1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan diểm về nhà nước của những học thuyết trước Mác

24 2,9K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan diểm về nhà nước của những học thuyết trước Mác
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 214,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề nguồn gốc và bản chất của nhà nước luôn là một vấn đề hết sức phức tạp trong xã hội có các giai cấp đối kháng và đây cũng chính là vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh.

Trang 1

Lời nói đầu

Chúng ta vẫn thường nhắc đến từ “ nhà nước ”trong ngôn ngữ hàng ngày hay khi

đề cập đến những vấn đề về kinh tế - chính trị - xã hội,nhưng hiểu biết về nhà nước

và sự tồn tại của nó trong lịch sử đối với chúng ta còn rất khiêm tốn.Vì vậy, để làm

rõ những vấn đề đó chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về nhà nước và cách mạng xãhội

Trong quá trình thực hiện tiểu luận này, do những hạn chế về năng lực cũng như tàiliệu, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, rất mong được sựgiúp đỡ của thay để bài tiểu luận của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Nhà nước và cách mạng xã hội

Trang 2

1 Nhà nước.

1.1.Nguồn gốc và bản chất nhà nước:

1.1.1.Quan diểm về nhà nước của những học thuyết trước Mác:

Vấn đề nguồn gốc và bản chất của nhà nước luôn là một vấn đề hết sức phứctạp trong xã hội có các giai cấp đối kháng và đây cũng chính là vấn đề trung tâm củacuộc đấu tranh Vậy nguồn gốc ra đời nhà nước là từ đâu? Bản chất nhà nước là gì?Trong lịch sử triết học có nhiều lí giải khác nhau về vấn đề này trên cơ sở điều kiệnlịch sử lúc đó Nhưng hầu hết những học thuyết trước đây về nguyên nhân đều mangtính duy tâm, thần bí, tôn giáo

 Chủ nghĩa duy tâm đã cho rằng: nhà nước là do lực lượng siêu nhiên hoặc do

lý chí và đạo đức tối thượng sinh ra để duy trì trật tự ở trần gian.Từ đó mà xã hội nảysinh quan điểm vua là “thiên tử” nên có quyền lực tối cao với xã hội

 Hê-ghen lại cho rằng nhà nước chính là sự tha hóa của ý niệm tuyệt đối sinhra.Do vậy cũng như ý niệm tuyệt đối, nhà nước cũng có quá trình phát triển,vận động

và tồn tại vĩnh viễn mà đỉnh cao nhất là nhà nước phổ

 Một quan điểm nữa cũng mang tính thần thánh là quan điểm của chủ nghĩaTômat mới : nhà nước có nguồn gốc thiêng liêng từ chúa,do vậy nhà nước có thầntính Từ cách lí giải đó họ cho rằng nhà nước bảo vệ quyền lợi cho mọi thành viêntrong xã hội,và vì thế nhà nước cũng có tính giai cấp

 Một số nhà xã hội học lại tìm cách gắn nhà nước với tâm lí con người.Theo họnhững nhóm ý chí mạnh sẽ giữ vai trò thống trị, nắm quyền lực, xây dựng bộ máynhà nước để cai trị các nhóm ý chí yếu

Trước Mác có quan điểm cho rằng nhà nước xuất hiện như là một kết quả của sựphát triển gia đình Quyền lực nhà nước chính là sự chuyển hóa quyền lực của ngườicha-gia trưởng.Vì vậy nhà nước không mang tính giai cấp

 Đến thời cận đại xuất hiện những quan điểm mới, tiêu biểu là 1671), Lốc-cơ(1632-1704), Rút-xô(1712-1778) Trong đó Hốp-xơ cho rằng nhà nước

Trang 3

Hôp-xơ(1588-như là sản phẩm của một khế ước xã hội và khế ước ở đây là sự thỏa thuận của mọingười trên cơ sở ý chí chung nhằm mục đích chống lại sụ thống trị chuyên chế Từ

đó tạo ra một trật tự xã hội mới mà ở đó các quyền tự nhiên của con người được coitrọng

