Tuy nhiên hoạt động của các tổ chức tài chính này còn mới mẻ sơ khai chưa cómôi trường pháp lý và định hướng rõ ràng.. Việt Nam Dựa vào thời hạn tín dụng: Thị trường tiền tệ: là nơi các
Trang 1DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Bộ máy tổ chức NHNN
Hình 2: Bộ máy tổ chức FED
Hình 3: Bản đồ các khu vực quản lý của các Ngân hàng FED khu vực
Bảng 1: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD Việt Nam từ 01/2008 – 01/2011.Bảng 2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Quyết định 379 và Quyết định 79
Bảng 3: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD ở Mỹ tháng 12/2010
NHNNVN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHQG: Ngân hàng Quốc gia
NHTK: Ngân hàng tiết kiệm
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTW: Ngân hàng Trung Ương
TCNH: Tài chính – Ngân hàng
TCTD: tổ chức tín dụng
TTCK: Thị trường chứng khoán
TTTC: Thị trường tài chính
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới hiện nay, hệ thống tàichính đóng vai trò quan trọng vì tạo ra các kênh chuyển tải vốn từ người thừa vốn đếnngười thiếu vốn, cung cấp các dịch vụ tài chính như: chia sẻ rủi ro, tính lỏng, thông tincác giao dịch tài chính Hoạt động của các tổ chức tài chính trên thế giới đã ra đời vàphát triển mạnh mẽ…Tính ưu việt của các tổ chức tài chính này đã tạo nên một kênhdẫn vốn rất quan trọng đến các doanh nghiệp và thực tế cho thấy hoạt động của các tổchức tài chính là một trong những nhân tố đẩy nhanh trình độ phát triển công nghệ ởcác nước, nhất là đối với các nước chậm phát triển Đối với một số quốc gia trên thếgiới thì nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn Và để đáp ứng được nhu cầu này một số nước
đã rất tích cực trên mọi biện pháp để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Tuynhiên trong thời gian qua vốn đầu tư còn bị hạn chế bởi nhiều nguyên nhân khác nhautrong đó có chính sác đầu tư còn nhiều bất cập Nhằm khắc phục tình trạng này việcđưa ra một cơ chế đầu tư hợp lý là điều cần thiết Chính vì vậy các tổ chức tài chính rađời ở những nước này là một giải pháp hữu hiệu
Tuy nhiên hoạt động của các tổ chức tài chính này còn mới mẻ sơ khai chưa cómôi trường pháp lý và định hướng rõ ràng Thiếu những văn bản pháp quy hoàn chỉnh
và đồng bộ, có một số văn bản pháp quy đến nay đã không còn phù hợp Và tất nhiên
để hoạt động ngày một hiệu quả hơn, các tổ chức tài chính đều mong muốn đất nước
có một hệ thống tài chính rõ ràng, tối ưu và đi sát với thực tiễn hiện nay
Hệ thống tài chính Mỹ được cho là một hệ thống phức tạp về cấu trúc và chứcnăng Đặc biệt nền kinh tế Mỹ đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từnăm 1930 không chỉ khiến cho nền kinh tế của Mỹ mà kinh tế của cả thế giới cũnglâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng Một nguyên nhân cơ bản là sự giám sát hệthống tài chính
Tại Việt Nam, hệ thống tài chính còn non trẻ và ít nhiều cũng đã hứng chịu tácđộng tiêu cực theo xu thế suy thoái kinh tế của Mỹ và toàn cầu Do đó đặt ra cơ hội cóthể rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá trong hệ thống tài chính ở ViệtNam, góp phần vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế là một yêu cầu cấp thiết đangđặt ra từng ngày Nhận thức rõ được vai trò và tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm
Trang 3đã chọn đề tài: “So sánh hệ thống tài chính của Việt Nam và Mỹ” làm đề tài nghiên
cứu
Mục tiêu của đề tài:
- Cung cấp cái nhìn tổng quan về hệ thống tài chính của Mỹ và Việt Nam
- Nắm được nét chính về hoạt động và công cụ tài chính của các thị trường tài chính
- Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của các định chế tài chính như: ngân hàng,công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán,…
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, dữ liệu từ các nguồn khác nhau
- So sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp
- Phương pháp mô hình hóa sử dụng bảng biểu, đồ thị
