố quan trọng,tạo điều kiện thúc đẩy nhanh công tác xoá đói giảm nghèo đạt được nhiều thànhcông
1.3 Tỷ lệ các xã không có hoặc thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu đã giảm
Một trong những chương trình hỗ trợ rất lớn của nhà nước nhằm đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã, vùng đặc biệt khó khăn là chương trình 135.Chương trình này được bắt đầu thực hiện từ năm 1998 với mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa Một trong 5 mụctiêu quan trọng của chương trình được xác định là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầngthực hiện qua hai dự án: xây dựng công trình hạ tầng xã đặc biệt khó khăn vàxây dựng trung tâm cụm xã
Tính đến năm 2005, chương trình 135 đã đầu tư cho 2412 xã đặc biệt khókhăn, thuộc 52 tỉnh ở 320 huyện với dân số khoảng 9.8 triệu nhân khẩu, trong
đó có khoảng 1 triệu hộ với trên 5.55 triệu người dân tộc thiểu số của cả nước.Theo đánh giá chung, chương trình 135 trong 7 năm qua chủ yếu tập trung vàoxây dựng cơ sở hạ tầng với số vốn 8716.6 tỷ đồng ngân sách TƯ, chiếm 96%vốn đầu tư của chương trình Chương trình đã xây dựng được 20.026 công trình
hạ tầng, hoàn thành 300 trung tâm cụm xã đưa vào sử dụng, hoàn thành trên50.00 km đường các loại, 96% các xã có đường ô tô đến trung tâm Đặc biệt đã
có 2.848 công trình thuỷ lợi được xây dựng mới và sửa chữa nâng cấp và tăngnăng lực tưới tiêu cho hơn 40.000 ha đất canh tác; đã có 85% số xã có điện vàkhoảng 60% dân số trên địa bàn đựơc dùng điện lưới quốc gia; 2.072 công trìnhnước sạch, 4.159 công trình lớp học và trường học được đưa vào sử dụng Cónhiều xã đã được đầu tư khá hoàn chỉnh và đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng cơ
sở Thống kê của Uỷ ban dân tộc miền núi cho thấy, có 56 % số xã đã có đầu tư
7 loại công trình, có nghĩa đã đủ điều kiện thoát nghèo về cơ sở hạ tầng đểchuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển
Trang 6Qua thực hiện chương trình 135, cơ sở hạ tầng kinh tế của các vùng nôngthôn, miến núi, được cải thiện, các công trình hạ tầng được đưa vào sử dụng đãthúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, bước đầu tạo sự chuyển dịch
cơ cầu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá Vì vậy, công tác XDGN đạt đượckết quả khả quan, không còn hiện tượng đói kinh niên, số hộ nghèo đã giảm rõrệt, số hộ giàu khá giả ngày một tăng.( Nguồn Tạp chí Lao động – Xã hội, số272\2005)
1.4 Năng lực của cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo đã được tăng lên
Đến cuối năm 2000 đã có 1.799 xã thuộc 22 tỉnh, thành phố có các bộphận và cán bộ chuyên môn làm công tác XDGN tại chỗ Đây là những cán bộnòng cốt được trang bị các kiến thức cơ bản để hướng dẫn người dân thực hiệnchương trình trên địa bàn, góp phần thực hiện các mục tiêu XDGN
Yêu cầu đối với cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo là cần phải cótrình độ hiểu biết về chính sách, pháp luật của nhà nước Tư tưởng chính trịvững chắc và đạo đức công vụ trong sạch
1.5 Chính phủ đã ban hành nhiều cơ ché, chính sách giải quyết việc làm tạo cơ hội cho người lao động có thể chủ động hoặc tự tạo việc làm kết hợp với
sự hỗ trợ của cộng đồng.
Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm được triển khai thực hiện đãmang lại nhiều kết quả Các trung tâm xúc tiến việc làm; trung tâm dạy nghềhướng nghiệp của các ngành, các cấp, các đoàn thể quàn chúng đã hoạt độngtích cực Các hộ gia đình, các cá nhân đã nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo,
ổn định cuộc sống dựa vào các chương trình hỗ trợ của nhà nứơc
Khu vực nông nghiệp, nông thôn là nơi thu hút nhiều lao động Việc đấymạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn sẽ giải quýêt phần lơnlao động dôi dư, nông nhàn ở nông thôn Bình quân mỗi năm giải quyết việc làmcho khoảng 1.2 - 1.3 triệu lao động, trong đó khu vực kinh tế tư nhân, kinh tếhợp tác xã thu hút khoảng 90% Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế ViệtNam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, chính phủ cần có chínhsách thiết thực hơn để hỗ trợ những người yếu thế trong xã hội nhằm ổn định đời
Trang 7sống kinh tế - xã hội -một nhân tố vô cùng quan trong đưa đến sự tăng trưởngbền vững.
