Xác định khả năng phát hiện các biến cố bất lợi của thuốc thông qua hoạt động giám sát tích cực của Dược sĩ lâm sàng sử dụng một bộ công cụ phát hiện biến cố tại bệnh viện .... Xác định
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ HỒNG NGỌC
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BÁO CÁO ADR VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ TRONG PHÁT HIỆN ADE TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ HỒNG NGỌC
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BÁO CÁO ADR VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ TRONG PHÁT HIỆN ADE TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
HÀ NỘI 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Hoàng Anh - Giảng
viện Bộ môn Dược lực, Phó Giám đốc Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc – Người thầy luôn tận tâm hướng dẫn và dìu dắt tôi qua từng bước đi quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hồng Hà - Trưởng Khoa Dược
- Bệnh viện Nhi Trung ương - Người thầy đã tận tình dạy bảo, ủng hộ và luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn DS Trần Thúy Ngần – Chuyên viên Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc và DS Lại Quang Phương -
Dược sĩ khóa 64 - Trường Đại học Dược Hà Nội đã luôn hỗ trợ tôi thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc, các bác sĩ và điều dưỡng tại các
khoa lâm sàng, các cán bộ Phòng Kế hoạch tổng hợp và các đồng nghiệp của tôi tại khoa Dược Bệnh viện Nhi Trung Ương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và
tập thể các thầy cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội, những người đã tận tâm dạy dỗ,
trang bị cho tôi các kiến thức và kỹ năng trong học tập, nghiên cứu Cảm ơn các cán bộ
Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người thân và bạn
bè của tôi Những người đã luôn ở bên, quan tâm, tin tưởng, động viên và chăm sóc tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài này
Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2014
Học viên
Vũ Hồng Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Cảnh giác Dược trong sử dụng thuốc cho trẻ em 3
1.1.1 Tổng quan về Cảnh giác Dược 3
1.1.2 Trẻ em và những thay đổi về dược động học và dược lực học của thuốc 4
1.1.3 Những tồn tại trong việc sử dụng thuốc trên trẻ em 7
1.2 Các phương pháp phát hiện và theo dõi biến cố bất lợi của thuốc 10
1.2.1 Phương pháp báo cáo biến cố bất lợi của thuốc 11
1.2.2 Phương pháp rà soát bệnh án để phát hiện biến cố bất lợi của thuốc 13
1.3 Giới thiệu về Bệnh viện Nhi Trung ương và hoạt động báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.1 Khảo sát tình hình báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2010 – 2013 21
2.1.2 Tìm hiểu nhận thức, thái độ của cán bộ y tế đối với hoạt động Cảnh giác Dược ở Bệnh viện Nhi Trung ương 21
2.1.3 Xác định khả năng phát hiện các biến cố bất lợi của thuốc thông qua hoạt động giám sát tích cực của Dược sĩ lâm sàng sử dụng một bộ công cụ phát hiện biến cố tại bệnh viện 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Khảo sát tình hình báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2010 – 2013 22
Trang 52.2.2 Tìm hiểu nhận thức, thái độ của cán bộ y tế đối với hoạt động Cảnh giác
Dược ở Bệnh viện Nhi Trung ương 25
2.2.3 Xác định khả năng phát hiện các biến cố bất lợi của thuốc thông qua hoạt động giám sát tích cực của Dược sĩ lâm sàng sử dụng một bộ công cụ phát hiện biến cố tại bệnh viện 27
2.3 Xử lý số liệu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Tình hình báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2010 - 2013 ………30
3.1.1 Số lượng báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương và tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng 30
3.1.2 Phân loại báo cáo ADR theo đặc điểm bệnh nhân nhi 31
3.1.3 Phân loại thuốc gây ADR theo nhóm thuốc 31
3.1.4 Thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất 32
3.1.5 Phân loại ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng (SOC) 33
3.1.6 Các cặp thuốc nghi ngờ - ADR được báo cáo nhiều nhất 34
3.1.7 Phân loại báo cáo ADR theo đối tượng báo cáo 35
3.1.8 Đánh giá chất lượng báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2010 - 2013 35
3.2 Tìm hiểu nhận thức, thái độ của cán bộ y tế đối với hoạt động Cảnh giác Dược tại Bệnh viện Nhi Trung ương 36
3.2.1 Nhận thức của cán bộ y tế về ADR và tầm quan trọng của việc báo cáo ADR ……… 37
3.2.2 Nhận thức của cán bộ y tế về cách thực hiện báo cáo ADR 41
3.2.3 Thực trạng công tác báo cáo ADR tại bệnh viện 44
Trang 63.2.4 Các biện pháp được cán bộ y tế đề xuất để cải thiện hoạt động báo cáo ADR
……… 46
3.3 Xác định khả năng phát hiện các biến cố bất lợi của thuốc thông qua hoạt động giám sát tích cực của Dược sĩ lâm sàng sử dụng một bộ công cụ phát hiện biến cố tại bệnh viện 47
3.3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân 47
3.3.2 Thống kê về tín hiệu và ADE đã được phát hiện 49
3.3.3 Hiệu lực của bộ công cụ 50
3.3.4 Thống kê về ADE đã phát hiện được và các thuốc nghi ngờ liên quan 51
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 Điểm phạt các trường thông tin trong báo cáo ADR theo VigiGrade PHỤ LỤC 2 Bộ câu hỏi khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y
tế trong hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại Bệnh viện Nhi Trung ương
PHỤ LỤC 3 Bộ công cụ phát hiện biến cố
PHỤ LỤC 4 Số lượng và tỷ lệ bệnh án nghiên cứu theo khoa phòng
PHỤ LỤC 5 Bệnh chính theo phân loại ICD-10
PHỤ LỤC 6 Danh sách bệnh nhân trong nghiên cứu
Trang 7DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ADE Biến cố bất lợi của thuốc (Adverse drug event)
ADR Phản ứng bất lợi của thuốc (Adverse drug reaction)
CHCA Tập đoàn Sức khỏe Nhi khoa Hoa Kỳ (Child Health Corporation
of America) FDA Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (U.S Food
and Drug Administration)
ICH Hội nghị quốc tế về hài hòa (International Conference on
Harmonisation) ICU Khoa Điều trị tích cực (Intensive-care unit)
IHI Viện Nghiên cứu tăng cường chăm sóc sức khỏe (Institute for
Healthcare Improvement) NICU Khoa Điều trị tích cực cho trẻ sơ sinh (Neonatal intensive-care
unit ) NCC MERP Ban Điều phối Quốc gia về báo cáo và ngăn ngừa sai sót do thuốc
(National Coordinating Council for Medication Error Reporting và Prevention)
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 8Bảng 2.1 Bộ công cụ phát hiện ADE áp dụng trên bệnh nhân sử dụng
trong nghiên cứu
4 Bảng 3.1 Phân loại báo cáo ADR theo nhóm tuổi và giới tính 31
5 Bảng 3.2 Tỷ lệ ADR nghiêm trọng trong từng nhóm thuốc 32
6 Bảng 3.3 6 thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất 33
7 Bảng 3.4 Tỷ lệ ADR nghiêm trọng với mỗi tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng 34
8 Bảng 3.5 4 cặp thuốc - ADR được báo cáo nhiều nhất 34
9 Bảng 3.6 Điểm trung bình chất lượng báo cáo giai đoạn 2010 - 2013 36
10 Bảng 3.7 Tỷ lệ thu hồi bộ câu hỏi 36
11 Bảng 3.8 Đặc điểm nhân khẩu học của cán bộ y tế 37
12 Bảng 3.9 Nhận thức về độ an toàn thuốc 38
13 Bảng 3.10 Nhận thức về nguyên nhân gây ADR 38