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hệ thống tài chính của Mỹ và Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu dựa trên phương pháp tư duy phân tích kinh tế Đi
từ tổng quan đến cụ thể cấu trúc mô hình thị trường tài chính
Do đây là một lĩnh vực có tính vĩ mô cao, cộng với trình độ nhóm viết còn hạn chếnên bài viết chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong cô đóng góp, chỉbảo để đề tài của nhóm được hoàn chỉnh hơn
Trang 42 Phân loại
2.1 Việt Nam
Dựa vào thời hạn tín dụng:
Thị trường tiền tệ: là nơi các công cụ ngắn hạn được mua bán với số lượng lớn.Thị trường vốn: là nơi các công cụ vốn, công cụ nợ trung gian dài hạn (do cácchính quyền trung ương, chính quyền địa phương, các công ty cổ phần, doanhnghiệp phát hành) được trao dổi chuyển nhượng mua bán theo quy định của phápluật
Dựa vào loại tín dụng: hiện việt nam cũng đã có thị trường tín phiếu, thị trường
trái phiếu, thị trường cổ phiếu, thị trường vay nợ, ngân hàng
Thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp
Thị trường tập trung, thị trường phi tập trung: số lượng doanh nghiệp giao dịch
trên thị trường tập trung là rất ít, giao dịch trên thị trường phi tập trung là chủ yếu
Thị trường tài chính Hoa Kỳ cũng bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Thị trường tiền tệ Hoa Kỳ: liên quan đến vay ngắn hạn, cho vay, mua và bán với
kỳ hạn ban đầu của một năm hoặc ít hơn Kinh doanh trong thị trường tiền tệđược thực hiện qua truy cập, bán buôn Cụ thể với những công cụ: trái phiếu khobạc, thương phiếu, ngân hàng, chấp nhận, tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu,
Trang 5thỏa thuận mua lại, các quỹ liên bang, các chứng khoán ngắn hạn và tài sản thếchấp Nó cung cấp tính thanh khoản tài trợ cho hệ thống tài chính toàn cầu.
Thị trường vốn Mỹ: người Mỹ tự hào về hiệu quả của thị trường chứng khoán vàthị trường vốn khác, cho phép số lượng lớn người bán và người mua tham giavào hàng triệu giao dịch mỗi ngày Chính phủ liên bang cũng đã đóng một vaitrò ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo xử lý tính trung thực và công bằngqua các giao dịch
Việc thực hiện có hiệu quả vốn thị trường, cổ phiếu và trái phiếu được phát hành
và giao dịch, tạo ra lợi thế rất lớn về kinh tế tài chính Mỹ nói chung, và thành phốNew York nói riêng
Ví dụ:về các thị trường tài chính bao gồm New York Stock Exchange (bán lại cổphần chứng khoán phát hành trước đó), thị trường trái phiếu chính phủ Mỹ (bán lạitrái phiếu phát hành trước đó), và bán đấu giá trái phiếu kho bạc Mỹ (doanh số bánhàng-tín phiếu kho bạc mới ban hành)
Tổ chức tài chính là một tổ chức có chính nguồn gốc của lợi nhuận thông quacác giao dịch tài sản tài chính Ví dụ của các tổ chức tài chính bao gồm môi giớigiảm giá (ví dụ, Charles Schwab và Associates), ngân hàng, các công ty bảo hiểm,
và đa chức năng tổ chức tài chính phức tạp, chẳng hạn như Merrill Lynch
Trang 6II CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH
1 Ngân hàng trung ương
Trên thế giới hiện nay có hai mô hình tổ chức NHTW: một là mô hình ngân hàngtrực thuộc Chính phủ như: NHTW Anh, Pháp, Nhật, Việt Nam,…; hai là mô hìnhNHTW không trực thuộc Chính phủ như: FED,…
1.1.
Thành lập
- NHNNVN: sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 6/5/1951
- FED: năm 1913 theo Federal Reserve Act (Đạo luật dự trữ liên bang) đượcQuốc Hội Mỹ thông qua
1.2.
Vị trí
- NHNNVN: là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ, là Ngân hàng trung ương củanước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam NHNNVN là pháp nhân, có vốnpháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội
- FED là tổ chức độc lập với chính phủ và Quốc hội Mỹ Trụ sỡ chính của FEDhiện nay ở Washington, D.C
1.3.
Bộ máy tổ chức
- NHNNVN: thống đốc các cục trưởng, vụ trưởng và Hội đồng tư vấn chính sáchtiền tệ Quốc Gia,…
Trang 8- FED: Hội đồng thống đốc, ủy ban thị trường, các ngân hàng của FED và cácngân hàng địa phương.