1.6 Đời sống của nhiều vùng được cải thiện rõ nét
Tỷ lệ nghèo đói đã giảm ở thành thị và nông thôn, ở cả người kinh vàngười dân tộc ít người Mức tiêu dùng bình quân đầu người tính theo giá hiệnhành tăng từ 2.6 triệu đồng năm 1995 lên 4.3 triệu đồng vào năm 2000
Thành tựu này là hệ quả tất yếu của việc thực hiện thành công các chươngtrình quốc gia về xoá đói giảm nghèo cũng như thực hiện thắng lợi các chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn
2 Nguyên nhân của những thành tựu trên
2.1 Nhờ kinh tế phát triển và tăng trưởng liên tục, ổn định nhất là nông
nghiệp và nông thôn được nhà nước ưu tiên đầu tư( thuỷ lợi, chuyển dịch cơ cấukinh tế, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất…) có các chínhsách cải cách trong nông nghiệp, đặc biệt là giao quyền sử dụng đất cho ngườidân đã tạo những động lực và nguồn lực mới từ đó cho phép thực hiện xoá đóigiảm nghèo trên diện rộng, nên đời sống của người nông dân ở nông thôn đãđược cải thiện rõ nét
Tăng trưởng kinh tế và ổn định là tiền đề giúp công tác xoá đói giảmnghèo tiến hành nhanh và toàn diện, để kết quả xoá đói giảm nghèo bền vữngcần phải đảm bảo các điều kiện cho người nghèo thể thụ hưởng được các thànhtựu của sự phát triển Việc tăng cường tài sản cho người nghèo, đặc biệt là đấtđai, là một trong những giải pháp hữu hiệu để tăng trưởng và giảm nghèo
2.2 Chương trình xoá đói giảm nghèo đã được cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở chỉ đạo sát sao và triển khai thực hiện tích cực, được nhân dân hưởng ứng.
Nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như phương pháptiếp cận giải quyết vấn đề đói nghèo cho các cấp, các ngành và mọi người dânđặc biệt là người nghèo và xã nghèo được thường xuyên quan tâm và nâng cao.Xoá đói giảm nghèo vươn lên khá giả và làm giàu không chỉ là trách nhiệm củanhà nước mà trước hết thuộc về từng cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng và
Trang 8trách nhiệm của toàn xã hội, đây là vấn đề mấu chốt để thực hiện thành côngchương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo.
2.3 Hệ thống chính sách, cơ chế, giải pháp xoá đói giảm nghèo bước đầu
được thực hiện và đi vào cuộc sống như: tín dụng ưu đãi, hướng dẫn cách làm
ăn, hỗ trợ về y tế, giáo dục, hỗ trợ đồng bào dân tộc ít người đặc biệt khó khăn,
hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ pháp lý….tạo hành lang pháp lý vàmôi trường thuận lợi cho xoá đói giảm nghèo và tăng cường đầu tư cơ sở vậtchất cho các xã nghèo để pháp triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống củanhân dân, đặc biệt ở những xã nghèo miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,vùng xa, đồng bào dân tộc ít người
2.4 Công tác xã hội hoá hoạt động xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là xã hội
hoá về nguồn lực, nhân lực và vật lực ngày càng được mở rộng Chính sự hợptác này đã tạo ra phong trào xoá đói giảm nghèo sôi động nhiều năm trong cảnước góp phần vào thành công của chương trình Cùng với sự chia sẻ tráchnhiệm xã hội của người dân trong việc trợ giúp ngừơi nghèo, còn có sự đồngthuận của các tổ chức quốc tế, các quốc gia trong việc tiếp cận và giải quyết vấn
đề đói nghèo ở Việt Nam
2.5 Cơ chế phân bổ ngân sách công bằng, minh bạch và có tính khuyến
khích cao đã tạo điều kiện cho các địa phương trong việc huy động nguồn lực tạichỗ cũng như lồng ghép với các nguồn lực khác, góp phần nâng cao hiệu quảthực hiện chương trình Trong quá trình thực hiện xoá đói giảm nghèo, sự thamgia giám sát của mặt trận tổ quốc, các đoàn thể cơ sở, người dân, đặc biệt làngười nghèo, phụ nữ và người dân tộc thiểu số cũng là một trong nhưng nguyênnhân tạo nên thành công của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia của ViệtNam
II NHỮNG TỒN TẠI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Mặc dù, Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện công tácxoá đói giảm nghèo và trên thực tế cũng đạt được nhiều thành tựu đáng ghinhận Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đáng khích lệ đó công tác xoá đói giảm
Trang 9nghèo của nước ta còn tồn tại một số hạn chế mà trong quá trình thực hiện tiếptheo chúng ta cần có những giải pháp cụ thể để giải quyết Đó là những hạn chếtrên cả phương diện nhận thức và cả trong công tác tổ chức thực hiện từ trungương đến địa phương làm ảnh hưởng đến kết quả của chương trình.