Quan điểm này đã được Rut- xô tiếp tục phát triển Trên cơ sở phân chia cácgiai đoạn của quá trình phát triển lịch sử,ông cho rằng nhà nước là kết quả của sựphát triển xã hội từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái công dân, gắn liền với chế độ

sở hữu tư nhân Ông coi sự xuất hiện chế độ tư hữu dã làm biến dạng các quan hệ tựnhiên của con người, đẩy xã hội vào tình trạng bất công, áp bức Trong quan điểmnày nhà nước trên cơ sở khế ước xã hội do nhân dân lập ra để bảo vệ quyền bìnhđẳng của họ Như vậy theo Rut- xô nhà nước là sản phẩm của ý chí chung của nhândân, do họ kiểm soát Nhà nước cũng không phải là một bộ máy quyền lực tách rờinhân dân, đàn áp nhân dân Nhà nước là người dược nhân dân ủy quyền điều hành xãhội Mọi hoạt động của nhà nước phải phù hợp với nhân dân Điểm tiến bộ trongquan điểm của các lí thuyết gia tư sản là ở chỗ nó hướng đến việc chống lại nhà nướcphong kiến hà khắc Tuy nhiên các quan điểm này vẫn bị hạn chế, chưa tìm ra đượcnguồn gốc và bản chất của nhà nước Do vậy vấn đề nhà nước vẫn là điều bí ẩn

1.1.2.Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc và bản chất nhà nước: a) Nguồn gốc:

Vậy để giải quyết vấn đề này một cách khoa học chúng ta cần phải nhìn vềmặt lịch sử, bởi bất kì hiện tượng xã hội nào đều phải gắn bó với lịch sử để từ đó ta

có thể xem hiện nay nó phát triển như thế nào Lịch sử xã hội đã trải qua 4 kiểu nhànước: chủ nô, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Ba hình thức nhànước ban đầu đều có điểm chung dựa trên quan hệ sở hữa tư nhân

 Nhà nước chủ nô: giai cấp chủ nô là người sở hữu ruộng đất,của cải dư thừa.Còn những người nô lệ thì không có gì cả, bị bóc lột thậm tệ

Trang 4

 Nhà nước phong kiến: 3 giai cấp cơ bản là địa chủ, chủ nô và nông nô Sựkhác biệt ỏ đây là quan hệ về mặt sở hữu, con người không còn bị coi là vật sở hữu.

 Nhà nước tư bản chủ nghĩa: cách mạng khoa học kĩ thuât thế kỉ 18-19 đãkhiến cho xã hội có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt là sự ra đời của 2 giai cấp mới là tưsản và vô sản

 Nhà nước cộng sản chủ nghĩa: là nhà nước tiến bộ nhất trong lịch sử , là nơi

mà không có chế độ người bóc lột người, mọi của của cải là của chung dựa trên chế

độ công hữu

Trên cơ sở phép biện chứng duy vật lịch sử, lí luận khoa học về nhà nước màchủ nghĩa Mác-Lênin đưa ra đã trả lời 2 câu hỏi quan trọng ở trên về nguồn gốc vàbản chất nhà nước Theo đó nhà nước không phải là kết quả của sự phát triển giađình cũng không phải là một thế lực mang bản chất thần tính được áp đặt từ bênngoài vào xã hội Nhà nước không đồng thời xuất hiện cùng với lịch sử ra đời của xãhội loài người và không là một hiện tượng tồn tại vĩnh viễn Nhà nước là một hiệntượng lịch sử, xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định.Khi những điều kiện kinh tế-xã hội cho sự tồn tại của nhà nước không còn thì nócũng sẽ tự tiêu vong

Đến đây, ta lại tự đặt ra một câu hỏi là tại sao không có nhà nước khi không cógiai cấp và tại sao lại có nhà nước khi giai cấp xuất hiện? Khi xã hội chưa có giai cấp

và trước áp lực của tự nhiên và trình còn quá hạn chế của con người, do vậy mà họphải lao động trong những điều kiện năng suất lao động thấp, bình đẳng cao, khókhăn lắ họ mới tìm được những tư liệu sản xuất thô sơ để phục vụ cho đời sống hàngngày Có nghĩa là họ chưa thể có của cải dư thừa dẫn đến không thể có những nhómngười thống trị được Điều nay có nghĩa là chế độ công hữu nguyên thủy là một tấtyếu, quan hệ kinh tế bình đẳng, không tồn tại giai cấp Do vậy mà nhà nước chưaxuất hiện Cho đến cuối thời kì xã hội nguyên thủy do có sự phát triển của lực lượngsản xuất dẫn đến việc hình thành chế độ tư hữu và sự phân hóa xã hội thành những