14 Bảng 3.11 Nhận thức về khái niệm ADR 39
15 Bảng 3.12 Nhận thức về trách nhiệm báo cáo ADR 40
16 Bảng 3.13 Nhận thức về tầm quan trọng của báo cáo ADR 40
17 Bảng 3.14 Nhận thức về lý do báo cáo ADR là quan trọng 40
18 Bảng 3.15 Nhận thức về mẫu báo cáo ADR 41
19 Bảng 3.16 Nhận thức về nơi cung cấp mẫu báo cáo ADR 42
20 Bảng 3.17 Nhận thức về nơi nhận báo cáo ADR 42
21 Bảng 3.18 Thông tin tối thiểu khi điền báo cáo 43
22 Bảng 3.19 Tỷ lệ cán bộ y tế đã gặp/báo cáo ADR 44
23 Bảng 3.20 Các khó khăn khi thực hiện báo cáo ADR 44
Trang 924 Bảng 3.21 Các nguyên nhân không báo cáo ADR 45
25 Bảng 3.22 Biện pháp để cải thiện hoạt động báo cáo ADR 46
26 Bảng 3.23 Đặc điểm chung của bệnh nhân 48
27 Bảng 3.24 Thống kê về tầnsuất và tỷ lệ % các tín hiệu phát hiện trong
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1.1 Sơ đồ các bước rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ phát
2
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình tiến hành phân loại mức độ nghiêm
trọng của ADR theo hướng dẫn của WHO năm 2003 về phân loại
độc tính để xác định mức độ nặng của biến cố bất lợi
23
3 Hình 2.2 Sơ đồ mô tả tiến trình rà soát bệnh án sử dụng bộ công
4 Hình 3.1 Số lượng báo cáo và tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng và
5 Hình 3.2 Tỷ lệ các nhóm thuốc nghi ngờ được ghi nhận trong báo
6 Hình 3.3 Tỷ lệ các tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng 33
7 Hình 3.4 Tỷ lệ báo cáo theo đối tượng báo cáo 35
8 Hình 3.5 Sơ đồ tiến trình lựa chọn bệnh án vào nghiên cứu 47
Trang 111
ĐẶT VẤN ĐỀ
Độ an toàn của thuốc sử dụng trên trẻ em là một mối quan tâm lớn của hoạt động Cảnh giác Dược Trẻ em thường không được lựa chọn đưa vào các thử nghiệm lâm sàng nên thông tin của phần lớn các thuốc hiện có chủ yếu dựa trên kết quả từ các thử nghiệm tiến hành trên người lớn Dữ liệu về độ an toàn của thuốc trên trẻ
em còn hạn chế, thiếu dạng thuốc sử dụng chuyên biệt và việc sử dụng thuốc ngoài chỉ định là những vấn đề nổi bật còn tồn tại trong sử dụng thuốc trên trẻ em Đây cũng là những yếu tố làm tăng nguy cơ dẫn đến biến cố bất lợi của thuốc (ADE) trên đối tượng này [58], [112] Kết quả thống kê cho thấy tỷ lệ bệnh nhi nhập viện
do ADE được ghi nhận lên tới 2% [31]
Hai phương pháp hiện được áp dụng nhiều nhất để phát hiện và theo dõi biến
cố bất lợi của thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh là báo cáo biến cố bất lợi của thuốc và rà soát bệnh án để phát hiện biến cố bất lợi của thuốc [65], [86], [90], [93], [94] Một trong những hạn chế lớn nhất của báo cáo biến cố bất lợi của thuốc là tình trạng báo cáo thấp hơn so với thực tế (underreporting) [56], [107] Nhận thức và thái độ của cán bộ y tế đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động báo cáo biến cố bất lợi của thuốc [67], [78] Đối với phương pháp rà soát bệnh
án để phát hiện biến cố bất lợi của thuốc, các bệnh án được rà soát bởi cán bộ y tế được đào tạo hoặc bởi một hệ thống rà soát điện tử để phát hiện những vấn đề trong
sử dụng thuốc, có thể được thực hiện hồi cứu hoặc tiến cứu [65], [94] Phương pháp
rà soát bệnh án sử dụng một bộ công cụ phát hiện biến cố đang được sử dụng ngày càng phổ biến nhờ các ưu điểm là có thể tiến hành với số lượng bệnh án lớn hơn, tiết kiệm thời gian, nhân lực và tiền bạc Bộ công cụ sử dụng có thể được điều chỉnh
và áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng và môi trường thực hành khác nhau
Bệnh viện Nhi Trung ương là bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối với quy mô
1200 giường bệnh điều trị khoảng 67000 bệnh nhân nội trú mỗi năm Nhằm mục đích tăng cường hoạt động Cảnh giác Dược và giám sát ADR tại bệnh viện, chúng tôi thực hiện đề tài ―Khảo sát thực trạng công tác báo cáo ADR và hiệu quả can thiệp của Dược sĩ trong phát hiện ADE tại Bệnh viện Nhi Trung ương‖ với mục tiêu:
Trang 133
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Có hai hướng tiếp cận trong thực hành lâm sàng được cho là tốt cho trẻ em
nhưng lại dẫn đến những hậu quả không mong muốn Thứ nhất là sử dụng cho trẻ
em những loại thuốc dành cho người lớn với suy nghĩ bất kỳ thuốc nào sử dụng điều trị cho người lớn đều có thể sử dụng cho trẻ em với các điều kiện tương tự ngay cả khi không có nghiên cứu về việc dùng thuốc trên trẻ em, không có cơ sở khoa học
để thiết lập chế độ liều ngoài việc hiệu chỉnh liều dựa trên cân nặng và không có
thông tin về sự khác nhau về đáp ứng giữa trẻ em và người lớn với thuốc Thứ hai là
bảo vệ trẻ em quá mức trước những tình huống không rõ ràng và chắc chắn Điều này dẫn tới việc không tuyển chọn trẻ em vào các nghiên cứu mặc dù những nghiên cứu này có thể giúp cải thiện việc điều trị trên bệnh nhi Trên thực tế, việc sử dụng thuốc trên trẻ em với những hiểu biết không đầy đủ đã gây ra nhiều bi kịch trong điều trị [58]
1.1 Cảnh giác Dược trong sử dụng thuốc cho trẻ em
Có nhiều định nghĩa khác về Cảnh giác Dược nhưng đây là một định nghĩa khá rộng, phù hợp với mối quan tâm chính của Cảnh giác Dược là ―quản lý nguy cơ‖ Định nghĩa này được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học y tế nhưng mối quan tâm tới quá trình sử dụng thuốc mới phát triển gần đây
Trang 144
Trọng tâm của Cảnh giác Dược được mở rộng cho các lĩnh vực: thuốc có nguồn gốc dược liệu, thuốc cổ truyền, thực phẩm chức năng, thuốc có nguồn gốc sinh học, trang thiết bị y tế và vắc xin [115]
Nhiệm vụ của hoạt động Cảnh giác Dược là bảo vệ sức khỏe cộng đồng, cải thiện sử dụng thuốc hợp lý thông qua việc thu thập, đánh giá và truyền thông có hiệu quả, kịp thời về những nguy cơ và lợi ích để giúp các cấp quản lý khác nhau trong hệ thống y tế đưa ra quyết định cần thiết [107]
1.1.2 Trẻ em và những thay đổi về dược động học và dược lực học của thuốc
Trọng lượng, cấu tạo và sự hoàn thiện các cơ quan bài tiết thuốc trong cơ thể
có ảnh hưởng lớn đến quá trình dược động học của trẻ em Việc dự đoán ảnh hưởng của quá trình phát triển và hoàn thiện của trẻ đến dược lực học của thuốc gặp nhiều khó khăn do những dữ liệu về thay đổi liên quan giữa độ tuổi và thụ thể của thuốc hiện còn rất hạn chế [38]
1.1.2.1 Thay đổi dược động học của thuốc trên trẻ em
a Hấp thu thuốc
Đường uống
- pH dạ dày của trẻ cao do lượng acid clohydric chưa được bài tiết đầy đủ
[4], [16], [47], [89], [96] Chỉ sau 1 tuổi, lượng acid dạ dày mới tăng lên và dần đạt mức tương đương người lớn Do đó, các thuốc uống không bền trong môi trường acid như kháng sinh β-lactam cần dùng liều thấp hơn; trong khi các thuốc acid yếu như phenobarbital và phenytoin cần liều cao hơn khi sử dụng trên trẻ nhỏ [98]
- Thời gian tháo rỗng dạ dày của trẻ kéo dài hơn nên các thuốc hấp thu chủ yếu ở dạ dày có thể có mức độ hấp thu lớn hơn so với dự đoán và các thuốc hấp thu
ở ruột non có thể không đạt được hiệu quả điều trị [38] Sau từ 6-8 tháng, thời gian tháo rỗng dạ dày của trẻ đạt mức gần giống với người lớn [89], [96]
- Nhu động ruột của trẻ nhỏ mạnh hơn nên làm giảm thời gian lưu thuốc tại
ruột và ảnh hưởng đến khả năng hấp thu các thuốc tác dụng kéo dài [4]
Đường tiêm bắp