Trang 9Lãnh đạo
- NHNNVN: Thống đốc NHNN là thành viên của Chính phủ, là người đứng đầu
và lãnh đạo NHNN; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốchội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng Thống đốc NHNN
do thủ tướng chính phủ đề nghị quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm Thống đốc củaNHNNVN hiện nay là: Nguyễn Văn Bình Từ khi thành lập đến nay thìNHNNVN đã trải qua 13 đời thống đốc: Nguyễn Lương Bằng (1951 – 1952), LêViết Lượng (1952 – 1963), Tạ Hoàng Cơ (1963 – 1974), Đặng Việt Châu (1974– 1976), Hoàng Anh (1976 – 1977), Trần Dương (1977 – 1981), Nguyễn DuyGia (1981 – 1986), Lữ Minh Châu (1986 – 1989), Cao Sỹ Liêm (1989 – 1997),
Đỗ Quế Lượng (1997 – 1998), Nguyễn Tấn Dũng (1998 – 1999), Lê ĐứcThúy(1999 – 2007), Nguyễn Văn Giàu (2007 – 2011), Nguyễn Văn Bình (2011đến nay)
- FED: Điều hành FED là Ủy ban Thống đốc gồm bảy thành viên do Tổng thống
Mỹ bổ nhiệm và Thượng viện Mỹ phê chuẩn, nhiệm kỳ kéo dài đến 14 năm đểkhỏi chịu tác động chính trị Riêng chủ tịch và phó chủ tịch có nhiệm kỳ bốnnăm Chủ tịch FED do Tổng thống bổ nhiệm, 2 thành viên khác của FED đạidiện cho Chính phủ là Bộ Tài chính và Kho bạc Mỹ, còn lại là các ông chủ ngânhàng tư nhân Trong đó, Tổng thống chỉ được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm 1thành viên trong vòng 2 năm Như vậy, 1 nhiệm kỳ Tổng thống 4 năm thì Tổngthống chỉ được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm 2 thành viên trong Hội đồngThống đốc FED Nếu nhiệm kỳ Tổng thống kéo dài 8 năm (2 nhiệm kỳ) thìquyền bổ nhiệm và miễn nhiệm chỉ được tối đa 4 người, và 4 người này phảiđược Thượng viện thông qua Chủ tịch Hội đồng thống đốc của FED hiện nay làGiáo Sư Ben Bernanke Từ khi thành lập
- đến nay FED đã có 14 đời chủ tịch: Charles S Hamlin (1914 - 1916), William
P G Harding (1916 – 1922), Daniel R Crissinger (1923 – 1927), Roy A Young(1927 – 1930), Eugene Meyer ( 1930 – 1933), Eugene R Black (1933 – 1934),Marriner S Eccles (1934 – 1948), Thomas B McCabe (1948 - 1951), WilliamMcChesney Martin, Jr (1951 – 1970), Arthur F Burns (1970 – 1978), G
Trang 10William Miller (1978 – 1979), Paul A Volcker (1979 – 1987), Alan Greenspan(1987 – 2006), Ben BernanKe 2006 – nay)
1.5.