1 Quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực
đã đặt Việt Nam vào thế cạnh tranh gay gắt với các quốc gia khác trên thị trường quốc tế
Thực tế, sự phát triển kinh tế của Việt Nam cũng bộc lộ nhiều yếu kémnhư về chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa, trình độ quản lý thấp,chất lượng của nguồn lao động không đảm bảo, môi trường đầu tư không thuậnlợi, thủ tục hành chính còn rườm rà …đã trở thành những thách thức và rào cảnlớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Trong lĩnh vực nông nghiêp, nông thôn những thành tựu đạt được chưathực sự bền vững, sự bảo hộ đối với sản xuất nông nghiệp còn lớn đã làm giảmtính cạnh tranh của thị trường nông sản Vịêt Nam Nhìn chung người nông dânkhi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh còn gặp rất nhiều rủi ro dokhông có kiến thức về mặt hàng mình kinh doanh, thị trường cho phát triển nôngnghiệp chưa hình thành đồng bộ …Những thách thức mà Việt Nam phải đối mặttrong tiến trình mở của và hội nhập đã trở thành bài toán khó cho cả quá trinhcông nghiệp hoá - hiện đại hoá
2 Tỷ lệ hộ nghèo của nước ta còn ở mức cao, theo chuẩn nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia đầu năm 2000 có khoảng 2.8 triệu hộ nghèo, chiếm 17.2% tổng số hộ nghèo trong cả nước, chủ yếu tập trung vào các vùng nông thôn
Các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộcthiểu số tỷ lệ hộ nghèo cao hơn con số trung bình này nhiều Có tới 64% sốngười nghèo tập trung ở vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên vàDuyên hải miền trung
Cũng theo chuẩn nghèo quốc gia năm 2002 còn 12.9% hộ nghèo và tỷ lệ
hộ nghèo lương thực ước khoảng 10.87% ( Số liệu của chương trình phát triển
Trang 10LHQ) Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng và có xu hướng chậmlại, các hệ số tăng trưởng và giảm nghèo từ 1-0.7 trong những năm 1992-1998giảm xuống còn khoảng 1-0.3 giai đoạn 1998-2-4, bình quân mỗi năm giảm 34vạn hộ nghèo.
3 Sự bất bình đẳng trong thu nhập và mức sống giữa các vùng và các nhóm dân cư còn cao và xu hướng tiếp tục tăng.
Giữa các vùng: tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miến núi vẫn còn cao gấp từ 1.7đến 2 lần tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bàodân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo của cả nước có chiều hướng tăng từ 21%năm 1992 lên 36% năm 2005 Tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở vùng khókhăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầngthấp kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh mún, sơ khai Ngoài raxuất hiện những đối tượng nghèo mới ở những vùng đang đô thị hoá và nhómlao động nhập cư vào đô thị, họ thường gặp nhiều rủi ro khó khăn hơn và phảichấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại Đây là những điều kiện cơbản làm tăng yếu tố tái nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc độ giảmnghèo giữa các vùng Các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên có tốc
độ giảm nghèo nhanh nhất, song đây cũng là những vùng có tỷ lệ hộ nghèo caonhất
Chênh lệch giữa các nhóm: thu nhập giữa các nhóm giàu và nhóm nghèo
có xu hướng gia tăng, trong những năm gần đây, chênh lệch về thu nhập giữa20% nhóm giàu và 20% nhóm nghèo từ 4.3 lần năm 1993 lên 8.14 lần năm2002; chênh lệch giữa 10% nhóm giàu nhất và 10% nhóm nghèo nhất từ 12.5lần năm 2002, tăng lên 13.5 lần vào năm 2004, mức độ nghèo còn khá cao, thunhập bình quân của nhóm hộ nghèo ở nông thôn chỉ đạt 70% mức chuẩn nghèomới Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo sẽ làm cho tình trạng nghèo tương đốitrở lên gay gắt hơn, việc thực hiện các giải pháp để giảm nghèo sẽ càng khókhăn hơn ( Số liệu tổng cục thống kê)
4 Những thành tựu đạt được trong công tác xoá đói giảm nghèo còn thiếu tính bền vững, nguy cơ tái nghèo còn lớn.
Trang 11Nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo trước những rủi ro của cuộcsống (ốm đau, thiên tai, mất mùa, biến động thị trường, môi trường ô nhiếm, thấtnghiệp…)còn lớn Hệ thống an sinh xã hội chưa phát huy tác dụng ở nhữngvùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Đặc biệt nước ta nằm trong vùng thườngxuyên xảy ra thiên tại, bão lụt và 80% người nghèo làm việc trong nông nghiệp
có thể dẫn đến nguy cơ tái nghèo đói cao Mặt khác, có không ít hộ tuy khôngthuộc diện đói nghèo mức thu nhập không ổn định nằm giáp ranh chuẩn nghèođói cũng có nguy cơ tái đói nghèo
Bên cạnh đó nghèo đói có mối liên quan mật thiết với tình trạng suy thoáimôi trường Nghèo đói có thể khiến cho nông dân khai thác qúa mức nguồn tàinguyên vốn đã hạn hẹp và càng làm cho nghèo trở lên trầm trọng hơn
5 Nguồn lực trong nước dành cho xoá đói giảm nghèo còn hạn chế, đó là
do nước ta còn nghèo nên ngân sách nhà nước không lớn Mặt khác, nhà nướcvừa phải chi đầu tư cho các mục tiêu khác vừa phải đầu tư cho công tác xoá đóigiảm nghèo cũng là nguyên nhân dẫn đến việc nguồn lực đầu tư cho công tácnày chưa thực sự tương xứng với đòi hỏi và nhu cầu đầu tư cho phát triển Trungbình nguồn ngân sách chi cho các chương trình XDGN chỉ chiếm gần 2% ngânsách nhà nước
Địa bàn trọng điểm của công tác xoá đói giảm nghèo hiện nay chủ yếu lànhững xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi mà
cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn chưa đồng bộ, trình độ dân trí thấp, nhu cầu đầu tưlớn, khó thu hút được khu vực tư nhân tham gia đầu tư Do đó nhà nước sẽ làchủ thể chủ yếu thực hiện các kế hoạch, dự án của chương trình xoá đói giảmnghèo Đây thực sự là thách thức vô cùng lớn đối với một quốc gia đang pháttriển như Việt Nam trong việc giải quyết tình trạng nghèo đói trong thời gian tới
Và đó cũng là thách thức nói chung cho tất cả các quốc gia khác trước thực trạngđói nghèo của quốc gia mình
6 Số người trong độ tuổi lao động của Việt Nam còn ở mức cao, trong khi đó tỷ lệ lao động qua đào tạo còn quá thấp, tập trung ở những đối tượng nghèo và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống
Trang 12Vấn đề này dẫn đến hệ quả là tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn và thấtnghiệp ở các đô thị và thành phố luôn ở mức cao và có xu hướng gia tăng( khoảng 26 % và 6.4% tương ứng với từng tỷ lệ ).
Trong những năm qua hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam đã dạtđược nhiều thành tựu quan trọng như mở rộng giao lưu hợp tác với các quốc gia
và các tổ chức quốc tế khác, tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động
du lịch nổi tiếng… Đó là cơ hội giúp nước ta tranh thủ được nguồn ngoại lực vôcùng lớn nhưng đó cũng là thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế quốc dân,trong đó có vấn đề về trình độ tay nghề của người lao động Nguồn nhân lựcdưới góc độ kinh tế học được xem là một trong bốn nguốn lực không thể thiếuđối với bất kỳ nền kinh tế nào không phụ thuộc vào quy mô của chúng ra sao
Do đó hạn chế về trình độ của người nghèo trong tiến trình hội nhập cũng là mộtthách thức đối với công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay Nghèo trithức là tình trạng chung của nông thôn Việt nam hiện nay, chính vì vậy mà côngtác XDGN cần được thực hiện đồng bộ với Chương trình quốc gia về giáo dụcđào tạo và khoa học công nghệ
7 Các cơ chế, chính sách xoá đói giảm nghèo và hỗ trợ cho người nghèo tuy được triển khai thực hiện, song chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa rõ ràng và minh bạch ở một số vùng và địa phương, chưa thích ứng với đièu kiện cụ thể của từng vùng, từng nhóm người nghèo
Vì vậy hiệu quả thực hiện chưa cao, chưa tác động mạnh đến cộng đồngnghèo Việc tổ chức thực hiện các chính sách xoá đói giảm nghèo còn nhièu yếukém Nhà nước cho có chính sách phù hợp trong việc tìm kiếm thị trường đầu racho hàng nông sản cũng như chưa có chính sách về giá cả phù hợp theo giá thịtrường nên vẫn còn hiện tượng đầu cơ làm thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân,trong đó có đối tượng người nghèo vốn đời sống đã rất bấp bênh
Thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra hiệu quả đối với việc thực hiệncác chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo thông qua các dự án lớn vềnguốn vốn Các hiện tượng tham ô, tham nhũng đã gây thất thoát nguồn ngânsách từ công trình, gây mất lòng tin của nhân dân và từ phía các nhà đầu tư nước
Trang 13ngoài về sử dụng và quản lý nguốn vốn vay nước ngoài ( ODA, vốn vay ngânhàng ADB, IMF,WB…).
8 Các chính sách về bình đẳng giới tuy được ban hành nhiều nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc.
Phụ nữ và trẻ em gái ở vùng sâu, vùng xa, phụ nữ vùng dân tộc ít ngườicòn ít đựơc hưởng lợi từ chính sách, bị ảnh hưởng từ tư tưởng hoặc phong tụctập quán lạc hậu, là nạn nhân của tội buôn bán phụ nữ và bạo hành gia đình
Xem xét từ góc độ quyền con người thì phụ nữ và trẻ em là hai đối tượngyếu thế trong xã hội, cần có chính sách bảo vệ Nhưng trên thực tế họ lại chưađược tiếp cận với các chính sách ưu đãi của nhà nước đặc biệt là quyền chămsóc sức khoẻ Các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay cũng đã đưa tin chothấy ngày càng nhiều hiện tượng bạo hành gia đình và trẻ em lang thang khôngmái ấm tình thương là một vấn đề xã hội nhức nhối rất cần các giải pháp thiếtthực hơn Có như vậy chúng ta mới thực hiện được cam kết về mục tiêu thiênniên ký và chương trình sức khoẻ bà mẹ và trẻ em mà Việt nam đã tham gia
Như vậy, trên đây là những phân tích về thực trạng nghèo đói của ViệtNam trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì Việt Namcũng còn gặp nhiều khó khăn và thách thức nhất là về nguồn lực và trình độquản lý Từ những tồn tại chúng ta sẽ đi tìm hiểu nguyên của thực trạng đã nêu
ra ở trên
Trang 14CHƯƠNG II NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO CỦA VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM QUA
I ĐỊNH NGHĨA VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CHUẨN ĐÓI NGHÈO
1 Định nghĩa về đói nghèo
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung của đói nghèo do Hội nghị chốngđói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan
tháng 9 năm 1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”
Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa đói nghèo theo thu nhập Theo
đó một người được xem là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thunhập bình quân đầu người hàng năm của quốc gia
Đối với Việt Nam phần đông người nghèo sống trong hoàn cảnh bị táchbiệt về mặt địa lý, dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế Kinh nghiệm của cácnước khác cho thấy rằng lợi ích thực sự của tăng trưởng kinh tế ít đến được vớicác nhóm người chịu thiệt thòi này Nghèo không đơn giản là mức thu nhập thấp
mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận với dịch vụ, như giáo dục, văn hoá thuốcmen, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn trong cuộc sống
mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong đó có thị trường đất đai,vốn và lao động cũng như các thể chế nhà nước được cải thiện có trách nhiệmgiải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng như một môitrường kinh doanh thuận lợi Mức nghèo còn là tình trạng đe doạ bị mất nhữngphẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng
2 Phương pháp tiếp cận chuẩn đói nghèo
Trang 15Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cụcthống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong cuộc khảo sátmức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998) Đường đóinghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo lương thực, thực phẩm Đường đóinghèo ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt lươngthực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).
Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn màhầu hết các nước đang phát triển cũng như tổ chức y tế thế giới và các cơ quankhác xây dựng mức kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người là chuấn
về nhu cầu 2.100 kcal/ng /ngày Những người có mức chi tiêu dưới mức chi tiêucần thiết để đạt được lượng kcal này gọi là nghèo lương thực, thực phẩm
Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lươngthực, thực phẩm Khi tính cả chi phí này với đường đói nghèo lương thực, thựcphẩm ta sẽ được đường đói nghèo chung
Năm 1993 đường đói nghèo chung có mức chi tiêu là 1.16 triệuđồng/năm/ người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm là 55%);năm 1998 là 1.79 triệu đồng/ năm/ người (cao hơn đường đói nghèo lương thực,thực phẩm là 39%) Dựa trên các ngưỡng nghèo này, tỷ lệ đói nghèo chung năm
1993 là 58% và năm 1998 là 37.4%; còn tỷ lệ đói nghèo lương thực, thực phẩmtương ứng sẽ là 25% và 15%
3 Phương hướng xác định chuẩn nghèo của Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo của Việt Nam
Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính
2001 – 2005 và mức sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ Lao độngthương binh – Xã hội đưa ra chuẩn nghèo đói nhằm lập danh sách hộ nghèo từcấp thôn, xã và danh sách xã nghèo từ các huyện trở lên để hưởng sự trợ giúpcủa Chính phủ từ Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và cácchính sách hỗ trợ khác
Năm 2001 Việt Nam đã công bố mức chuẩn nghèo mới để áp dụng chothời kỳ 2001 – 2005, theo đó chuẩn nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo
Trang 16quốc gia mới được xác định ở mức độ khác nhau tuỳ theo từng vùng, cụ thể bìnhquân thu nhập là 80 nghìn đồng/ ng/ tháng ở các hải đảo và vùng núi nông thôn;
100 nghìn đồng/ ng/ tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn; 150 nghìn đồng/ng/ tháng ở khu vực thành thị
Hiện nay, chuẩn nghèo của thế giới quy định quốc gia có thu nhập bìnhquân đầu người hàng năm là 735 USD Thu nhập bình quân của Việt Namkhoảng hơn 400 USD, dù có quy đổi về giá trị so sánh tương đương( PPP) vẫnchưa qua chuẩn nghèo Ngày 29-3-2005, tại Hội thảo: “ Hợp tác giữa các nhà taìtrợ và các tổ chức phi chính phủ trong xoá đói giảm nghèo” theo định hướnggiảm nghèo toàn diện hơn, bền vững hơn, công bằng hơn và hội nhập hơn, ViệtNam sẽ nâng mức chuẩn nghèo đói lên gấp 2 lần Theo đó chuẩn đói nghèo mới
có 2 mức: thu nhập bình quân tháng 200 nghìn đồng ở nông thôn và 260 nghìnđồng ở thành thị Tuy nhiên một số thành phố chuẩn đó thay đổi do yếu tố giásinh hoạt Ví dụ Sở lao động thương binh – xã hội Hà Nội đã đệ trình UBNDthành phố mức chuẩn nghèo mới: 350 nghìn đồng và 270 nghìn đồng/ ng/ thángtương ứng với khu vực thành thị và nông thôn
II NGUYÊN NHÂN ĐÓI NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Có rất nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo đói ở ViệtNam nhưng nhìn chung thì có những nguyên nhân cơ bản sau:
1 Nguyên nhân mang tính lịch sử, khách quan
1.1 Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu lại phải trải qua một
cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏhoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của gia đình bị giảm sút do mất máttrong chiến tranh, thương tật hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, họctập cải tạo trong một thời gian dài Hai cuộc chiến tranh kéo dài đã gây tổn hạicho Việt Nam trên mọi lĩnh vực nhất là về sự suy giảm kinh tế nghiêm trọng vàtình trạng nghèo đói kinh niên đời sống nhân dân vô cùng khóa khăn
1.2 Chính sách của nhà nước thất bại, sau khi thống nhất đất nước việc
áp dụng chính sách tập thể hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp vàchính sách giá - tiền – lương đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm
Trang 17yếu của Việt nam làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ởnông thôn cũng như thành thị, lạm phát cao có lúc lên tới hơn 700% /năm.
1.3 Về hình thức sở hữu, việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể đối với tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã
làm thui chột động lực sản xuất trong nhân dân
1.4 Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, biện pháp ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời sản xuất với thị trường; sản xuất nông nghiệp đơn điệu,
công nghiệp thiếu hiệu quả, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hoá làm thunhập của đa số bộ phận bị giảm sút trong khi đó dân số vẫn tăng nhanh
Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị laođộng, không được đào tạo để chuyến sang khu vực công nghiệp, chính sáchquản ký bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính ngăn cản người dân di cư,nhập cư vào thành phố
Việc phân tích các nguyên nhân mang tính lịch sử khách quan trên chothấy Việt Nam đi lên xây dựng CNXH từ điểm xuất phát thấp, sản xuất chủ yếudựa vào nông nghiệp và đa số người dân sống ở nông thôn đời sống gặp nhiềukhó khăn Nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân đòi hỏi chúng ta cầnnhận thức rõ và tìm giải pháp thiết thực hơn nhằm khắc phục và hạn chế tácđộng của chúng đối với tình hình kinh tế -xã hội nói chung và tình trạng đóinghèo nói riêng
2 Những nguyên nhân mang tính chủ quan
Trang 18tăng lên và ở mức cao tại miền Đông nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu long Xuhướng này chưa dừng lại và những điều tra gần đây nhất cho thấy tỷ lệ này còncao hơn ở một số vùng.
Tại Đồng bằng sông Hồng, tình trạng thiếu đất rất nghiêm trọng dẫn đếnnông nhàn và thiếu việc làm gay gắt Tại vùng ven đô, đất canh tác không tănglên mà bị thu hẹp do đô thị hóa nhanh chóng và do yếu kém về khâu quy hoạchxây dựng và phát triển đô thị
Mặt khác, nông nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu được tiến hành bằng công
cụ thủ công truyền thống, sử dụng phần lớn là lao động cơ bắp, do đó thiếu cơhội để thực hiẹn các phương án sản xuất mang lại lợi nhuận cao Mặc dù nhànước đã có nhiều chính sách hỗ trợ tích cực như Khoán 10, Khoán 100, cácchính sách về tín dụng, về ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất kinhdoanh…nhưng nhìn chung, kết quả thực hiện không khả quan Nguyên nhân là
do đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuấtnhư khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; những yếu tố đầu vào củasản xuất như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, …điều này đãlàm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị giá trị sản phẩm Bên cạnh đó,khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ nhà nước của người nghèocòn nhiều hạn chế Thiếu nguồn vốn cho đầu tư cho sản xuất là một trongnhững nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học côngnghệ, giống cây trồng vật nuôi mới…Phần lớn người nghèo do không có tài sảnthế chấp hoặc không có kế hoạch sản xuất kinh doanh cụ thể hoặc sử dụng cácnguồn vốn vay không đúng mục đích vì vậy mà khả năng tiếp cận với cácnguồn vốn bị hạn chế và cuối cùng họ nghèo lại càng nghèo hơn Vòng luẩnquẩn của tình trạng nghèo đói suy cho cùng là do thiếu vốn, thiếu kiến thức sảnxuất, thiếu sự định hướng cần thiết từ phía nhà nước và nếu người nghèo khôngđược hỗ trợ những điều kiện này thì họ không thể thoát nghèo Sự cộng hưởng
từ phía nhà nước, cộng đồng và bản thân người là giải pháp hữu hiệu nhất chovấn đề đói nghèo ở Việt Nam hiện nay
2.2 Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định
Trang 19Những người nghèo là những người có trình độ thấp, ít cơ hội kiếm đượcviệc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinhdưỡng tối thiếu và do đó không có điều kiện để nâng cao trình độ của mìnhtrong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo đói Bên cạnh đó, trình độ học vấnthấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôidưỡng con cái…đến không chỉ thế hệ hiện tại mà còn ảnh hưởng đến thế hệtrong tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởngđến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho việcthoát nghèo thông qua giáo dục trở lên khó khăn hơn
Số liệu thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy khoảng90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn Kết quả điềutra mức sống cho thấy, trong số người nghèo tỷ lệ số người chưa bao giờ đi họcchiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%, trung học cơ sở 37% Chi phí chogiáo dục đối với người nghèo còn lớn, chất lương giáo dục mà người nghèođược tiếp cận còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoátnghèo Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong lĩnh vựckhác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập caohơn và ổn định hơn
2.3 Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo về quyền lợi và lợi ích hợp pháp
Người nghèo nói chung đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người thường cótrình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướngmắc đến cuộc sống của mình khi liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản phápluật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khoa nắm bắt; mạng lưới cácdịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư còn hạn chế, chủ yếu tập trung ởcác thành phố, thị xã, chi phí dịch vụ pháp lý còn cao
2.4 Các nguyên nhân về nhân khẩu học
Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thunhập bình quân của các thành viên trong hộ Đông con là vừa nguyên nhân vừa
là hệ quả của đói nghèo Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao
Trang 20Đông con là đặc điểm của các hộ gia đình nghèo Năm 1998, số con bình quântrên một phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3.5 con so với mức 2.1 con củanhóm 20% giàu nhất Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ người ăn theo cao.Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo chủ yếu là do họkhông có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khoẻ sinhsản.
Thực tế theo điều tra tình trạng nghèo đói của Việt nam cho thấy các hộnghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bàodân tộc thiểu số Đó là những nơi điều kiện tự nhiên không thuận lợi, kinh tếkém phát triển, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người dân còn rất hạn chế…Chính điều này đã làm hạn chế kết quả thực hiện chương trình quốc gia về xoáđói giảm nghèo ở nước ta hiện nay
2.5 Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh của thiên tai và các rủi ro trong cuộc sống
Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàngngày và những biến động bất thường xảy ra với cá nhân, gia đình hay cộngđồng Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên
họ họ khó có khả năng chống trọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống nhưmất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất người lao động, mất sức khoẻ…Với khảnăng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn,những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với những người nghèo cũng rấtcao, do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năngđối phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thunhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể còngặp những rủi ro nhiều hơn nữa
Các phân tích từ cuộc điều tra hộ gia đình 1992/1993 và 1997/1998 chothấy các hộ gia đình phải chịu nhiều thiên tai có nguy cơ dễ bị lún sâu vàonghèo đói Do đó việc tìm kiếm các giải pháp giảm nhẹ hậu quả của thiên tai
Trang 21được coi là một phần quan trọng của chương trình quốc gia về xoá đói giảmnghèo.
2.6 Bệnh tật và sức khoẻ yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng
Vấn đề bệnh tật và sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chitiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vong luẩn quẩn của đói nghèo Đây là tìnhtrạng chung đối với tất cả các nước đang và kém phát triển trong quá trìnhvươn lên hoà nhập với cộng đồng quốc tế nhất là vấn đề nâng cao mức sống củangười dân và bảo vệ môi trường sống cho thế hệ tương lai
Nhìn chung, người nghèo phải gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thunhập từ lao động; hai là gánh chịu chi phí cao cho việc khám chữa bệnh, kể cảchi phi trực tiếp và gián tiếp Do vậy, chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối vớingười nghèo và đẩy họ đến chỗ vay muợn, cầm cố tài sản để có tiền trang trảichi phí, dẫn đến tình trạng càng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi vòngđói nghèo Trong khi đó khả năng tiếp cận với các dịch vụ phòng bệnh (nướcsạch, các chương trình y tế…) của người nghèo còn hạn chế càng làm tăng khảnăng mắc bệnh của họ
Tình trạng sức khoẻ của người dân Việt Nam trong thập kỷ qua đã đượccải thiện, song tỷ lệ người nghèo mắc các bệnh thông thưòng vẫn còn khá cao.Theo số liệu thống kê điều tra mức sống năm 1998, số người ốm bình quân củanhóm 20% người nghèo là 3.1 ngày/ năm so với khoảng 2.4 ngày/ năm củanhóm 20% giàu nhất Việc cải thiện điều kiện sức khoẻ cho người nghèo là mộttrong những yếu tố rất cơ bản để họ thoát nghèo
2.7 Những tác động của chính sách vĩ mô và các chính sách cải cách (tự
do hoá thương mại, cải tạo doanh nghiệp nhà nước…) đến nghèo đói
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta còn chậm tỷ lệ nông nghiệpcòn ở mức cao Mặt khác, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho côngnghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thuỷ lợi; các trục côngnghiệp chính; chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, thu hút nguồn vốn;chưa chú trọng đầu tư vào các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưa
Trang 22chú ý khuyến khích kịp thời phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ; nhiều chínhsách trợ cấp ( lãi xuất tín dụng, trợ giá nông sản…) không đúng đối tượng làmảnh hưởng xấu đến sự hình thành thị trường nông thôn, thị trường ở vùng sâu,vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
`Cải cách các doanh nghiệp và các khó khăn về tài chính của các donhnghiệp nhà nước đã dẫn đến việc mất đi gần 800.000 việc làm trong thời gianđầu tiến hành cải cách doanh nghiệp Nhiều công nhân bị mất việc làm đã gặpnhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới và bị rơi vào cảnh nghèo đói,phần lớn số người này là phụ nữ, người trình độ học vấn thấp và người lớn tuổi
Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường lành mạnh, tự do hoáthương mại, tạo ra động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệpphát triển Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động chưađược chú trọng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tạo việc làm chưađược quan tâm và tạo cơ hội phát triển Tình trạng thiếu thông tin, trang thiết bịsản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp và năng lực sản xuáthạn chế đã làm không ít các doanh nghiệp bị phá sản và đẩy công nhân vào tìnhtrạng thất nghiệp, họ buộc phải gia nhập đội ngũ người nghèo
Tăng trưởng kinh tế cao và khá ổn định của Việt nam trong những năm 90
và năm 2006, 2007, đầu năm 2008 là những tiền đề quan trọng để nhà nước tăngnguồn chi ngân sách cho việc giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có tình trạngđói nghèo Tuy nhiên, trên thực tế sự phân phối lợi ích tăng trưởng trong cácnhóm và tầng lớp dân cư lại rất khác nhau, mức độ chênh lệch này cho thấynhóm người giàu sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ kết quả tăng trưởng, ngược lạinhóm người nghèo trong xã hội thường chịu nhiều thiệt thòi và có thu nhập bấpbênh Việt nam đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, thời
cơ và thách thứ luôn đan xen và đấu tranh cùng phát triển, để tăng trưởng kinh tếnhanh, hiệu quả, ổn định buộc chúng ta cần phải có chiến lược, giải pháp đối vớicác vấn đề xã hội và môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trongtương lai Trong đó cần có giải pháp để đẩy lùi khoảng cách chênh lệch giàunghèo đang ngày một tăng hiện nay
Trang 23Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng dặc biệt khókhăn còn thiếu và yếu kém Cơ sở hạ tầng được xem là nguồn lực vô cùng quantrọng đối với phát triển kinh tế và cải thiện đời sông dân cư
Những yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt nam hiện nay đã trìhoãn và kéo lùi sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Nguồn vốn đầu tư từngân sách nhà nước cho xây dựng hạ tầng cơ sở giao thông ở xã nghèo chưatương xứng với nhu cầu phát triển, chủ yếu sử dụng vốn vay từ các tổ chức nướcngoài, nguồn vốn ODA với lãi xuất thấp Việc quản lý và sử dụng đồng vốn vayhiện nay là vấn đề còn gây nhiều bức xúc và cần một giải pháp hữu hiệu hơn
Ngoài những nguyên nhân cơ bản trên, thì theo nghiên cứu của các nhà xãhội học, người ta còn đề cập đến một số nguyên nhân khác như:
Ở Việt Nam sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá huỷ từng kết cấu củatuổi thơ Các em không được thừa hưởng quyền có một tuổi thơ được yêuthương , chăm sóc, bảo vệ trong mái ấm gia định hoặc được khích lệ phát triểnhết khả năng của mình Khi trưởng thành và trở thành cha mẹ, đến lượt con cáicác em lại có nguy cơ bị tước đoạt các quyền đó vì các hiểm hoạ đối với tuổi thơlặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trên thực tế, tại các đô thị lớn của Việt Nam tình trạng trẻ em lang thangkhông mái ấm gia đình, không nghề nghiệp trở thành vấn đề xã hội nhức nhối,không chỉ ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại mà còn liên quan đến cuốc sống của cácthế hệ tương lai
Ngoài ra có ý kiến cho rằng tình trạng đói nghèo của Việt Nam được thựchiện qua nhiều năm nhưng kết quả đạt được chưa thực sự khả quan còn là donguyên nhân từ hiệu năng quản lý nhà nước thấp và những chính sách mà Chínhphủ đề ra chưa được cụ thể đối với hộ nghèo, ngay việc xác định chuẩn nghèocũng còn nhiều điểm chưa thực sự hợp lý, chưa tính đến yếu tố trượt giá theoquy luật của thị trường
Tại Đại hội Đảng lần thứ X đã đánh giá kết quả thực hiện công tác xoáđói giảm nghèo trong đó đã nêu một số nguyên nhân chủ quan, từ sự lãnh đạocủa Đảng và nhà nước Đó là: “Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực còn chậm