Hấp thu thuốc sau khi tiêm bắp phụ thuộc vào khối lượng cơ và lưu lượng máu đến tổ chức bắp thịt [38] Trẻ nhỏ có khối lượng cơ bắp thấp nên hấp thu thuốc
Trang 155
có nhiều bất thường và khó dự đoán Trong trường hợp việc tưới máu được đột ngột cải thiện, lượng thuốc vào vòng tuần hoàn có thể tăng cao đột ngột và tăng độc tính của thuốc Điều này đặc biệt nguy hiểm khi sử dụng các thuốc như glycosid tim, kháng sinh aminoglycosid và thuốc chống co giật [38] Đường tiêm bắp có thể gây
đau và khó tính toán sinh khả dụng để xác định liều chính xác [4]
Đưa thuốc qua da
Da của trẻ em mỏng nên có khả năng hấp thu thuốc cao hơn so với người lớn
và có thể làm tăng nguy cơ gặp ADR Một số chế phẩm bôi ngoài da chứa prilocain
và lidocain được khuyến cáo không sử dụng trên trẻ sinh thiếu tháng do prilocain có thể được hấp thu đáng kể và gây methemoglobin Corticoid dạng bôi ngoài da hay nhỏ mũi cần sử dụng thận trọng trên trẻ em do có thể được hấp thu tương đương
như khi sử dụng đường toàn thân và gây hội chứng Cushing [4]
b Phân bố thuốc
Trẻ sơ sinh có 70-75% trọng lượng cơ thể là nước, trong đó 40% là dịch ngoại bào so với tỷ lệ tương ứng ở người lớn là 50-60% và 20% [38], [89] Tổng lượng nước trong cơ thể và tỷ lệ dịch ngoại bào so với trọng lượng cơ thể giảm dần theo độ tuổi Các thuốc có hệ số lipid/nước lớn có thể tích phân bố ít khác biệt giữa trẻ nhỏ và người lớn trong khi các thuốc tan nhiều trong nước có sự khác biệt rõ rệt [4] Do đó, để đạt được nồng độ tương đương trong huyết tương, các thuốc tan nhiều trong nước như aminoglycosid khi sử dụng trên trẻ nhỏ cần liều (tính theo mg/kg cân nặng) cao hơn [4]
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến phân bố thuốc là liên kết thuốc - protein huyết tương Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nồng độ albumin và α1 acid glycoprotein thấp hơn so với người lớn nên có liên kết của nhiều loại thuốc với các protein này giảm như thuốc tê, diazepam, phenytoin, ampicilin và phenobarbital Nồng độ thuốc
tự do tăng có thể làm tăng tác dụng cũng như tăng độc tính của thuốc [38] Đến sau
1 tuổi, nồng độ protein huyết tương của trẻ đạt mức của người lớn [89]
Sự liên kết của thuốc với các mô khác nhau của cơ thể thay đổi theo độ tuổi
Ví dụ, digoxin liên kết với hồng cầu ở trẻ sơ sinh cao hơn so với người lớn có thể
do số lượng vị trí liên kết ở hồng cầu cao hơn ở trẻ sơ sinh [89]
Trang 166
c Chuyển hóa thuốc
Gan là cơ quan chính thực hiện chức năng chuyển hóa thuốc Hầu hết các thuốc được chuyển hóa tại gan từ các chất thân lipid thành các hợp chất phân cực hơn và dễ bị thải trừ qua thận [89] Do hệ enzym ở trẻ nhỏ chưa hoàn thiện nên tốc
độ chuyển hóa thuốc của trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ sơ sinh yếu hơn rõ rệt so với người lớn dẫn đến thời gian bán thải của thuốc kéo dài hơn [4], [112] Sự hoàn thiện các hệ enzym theo lứa tuổi có sự dao động mạnh và chưa có dữ liệu nghiên cứu đầy đủ về quy luật này [4]
Ngoài ra, đối với một số thuốc, con đường chuyển hóa thứ yếu ở người lớn lại đóng vai trò là con đường chuyển hóa chủ yếu ở trẻ em để bù trừ cho sự thiếu hụt các con đường chuyển hóa khác Ví dụ, paracetamol được chuyển hóa ở người lớn chủ yếu qua con đường glucuronid hóa nhưng do thiếu enzym này nên thuốc được chuyển hóa chủ yếu theo con đường liên hợp với sulfat ở trẻ em [4], [96]
d Thải trừ thuốc qua thận
Con đường chính thải trừ thuốc ra khỏi cơ thể là thận [4], [89] Ở trẻ sơ sinh, cấu tạo và chức năng của thận chưa hoàn chỉnh nên khả năng bài tiết của thận hạn chế [47] Trẻ sơ sinh dưới 1 tuần tuổi đòi hỏi khoảng thời gian dùng thuốc kéo dài hơn [96] Khả năng lọc cầu thận của trẻ dưới 6 tháng tuổi kém hơn so với người lớn nhưng có thể bù trừ do quá trình tái hấp thu tại ống thận cũng giảm sút rõ rệt Cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng những thuốc có phạm vi điều trị hẹp trên trẻ em để tránh quá liều và cần kéo dài khoảng cách đưa thuốc để thận kịp đào thải thuốc, tránh hiện tượng tích lũy thuốc Thông thường, sau 8 tháng tuổi, chức năng bài tiết của thận của trẻ sẽ đạt được mức của người lớn [4]
1.1.2.2 Thay đổi dược lực học của thuốc trên trẻ em
Những dữ liệu về thay đổi dược lực học của thuốc trên trẻ em trong quá trình phát triển hiện còn rất hạn chế [112] Dược động học và dược lực học có mối liên quan lẫn nhau như sự thay đổi về liên kết protein huyết tương hay khả năng thâm nhập mô có thể dẫn đến sự thay đổi nồng độ thuốc dẫn đến thay đổi đáp ứng của cơ thể với thuốc [96] Sự phát triển và hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể và số lượng receptor có sự thay đổi lớn theo độ tuổi và có ảnh hưởng đến sự đáp ứng của cơ thể
Trang 177
với thuốc Ví dụ, ở trẻ nhỏ các receptor opioid phát triển nhiều tại tủy xương và cầu não là những nơi có trung tâm hô hấp và tim mạch so với các phần khác của não bộ Kết quả quan sát lâm sàng cho thấy tỷ lệ cao suy hô hấp và chậm nhịp tim ở những trẻ sơ sinh sử dụng opioid để giảm đau [112]
Một ví dụ khác liên quan đến sự khác biệt dược lực học trong quá trình phát triển là đáp ứng cao hơn với thuốc ức chế miễn dịch cyclosporin ở trẻ sơ sinh Nồng
độ thuốc sử dụng trên trẻ sơ sinh tại đó ức chế 50% bạch cầu đơn nhân máu ngoại vi chỉ bằng một nửa so với người lớn Cơ chế chính xác để giải thích cho hiện tượng này còn chưa được biết rõ [112] Trẻ em đặc biệt nhạy cảm với một số thuốc và tình trạng ngộ độc đã được ghi nhận như phản ứng rối loạn trương lực cơ cấp tính hoặc
co giật liên quan đến việc sử dụng metoclopramid và pronclorperazin (thuốc đối kháng dopamin 2); phản ứng tăng thân nhiệt quá mức với thuốc kháng cholinergic như atropin, scopolamin và tăng nguy cơ ngừng tim đột ngột đã được ghi nhận ở trẻ
mắc loạn nhịp nhanh trên thất được điều trị bằng verapamil [112]
1.1.3 Những tồn tại trong việc sử dụng thuốc trên trẻ em
Trẻ em thường không được lựa chọn là đối tượng của các thử nghiệm lâm sàng Do đó, nhiều thuốc có rất ít thông tin về hiệu quả và độ an toàn trên trẻ em nhưng đã được sử dụng rộng rãi trong Nhi khoa Dữ liệu về độ an toàn của thuốc còn hạn chế, thiếu các nghiên cứu trên đối tượng này, thiếu dạng thuốc sử dụng chuyên biệt và việc sử dụng thuốc ngoài chỉ định (off-label) là những vấn đề nổi bật còn tồn tại về vấn đề sử dụng thuốc trên trẻ em [58], [112]
Tình trạng thiếu dữ liệu về an toàn thuốc và sử dụng thuốc ngoài chỉ
Trang 18khoa [58]
Thiếu dạng thuốc sử dụng cho trẻ em