Tính độc lập: bao gồm độc lập về việc lựa chọn công cụ và độc lập về lựa chọn
mục tiêu khi thực hiện chính sách tiền tệ)
- NHNNVN: thấp do trực thuộc và phải nhận chỉ thị từ chính phủ( các chínhsách cũng phải có chính phủ quyết định), ngân sách hoạt động cũng do chínhphủ xét duyệt
- FED: Cao do độc lập với chính phủ ( để thay đổi quy chế của FED Quốc hộithậm chí còn phải sửa đổi cả hiến pháp), các lãnh đạo có nhiệm kỳ và khôngđược tái cử, ngân sách hoạt động độc lập
tổ chức giống một tổ chức tư nhân Ví dụ, cổ phần của ngân hàng dự trữ liênbang khu vực do các ngân hàng thành viên sở hữu Việc sở hữu cổ phần nàykhác với sở hữu cổ phần công ty thông thường Các ngân hàng dự trữ liên bangkhu vực hoạt động không vì lợi nhuận và việc sở hữu cổ phần của nó là điều kiện
để trở thành ngân hàng thành viên Cổ phần không thể mua bán hay thế chấp Cổtức ấn định là 6% một năm Đứng về mặt tài sản, ngân hàng Fed New York làngân hàng lớn nhất với phạm vi hoạt động là quận 2 tiểu bang New York, thànhphố New York, Puerto Rico và quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ
Trang 12Quản lý tham mưu chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính Phủ Việt Nam:Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt độngcủa ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quảcủa chính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô Với lý do trên NHTW phải thamgia cố vấn cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế Với vai trò nàyNHTW gián tiếp ảnh hưởng đến việc cung ứng trái phiếu của chính phủ và cáchoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với ngân sách Đây là một cách để điều tiếtkinh tế vĩ mô
Thực hiện chính sách tiền tệ:
Nghiệp vụ thị trường mở:
Khái niệm: là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thựchiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ Qua đó điều tiếtlượng tiền cung ứng
Đặc điểm: do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi làmột công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của chính sách tiền tệ vì khốilượng chứng khoán mua (bán) tỷ lệ với quy mô lượng tiền cung ứng cần điềuchỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế Tuy vậy, vì thực hiệnthống qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác thamgia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phải có sựphát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ, thị trường vốn
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng được phân chia tùy theo tính chất kỳ hạn, loạitiền gửi và thông thường, loại tiền gửi kỳ hạn ngắn, tiền gửi bằng ngoại tệphải duy trì một tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao hơn Bên cạnh đó, sự khác biệt về
tỷ lệ dự trữ bắt buộc giữa các ngân hàng cũng được quan tâm Theo quy địnhtại Quyết định số 379/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009 (đối với VND)
Trang 13và Quyết định 79/QĐ-NHNN áp dụng từ 01/2/2010 (đối với ngoại tệ) thì tỷ
lệ dự trữ bắt buộc được quy định như sau:
Bảng 1: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD Việt Nam
kỳ hạn vàdưới 12tháng
Tiền gửiVND từ 12-
Tiền gửingoại tệ từ12-24 tháng
1 NHTM nhà nước,
NHTMCP đô thị, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, ngân
hàng liên doanh, công ty cho
thuê tài chính
Trang 14Phát triển Nông thôn Việt Nam
3 NHTMCP nông thôn, ngân
Lãi suất chiết khấu:
Ở Việt Nam, lãi suất được sử dụng như công cụ chính của chính sách tiền
tệ, nó là yếu tố sự chuyển biến từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trường, nó còn là công cụ quan trọng để chuyển các Ngân hàngsang cơ chế tự hoạch toán kinh doanh
- FED: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia , giám sát và quản lý các tổ chức tíndụng, duy trì sự ổn định của nền kinh tế , cung cấp các dịch vụ tài chính cho các
tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chínhphủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia
Kiểm soát cung ứng tiền tệ: FED kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệbằng các hoạt động thị trường mà qua đó FED mua hoặc cho mượn các loại tráiphiếu, giấy tờ có giá Những tổ chức tham gia mua bán với FED gọi là ngườigiao dịch ưu tiên (primary dealers) Tất cả hoạt động thị trường của FED ở Hoa
Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bangkhu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên banggần với tỷ lệ mục tiêu, gồm:
Thỏa thuận mua lại: Thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay cóthế chấp Để đảm bảo những thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặctạm thời, bàn giao dịch thị trường của NHDT liên bang New York tham giacác thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch ưu tiền Các mua bán chủyếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có đảm bảo của FED Trong ngày giaodịch, FED sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp(là các giấy tờ chứng nhận sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, v.v ) Khi hếthạn giao dịch, quá trình diễn ra ngược lại FED hoàn lại chứng khoán và
Trang 15nhận lại tiền cùng lãi Thời hạn giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày (cho vayqua đêm) tới 65 ngày, phần lớn giao dịch là cho vay qua đêm và 14 ngày.