Trang 5

nhóm người có lợi ích khác nhau; trong đó có một nhóm người chuyên việc sản xuấtdẫn đến việc tạo ra được dư thừa của cải(giai cấp nô lệ) và bị nhóm người khácchiếm đoạt (giai cấp chủ nô) Nguyên nhân này dẫn đến các cuộc đấu tranh, xung độtliên tục xảy ra thì giai cấp chủ nô phải được củng cố để bảo vệ lợi ích và quyềnthống trị của mình về kinh tế, họ đã lập ra một bộ máy sử dụng bạo lực để trấn áp,tiêu diệt giai cấp đối lập Cùng với thời gian bộ máy ấy được củng cố, hoàn thiện vàtrở thành nhà nước.Ở đây nhà nước như là một lực lượng đứng trên toàn xã hội vàngày càng trở nên xa lạ với xã hội, có thể làm dịu bớt những xung đột để không dẫnđến kết quả những giai cấp nuốt nhau, nuốt cả xã hội mà đẻ mọi thứ nằm trong trậttự.

Như vậy, nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự ra đời của nhà nước là từ kinh tế,nguồn gốc trực tiếp về kinh tế xã hội là chế độ tư hữu và mâu thuẫn giai cấp khôngthể điều hòa được Sự ra đời của nhà nước là hệ quả của sự phát triển lực lượng sảnxuất đạt tới trình độ có chế độ tư hữu nhưng không phải để điều hòa mâu thuẫn giaicấp mà là để làm dịu nó Lênin đã chỉ rõ:”nếu có thể điều hòa được giai cấp thì nhànước không thể xuất hiện và không thể đứng vững được”

Trên cơ sở phân tích những tư tưởng của Ăngghen về vai trò lịch sử và ý nghĩacủa nhà nước, Lênin đã đưa ra kết luận về nguồn gốc xã hội trực tiếp dẫn đến sự rađời và tồn tại của nhà nước: nhà nướclà sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫngiai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà về mặtkhách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuấthiện và ngược lại sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp làkhông thể điều hòa được

b) Bản chất:

Phê phán, bác bỏ những quan điểm xuyên tạc học thuyết Mác về nguồn gốc vàbản chất nhà nước của những phần tử trong Quốc tế 2 mà đại biểu là E.Bectanh,C.Cauxki khi họ cố tình cho rằng vai trò của nhà nước chỉ là một cơ quan “điều hòa

Trang 6

giai cấp” và trong cuộc đấu tranh chống lại những luận điệu của các học giả tư sản vềnhà nước “trong đó họ tự biện hộ sự thống trị của các giai cấp bóc lộ, xóa nhòa tínhchất giai cấp của nhà nước tư sản” tán dương nhà nước đế quốc hiện đại, miêu tả nónhư một nhà nước siêu giai cấp, phủ nhận vai trò phản động của nó trong đời sống xãhội Cũng ở tác phẩm “ nhà nước cách mạng”, Lênin khẳng định bản chất giai cấpcủa nhà nước với tinh thần của Mác như sau “Theo Mác nhà nướclà một cơ quanthống trị giai cấp, là một cơ quan áp bức của giai cấp này đối với một giai cấp khác;

đó là sự kiến lập ra một trật tự”,trật tự này hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức kiabằng bằng cách làm dịu xung đột giai cấp Theo Lênin, trong các xã hội có đối khánggiai cấp, bất kì nhà nước cũng là một tổ chức chính trị mang tính chất giai cấp, làmột bộ máy đặc biệt phục vụ cho giai cấp này đàn áp giai cấp khác Nhưng cần hiểurằng, nhà nước là công cụ quyền lực của một giai cấp và chỉ một giai cấp mà thôi,không có cái gọi là nhà nước của nhiều giai cấp Cũng không phải bất cứ giai cấpnào cũng nắm được quyền lực nhà nước Trong xã hội, giai cấp nào giữ địa vị thốngtrị về kinh tế là giai cấp có thế lực nhất và nó cũng chính là giai cấp thiết lập và sửdụng bộ máy nhà nước Điều này thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạtầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố quyết định, mà cơ sở

hạ tầng vầ kiến trúc thượng tầng được biểu hiện thông qua 2 mặt của đời sống xã hội

là kinh tế và chính trị Cơ sở hạ tầng vì vậy giai cấp có thế mạnh về kinh tế sẽ trởthành giai cấp thống trị về chính trị là tất yếu Nhờ có nhà nước mà giai cấp này cóthêm phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức.Về vấn đề nàyĂngghen cho rằng “Vì cơ sở hạ tầng xuất hiện sự cần thiết phải kiềm chế sự đối lậpgiữa các giai cấp, vì nhà nước đồng thời cũng xuất hiện chính bằng những cuộc xungđột giữa các giai cấp ấy, cho nên theo quy luật chung, nó là nhà nước của giai cấpmạnh nhất giữ địa vị thống trị về kinh tế, do đó cũng thống trị cả về mặt chính trị

Như vậy bản chất của nhà nước là ở chỗ nó là công cụ để giai cấp thống trịbảo vệ sở hữu và địa vị thống trị của mình trong xã hội, đồng thời để trấn áp giai cấp

Trang 7

bị trị Trong xã hội có đối kháng giai cấp, giai cấp nào nắm được quyền lực nhà nướcthì nhà nước mang bản chất của giai cấp đó Bản chất của nhà nước chủ nô là nhànước mang tên giai cấp chủ nô, của nhà nước phong kiến là địa chủ phong kiến, cònbản chất của nhà nước tư bản chủ nghĩa là nhà nước của giai cấp tư sản.

Tuy nhiên trong lịch sử phát triển của nhà nước cũng xuất hiện những hiệntượng phá cách không tuân theo đúng quy luật Đó là hiện tượng nhà nước của 2 giaicấp, nó giữ được một mức độ độc lập nào đó giữa 2 giai cấp đối địch khi cuộc đấutranh của chúng đạt đến một mức độ cân bằng nhất định Ăngghen gọi đây là “…trường hợp ngoại lệ tức là những thời kì mà giai cấp đang đấu tranh đã đạt đến một

sự cân bằng lực lượng khiến cho chính quyền nhà nước tạm thời có được một sự độclập nào đó đối với cả 2 giai cấp, tựa hồ như một bên trung gian đứng giữa các giaicấp Chế độ quân chủ chuyên chế vào thế kỉ 17-18,chế độ Bônapacto của Đế chế thứnhất và thứ hai ở Pháp, chế độ Bixmac ở Đức, là như thế “

Trong xã hội có giai cấp, nhà nước không chỉ là người đại diện cho giai cấpthống trị bảo vệ lợi ích cho mình mà ở mức độ nhất định còn đại diện cho lợi íchchung của toàn xã hội Nói cách khác,bên cạnh tính giai cấp thể hiện mặt bản chấtcủa nhà nước thì tính xã hội cũng là một mặt thể hiện bản chất của nhà nước Đây làhai mặt của một vấn đề, chúng vận động ngược chiều nhau, nếu một mặt thể hiện rõthì mặt kia lại mờ nhạt nhưng chúng lại gắn bó mật thiết với nhau bởi nếu nhà nướcchỉ là nhà nước của giai cấp thống trị thì xã hội sẽ không thể tồn tại được, bởi bất kì

xã hội nào cũng có lợi ích chung cần duy trì Tính xã hội của nhà nước được biểuhiện ở những nhiệm vụ sau đây: duy trì trật tự công cộng, xét xử tranh chấp giữa cácthành viên trong xã hội, quản lí kinh tế, văn hóa sao cho phù hợp với lợi ích củagiai cấp thống trị Giai cấp nắm quyền lực nhà nước nhân danh xã hội điều chỉnh vàquản lí xã hội trong việc quyết định công việc chung, điều tiết các lĩnh vực đời sống

xã hội, thực hiện lợi ích xã hội Trên cơ sở đó giai cấp thống trị mới duy trì được địa

vị của mình đối với các giai cấp khác trong xã hội

Trang 8

1.1.3.Một số quan điểm về nhà nước trong thời đại ngày nay:

 Nhà nước tư bản nhân dân: do hiện nay công dân và người dân có cổ phầntrong các công ty, tập đoàn tức là có giá trị thặng dư, tạo điều kiện cho toàn dân lànhà tư bản Do vậy mà nó không mang bản chất giai cấp

 Còn một quan điểm khác: nhà nước là nhà nước kỷ thị chung xuất phát từquan điểm thời đại ngày nay là thời đại của những tri thức và tri thức trở thành lựclượng lao động trực tiếp

Hai quan điểm trên đều không đúng.Bởi sự chênh lệch cổ phần,cổ phiếu giữacác nhà tư bản và công nhân là rất lớn.Do vậy quyền quyết định công việc của côngty,tập đoàn vẫn lầ của giai cấp tư sản.Vậy là khoảng cách giàu nghèo không mất đi

mà ngày càng cao

Còn ở quan điểm thứ hai:quyền quyết định áp dụng khoa học-công nghệ vàosản xuất vẫn thuộc về giai cấp tư sản tức là địa vị của giai cấp tư sản trong hệ thóngsản xuất vẫn không thay đổi hay giai cấp tư sản vẫn là giai cấp thống trị

Như vậy những quan điểm trên đều không đúng vì phần lớn tư liệu sản xuấttrong xã hội đều thuộc quyền nắm giữ của giai cấp tư sản nên về cơ bản bản chất nhànước tư bản vẫn không thay đổi mà nó chỉ thay đổi một chút về tính xã hội

1.1.4.Một số nét về vấn đề nguồn gốc và bản chất nhà nước ở Việt Nam:

Trải qua 3 giai đoạn phùng nguyên(thuộc sơ kỳ đồng thau cách đây 4000năm),đồng đậu(thuộc trung kỳ đồng thau cách đây 3500 năm) và Gômun(thuộc hậu

kỳ đồng thau cáh đây 3000 năm) công cụ sản xuất bằng đồng đã thay thế cho công

cụ bằng đá và chính điều này đã làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển,năng suất lao động tạo ra sản phẩm dư thừa nhiều Một số người thu vén, từ đó tạo ra

sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội dẫn đến mâu thuẫn nảy sinh cùng với sự xuấthiện bạo lực của xã hội Đó là những tiền đề có tính quy luật cho sự ra đời của nhà

Trang 9

nước Văn Lang-tổ chức nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Đầu tiên tronglịch sử Việt Nam có kinh đô đặt tại Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ và có lãnhthổ bao gồm miền Bắc và ba tỉnh : Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ Cùng với

sự phân hoá xã hội do tác động trực tiếp của nhu cầu phải đoàn kết để trị thuỷ làmthuỷ lợi và chống xâm lấn mà một nhà nước đầu tiên ở nước ta có phàn sớm hơn quyluật Đó là bỏ qua hình thái nhà nước chủ nô tiến lên nhà nước phong kiến luôn Đếnthế kỷ 2 TCN, các dân tộc này bị các tập đoàn phương Bắc cai trị hơn 1000 năm, đãnhiều cuộc khởi nghĩa xảy ra nhưng cũng chỉ giành và giữ được đất nước trongkhoảng thời gian ngắn Mãi đến năm 938 sau trận thắng ở sông Bạch Đằng dân tộc tamới xây dựng nhà nước độc lập trên cơ sở học tập mô hình thể chế chính trị, xã hội,chữ viết và văn hoá của người Trung Quốc Tiếp sau nhà nước phong kiến, nước talại bước qua nhà nước tư bản tiến lên nhà nước Việt Nam cộng hoà vào ngày 2-9-

1945 sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập Bây giờ là nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đứng đầu là chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết Nhànước ta là nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân trong đó lợi ích của giaicấp công nhân gắn lion với lợi ích của xã hội, của mọi giai cấp Nhà nước ta là nhànước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Với vai trò là thể chế trung tâm trong hệthống chính trị biểu hiện tập trung quyền lực của nhân dân và là công hữu hiệu đểnhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình, nhà nước ta có những điều kiệnsau:

Là người đại diện chính thức của mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội Sử dụngcông cụ pháp luật, hệ thống lực lượng vũ trang và bộ máy cưỡng chế để quản lý vàduy trì trật tự xã hội mà không tổ chức nào có được Đặc biệt nhà nước là chủ sở hữulớn nhất các tư liệu sản xuất chủ yếu quan trọng của đất nước Với tư cách này nhànước có sức mạnh vật chất để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo điều kiện cho sự vậnhành của bộ máy nhà nước và bảo đảm cho các tổ choc xã hội hoạt động Do đó ởnước ta, muốn bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động chúng ta cần phải bảo vệ nhà

Trang 10

nước vô sản, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản- người đại diện chân chính cholợi ích của nhân dân Việt Nam.

1.2.Đặc trưng cơ bản của nhà nước.

Về đặc trưng cơ bản của nhà nước được Ph Ăngghen nhận định, bất kỳ nhànước nào cũng có ba đặc trưng cơ bản sau đây:

 Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định

 Có một hệ thống các cơ quan quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chếđối với mọi thành viên trong xã hội

 Hình thành hệ thống thuế khoá để nuôi bộ máy nhà nước

Khi phân biệt sự khác nhau và đặc trưng của nhà nước đối với các tổ chức quản

lý xã hội trong chế độ thị tộc, V.I.Lênin đã nêu một số đoạn trích của Ph Ăngghennhư sau: “…So với tổ chức huyết tộc trước kia (thị tộc hay bộ tộc) thì đặc trưng thứnhất của nhà nước là ở chỗ nó phân chia thần dân trong quốc gia theo sự phân chialãnh thổ” “…Đặc trưng thứ hai là sự thiết lập một quyền lực xã hội, quyền lực nàykhông còn trực tiếp là dân cư tự tổ chức thành lực lượng vũ trang nữa Quyền lực xãhội đó là cần thiết vì từ khi có sự phân chia xã hội thành giai cấp thì không thể có tổchức vũ trang tự động của dân cư được nữa…Quyền lực xã hội đó tồn tại ở mọi quốcgia Nó không phải chỉ gồm những người được vũ trang mà còn gồm cả những vậtphụ them nữa, như nhà tù và đủ loại cơ quan cưỡng bức mà cơ cấu của xã hội thị tộc(bộ tộc) chưa hề biết đến…”

Nói về đặc trưng thứ ba là thu thuế, một chế độ thuế má cưỡng bức thu từ dân đểnuôi bộ máy cai trị Ph Ăngghen viết: “ Nắm được quyền lực công cộng và quyềnthu thuế, bọn quan lại với tư cách là những cơ quan của xã hội, được đặt lên trên xãhội…” Nói cách khác về cơ bản mọi nhà nước đều sống nhờ sự chu cấp của nhândân bằng chủ động, cưỡng bức hay tự nguyện hoặc phối hợp cả hai

Trang 11

1.3.Chức năng của Nhà Nước.

Chức năng của Nhà Nước là phương tiện hoạt động chủ yếu của Nhà Nướcnhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra cho Nhà Nước

Chức năng cơ bản của Nhà Nước có thể phân chia dựa trên 2 góc độ:

Dựa vào quyền lực chính trị của Nhà Nước:

Chức năng thống trị chính trị : do Nhà Nước được ra đời mang bản chất của

giai cấp thống trị nên nó cũng chính là công cụ chuyên chính của một giai cấp để bảo

vệ sự thống trị của giai cấp đó đối với toàn xã hội

Đây là chức năng cơ bản nhất và được ưu tiên số một bởi chỉ bằng sự thống trị củamình Nhà Nước mới có thể duy trì được địa vị và bảo vệ được quyền lợi cho mình

Chức năng xã hội: Nhà Nước thực hiện việc quản lý, chăm lo cho sự tồn tại,

sự vận động và phát triển của toàn xã hội Bởi xã hội có ổn định, phồn thịnh và côngbằng thì nền chính trị mới được đảm bảo và sự thống trị chính trị mới được giữ vững,kéo dài

Dựa vào phạm vi hoạt động :

Chức năng đối nội: là những mặt hoạt động chủ yếu trong nội bộ đất nước

như đảm bảo trật tự an toàn xã hội, trấn áp những phần tử chống đối, bảo vệ chế độchính trị-xã hội, xây dựng và phát triển đất nước… Chức năng này thường đượcpháp luật hoá và mang tính chất bắt buộc thực hiện dưới sự giám sát quản lý của NhàNước Đồng thời công cụ để thực hiện chức năng đối nội còn bao gồm cả bộ máythông tin, tuyên truyền, các cơ quan văn hoá, giáo dục…

Chức năng đối ngoại: thể hiện những mặt hoạt động của Nhà Nước trong

quan hệ với các Nhà Nước trên thế giới và các dân tộc khác như phòng thủ đất nước,chống sự xâm lược từ bên ngoài, thiết lập mối bang giao với các quốc gia khác vì lợiích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích của quốc gia Chức năng đối ngoại có tầmquan trọng đặc biệt nhằm liên kết những quốc gia có cùng chế độ, cùng mục đích và

Trang 12

hướng tới lợi ích chung, trao đổi kinh nghiệm, tài chính để có thể cùng giữ vững địa

vị thống trị tại chính quốc

Ngày đăng: 12/04/2013, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w