Công thức bào chế phù hợp luôn là một vấn đề khó khăn trong sản xuất thuốc cho trẻ em Thuốc dành cho trẻ em cần sử dụng các loại tá dược đặc biệt để hòa tan dược chất rắn thành dạng thuốc lỏng, chất bảo quản để ổn định hay các chất tạo ngọt và che giấu mùi vị khó chịu của dược chất Điều này làm cho việc tạo ra công thức bào chế thuốc dành riêng cho trẻ em thường tốn kém và gây nhiều khó khăn cho nhà sản xuất Ngoài ra, các thuốc dạng lỏng thường khó bảo quản hơn các dạng thuốc rắn và có tuổi thọ ngắn hơn [58] Do thiếu các thuốc dành riêng cho trẻ nhỏ, dược sĩ, nhân viên y tế chăm sóc trẻ và cha mẹ đôi khi tự tạo ra các chế phẩm thuốc sử dụng cho trẻ mà không có thông tin về sinh khả dụng, tương tác thuốc – thức ăn hoặc với chất lỏng sử dụng để pha chế [58], [98], [112] Một số dạng bào chế rắn phù hợp cho bệnh nhân nhi cũng đã được phát triển như dạng bột, dạng hạt cốm Tuy nhiên, những dạng thuốc này không phải lúc nào cũng sẵn có với mọi loại thuốc sử dụng trên trẻ em Một nghiên cứu tại Úc cho thấy 22-27% thuốc chỉ định cho bệnh nhân nhi thiếu dạng bào chế phù hợp [103] Trong một số trường hợp, việc sử dụng cho trẻ em những thuốc của người lớn bằng cách pha loãng thuốc dạng dung dịch, bẻ nhỏ hoặc nghiền nát thuốc dạng rắn để sử dụng với lượng nhỏ hoặc dùng cùng thực phẩm có thể dẫn đến các sai sót hành chính như tốc độ tiêm truyền,
Trang 199
sai sót trong việc tính toán liều và pha loãng Đối với một số dạng thuốc rắn, việc bẻ nhỏ hoặc nghiền nát có thể gây phá hủy cấu trúc của chế phẩm ảnh hưởng đến việc giải phóng hoạt chất và điều trị cho bệnh nhi [112]
Ngoài ra, trong các chế phẩm thương mại của thuốc ngoài dược chất chính còn chứa các tá dược như chất bảo quản, dung môi hòa tan… Mặc dù hầu hết các tá dược không gây ảnh hưởng đến người dùng, đặc biệt người lớn nhưng ADR liên quan đến một số tá dược đã được ghi nhận trên trẻ em [96] Năm 1937, elixir chứa sulphanilamid sử dụng dung môi diethylen glycol đã gây tử vong trên 100 bệnh nhân tại Mỹ, phần lớn trong đó là trẻ em [46] Dung môi này tiếp tục gây bùng phát các ca tử vong ở trẻ em điều trị bằng xiro chứa paracetamol tại Nam Phi năm 1967 [24], tại Bangladesh năm 1990 [52], Ấn Độ năm 1998 [97], và tại Nigeria năm 1990 [77] và năm 2008 [23]
Biến cố bất lợi khi sử dụng thuốc ghi nhận trên trẻ em trong lịch sử Y
khoa và từ các nghiên cứu
Năm 1959, hội chứng xanh xám dẫn đến tử vong liên quan đến việc dùng liều cao cloramphenicol trên trẻ sơ sinh đã được mô tả với các biểu hiện nôn mửa, suy hô hấp, chướng bụng, tiêu chảy, hạ thân nhiệt, xanh tái thậm chí gây tử vong [28], [38] Trẻ sơ sinh có thể tích lũy cloramphenicol với nồng độ rất cao trong mô
do chức năng của chuyển hóa thuốc theo con đường liên hợp của gan còn kém [96]
Năm 1961, dị tật phát triển chi được phát hiện trên trẻ sơ sinh của các bà mẹ dùng thalidomid để điều trị buồn nôn và mất ngủ trong thai kỳ Thalidomid sau đó
đã bị rút khỏi thị trường [71]
Năm 1979, acid valproic được ghi nhận gây nhiễm độc gan dẫn đến hậu quả
tử vong trên nhiều trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 3 tuổi [35], [36]
Năm 1980, hội chứng Reye’s liên quan đến salicylat đã được ghi nhận và thuốc này không còn được sử dụng để giảm đau, hạ sốt trên trẻ em [100]
Năm 2004, Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) khuyến cáo việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm có thể làm tăng nguy cơ tự tử trên người trẻ tuổi [43]
Trang 20Các ADR trên trẻ em đã được ghi nhận trong các nghiên cứu với tỷ lệ đáng chú ý Một nghiên cứu quan sát tiến cứu tại Anh cho thấy ADR là nguyên nhân gây nhập viện trên 2,9% số bệnh nhân nhi, trong đó 17,7% được ghi nhận là sử dụng thuốc ngoài cộng đồng và 82,3% sử dụng thuốc trong bệnh viện [45] Tổng quan hệ thống từ sáu nghiên cứu tiến cứu trên bệnh nhân nhi cho thấy 1,8% số trường hợp trẻ nhập viện do nguyên nhân gặp phải ADR và 10,9% số trẻ em nhập viện gặp ADR [31]
1.2 Các phương pháp phát hiện và theo dõi biến cố bất lợi của thuốc
Mục tiêu chính của việc cải thiện tính an toàn trong chăm sóc sức khỏe là giảm thiểu tổn hại trên bệnh nhân [17], [25], [60], [61], [62], [64] Trước đây, những nỗ lực cải thiện hệ thống y tế thường tập trung vào việc phát hiện các sai sót trong thực hành y khoa Tuy nhiên, các tài liệu cho thấy trong nhiều trường hợp, sai sót trong y khoa không gây tổn hại trên bệnh nhân, gây tổn hại không nghiêm trọng hoặc thường được phát hiện trước khi dẫn đến hậu quả trên bệnh nhân [60], [61], [62], [90] Một trong những sai sót thường gặp là việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân muộn hơn hoặc sớm hơn so với thời gian quy định, thậm chí có những trường hợp
sử dụng sai thuốc cho bệnh nhân nhưng không gây hậu quả đáng kể Ví dụ, cán bộ y
tế sử dụng sai một lượng nhỏ diphenhydramin cho bệnh nhân nhưng không gây ra biến cố nào Việc tập trung vào các sai sót trong y khoa thường gắn liền với yếu tố
cá nhân, quy kết trách nhiệm cá nhân và các biện pháp kỷ luật liên quan dẫn đến tâm lý e ngại của cán bộ y tế [21], [85] Thuốc là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây biến cố trên bệnh nhân [17], [32], [90], [116] Một phân tích meta cho rằng biến cố bất lợi của thuốc là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong trên bệnh nhân đứng thứ 4 và thứ 6 ở Hoa Kỳ [63] Ngoài ra, tại Hoa Kỳ, ước tính rằng mỗi biến cố
Trang 2111
bất lợi của thuốc làm tăng thời gian nằm viện khoảng từ 1,91 đến 2,2 ngày, và làm tăng đáng kể chi phí điều trị [18], [30] Hiện nay, công tác cải thiện độ an toàn và hiệu quả của dịch vụ y tế hướng tới việc định lượng tổn hại trên bệnh nhân thay vì tập trung vào phát hiện sai sót trong y khoa [106] Hướng tiếp cận này cho thấy ưu thế hơn do lấy mục tiêu là bệnh nhân, tập trung cải thiện toàn bộ hệ thống y tế chứ không nhằm vào yếu tố cá nhân và quy kết trách nhiệm; do đó, làm giảm mối e ngại của cán bộ y tế Từ đó, bệnh nhân được chăm sóc toàn diện, hiệu quả và an toàn hơn [21], [85]
Việc đánh giá tổn hại trên bệnh nhân được thực hiện thông qua việc phát hiện và theo dõi các biến cố bất lợi trên bệnh nhân; đặc biệt là các biến cố bất lợi do thuốc Hiện nay, hai phương pháp được sử dụng nhiều nhất để phát hiện và theo dõi
biến cố bất lợi của thuốc tại bệnh viện là báo cáo biến cố bất lợi của thuốc và rà
soát bệnh án để phát hiện biến cố bất lợi của thuốc [65], [86], [90], [93], [94]
1.2.1 Phương pháp báo cáo biến cố bất lợi của thuốc
Cho đến nay, báo cáo biến cố bất lợi của thuốc trong quá trình sử dụng thuốc trên bệnh nhân vẫn là phương pháp thu thập dữ liệu về độ an toàn của thuốc phổ biến nhất [9], [54], [88] Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, chi phí thực hiện thấp, có thể áp dụng rộng rãi với tất cả các thuốc ở mọi thời điểm với số lượng dân
số lớn và không phân biệt đối tượng bệnh nhân [107], [111] Tuy nhiên, phương pháp thu thập dữ liệu này đạt hiệu quả không cao do tình trạng báo cáo thiếu so với thực tế (underreporting) [56], [107] Tỷ lệ báo cáo thiếu ước tính lên tới 90-95% [56], [117]
1.2.1.1 Tình trạng báo cáo thiếu trong thực hành
Bệnh nhân thường phát hiện ra những bất thường sau khi sử dụng thuốc trước cán bộ y tế; tuy nhiên, do thiếu những kiến thức y khoa, tỷ lệ báo cáo biến cố
từ bệnh nhân thấp hơn so với từ cán bộ y tế Trong một khảo sát tại Hà Lan tiến hành thông qua bộ câu hỏi được phát đến cho tất cả các bác sĩ và bệnh nhân của họ cho thấy 86% số bác sĩ báo cáo ADR so với tỷ lệ này ở bệnh nhân là 70% [79]
Tuy nhiên, số ADR được cán bộ y tế báo cáo vẫn thấp hơn nhiều so với thực
tế Kết quả một nghiên cứu tại Pháp đưa ra hệ số báo cáo thiếu là 24 433, nghĩa là
Trang 2212
chỉ một trong số mỗi 24 433 ADR được báo cáo đến trung tâm Cảnh giác Dược [73] Trong một nghiên cứu tại Anh, tỷ lệ ADR được báo cáo ghi nhận là 6% [68]
1.2.1.2 Những nguyên nhân gây tình trạng báo cáo thiếu
Nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng báo cáo thiếu đã được ghi nhận, trong
đó được biết đến nhiều là 7 lý do do Inman liệt kê mà được gọi là ―7 tội lỗi chết người‖ bao gồm [59]:
- Thiếu hiểu biết về sự cần thiết của việc báo cáo
- Thiếu tự tin báo cáo khi mới chỉ nghi ngờ
- Không quan tâm đến đóng góp chung cho việc nâng cao nhận thức
- Niềm tin sai lầm rằng chỉ có thuốc an toàn mới được cấp phép
- Lo sợ (ví dụ: kiện tụng)
- Tham vọng thu thập và công bố một loạt ca cho mục đích công bố cá nhân
- Cảm giác tội lỗi vì đã gây ra một ảnh hưởng xấu
Ngoài ra nhiều lý do khác như biến cố bất lợi của thuốc được biết quá rõ hoặc không đáng để báo cáo, thiếu mẫu báo cáo, không có thời gian, không biết cách báo cáo, không chắc chắn mối quan hệ nhân quả, hệ thống báo cáo không thuận lợi… cũng được xác định trong các nghiên cứu [55], [82], [105]
1.2.1.3 Vai trò nhận thức và thái độ của cán bộ y tế trong hoạt động báo cáo ADR
Cán bộ y tế là đối tượng chính quyết định hiệu quả của hoạt động Cảnh giác Dược nói chung và hoạt động báo cáo ADR nói riêng Trong đó, các đối tượng khác nhau tham gia với các mức độ khác nhau vào các hoạt động này Tại Mỹ, 68% báo cáo ADR nghiêm trọng được gửi bởi dược sĩ [13] Tại Hà Lan, 40% báo cáo ADR đến từ các dược sĩ hiệu thuốc cộng đồng, nội dung các báo cáo này thường tập trung trên các ADR dễ phát hiện, chất lượng báo cáo thấp hơn không đáng kể so với chất lượng báo cáo của bác sĩ [104] Còn tại Việt Nam, 60 - 68% số báo cáo ADR được gửi bởi bác sĩ, số báo cáo từ dược sĩ chỉ chiếm khoảng 11,3 - 16,2% [6]
Trong các nguyên nhân gây báo cáo thiếu, một trong những nguyên nhân được nhắc đến thường xuyên nhất và có ảnh hưởng lớn nhất là hạn chế về nhận thức
và thái độ của cán bộ y tế với hoạt động báo cáo ADR [67], [78] Cán bộ y tế chưa
Trang 2313
tích cực tham gia vào hệ thống báo cáo ADR tự nguyện với nhiều nguyên nhân như:
sự thờ ơ, thiếu quan tâm với báo cáo ADR kể cả khi gặp ADR nghiêm trọng, chưa
có thói quen báo cáo ADR, tâm lý e ngại bị liên lụy hoặc quy kết trách nhiệm vì việc báo cáo của mình và vì vi phạm tính bảo mật bệnh án của bệnh nhân [20], [26], [53]
Nhận thức của cán bộ y tế về tầm quan trọng và phạm vi giám sát của Cảnh giác Dược còn hạn chế Tại nhiều quốc gia, công tác đào tạo, tập huấn về Cảnh giác Dược vẫn chưa được triển khai rộng khắp dẫn đến các hạn chế trong nhận thức của cán bộ y tế Nhiều nơi cán bộ y tế thiếu kiến thức về việc báo cáo ADR như không biết viết báo cáo ADR như thế nào và nộp báo cáo ADR ở đâu [20], [53], [81] Một nghiên cứu tiến hành tại Canada đã tổng kết những trở ngại lớn nhất của việc báo cáo ADR bao gồm các cán bộ y tế coi Cảnh giác Dược là việc siêu tưởng, phi hiện thực, coi cơ quan quản lý báo cáo là xa vời và họ cũng không chắc chắn về thẩm quyền của mình trong việc báo cáo ADR [75] Nhiều cán bộ y tế quan niệm ADR của thuốc đã được nghiên cứu đầy đủ trước khi thuốc được đưa vào thị trường và cho rằng chỉ nên báo cáo ADR nếu chắc chắn rằng biến cố đó liên quan đến việc sử dụng thuốc [57] Rào cản của việc báo cáo ADR có thể là sự thiếu tự tin, lo lắng việc báo cáo có vẻ sẽ vô lý khi chỉ là nghi ngờ một trường hợp ADR hoặc khi mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và biến cố bất lợi là khó xác định [81] Cán bộ y tế cũng có thể lo ngại rằng nếu chỉ báo cáo một ca đơn lẻ sẽ không thể đóng góp gì cho kiến thức y học, hay một số người có tham vọng giữ thông tin và đăng tải một chùm ca về ADR cho cá nhân mình [20], [39]
1.2.2 Phương pháp rà soát bệnh án để phát hiện biến cố bất lợi của thuốc
1.2.2.1 Giới thiệu:
Trong phương pháp rà soát bệnh án để phát hiện biến cố bất lợi của thuốc, các bệnh án được rà soát bởi cán bộ y tế được đào tạo hoặc bởi một hệ thống rà soát điện tử để phát hiện những vấn đề trong sử dụng thuốc, có thể được thực hiện hồi cứu hoặc tiến cứu [65], [94] Có hai hình thức rà soát bệnh án là rà soát toàn bộ
bệnh án không tập trung và rà soát bệnh án tập trung sử dụng bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc[65], [86], [90],[93], [94], [102]
Trang 2414
Hình thức rà soát bệnh án không tập trung rà soát toàn bộ bệnh án nên có ưu
điểm là thông tin đầy đủ, cán bộ y tế không cần đào tạo chuyên sâu, không cần xây dựng một bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc Nhược điểm của hình thức
rà soát này là mất thời gian, tốn kém, tốn nhân lực, hiệu quả thấp do phải rà soát toàn bộ thông tin trong bệnh án để phát hiện biến cố bất lợi của thuốc trong khi đó
có rất nhiều biến cố hiếm gặp [65] Ngoài ra, hình thức rà soát này không đưa ra một bộ công cụ thống nhất để so sánh giữa những người đánh giá khác nhau, giữa những giai đoạn khác nhau tại cùng một đơn vị và giữa những đơn vị khác nhau [86], [90]
Hình thức rà soát bệnh án tập trung sử dụng bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc sử dụng một cách tiếp cận thống nhất thông qua bộ công cụ để
phát hiện biến cố bất lợi của thuốc và do đó có thể được sử dụng để xác định xu hướng và đánh giá hiệu quả cải thiện an toàn thuốc của đơn vị Bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc giúp theo dõi và phát hiện tất cả các biến cố nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, có thể phòng tránh được hay không [94] Ưu điểm của hình thức rà soát này là có thể tiến hành với số lượng bệnh án lớn hơn, tiết kiệm thời gian, nhân lực và tiền bạc Hình thức này có thể được áp dụng rộng rãi thông qua một bộ công cụ được xây dựng trước, có thể được hiệu chỉnh để phù hợp với các đối tượng và môi trường áp dụng khác nhau Tuy nhiên, hình thức rà soát bệnh
án này yêu cầu cán bộ y tế cần được đào tạo tập huấn chuyên sâu và cần phát triển một bộ công cụ phù hợp Với những ưu điểm nổi trội trên, hình thức rà soát bệnh án tập trung sử dụng bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc là hình thức đang được áp dụng ngày càng phổ biến [65], [94], [102]
1.2.2.2 Rà soát bệnh án tập trung sử dụng bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc:
Bộ công cụ phát hiện biến cố là một danh sách các tín hiệu được sử dụng nhằm phát hiện và theo dõi những biến cố liên quan đến việc sử dụng thuốc xảy ra trên bệnh nhân Mỗi tín hiệu cụ thể trong bộ công cụ có thể là sự chỉ định của một
số loại thuốc giải độc, các giá trị xét nghiệm bất thường hay việc đột ngột dừng thuốc… Sau khi phát hiện các tín hiệu này trong hồ sơ bệnh án, các cán bộ y tế sẽ
Trang 2515
tiến hành rà soát các phần có liên quan của bệnh án một cách kỹ lưỡng hơn để phát hiện xem có biến cố xảy ra trên bệnh nhân không, từ đó giúp đưa ra cảnh báo về các biến cố tiềm năng trên bệnh nhân và giúp định hướng cho những nỗ lực để cải thiện
hệ thống y tế [69] Ví dụ: khi phát hiện ra tín hiệu sử dụng naloxon cho bệnh nhân, cán bộ y tế sẽ tiến hành rà soát bệnh án xem có biến cố bất lợi do opioid gây ra như suy hô hấp hay không Nếu tại đơn vị ghi nhận biến cố này với tỷ lệ cao bất thường, cần triển khai các biện pháp thúc đẩy việc sử dụng opioid hợp lý, hiệu quả và an toàn nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro trên bệnh nhân Tương tự như vậy, sự hiện diện của các giá trị xét nghiệm nằm ngoài phạm vi bình thường có thể được sử dụng như một tín hiệu [65]
Phương pháp rà soát bệnh án tập trung sử dụng bộ công cụ phát hiện biến cố
là một phương pháp đầy tiềm năng và cho phép xác định tỷ lệ biến cố bất lợi trên bệnh nhân cao hơn hẳn so với các phương pháp đã sử dụng trước đây Một số nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ phát hiện biến cố cho thấy phương pháp này cho phép xác định số biến cố cao gấp 5 lần so với báo cáo biến cố và một số nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ này ghi nhận là
10 lần [76], [94] Phương pháp rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ phát hiện biến
cố cho phép phát hiện tới 90% biến cố bất lợi trên bệnh nhân, trong khi đó phương pháp rà soát bệnh án không tập trung chỉ cho phép xác định 10% biến cố và chỉ có 1% biến cố được báo cáo thông qua hệ thống báo cáo biến cố tự nguyện [29]
1.2.2.3 Bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc của tổ chức IHI
Bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc của Viện Nghiên cứu tăng cường chăm sóc sức khỏe (Institute for Healthcare Improvement - IHI) được phát triển bởi một nhóm chuyên gia của Viện vào năm 2000 Bộ công cụ này đã được áp dụng bởi nhiều tổ chức y tế để phát hiện và theo dõi ADE trên bệnh nhân do có ưu điểm là đơn giản và chi phí thấp [49], [90] Bộ công cụ phát hiện ADE của IHI đã được sử dụng tại nhiều quốc gia ở Bắc Mỹ [70], Vương quốc Anh [14], [44], Châu
Âu [83], Châu Á [15], [84], Châu Phi [41] và Australia/New Zealand [94] Từ bộ công cụ ban đầu của tổ chức IHI, các đơn vị đã điều chỉnh và phát triển thành những phiên bản chuyên sâu hơn sử dụng trong các lĩnh vực ngoại khoa [50], ung thư [66],
Trang 26hệ thống phân loại được phát triển bởi Ban Điều phối Quốc gia về báo cáo và ngăn ngừa sai sót do thuốc (National Coordinating Council for Medication Error Reporting and Prevention - NCC MERP) [120]
Các bước rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ phát hiện ADE của tổ chức IHI được thể hiện trong sơ đồ hình 1.1 [11], [49], [65], [93], [102]:
Hình 1.1 Sơ đồ các bước rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ phát hiện ADE
của tổ chức IHI
1.2.2.4 Bộ công cụ phát hiện ADE dành riêng cho Nhi khoa
Mặc dù phương pháp sử dụng bộ công cụ phát hiện ADE được chứng minh
là có hiệu quả, một bộ công cụ phát hiện biến cố chung để phát hiện ADE không thể phù hợp với tất cả các đối tượng bệnh nhân Để đạt được hiệu quả cao nhất, tùy vào từng đối tượng bệnh nhân và hoàn cảnh cụ thể, bộ công cụ xác định được điều chỉnh cho phù hợp Ví dụ, khi phát triển một bộ công cụ phát hiện ADE cho khoa Điều trị
Rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ để phát hiện các tín hiệu được mô tả trong bộ công cụ Lựa chọn ngẫu nhiên bệnh án
Xác định mức độ nghiêm trọng của ADE
Trang 27Một bộ công cụ phát hiện ADE dành riêng cho Nhi khoa đã được phát triển bởi Tập đoàn Sức khỏe Nhi khoa Hoa Kỳ (Child Health Corporation of America - CHCA) [119] và được áp dụng khá phổ biến tại nhiều cơ sở chăm sóc sức khỏe trẻ
em Quá trình phát triển bộ công cụ phát hiện biến cố dành riêng cho Nhi khoa gồm
sự rõ ràng, tính khả thi) để quyết định giữ lại, loại bỏ hoặc bổ sung vào bộ công cụ
Sau khi áp dụng bộ công cụ phát hiện ADE dành cho người lớn của IHI tại
12 bệnh viện nhi thuộc CHCA, 13 tín hiệu phát hiện ADE dành riêng cho người lớn
đã bị loại bỏ và 4 tín hiệu dành riêng cho trẻ em được bổ sung tạo nên bộ công cụ phát hiện ADE dành riêng cho trẻ em gồm 15 tín hiệu được trình bày trong bảng sau:
Trang 288 T16 Tăng nồng độ creatinin huyết thanh
9 T21 An thần quá mức/ Hôn mê/ Mất trí nhớ/ Hạ huyết áp
11 T23 Đột ngột dừng thuốc
12 T25 Nồng độ glucose huyết thanh > 150 mg/dL
13 T26 Tăng kali huyết
14 T27 Tín hiệu cấp cứu (suy hô hấp, ngừng thở, ngừng tim,
bệnh nhân ICU cần đặt nội khí quản)
Một bác sĩ, điều dưỡng hoặc dược sĩ tại đơn vị đã được tập huấn về phương pháp rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ phát hiện ADE được chỉ định là người đánh giá đầu tiên Các bệnh án của bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên trên được
rà soát tại đơn vị để phát hiện sự có mặt của các tín hiệu đã được mô tả trong bộ công cụ Mỗi bệnh án có tín hiệu được phát hiện sẽ được rà soát kỹ lưỡng để xem xét sự có mặt của ADE liên quan Ngoài ra, người tham gia rà soát bệnh án cũng được tập huấn để ghi nhận các ADE không có mối liên quan với các tín hiệu được
mô tả trong bộ công cụ Tất cả các tín hiệu và ADE phát hiện được từ bệnh án đều được ghi nhận lại Các ADE sau đó được đánh giá mức độ nghiêm trọng dựa trên hệ thống phân loại của NCC MERP [120]
Trang 2919
Ngoài ra, các ADE ghi nhận được đánh giá về loại biến cố ghi nhận, nhóm thuốc liên quan, chẩn đoán chính khi ra viện, khả năng có thể phòng tránh được, khả năng có thể phát hiện sớm hơn … Việc đánh giá ADE của người đánh giá thứ nhất được xem xét lại bởi người đánh giá thứ hai Người đánh giá thứ hai sẽ kiểm tra lại kết quả đánh giá của người thứ nhất, tóm tắt lại biến cố và các thông tin lâm sàng liên quan dẫn đến việc khẳng định hay phủ nhận ADE xảy ra trên bệnh nhân
và mức độ nghiêm trọng của ADE Trong trường hợp kết quả giữa hai người đánh giá không thống nhất, ý kiến của người đánh giá thứ hai được coi là kết luận cuối cùng
Sau khi hoàn thiện việc đánh giá, các dữ liệu được gửi về trung tâm tập hợp tại CHCA Các dữ liệu được xem xét về mức độ hoàn thiện và thống nhất Trong trường hợp các dữ liệu nhận được không thống nhất hoặc không rõ ràng, dữ liệu được chuyển lại người đánh giá tại đơn vị để giải quyết
1.3 Giới thiệu về Bệnh viện Nhi Trung ương và hoạt động báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Bệnh viện Nhi Trung ương được thành lập từ năm 1969 với tên gọi là Viện Bảo vệ Sức khoẻ Trẻ em, năm 1997 được đổi tên là Viện Nhi, tên gọi hiện nay có quyết định chính thức vào tháng 06 năm 2003 Trong khoảng giữa các giai đoạn trên, Viện còn có các tên gọi không chính thức là Bệnh viện Nhi Việt Nam – Thuỵ Điển và Viện Nhi Olof Palmer [118]
Bệnh viện Nhi Trung ương là bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối có quy mô
1200 giường bệnh điều trị khoảng 67000 bệnh nhân nội trú mỗi năm Bệnh viện có
30 khoa lâm sàng, 11 khoa cận lâm sàng và 1 viện trực thuộc Bệnh viện có nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học sáng tạo, dám nghĩ dám làm, đã phẫu thuật và điều trị thành công nhiều trường hợp khó và phức tạp như mổ tách các cặp song sinh, ghép thận, ghép tủy xương, phẫu thuật tim hở, phẫu thuật cong vẹo cột sống bẩm sinh… cho trẻ em [118]
Nằm trong khoa Dược của bệnh viện, tổ Dược lâm sàng không chỉ đảm nhiệm việc duyệt thuốc cho các khoa/phòng mà còn kiểm tra giám sát sử dụng
Trang 30và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc Đồng thời, khoa Dƣợc cũng liên hệ với công ty cung cấp thuốc đó về các ADR đã xảy ra Tổng số báo cáo ghi nhận tại Khoa Dƣợc trong giai đoạn 2010-2013 là 46 báo cáo đƣợc thực hiện bởi 32 cán bộ y
tế trong bệnh viện
Trang 3121
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Khảo sát tình hình báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2010 – 2013
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các báo cáo ADR được lưu trữ tại khoa Dược – Bệnh viện Nhi Trung ương có thời gian xảy ra phản ứng ADR từ tháng 01/2010 đến hết tháng 12/2013
- Tiêu chuẩn lựa chọn: các báo cáo ADR được lưu trữ tại khoa Dược – Bệnh viện Nhi Trung ương có thời gian xảy ra phản ứng ADR từ tháng 01/2010 đến hết tháng 12/2013
- Tiêu chuẩn loại trừ: các báo cáo ADR không có thông tin về thuốc nghi ngờ và/hoặc không có thông tin về ADR
2.1.2 Tìm hiểu nhận thức, thái độ của cán bộ y tế đối với hoạt động Cảnh giác Dược ở Bệnh viện Nhi Trung ương
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bác sĩ và điều dưỡng tại 30 khoa lâm sàng của Bệnh viện Nhi Trung ương
2.1.3 Xác định khả năng phát hiện các biến cố bất lợi của thuốc thông qua hoạt động giám sát tích cực của Dược sĩ lâm sàng sử dụng một bộ công cụ phát hiện biến cố tại bệnh viện
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh án của các bệnh nhân điều trị nội trú tại tất cả các khoa lâm sàng của Bệnh viện Nhi Trung ương trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2014 đến hết ngày 10/01/2014
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh án của các bệnh nhân điều trị nội trú tại tất cả các khoa lâm sàng của Bệnh viện Nhi Trung ương có ngày vào viện và ngày ra viện nằm trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2014 đến hết ngày 10/01/2014 và có số ngày điều trị ≥ 2 ngày
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh án các khoa phòng chưa trả, bệnh án bệnh nhân tái nhập viện nên các khoa phòng mượn lại để theo dõi, bệnh án mượn cho nghiên cứu khác
Trang 3222
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khảo sát tình hình báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2010 – 2013
Nghiên cứu mô tả hồi cứu dữ liệu từ các báo cáo ADR được lưu trữ tại khoa Dược – Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2010 – 2013
- Các tiêu chí được mô tả bao gồm:
1) Thông tin chung về báo cáo ADR
Số lượng báo cáo ADR qua các năm, tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng
Tỷ lệ phân bố bệnh nhân theo giới tính, nhóm tuổi
Đối tượng gửi báo cáo ADR
Chất lượng báo cáo ADR qua các năm
2) Thông tin về thuốc nghi ngờ
Thuốc nghi ngờ gây ADR được mã hóa theo hệ thống phân loại ATC [72] Các nhóm thuốc nghi ngờ được báo cáo và tỷ lệ ADR nghiêm trọng trong từng nhóm
Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất
3) Thông tin về ADR
Biểu hiện ADR được mô tả bằng bộ thuật ngữ WHO – ART 2012 (Adverse Reaction Terminology) Mỗi biểu hiện ADR được chuẩn hóa ở mức PT (Prefered term) và mỗi PT được mã hóa bằng mã SOC (System Organ Classes) tương ứng (SOC là mã phân loại tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng) [110]
Phân loại tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng và tỷ lệ ADR nghiêm trọng ghi nhận với từng tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng
Các cặp thuốc nghi ngờ – biểu hiện ADR được báo cáo nhiều nhất
* Cách thức phân loại mức độ nghiệm trọng của ADR, phân nhóm tuổi bệnh nhi và đánh giá chất lượng báo cáo ADR:
a) Phân loại mức độ nghiêm trọng của ADR
Các ADR có hại ghi nhận được phân loại mức độ nghiêm trọng dựa theo hướng dẫn của WHO năm 2003 về phân loại độc tính để xác định mức độ nặng của
Trang 33mức độ nặng của biến cố bất lợi
Trường hợp 1: Báo cáo ADR có đủ thông tin về hậu quả để đánh giá mức
Để lại di chứng nặng nề hoặc vĩnh viễn cho người bệnh
Gây dị tật bẩm sinh ở thai nhi
Trường hợp 2: Báo cáo ADR không có đủ thông tin về hậu quả để xác
định mức độ nặng của ADR nhưng có đủ thông tin để xác định mức độ nặng của ADR theo bảng phân loại mức độ nặng của ADR dựa trên các chỉ số về vi sinh và bệnh nhiễm trùng trên đối tượng trẻ em (Division of microbiology and infectious diseases (DMID) pediatric toxicity tables - February 2003) [114]:
Mức độ nặng của ADR được phân loại theo bảng phân loại mức độ nặng của ADR dựa vào các chỉ số về vi sinh và bệnh nhiễm trùng trên đối tượng trẻ em gồm 2 phần:
Trang 3424
Dành cho nhóm đối tượng ≤ 3 tháng tuổi
Dành cho nhóm đối tượng > 3 tháng tuổi
Mức độ nặng của một ADR được phân ở các mức 1, 2, 3, 4 Các ADR xảy ra
ở mức 3 hoặc 4 được phân loại là ADR nghiệm trọng
Trường hợp 3: Báo cáo ADR không có đủ thông tin về hậu quả và không
có đủ thông tin để xác định mức độ nặng của ADR theo bảng phân loại mức độ nặng của ADR dựa trên các chỉ số về vi sinh và bệnh nhiễm trùng nhưng có đủ thông tin để xác định mức độ nặng của ADR theo cách chung phân loại mức độ nặng của ADR [114]:
Mức độ nặng của ADR được phân loại dựa theo cách chung, cụ thể như sau: Mức 1 – Nhẹ: khó chịu thoáng qua hoặc nhẹ (<48h), không cần can thiệp/điều trị
Mức 2 – Trung bình: hạn chế hoạt động mức độ nhẹ đến vừa, cần sự hỗ trợ, không can thiệp/điều trị hoặc can thiệp tối thiểu
Mức 3 – Nặng: hạn chế rõ rệt trong hoạt động, cần hỗ trợ/can thiệp/điều trị
y tế, có thể nhập viện
Mức 4 – Đe dọa tính mạng: hạn chế nhiều trong hoạt động, cần hỗ trợ/can thiệp/điều trị đáng kể, nhập viện hoặc chăm sóc tích cực
Các ADR có mức độ nặng 3 hoặc 4 được phân loại là ADR nghiêm trọng
Trường hợp 4: Báo cáo ADR không có đủ thông tin về hậu quả, không có
đủ thông tin để xác định mức độ nặng của ADR theo bảng phân loại mức độ nặng của ADR dựa trên các chỉ số về vi sinh và bệnh nhiễm trùng hoặc theo cách chung:
ADR được phân loại vào nhóm không đủ thông tin để phân loại mức độ nghiêm trọng
b) Phân chia nhóm tuổi của bệnh nhi
Tuổi của bệnh nhi được phân nhóm dựa theo hướng dẫn năm 2001 của Hội nghị quốc tế về hài hòa (International Conference on Harmonisation - ICH) các thủ tục đăng ký dược phẩm sử dụng cho người về lĩnh vực các chế phẩm thuốc sử dụng trên đối tượng trẻ em (Clinical investigation of medicinal products in the paediatric population) [40], cụ thể như sau:
Trẻ sơ sinh: ≤ 27 ngày
Trang 3525
Trẻ bú: 28 ngày – 23 tháng
Trẻ lớn: 2 – 11 tuổi
Trẻ vị thành niên: 12 - 17 tuổi
c) Đánh giá chất lượng báo cáo ADR
- Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoàn thành báo cáo (report completeness score) theo thang điểm VigiGrade của hệ thống Documentation grading thuộc Trung tâm theo dõi Uppsala của Tổ chức Y tế thế giới WHO (Trung tâm WHO – UMC) [19]
+ Điểm hoàn thành một báo cáo được tính bằng trung bình cộng điểm của các cặp thuốc – ADR trong báo cáo, với điểm hoàn thành báo cáo của một cặp thuốc – ADR được tính theo công thức:
C =Trong đó: C là điểm hoàn thành của một cặp thuốc – ADR
Pi là điểm phạt của mỗi trường thông tin bị thiếu (Chi tiết tham
khảo phụ lục 1)
+ Các báo cáo không có thông tin về thuốc nghi ngờ và/hoặc không mô tả biểu hiện ADR được xếp vào nhóm không đủ điều kiện đánh giá (0 điểm)
+ Điểm hoàn thành của một báo cáo thấp nhất là 0 và cao nhất là 1 Báo cáo
có điểm hoàn thành < 0,8 là báo cáo kém chất lượng và báo cáo có điểm hoàn thành
từ 0,8 đến 1 điểm là báo cáo chất lượng tốt
- So sánh chất lượng báo cáo ADR giữa các năm thông qua điểm hoàn thành báo cáo trung bình và số lượng báo cáo chất lượng tốt
2.2.2 Tìm hiểu nhận thức, thái độ của cán bộ y tế đối với hoạt động Cảnh giác Dược ở Bệnh viện Nhi Trung ương
Nghiên cứu mô tả cắt ngang không can thiệp, thông qua bộ câu hỏi dành cho các đối tượng bác sĩ và điều dưỡ
ương trong thời gian từ tháng 11 năm 2013 đến hết tháng 02 năm 2014
- Bộ câu hỏi tự điền bao gồm 14 câu hỏi được thiết kế dưới dạng câu hỏi có
nhiều lựa chọn, câu hỏi Có/Không và câu hỏi thăm dò (Chi tiết tham khảo phụ lục
2)
Bộ câu hỏi gồm các phần chính là:
Trang 3626
Thông tin chung về cán bộ y tế tham gia trả lời
Thông tin nhận thức của cán bộ y tế về ADR và tầm quan trọng của báo cáo ADR
Thông tin nhận thức của cán bộ y tế về cách thực hiện báo cáo ADR Thông tin về việc thực hành báo cáo ADR của cán bộ y tế
Biện pháp được cán bộ y tế đề xuất để cải thiện hoạt động báo cáo ADR
Bộ câu hỏi đảm bảo bí mật tên người trả lời và không phân biệt giữa các khoa lâm sàng
Bộ câu hỏi được phát tới các cán bộ của các khoa lâm sàng và trả lời trực tiếp tại buổi giao ban của khoa Sau khi phát bộ câu hỏi khoảng 15 phút, cán bộ nghiên cứu thu lại bộ câu hỏi Đối với cán bộ y tế vắng mặt hoặc đang trực, bộ câu hỏi sẽ được gửi lại và hẹn ngày đến thu
Đáp án đúng được xác định dựa trên các khái niệm, định nghĩa của WHO
và các quy định được ban hành trong các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Y tế Việt Nam [2], [114]
- Các tiêu chí được mô tả bao gồm:
Thông tin về số lượng bộ câu hỏi phát ra, thu về, tỷ lệ số bộ câu hỏi thu về Thông tin về đặc điểm đối tượng tham gia trả lời bộ câu hỏi: tuổi, giới tính,
số năm công tác, đối tượng
14 câu hỏi trong bộ câu hỏi khai thác 4 nội dung chính:
1) Nhận thức của cán bộ y tế về ADR và tầm quan trọng của báo cáo ADR
- Nhận thức về độ an toàn của các thuốc lưu hành trên thị trường
- Nhận thức về các nguyên nhân có thể gây ADR
- Nhận thức về khái niệm ADR
- Nhận thức về trách nhiệm báo cáo ADR
- Nhận thức về tầm quan trọng của báo cáo ADR và lý do tại sao việc báo cáo ADR lại quan trọng
2) Nhận thức của cán bộ y tế về cách thực hiện báo cáo ADR
- Nhận thức về mẫu báo cáo ADR hiện hành của Bộ Y tế
- Nhận thức về nơi cung cấp mẫu báo cáo ADR và nơi nhận báo cáo ADR
Trang 3727
- Nhận thức về các thông tin tối thiểu cần điền trong mẫu báo cáo ADR
3) Thực trạng công tác báo cáo ADR tại Bệnh viện Nhi Trung ương
- Tỷ lệ cán bộ y tế đã từng gặp ADR
- Tỷ lệ cán bộ y tế đã từng báo cáo ADR
- Các khó khăn khi thực hiện báo cáo ADR
- Các nguyên nhân không báo cáo ADR
4) Các biện pháp được cán bộ y tế đề xuất để cải thiện hoạt động báo cáo ADR
- Các biện pháp cải thiện hoạt động báo cáo ADR
2.2.3 Xác định khả năng phát hiện các biến cố bất lợi của thuốc thông qua hoạt động giám sát tích cực của Dƣợc sĩ lâm sàng sử dụng một bộ công cụ phát hiện biến cố tại bệnh viện
Nghiên cứu mô tả cắt ngang không can thiệp, sử dụng bộ công cụ phát hiện biến cố bất lợi của thuốc áp dụng trên bệnh nhân nhi gồm 12 tín hiệu dựa trên bộ công cụ ―Pediatric Trigger Toolkit: Measuring Adverse Drug Events in the Children’s Hospital‖ của Tập đoàn Sức khỏe Nhi khoa Hoa Kỳ (Child Health
Corporation of America - CHCA) (tham khảo mô tả chi tiết các tín hiệu trong bộ
công cụ trong phụ lục 3) [119]
Bảng 2.1 Bộ công cụ phát hiện ADE áp dụng trên bệnh nhân
sử dụng trong nghiên cứu STT Mã tín hiệu Mô tả tín hiệu
6 T16 Tăng nồng độ creatinin huyết thanh
7 T21 An thần quá mức/ Hôn mê/ Mất trí nhớ/ Hạ huyết áp
9 T23 Đột ngột dừng thuốc
10 T25 Nồng độ glucose huyết thanh > 150 mg/dL
11 T26 Tăng kali huyết
12 T28 Sử dụng thuốc nhuận tràng
Một dƣợc sĩ lâm sàng của bệnh viện sử dụng bộ công cụ phát hiện ADE trên bệnh nhân nhi để rà soát các bệnh án của bệnh nhân nhi điều trị nội trú có ngày vào
Trang 3828
viện và ngày ra viện nằm trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2014 đến hết ngày 10/01/2014 và có số ngày điều trị ≥ 2 ngày để phát hiện các tín hiệu được mô tả trong bộ công cụ Các bệnh án có tín hiệu được rà soát để xem xét có ADE xảy ra trên bệnh nhân hay không Các ADE sau đó được phân loại mức độ nghiêm trọng dựa trên hệ thống phân loại của NCC MERP [120], được trình bày trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Bảng hệ thống phân loại mức độ nghiêm trọng của ADE
theo NCC MERP STT Mức độ
nghiêm trọng
Mô tả
1 Loại E Gây tổn thương tạm thời và cần phải can thiệp
2 Loại F Gây tổn thương tạm thời và kéo dài thời gian điều trị
3 Loại G Gây tổn thương vĩnh viễn
4 Loại H Đe dọa tính mạng
5 Loại I Gây tử vong
Dược sĩ lâm sàng cũng tiến hành rà soát các bệnh án không phát hiện tín hiệu được mô tả trong bộ công cụ xem có ADE xảy ra trên bệnh nhân không Toàn bộ các tín hiệu và các ADE đều được dược sĩ ghi nhận
Sơ đồ mô tả tiến trình rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ phát hiện ADE trên bệnh nhân được thể hiện trên hình 2.2
Hình 2.2 Sơ đồ mô tả tiến trình rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ
phát hiện ADE trên bệnh nhân
Rà soát bệnh án sử dụng bộ công cụ để phát hiện các tín hiệu được mô tả trong bộ công cụ Lựa chọn ngẫu nhiên bệnh án
Xác định mức độ nghiêm trọng của ADE
Trang 3929
- Các tiêu chí được mô tả bao gồm:
1) Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, giới tính, số ngày điều trị, bệnh chính
2) Số lượng, tỷ lệ tín hiệu và ADE phát hiện trong bệnh án
Tổng số tín hiệu được phát hiện, số lượng và tỷ lệ mỗi tín hiệu
Tổng số ADE phát hiện và số ADE phát hiện từ các tín hiệu
Số tín hiệu trung bình/bệnh nhân
Số ADE/100 bệnh nhân, số ADE/1000 bệnh nhân - ngày
3) Chỉ số hiệu lực của bộ công cụ phát hiện ADE & từng tín hiệu thành phần của bộ công cụ
Giá trị dự đoán dương tính (PPV) =
4) Đặc điểm ADE phát hiện trong bệnh án và các thuốc nghi ngờ liên quan
+ ADE ghi nhận nhiều nhất
+ Thuốc nghi ngờ ghi nhận nhiều nhất
Trang 40Trong vòng bốn năm 2010 - 2013, khoa Dược - Bệnh viện Nhi Trung ương
đã nhận được và lưu trữ 46 báo cáo ADR từ các khoa phòng, trong đó có 1 báo cáo không có thông tin mô tả biểu hiện ADR, 45 báo cáo còn lại được chúng tôi đưa vào phân tích trong nghiên cứu Các báo cáo ADR sau đó được phân loại mức độ nghiêm trọng dựa theo Hướng dẫn của WHO năm 2003 về phân loại độc tính để xác định mức độ nặng của biến cố bất lợi [114] Kết quả về số lượng báo cáo các năm
và tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng và không nghiêm trọng các năm từ 2010 đến năm 2013 được thể hiện trên hình 3.1
Hình 3.1 Số lượng báo cáo và tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng
và không nghiêm trọng các năm 2010 - 2013
Trong giai đoạn 2010 - 2013, năm 2010 khoa Dược nhận được số lượng báo cáo ADR thấp nhất là 6 báo cáo Từ năm 2011 - 2013, số lượng báo cáo ADR tăng lên và ít có sự dao động, trong khoảng 12 - 14 báo cáo
Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng chiếm tỷ lệ cao trong tổng số báo cáo bốn năm cũng như số báo cáo từng năm, chiếm trên 60% Tỷ lệ báo cáo không