Giao dịch mua đứt: Một công cụ khác của bàn giao dịch thị trường là muađứt Trong giao dịch này, FED mua lại trái phiếu chính phủ và cung cấpgiấy bạc mới vào tài khoản của người giao dịch đặt tại FED Bởi hoạt độngnày là mua đứt nên tăng cung tiền tệ lâu dài nhưng khi trái phiếu hết hạnkhoản lãi vẫn được thu, thông thường là 12-18 tháng Từ những năm 1980,FED cũng bán quyền mua trái phiếu chính phủ ở mức lãi suất cao Việc bánquyền mua này giảm nguồn cung tiền tệ bởi các nhà giao dịch ưu tiên sẽ bịkhấu trừ tài khoản dự trữ của họ đặt tại FED, do đó mà quá trình tạo ra tiềnlưu thông bị hạn chế Bởi các giao dịch làm tăng quỹ dự trữ của ngân hàngtrong thời gian ngắn, chúng tăng nguồn cung tiền tệ Hiệu quả của hoạtđộng này là tạm thời bởi các giao dịch sẽ đáo hạn, tác động dài hạn là dựtrữ ngân hàng giảm đi bởi lãi suất của giao dịch (lãi suất một ngày của tỷ lệ4,5%/năm là 0,0121%) FED tiến hành giao dịch này hàng ngày trong2004-2005, ngoài ra giao dịch thu hút vốn cũng tiến hành nhằm tạm thờigiảm nguồn cung tiền tệ.Trong giao dịch thỏa thuận bán lại (reverse repo),FED sẽ vay tiền từ các người giao dịch ưu tiên bằng cách đặt cọc các chứngkhoán chính phủ Khi giao dịch đáo hạn, FED sẽ hoàn trả tiền và các khoảnlãi
Thực hiện chính sách tiền tệ:
Mua và bán trái phiếu Chính phủ: Khi Cục dự trữ liên bang (FED) mua tráiphiếu chính phủ, tiền được đưa thêm vào lưu thông Bởi có thêm tiền tronglưu thông, lãi suất sẽ giảm xuống và chi tiêu, vay ngân hàng sẽ gia tăng.Khi FED bán ra trái phiếu chính phủ, tác động sẽ diễn ra ngược lại, tiền rútbớt khỏi lưu thông, khan hiếm tiền sẽ làm tăng lãi suất dẫn đến vay nợ từngân hàng khó khăn hơn
Quy định lượng tiền mặt dự trữ: Ngân hàng thành viên cho vay phần lớnlượng tiền mà nó quản lý Nếu FED yêu cầu các ngân hàng này phải dự trữmột phần lượng tiền này, khi đó phần cho vay sẽ giảm đi, vay mượn khóhơn và lãi suất tăng lên
Trang 16 Thay đổi lãi suất của khoản vay từ FED: Các ngân hàng thành viên củaFED vay tiền từ FED để trang trải các nhu cầu ngắn hạn Lãi suất mà FED
ấn định cho các khoản vay này gọi là lãi suất chiết khấu Hoạt động này cóảnh hưởng, tuy nhỏ hơn, về số lượng tiền các thành viên sẽ được vay
Bảng 3 : tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD ở Mỹ tháng 12/2010
Yêu cầu dự trữ
Loại trách nhiệm
Yêu cầu % Của các khoản nợ
Ngày có hiệu lực
Tài khoản giao dịch thuần
FED còn ấn định tỷ lệ chiết khấu – lãi suất mà các NHTM phải trả khi vaytiền từ FED Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách vay quỹ đặt cọc tạiFED từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết khấu củaFED Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ FED mang tính công khairộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức
độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay
Trang 17Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi suất ưu đãi, là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với "lãisuất quỹ vốn tại Fed" Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối vớikhoản vay của những khách hàng tin cậy nhất.
Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vaythấp, do đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán.Ngược lại, lãi suất cao đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn
Cục dự trữ liên bang thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại Fed” mỗi lần ởmức 0,25% hoặc 0,5% Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần,
từ 6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế Tháng 11 năm
2002, lãi suất do FED điều chỉnh chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệlạm phát Ngày 25/03/2003, "lãi suất quỹ vốn tại FED" tụt xuống mức 1%, con
số thấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 – 0,68% Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004,Cục dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25%ngày 08/08/2006
Có thể FED cũng đã nỗ lực các hoạt động mua bán trên thị trường nhằm thayđổi tỷ lệ cho vay dài hạn Tuy nhiên năng lực của nó yếu hơn rất nhiều các địnhchế tài chính tư nhân
Huy động vốn: nhận tiền gửi, các loại tiền bao gồm:
-Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu của người gửi
mà không phải tôn trọng một kỳ hạn ký thác nào khác Có nhiều loại tiền gửikhông kỳ hạn:
Trang 18 Tiền gửi dùng séc: là loại tiền gửi dùng để chi trả các Séc và hối phiếu
Tiền gửi tiết kiệm: là tiền gửi vào tài khoản tiết kiệm còn gọi là tài khoảndùng sổ Đó là những khoản tiền gửi nhỏ, ổn định tương đối lâu ở tàikhoản, được hưởng lãi, tương đối cao hơn lãi của tiền gửi thông dụngLuật Mỹ cho phép ngân hàng có thể buộc người gửi tiết kiệm phải báo 30ngày trước khi rút nhưng các ngân hàng không sử dụng quyền này, khôngđòi hỏi phải báo trước vì nó có thể bị giới hạn về ngạch số tiền gửi tối đa(100.000 USD)
Tiền gửi có thấu chi: ở Mỹ, có sự phối hợp gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm
và tài khoản dùng séc bằng cách gửi tiền vào tài khoản ATS (automaticTransfer Service Account) Từ ngày 1/11/1978, NHTM được phép trả lãicho TK dùng séc bằng cách gửi tiền vào TK dùng séc để rút tiền bằng séc-Các loại tiền gửi đặc biệt của Hoa Kỳ: ngoài các loại tiền gửi thông dụng nhưcủa Việt Nam thì Hoa Kỳ còn có những loại tiền gửi vào những tài khoản đặcbiệt được áp dụng từ thập niên 1970 và 1980 Đó là tiền gửi phối hợp giữatiền gửi dùng Séc và tiền gửi tiết kiệm vào những tài khoản giao dịch bao gồmlệnh rút tiền giao dịch và dịch vụ chuyển ngân tự động
Nghiệp vụ đầu tư vốn:
- Đầu tư chứng khoán: các định chế tài chính là các nhà đầu tư trên thị trườngtài chính Đây là nguồn lợi quan trọng thứ hai sau cho vay Thông thườngchứng khoán mà họ đầu tư bao gồm những chứng khoán an toàn nhất như:trái phiếu kho bạc đến những khoản đầu tư tương đối an toàn Nếu tính vềthời hạn, có những chứng khoán rất ngắn hạn chỉ có 24h ở Mỹ có thỏa ướcmua lại (RPs) do NHTM phát hành để vay trong 24h, có khi gọi là thỏa ướcqua đêm
- Cho vay: là hình thức thông dụng nhất của các định chế tài chính nói chung
và của ngân hàng nói riêng trên khắp thế giới Việt Nam hay Mỹ cũng vậy.Tại Hoa Kỳ, cho vay chiếm gần 60% tổng tích tài sản của NHTM
2.2.
Các tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổchức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng
Trang 19Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngânhàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêuhoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng pháttriển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hìnhngân hàng khác
Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luậtnước ngoài
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tàichính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác
Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngânhàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt độngngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinhdoanh và đời sống Tổ chức tín dụng hợp tác gồm ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụngnhân dân và các hình thức khác
Các loại hình tổ chức tín dụng (theo sở hữu): Tổ chức tín dụng được thành lậptheo pháp luật Việt Nam bao gồm tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổphần, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng100% vốn nước ngoài Ngoài ra còn có chi nhánh, văn phòng đại diện của ngânhàng nước ngoài tại Việt nam
2.2.1 Ngân hàng tiết kiệm
NHTK được thành lập với mục đích huy động các khoản tiền tiết kiệm củacác cá nhân trong xã hội Chủ nhân của các ngân hàng tiết kiệm cũng chính lànhững người gửi tiền tiết kiệm
Phương thức hoạt động của NHTK mang tính tương trợ là chủ yếu, chứ khôngnhư ngân hàng thương mại là nhằm mục đích kinh doanh là chính
Vốn hoạt động chủ yếu của NHTK là từ tiền gửi tiết kiệm của dân chúng hoặc
là vốn đóng góp của các nhà hảo tâm với tính chất hỗ trợ người nghèo là chínhhơn là đóng góp để kiếm lời Loại ngân hàng này không phát hành các công cụ
nợ để vay vốn của công chúng và cũng hầu như không vay của các tổ chức nướcngoài hay NHTW, trừ trường hợp đặc biệt thiếu tiền mặt
Trang 20Do tính chất đặc biệt của vốn huy động, các NHTK cho vay rất thận trọng.Tiêu chuẩn hàng đầu trong vấn đề cho vay là sự an toàn Đối tượng cho vay chủyếu là các khoản vay cầm cố, thế chấp bằng nhà cửa, tài sản hoặc chứng khoán.Tiếp đó là đầu tư vào chứng khoán hoặc cho các ngân hàng thương mại khácvay Nhìn chung những người được vay tiền tại các ngân hàng này cũng chính lànhững người đã gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng Lãi suất cho vay thường rấtthấp vì nó mang tính chất tương trợ nhiều hơn là kinh doanh.
Ở Mỹ, NHTK tồn tại dưới hình thức các ngân hàng tiết kiệm tương trợ(Mutual savings banks) Các NHTK tương trợ này thu hút tiền vốn bằng cáchnhận tiền gửi và dùng chúng trước hết để cho vay thế chấp Những người gửitiền đồng thời là người chủ sở hữu các ngân hàng này Trước năm 1980, cácngân hàng này bị hạn chế ở các khoản cho vay bất động sản, nhưng ngày nay họ
đã được phép phát hành các tài khoản tiền gửi có thể phát séc dưới dạng các tàikhoản NOW hay Super NOW và thực hiện các khoản cho vay khác ngoài chovay bất động sản như vay tiêu dùng, vay cho sản xuất nông nghiệp, cũng nhưcung cấp các dịch vụ như tín thác, phát hành thẻ tín dụng
Ở Việt Nam không có NHTK riêng biệt, hầu như tất cả các ngân hàng thươngmại đều có bộ phận quỹ tiết kiệm để huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư nhằmhình thành nguồn vốn chung của ngân hàng thương mại
2.2.2 Quỹ tín dụng
Quỹ tín dụng được thành lập theo hình thức góp vốn cổ phần và hoạt độngtheo nguyên tắc tập thể, tự nguyện, hợp tác và bình đẳng Các thành viên của quỹgóp tiền vào quỹ dưới hình thức mua các thẻ thành viên (tương tự như cổ phiếu)
có mệnh giá bằng nhau Sau đó, họ cùng nhau bầu ra người quản lý Các thànhviên của quỹ sẽ được hưởng quyền vay tiền của quỹ khi cần Khi cần thêm vốn,quỹ lại phát hành thêm thẻ thành viên và tiếp nhận thêm những thành viên mới.Thông thường quỹ không cho người ngoài vay tiền Ngoài cho các thành viênvay, quỹ cũng có thể đầu tư vào chứng khoán
Ở Việt Nam, quỹ tín dụng tồn tại dưới dạng các tổ chức tín dụng hợp tác Đây
là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân
và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo Luật Các tổ
Trang 21chức tín dụng và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau pháttriển sản xuất, kinh doanh và đời sống Tổ chức tín dụng hợp tác gồm ngân hànghợp tác, quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng và các hình thức khác TheoĐiều 64 Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng hợp tác được huy độngvốn của các thành viên và của các tổ chức cá nhân để cho các thành viên vay.Việc cho các đối tượng không phải là thành viên vay phải được Đại hội thànhviên hoặc Đại hội đại biểu chấp thuận và không được vượt quá tỷ lệ tối đa doNgân hàng Nhà nước quy định”.
Ở Mỹ, các liên hiệp tín dụng (Credit Unions) cũng có mô hình tương tự nhưquỹ tín dụng Đây là các tổ chức cho vay có quy mô nhỏ, có tính chất hợp tác xã,được tổ chức xung quanh một nhóm xã hội đặc biệt (ví dụ các nhân viên của mộtcông ty) Mục đích của các liên hiệp này là cho các thành viên vay với mức lãisuất thấp nhất có thể Họ thu nhận vốn bằng cách bán cổ phần cho các thành viên
và các thành viên ngoài việc được quyền vay ưu đãi còn được hưởng cả lãi từ cổphần mà họ mua Các khoản vay từ quỹ chủ yếu phục vụ nhu cầu mua hàng hoátiêu dùng hơn là mua nhà Từ sau năm 1980, các liên hiệp tín dụng này cũngđược phép phát hành các tài khoản tiền gửi thanh toán và có thể thực hiện cáckhoản cho vay bất động sản ngoài các khoản cho vay tiêu dùng
2.3.
Thị trường chứng khoán
2.3.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam
Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam:
- Ngày 28/7/2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minhchính thức đi vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên đánh đấu sự
ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam Ở thời điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng
và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch
- Đầu năm 2006 được coi là mốc thời gian mang tính chất phát triển “đột phá”,tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới vớihoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh,Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC Với mức tăng trưởng đạt tới60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành