1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)

187 978 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 9,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục cây thuốc được trồng tại vườn gia đình xếp theo thứ tự tên khoa học 129 PHỤ LỤC 3: ẢNH MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỐC ĐƯỢC TRỒNG VÀ MỌC HOANG Ở KHU VỰC YÊN TỬ 139... Bảng 3.4 Danh sách c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGHIÊM ĐỨC TRỌNG

ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC

Ở VÙNG YÊN TỬ (QUẢNG NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGHIÊM ĐỨC TRỌNG

ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC

Ở VÙNG YÊN TỬ (QUẢNG NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

CHUYÊN NGÀNH DƯỢC LIỆU – DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN

Trang 3

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới:

- Tập thể cán bộ Bộ môn Thực vật – Trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong công việc, để tôi có thời gian hoàn thành nghiên cứu của mình

- Toàn thể Ban giám hiệu và Phòng Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Dược Hà Nội, các thầy cô Trường Đại học Dược Hà Nội dạy dỗ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

- Người dân ở khu vực Yên Tử đã nhiệt tình giúp đỡ và chia sẻ nhiều tri thức quý báu để tôi có thể hoàn thành được luận văn này

- Ban quản lý Khu Rừng Quốc gia Yên Tử tạo điều kiện trong việc thu thập mẫu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè của tôi, những người đã luôn ở bên cạnh giúp đỡ, động viên

và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu này

Hà Nội, tháng 9 năm 2014

Học viên

Nghiêm Đức Trọng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

1.1.2 Số loài cây thuốc được buôn bán trên thế giới 6

1.1.4 Số loài cây thuốc được trồng trọt trên thế giới 8

1.1.5 Tình hình sử dụng cây thuốc và các sản phẩm thảo

dược trên thế giới

1.2.3 Khai thác, sử dụng, và phát triển cây thuốc ở Việt

Nam

14

1.2.4 Điều tra cơ bản Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 15

2.2.1 Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc ở

Khu rừng quốc gia Yên Tử

24

2.2.3 Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc 26

Trang 5

2.2.4 Xác định tên khoa học của cây thuốc 27

3.1.1 Tính đa dạng của cây thuốc ở khu vực Yên Tử 29

3.1.2 Thảm thực vật và phân bố của cây thuốc ở khu vực

3.1.3 Tri thức sử dụng cây thuốc của cộng đồng khu vực

3.2 Trồng cây thuốc tại vườn gia đình các thầy lang 50

3.2.1 Tính đa dạng cây thuốc trong vườn gia đình 50

3.2.2 Các khó khăn trong việc trồng cây thuốc tại vườn

gia đình

57

4.1.1 Sự đa dạng của cây thuốc và phương pháp nghiên

4.2 Trồng cây thuốc tại vườn gia đình các thầy lang 62

PHỤ LỤC 1: CÁC BIỂU ĐIỀU TRA, BẢNG MÃ HÓA

THÔNG TIN SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

80

Phụ lục 1.1 Danh mục các hộ được điều tra vườn ở xã

Thượng Yên Công

81 Phụ lục 1.2 Phiếu phỏng vấn hộ và điều tra cây thuốc

Trang 6

Phụ lục 1.3 Biểu điều tra điều kiện sinh thái tự nhiên

của cây thuốc

84

Phụ lục 1.4 Bảng mã hóa các biến số của điều kiện sinh

Phụ lục 2.1 Danh mục cây thuốc ở khu vực Yên Tử (xếp

theo thứ tự tên khoa học)

87

Phụ lục 2.2 Danh mục các họ cây thuốc ở khu vực Yên

Tử (xếp theo thứ tự tên khoa học)

114

Phụ lục 2.3 Danh mục các chi cây thuốc ở khu vực Yên

Phụ lục 2.4 Danh mục 194 loài xuất hiện ở 51 ô nghiên

Phụ lục 2.5 Danh mục cây thuốc được trồng tại vườn

gia đình (xếp theo thứ tự tên khoa học) 129 PHỤ LỤC 3: ẢNH MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỐC

ĐƯỢC TRỒNG VÀ MỌC HOANG Ở KHU VỰC YÊN TỬ

139

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt

Viết tắt Viết đầy đủ

Tiếng Anh

Viết tắt Viết đầy đủ

IUCN The International Union for Conservation of Nature and

Natural Resources (Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế)

WWF World Wide Fund For Nature (Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên

nhiên)

Trang 8

2 Bảng 1.2 12 quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu và nhập khẩu

cây thuốc và cây tinh dầu trong giai đoạn 1991 –

1998

6

3 Bảng 1.3 Một số Vườn Quốc gia ở Việt Nam và số lượng

cây thuốc được bảo vệ trong đó

17

4 Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc ở khu vực Yên Tử trong các

ngành thực vật

30

5 Bảng 3.2 Danh mục các họ có từ 5 loài cây thuốc trở lên

(xếp theo thứ tự tên khoa học)

31

6 Bảng 3.3 Danh mục các chi có từ 3 loài cây thuốc trở lên

(xếp theo thứ tự tên khoa học)

33

7 Bảng 3.4 Danh sách các loài cây thuốc được sử dụng ở khu

vực Yên Tử, chưa được nhắc đến trong các tài liệu

về cây thuốc của Việt Nam (xếp theo thứ tự tên khoa học)

34

8 Bảng 3.5 Danh sách cách cây thuốc ở khu vực Yên Tử được

ghi trong Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ VI (xếp theo thứ tự tên khoa học)

35

9 Bảng 3.6 Danh mục các loài cây thuốc ở khu vực Yên Tử

có trong Sách đỏ Việt Nam 2007 (xếp theo thứ tự tên khoa học)

37

10 Bảng 3.7 Danh mục các loài cây thuốc ở khu vực Yên Tử

có trong Nghị định 32 (xếp theo thứ tự tên khoa học)

37

11 Bảng 3.8 Danh mục các dạng sống của cây thuốc ở khu vực

Yên Tử

38

12 Bảng 3.9 Giá trị các biến số về môi trường và cấu trúc thảm

thực vật và cây thuốc trong 3 nhóm thảm thực vật được xác định bằng phép phân tích chùm (Cluster Analysis)

40

Trang 9

STT Số bảng Tên bảng Trang

13 Bảng 3.10 Mối quan hệ giữa các biến số về môi trường, thảm

thực vật và cây thuốc với 3 trục chính đầu tiên của PCA (Principal Components Axis)

41

14 Bảng 3.11 Danh sách các loài xuất hiện từ 10 lần trở lên

trong 51 ô nghiên cứu

17 Bảng 3.14 Danh mục các cách dùng thuốc ở khu vực Yên Tử 49

18 Bảng 3.15 Danh mục các cây thuốc trong danh mục thuốc

thiết yếu được trồng trong vườn gia đình

51

19 Bảng 3.16 Danh mục các loài cây thuốc trồng ở vườn gia

đình có trong Sách đỏ Việt Nam 2007 (xếp theo thứ tự tên khoa học)

53

20 Bảng 3.17 Danh mục các loài cây thuốc trồng ở vườn gia

đình có trong Nghị định 32 (xếp theo thứ tự tên khoa học)

54

21 Bảng 3.18 So sánh cây thuốc trồng trong vườn gia đình và

cây thuốc ở khu vực rừng Yên Tử

24 Bảng 4.2 So sánh số loài cây thuốc ở khu vực Yên Tử với

một số VQG khác ở Việt Nam (xếp theo thứ tự tăng dần của hệ số diện tích/số loài)

58

25 Bảng 4.3 So sánh số loài cây thuốc được cộng đồng người

Dao, Kinh ở khu vực Yên Tử sử dụng so với số loài cây thuốc ở các cộng đồng khác ở Việt Nam (xếp theo thứ tự giảm dần của số loài cây thuốc)

59

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

sóc sức khỏe ban đầu ở một số nước đang phát triển

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo ước tính của tổ chức Quĩ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), trên thế giới có khoảng 35.000 – 70.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh [104] Kho tàng nguồn tài nguyên cây thuốc vô giá này đã và đang được các cộng đồng khác nhau trên thế giới sử dụng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trên thế giới có khoảng 80% số dân ở các nước đang phát triển hiện nay có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu dựa vào các nền y học cổ truyền và khoảng 85% thuốc y học cổ truyền đòi hỏi phải sử dụng dược liệu hoặc các chất chiết xuất từ dược liệu [76], [104] Con số này vẫn tiếp tục tăng, kể cả ở thế hệ trẻ [103]

Nguồn tài nguyên cây thuốc còn góp phần lớn lao trong công cuộc phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới Có 119 chất tinh khiết được chiết tách từ khoảng 90 loài thực vật bậc cao được sử dụng làm thuốc trên toàn thế giới Dự đoán nếu phát triển tối đa các thuốc thảo mộc có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới, có thể làm ra khoảng 900 tỉ USD mỗi năm cho nền kinh tế của các nước thế giới thứ 3 [33] Chỉ riêng các nước tây Âu, doanh số bán thuốc

từ cây cỏ (năm 1989) là 2,2 tỉ USD so với tổng doanh số buôn bán dược phẩm

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị đe dọa do thảm thực vật

bị tàn phá; cây thuốc bị khai thác quá mức và bị sử dụng một cách lãng phí; tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc bị mai một do không được tư liệu hóa; thế

Trang 12

hệ trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước; sự sói mòn đa dạng các nền văn hóa; do tính khó

sử dụng của dược liệu; vv Việc khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc cần dựa trên nguyên tắc bảo đảm cho nguồn tài nguyên này tiếp tục tồn tại và phát triển Ngày nay, nhiều cây thuốc đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng nhưng lại có ít nỗ lực bảo tồn chúng, thậm chí rất nhiều quốc gia trên thế giới còn chưa kiểm kê đầy đủ nguồn tài nguyên cây thuốc của quốc gia mình [65]

Nằm ở khu vực có điều kiện tự nhiên và văn hóa đa dạng Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có độ đa dạng sinh học cao, nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú, đến nay đã biết khoảng 4.470 loài cây và nấm làm thuốc (kể cả cây nhập nội) [8] Nguồn tài nguyên này đóng góp một phần quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong hoạt động phát triển kinh tế qua các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển và hiện đại hóa đất nước hiện nay

Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng về mọi mặt Do nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống ngày một tăng, nhập khẩu rộng rãi các loại thuốc tân dược, vv., nguồn tài nguyên cây thuốc ở nước ta đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng, nhưng các thông tin về chúng lại chưa được tư liệu hóa Chính vì vậy việc điều tra về cây thuốc và tri thức sử dụng các cây thuốc đang là vấn

đề cấp bách hiện nay

Khu vực Yên Tử, với vị trí đặc biệt nằm ở rìa Trung tâm đa dạng sinh học Đông Bắc, lại là khu danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - tôn giáo lớn của Việt Nam, vùng Yên Tử có một vai trò quan trọng trong việc bảo tồn tài nguyên cây cỏ nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng, gắn liền với bảo tồn văn hoá, cảnh quan và du lịch Dân cư sống trong khu vực Yên Tử gồm 7

Trang 13

dân tộc (Kinh, Dao, Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Cao Lan) thuộc địa bàn xã Thượng Yên Công, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh và Dao, là hai dân tộc

có kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc lâu đời và phong phú [120] Khu vực Yên Tử đã và đang là nguồn cung cấp dược liệu cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe và mưu sinh của các cộng đồng dân tộc sống trong vùng Mặt khác, khu vực này cũng đang phải đối mặt với áp lực khai thác tài nguyên sinh vật/cây cỏ nói chung và tài nguyên cây thuốc rói riêng của người dân để phục

vụ du khách đi du lịch Yên Tử, đặc biệt là trong mùa lễ hội Yên Tử hàng năm Trong khi đó, nguồn cây thuốc trong khu vực Yên Tử còn chưa được nghiên cứu và tư liệu hóa đầy đủ, tình trạng trồng trọt cây thuốc cũng chưa được nghiên cứu

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Điều tra Tài

nguyên cây thuốc ở vùng Yên Tử (Quảng Ninh)”

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

(i) Xác định tính đa dạng sinh học, điều kiện sinh thái và tri thức sử dụng các cây thuốc ở khu vực Yên Tử (Quảng Ninh)

(ii) Xác định các cây thuốc được trồng trong vườn của các thầy lang khu vực Yên Tử (Quảng Ninh)

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tài nguyên cây thuốc trên thế giới

1.1.1 Số loài cây thuốc trên thế giới

Không có một con số đáng tin cậy cho tổng số loài cây thuốc trên thế giới, và tỷ lệ số loài cây thuốc trên tổng số loài thực vật thay đổi rất nhiều giữa các vùng và các quốc gia khác nhau [89] Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy, số loài cây thuốc đã biết trên thế giới tăng dần theo thời gian, điều này

có được là do công tác điều tra tư liệu hóa cây thuốc đã được thực hiện rộng khắp trên thế giới trong thời gian qua Theo một điều tra của WHO từ cuối những năm 1970, liệt kê được 21.000 loài cây thuốc [79], trong khi hiện nay người ta ước tính số lượng cây thuốc được sử dụng trên toàn thế giới khoảng 35.000-70.000 [49], [93], [104] loài hoặc 53.000 loài [91] Trong một báo cáo năm 1985 [45], số loài cây thuốc của Trung Quốc thống kê được là 4.941 loài, thì hiện nay người ta đã thống kê được 11.146 loài cây thuốc, trên tổng số 27.100 loài thực vật, với tỷ lệ 41,1% số loài làm thuốc, đây là một tỷ lệ đáng kinh ngạc Nếu tỷ lệ này được tính toán cho các hệ thực vật làm thuốc nổi tiếng khác sau đó áp dụng cho tổng số loài toàn cầu là 422.000 loài thực vật

có hoa [42], có thể ước tính số loài làm thuốc hiện nay khoảng hơn 80.000 loài (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Số loài cây thuốc ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Quốc gia hoặc

vùng lãnh thổ Số loài thực vật Số loài cây thuốc Tỷ lệ %

Trang 15

Quốc gia hoặc

vùng lãnh thổ Số loài thực vật Số loài cây thuốc Tỷ lệ %

Phần lớn các loài cây thuốc chỉ được sử dụng trong nền y học dân gian Trong hệ thống y học cổ truyền (YHCT) truyền thống sử dụng số loài ít hơn Với 500 – 600 loài thường được sử dụng trong YHCT Trung Quốc (trong tổng số 11.000 loài) [83], [84]; 1.430 loài trong Y học Mông Cổ [84]; 1.106 – 3.000 loài trong nền Y học Tây Tạng [83], [84]; 1.250 – 1.400 loài trong nền

Y học Ayurveda [66]; 342 loài trong nền y học Unani; 238 loài trong y học Siddha [85] Số loài thực vật cung cấp nguyên liệu làm thuốc ở nền y học phương Tây còn ít hơn Một bài báo được công bố vào năm 1991 cho thấy,

Trang 16

121 loại thuốc được sử dụng hiện nay ở Mỹ có nguồn gốc từ 95 loài thực vật

[49]

Tuy nhiên, một số họ có tỷ lệ loài làm thuốc cao hơn các họ khác, ví dụ như: họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Cần (Apiaceae), họ Thiên lý (Asclepiadaceae), họ Bạch quế bì (Canellaceae), họ Măng cụt (Clusiaceae), và họ Tiết dê (Menispermaceae), vv Ngoài ra, các họ thực vật lại phân bố không đồng đều trên toàn thế giới Kết quả là, không chỉ làm một số hệ thực vật có số loài cây thuốc cao hơn hệ khác, mà có một số họ

có số loài cây thuốc bị đe dọa cũng cao hơn những họ khác [91]

1.1.2 Số loài cây thuốc được buôn bán trên thế giới

Rất khó để đánh giá có bao nhiêu loài cây thuốc đang được buôn bán, ở

cả cấp độ quốc gia lẫn quốc tế Phần lớn các nguyên liệu thực vật được xuất khẩu từ các nước đang phát triển, trong khi thị trường chủ yếu là ở các nước phát triển Một phân tích số liệu của tổ chức UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development) trong khoảng thời gian 1981 – 1998 phản ánh tình trạng xuất nhập khẩu cây thuốc ở một số vùng và quốc gia Nếu tính tổng 5 quốc gia châu Âu trong danh sách này, cho thấy châu Âu là khu vực nhập khẩu lớn nhất (94.300 tấn) Đức đứng thứ 4 về nhập khẩu và thứ 3

về xuất khẩu, cho thấy vị trí quan trọng của nước này trên thị trường thương mại dược liệu toàn thế giới (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 12 quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu và nhập khẩu cây thuốc và cây

tinh dầu trong giai đoạn 1991 – 1998

Quốc gia

nhập khẩu Số lượng (tấn) Giá trị (1000 USD) Quốc gia xuất khẩu Số lượng (tấn) Giá trị (1000 USD)

Hồng Kông 73.650 314.000 Trung Quốc 139.750 298.650 Nhật Bản 56.750 146.650 Ấn Độ 36.750 57.400

Mỹ 56.000 133.350 Đức 15.050 72.400

Trang 17

Quốc gia

nhập khẩu Số lượng (tấn) Giá trị (1000 USD) Quốc gia xuất khẩu Số lượng (tấn) Giá trị (1000 USD)

Đức 45.850 113.900 Mỹ 11.950 114.450 Hàn Quốc 31.400 52.550 Chile 11.850 29.100 Pháp 20.800 50.400 Ai Cập 11.350 13.700 Trung Quốc 12.400 41.750 Singapore 11.250 59.850 Italia 11.450 42.250 Mexico 10.600 10.050 Pakistan 11.350 11.850 Bulgaria 10.150 14.850 Tây Ban Nha 8.600 27.450 Pakistan 8.100 5.300 Anh 7.600 25.550 Albania 7.350 14.050 Singapore 6.650 55.500 Morocco 7.250 13.200

Tổng 342.550 1.015.200 Tổng 281.550 643.200

Nguồn: Lange, D 2002 [71].

Iqbal (1993) [61] ước tính có khoảng “4.000 đến 6.000 loài thực vật có tầm thương mại quan trọng”, một nguồn khác đề cập có 5.000 – 6.000 loài thực vật “xâm nhập vào thị trường thế giới” [82] Một cuộc điều tra kỹ lưỡng

về các cây thuốc thương mại ở Đức, xác định có 1.543 loài được giao dịch hoặc được cung cấp trên thị trường Đức [72] Một cuộc điều tra mở rộng khảo sát ở thị trường châu Âu xác định có khoảng 2.000 loài cây thuốc được buôn bán [70] Với việc châu Âu như là một trung tâm giao dịch về cây thuốc của tất cả các vùng trên thế giới, có thể ước đoán số lượng cây thuốc trong thương mại quốc tế vào khoảng 2.500 loài trên toàn thế giới [90] Trong khi đó, một

số lượng lớn hơn nhiều các loài cây thuốc được buôn bán ở các địa phương, quốc gia và khu vực khác nhau [72]

1.1.3 Số loài cây thuốc bị đe dọa trên thế giới

Để đáp ứng nhu cầu thị trường khu vực và quốc tế, các nguồn thực vật

để mở rộng thị trường trong nước, khu vực và quốc tế chủ yếu tăng thu hái nguồn hoang dại từ thiên nhiên [67], [70] Nguồn cung cấp thực vật hoang dại nói chung này càng bị giới hạn bởi việc thu hái quá mức, nạn phá rừng, từ

Trang 18

việc đốn gỗ tới việc chuyển đổi cây trồng, nuôi gia súc, làm nông nghiệp [38], [44], [92] Một trong những mục tiêu của nhóm chuyên gia về cây thuốc của IUCN (IUCN Medicinal Plant Specialist Group) là xác định các loài bị đe dọa

do thu hái không bền vững và các yếu tố khác Theo Walter and Gillett (1998) [96], 34.000 loài hoặc 8% các loài thực vật trên thế giới bị đe dọa tuyệt chủng Nếu điều này được áp dụng để ước tính với khoảng 85.000 loài cây thuốc, thì sẽ có khoảng 6.800 loài cây thuốc đang bị đe dọa Số lượng này trong thực tế còn có thể lớn hơn, do cây thuốc bị tác động nhiều hơn các nhóm thực vật khác trong việc thu hái hoang dại, có thể lên đến 20% số loài cây thuốc đã biết có nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai [75] Trong khi đó, một số tài liệu ước tính rằng số loài cây thuốc bị đe dọa trên toàn cầu là khoảng 4.160 [91], 10.000 loài [95] hoặc 15.000 loài [92]

1.1.4 Số loài cây thuốc được trồng trọt trên thế giới

Nhiều loài cây thuốc và các cây tinh dầu, được trồng trong vườn gia đình, một số loài trồng ở đồng ruộng, một số khác trồng thâm canh và xen canh, nhưng số loài trồng rộng rãi trong các trang trại/đồn điền thì hiếm hơn [77] Hầu hết các loài cây thuốc được tiêu thụ trên thị trường vẫn được thu hái

từ tự nhiên [69] Trong một cuộc khảo sát với các công ty tham gia vào sản xuất, buôn bán thảo dược và các sản phẩm từ thảo dược, trung bình 60 – 90 % nguyên liệu được trồng trọt, còn lại là thu hái từ hoang dại [91] Tuy nhiên, khi khảo sát về số loài, thì số liệu thường ngược lại, Laird, S.A & A.R Pierce (2002) [68], Lange, D & U Schippmann (1997) [72] chỉ ra rằng, trong 1.543 loài cây thuốc được buôn bán trên thị trường Đức, chỉ 50 – 100 loài (3 – 6%) được trồng trọt Trong số hơn 400 loài cây thuốc được sử dụng trong ngành công nghiệp dược của Ấn Độ, có chưa tới 20 loài được trồng trọt ở các vùng khác nhau trong nước [88] Ở Trung Quốc, trong hơn 11.000 loài cây thuốc được xác định, có khoảng 1.000 loài thường xuyên được sử dụng, nhưng chỉ

Trang 19

có khoảng 100 – 250 loài được trồng [105] Ở Hungary, một nước có truyền thống lâu đời trong trồng trọt cây thuốc và cây tinh dầu, chỉ có khoảng 40 loài được trồng trọt để thương mại hóa [41], [78] Ở châu Âu, chỉ có khoảng 130 –

140 loài được trồng trọt [94] Dựa trên những con số này, có thể ước đoán số lượng các loài được trồng trọt cho mục đích thương mại không vượt quá vài trăm loài trên toàn thế giới Một cuộc khảo sát toàn cầu về mức độ trồng trọt cây thuốc, sự đa dạng về loài, sản lượng và giá trị là một điều đáng được thực hiện Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, có nhiều loài cây thuốc hơn được trồng ở quy mô nhỏ trong các vườn gia đình, như là thuốc gia truyền do thầy

thuốc YHCT trồng hoặc được trồng trọt bởi người dân địa phương [91]

1.1.5 Tình hình sử dụng cây thuốc và các sản phẩm thảo dược trên thế giới

Thuốc Y học cổ truyền (YHCT) được sử dụng rộng rãi và đang phát triển nhanh chóng trong các hệ thống y tế và góp phần quan trọng vào nền kinh tế Ở châu Phi, 80% dân số sử dụng thuốc YHCT để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe [100] Ở châu Á và châu Mỹ Latin, người dân vẫn tiếp tục

sử dụng thuốc YHCT, kết quả của quá trình lịch sử và văn hóa tín ngưỡng Ở Trung Quốc, thuốc YHCT chiếm khoảng 40% các dịch vụ y tế cung cấp, được sử dụng để điều trị cho khoảng 200 triệu bệnh nhân một năm [98] Ở Ấn

Độ, thuốc YHCT là nguồn duy nhất sẵn có để chăm sóc sức khỏe của 65% dân số [101] Ở Mỹ Latin, 71% dân số Chile và 40% dân số Colombia sử

dụng thuốc YHCT [99] (Hình 1.1) Trong khi đó, ở nhiều nước đang phát

triển, việc sử dụng thảo dược đang ngày càng trở nên phổ biến hơn Tỷ lệ dân

số sử dụng ít nhất các sản phẩm thảo dược một lần là 48% ở Australia, 70% ở Canada, 42% ở Mỹ, 31% ở Bỉ và 49% ở Pháp [101] (Hình 1.2) Tại Malaysia, ước tính khoảng 500 triệu USD được chi hàng năm vào loại hình chăm sóc sức khỏe này, so với 300 triệu USD chi cho thuốc tân dược [97] Ở Mỹ, tổng

Trang 20

số tiền mặt chi cho các sản phẩm thảo dược năm 1997 là 2,7 tỉ USD [48] Ở

Úc, Canada và Anh, ước tính chi hàng năm khoảng 80 triệu USD, 2,4 tỉ USD (năm 1997) [58] và 2,3 tỉ USD (hàng năm) [59]

Hình 1.1 Tỷ lệ dân số sử dụng thuốc YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

ở một số nước đang phát triển (Nguồn: WHO (2002) [101])

Hình 1.2 Tỷ lệ dân số sử dụng các sản phẩm thảo dược ít nhất một lần một số nước phát triển (Nguồn: Fisher P & Ward A (1994) [50]; Health Canada

(2001) [58]; WHO (1998) [97])

Trang 21

1.1.6 Tình hình buôn bán các sản phẩm thảo dược trên thế giới

Thị trường thuốc thảo dược dựa trên tri thức cố truyền hiện nay ước tính khoảng 60 tỉ USD một năm [87], [102] Doanh thu hàng năm từ các sản phẩm tự nhiên đã tăng hơn 100 lần so với những năm 1980 [43] Ở Mỹ, doanh

số bán hàng thảo dược tăng 101% tại các thị trường chủ đạo từ tháng 5/1996 đến 5/1998 Các sản phẩm thảo dược phổ biến nhất bao gồm Nhân sâm

(Panax quinquefolius L.), Bạch quả (Ginkgo biloba L.), Tỏi (Allium sativum L.), Echinacea spp và St John’s wort (Hypericum perforatum L.) [101] Tính

riêng Trung Quốc trong năm 2005, cho thấy kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm thuốc YHCT tăng 10,27% so với năm 2004, đạt giá trị thương mại 153 triệu USD Tổng kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm thuốc YHCT, cao dược liệu và nguyên liệu thô, nguyên liệu chế biến có giá trị thương mại đạt 830 triệu USD, chiếm 6% tổng xuất khẩu ngành y tế Về khối lượng, trong năm

2005, Trung Quốc xuất khẩu khoảng 14,212 tấn sản phẩm thuốc YHCT, tăng 2% so với năm 2004 Trung Quốc xuất khẩu 112,8 triệu USD các sản phẩm thuốc YHCT tới các nước láng giềng châu Á, tăng 9,21% Xuất khẩu tới châu

Âu và Bắc Mỹ tăng 24,89% và 7,07% [86]

1.1.7 Tài nguyên cây thuốc – nguồn thuốc mới cho nhân loại

Nguồn tài nguyên cây cỏ và tri thức sử dụng làm thuốc của chúng ta là một kho tàng khổng lồ để sàng lọc, tìm các thuốc mới Di sản tri thức này từ

tổ tiên của con người đã tiếp tục được phát triển trong y học phương Tây, và

đã dẫn đến sự phân lập, chiết xuất các hợp chất tinh khiết (ví dụ morphine, atropine, digoxine), và sau đó phát triển một số hợp chất mới dựa trên các chất này (ví dụ thuốc gây tê tại chỗ dựa vào cocaine, thuốc giảm đau dựa vào morphine) Ước tính có khoảng 25% các dược phẩm thông thường có nguồn gốc từ cây thuốc [76] Số liệu thống kê về các loại thuốc mới phát triển trong những thập kỷ gần đây cho thấy rằng các sản phẩm tự nhiên là một nguồn

Trang 22

cảm hứng cho sự phát triển thuốc “mới” [74] Chỉ 30% các phân tử mới (của 1.184) được đưa vào thị trường trong giai đoạn 1981 – 2006 là tổng hợp từ hóa học và tất cả các phân tử còn lại là sản phẩm từ thiên nhiên hoặc có liên quan đến thiên nhiên Chỉ xét riêng các nhóm thuốc kháng khuẩn, kháng nấm,

ký sinh trình và virus mới (Antiinfective) trong gia đoạn từ 1986 – 2006, chỉ

có 56 thuốc mới từ tổng hợp hóa học, trong khi đó có 86 thuốc là sản phẩm thiên nhiên hoặc dẫn xuất từ thiên nhiên (thông qua bán tổng hợp) [74]

1.2 Tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

1.2.1 Điều kiện tự nhiên và văn hóa

Đất nước Việt Nam có diện tích phần lục địa rộng 35 triệu ha, hẹp nhưng dài, kéo dài từ Bắc xuống Nam hơn 1.800 km, có địa hình đa dạng với hai vùng đồng bằng châu thổ lớn là Sông Hồng ở phía Bắc và Sông Cửu long

ở phía Nam, có hai dãy núi lớn là Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn với nhiều vùng có độ cao trên 2.000m và các cao nguyên nhỏ như Đồng Văn, Mộc Châu, Sơn La, Gia Lai-Kon Tum, Đắc Lắc, Di Linh, vv Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa miền Bắc và miền Nam, lượng mưa trung bình lớn nhưng phân bố không đều trong năm Các yếu tố địa hình và khí hậu đa dạng như vậy dẫn đến Việt Nam có thảm thực vật phong phú, từ rừng rậm nhiệt đới ẩm xanh quanh năm, rừng rậm nhiệt đới mưa mùa nửa rụng lá đến rừng á nhiệt đới ẩm xanh quanh năm, á nhiệt đới hơi khô, savan nhiệt đới khô, truông nhiệt đới khô, rừng ngập mặn, rừng lá kim, rừng lùn núi cao, vv Điều này làm cho đất nước chúng ta

có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, với khoảng 12.000 loài cây cỏ khác nhau và dự đoán có thể đến 13.000 -15.000 loài nếu được nghiên cứu đầy đủ [36]

Việt Nam là nơi giao lưu của các dân tộc và các nền văn hoá, trong đó quan trọng nhất là hai luồng văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ, là ngôi nhà chung

Trang 23

của 54 dân tộc, thuộc 3 họ ngôn ngữ và 8 nhóm khác nhau, trong đó có nhiều dân tộc có quan hệ gần gũi với các quốc gia trong khu vực Các dân tộc sinh sống ở Việt Nam tạo nên một hình ảnh thu nhỏ của khu vực Đông Nam Á Để tồn tại và phát triển đến ngày nay, các thế hệ trước của mỗi cộng đồng đã phải trả bằng giá cuộc sống và sức khỏe để tích lũy tri thức và kinh nghiệm sử dụng những cây cỏ làm thuốc, tạo nên nền tảng tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc ngày nay Mỗi dân tộc lại có tập quán, niềm tin, vì vậy tri thức

và kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc là da dạng [36]

1.2.2 Cây thuốc ở Việt Nam

Tính đến năm 2006, chúng ta đã phát hiện có 3.948 loài thực vật và nấm lớn được dùng làm thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành và nhóm thực vật khác nhau Trong đó có 52 loài Tảo biển, 22 loài Nấm, 4 loài Rêu và 3.870 loài Thực vật bậc cao có mạch [26] Đến năm 2012, trong bộ sách Tử điển cây thuốc Việt Nam [8], tác giả Võ Văn Chi đã thống kê được 4.470 loài cây thuốc Mỗi loài lại có bộ gen đa dạng riêng của mình Điều này làm cho kho tàng nguồn gen cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, từ cấp hệ sinh thái đến cấp loài và phân tử Dự đoán số loài cây thuốc ở Việt Nam có thể lên đến 6.000 loài nếu được nghiên cứu đầy đủ trong tương lai Có tới 87,1% số cây thuốc đã biết là các cây hoang dã, chủ yếu ở vùng đồi núi, từ vùng trung du đến núi cao Chỉ có 12,9% cây trồng (kể cả bản địa và nhập nội) Các loài cây thuốc phân bố ở 8 vùng sinh thái trong nước là Đông Bắc - Bắc bộ, Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Đông Trường Sơn và Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu long; tập trung chủ yếu ở các trung tâm đa dạng sinh vật chính là Đông Bắc (Phia Bjooc- Ba Bể), Hoàng Liên Sơn, Cúc Phương – Pù Luông, Quảng Nam-Kon Tum (Ngọc Linh), Lâm Viên – Di Linh Phần lớn số loài cây thuốc ở Việt Nam được ghi nhận dựa trên tri thức và kinh nghiệm sử dụng

Trang 24

của các cộng đồng dân tộc ở khắp các địa phương trên toàn quốc Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở Việt Nam tồn tại ở 2 nền y học chính là Y học Cổ truyền chính thống, có nguồn gốc từ Trung y, với các hệ thống lý luận và thực hành được tư liệu hoá trong sách vở như các học thuyết Âm-dương, Ngũ hành, Tạng tượng, vv.; các nền Y học nhân dân hay Y học Cổ truyền Dân tộc, thường được gọi là Thuốc nam Điều này đã tạo nên một kho tàng tri thức sử dụng cây thuốc của các dân tộc ở Việt Nam vô cùng phong phú [36]

1.2.3 Khai thác, sử dụng, và phát triển cây thuốc ở Việt Nam

Đến năm 2000, cả nước có 286 cơ sở sản xuất dược phẩm (kể cả các doanh nghiệp nhà nước, công ty, tổ hợp sản xuất, tư nhân) đang sản xuất 1.294 loại dược phẩm được sản xuất từ nguyên liệu thực vật hoặc chất chiết xuất từ thực vật, chiếm 23 % số loại dược phẩm được phép sản xuất và lưu hành từ năm 1995-2000, sử dụng 435 loài cây cỏ Nhu cầu dược liệu cho khối công nghiệp dược khoảng 20.000 tấn, và cho xuất khẩu là 10.000 tấn hàng năm Năm 1998, tổng công ty dược Việt Nam xuất khẩu được 13 triệu USD, trong đó dược liệu, tinh dầu và các hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74% Tiềm năng cung cấp dược liệu có thể đạt 500 - 800 tỷ đồng [36]

Có khoảng 40 loài cây thuốc bản địa đã được trồng trọt ở Việt Nam Nhiều loài được trồng trên quy mô lớn ở các tỉnh miền núi, hằng năm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu từ vài trăm cho đến hằng nghìn

tấn sản phẩm như: Quế (Cinnamomum cassia (L.) J Presl) ở Yên Bái, Thanh Hoá, Lào Cai, v.v; Hồi (Illicium verum Hook.f.) ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh; Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) ở Lào Cai, Lai

Châu Nhiều loài được trồng cả ở các vùng trung du và đồng bằng như: Hoa

hoè (Styphnolobium japonicum (L.) Schott), Địa liền (Kaempferia galanga L.), Hương nhu (Ocimum gratissimum L.), Cúc hoa (Chrysanthemum indicum L.), Ích mẫu (Leonurus japonicus Houtt.) Hoạt động trồng cây thuốc

Trang 25

đã được phát động và triển khai ở nhiều cộng đồng miền núi như Hà Giang (Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, Phó Bảng), Lạng Sơn (Mẫu Sơn), Yên Bái (Văn Chấn, Lục Yên), Lai Châu (Sìn Hồ), Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà), Quảng Nam (Trà My), Lâm Đồng (Đà Lạt) và đồng bằng như làng Nghĩa Trai (Văn Lâm, Hưng Yên), vùng Mễ Sở, Đa Ngưu (Khoái Châu) [36]

Có khoảng 300 loài thuộc hơn 40 họ thực vật đã được nhập vào Việt Nam từ nhiều vùng khác nhau trên thế giới Trong số đó có trên 20 loài có thể

trồng trọt hàng hóa như Actisô (Cynara scolymus L.), Đương qui (Angelica sinensis (Oliv.) Diels), Địa hoàng (Rehmannia glutinosa (Gaertn.) DC.), Bạch chỉ (Angelica dahurica (Hoffm.) Benth & Hook.f ex Franch & Sav.), Bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz.), Bạc hà (Mentha spp.) Một số loài

đã được phát triển để cung cấp dược liệu cho công nghiệp dược như Actisô (Cynara scolymus L.) [36]

Nhiều cây thuốc đã được các trường đại học, viện, công ty dược nghiên cứu phát trển thành công thành các dạng bào chế bán rộng rãi trên thị trường

như Bình vôi (Stephania spp.), Chè dây (Ampelopsis cantoniensis (Hook & Arn.) Planch.), Chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.), Ích mẫu (Leonurus japonicus Houtt.), Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.), Mướp đắng (Momordica charantia L.), Ngưu tất (Achyranthes bidentata Blume), Thanh cao hoa vàng (Artemisia annua L.), vv

1.2.4 Điều tra cơ bản tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Đây là hoạt động được tiến hành rộng rãi nhất trong toàn quốc, được thực hiện bởi hàng chục trường đại học, viện nghiên cứu, vườn quốc gia, vv trong đó có một số cơ quan thực hiện nhiều là Viện Dược liệu, Trường Đại học Dược Hà Nội, Viện Dân tộc học, vv Hoạt động này thường được thực hiện trong một phạm vi cụ thể (thường là một cộng đồng cấp xã, vườn quốc

Trang 26

gia) Các hoạt động chính là điều tra tại cộng đồng và/hoặc tại thực địa (có hay không có sự tham gia của thầy lang), ghi chép thông tin về sử dụng cây thuốc, thu mẫu cây thuốc, xử lý mẫu và xác định tên khoa học, phân tích dữ liệu Đến nay, đã có trên 20 dân tộc khác nhau ở Việt Nam được điều tra, bao gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Giáy, Mông, Sán Chay, Sán Dìu, Mường, Rục, Vân Kiều, Thái, Chăm, Lô Lô, Pà Thẻn, Xinh Mun, La Ha, Kháng, Ka

Tu, Lào, Hoa, Ê Đê, Ba Na Các dân tộc được tập trung nghiên cứu nhiều nhất

là Tày, Thái, Dao, Mông, Mường Các điều tra này đã tạo nền tảng cơ bản để xây dựng được danh mục 3.948 loài cây và nấm làm thuốc ở Việt Nam [36]

1.2.5 Bảo tồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Các hoạt động bảo tồn diễn ra đầu tiên và được thực hiện một cách có

hệ thống là Đề án Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc, vào thời điểm trước khi có hướng dẫn bảo tồn của WHO Phần lớn các hoạt động bảo tồn ở các cơ quan/tổ chức còn lại được triển khai từ giai đoạn 1995 đến nay, tập trung vào cộng đồng, chủ yếu là điều tra cơ bản cây thuốc các dân tộc, một số tổ chức

có triển khai các hoạt động can thiệp tại cộng đồng Hoạt động của các tổ chức ngoài chính phủ rất đa dạng nhưng nhìn chung có tính chất can thiệp, bao gồm các hoạt động bảo tồn tri thức, trồng cây thuốc, nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng vườn thuốc nam, xây dựng mô hình bảo tồn thông qua phát triển, vv

Các hệ thống bảo tồn cây thuốc đã được xây dựng bao gồm:

- Hệ thống các cơ quan/tổ chức tham gia Đề án Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc, bao gồm: Viện Dược liệu, Trường Đại học Dược Hà Nội, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Trung tâm nghiên cứu Bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười và Học viện Quân Y Ngoài các hoạt động riêng rẽ theo mục tiêu của cơ quan, các cơ quan này tham gia các hoạt động trong khuôn khổ của Đề án, dưới sự điều phối của Viện Dược liệu từ năm

Trang 27

1988 đến nay Các hoạt động của hệ thống này khá rộng, bao gồm: Điều tra

và thu thập nguồn gen, bảo tồn nguồn gen theo cách hình thức nguyên vị, chuyển vị, trên trang trại, xây dựng lý lịch giống, cơ sở dữ liệu, khai thác nguồn gen, đào tạo nhân lực, vv Hệ thống này, cùng với các hoạt động của

nó tồn tại với nguồn kinh phí thường niên từ ngân sách

- Mạng lưới Thực vật dân tộc học và Bảo tồn cây thuốc, được xây dựng với sự khởi xướng của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc Dân tộc

cổ truyền (một tổ chức ngoài chính phủ), Công ty cổ phần Traphaco, với sự tham gia của 21 cơ quan, tổ chức là các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức ngoài chính phủ, vườn quốc gia, công ty dược Nhìn chung Mạng lưới này không có tổ chức chặt chẽ, không phụ thuộc vào ngân sách và chủ yếu hoạt động dưới dạng trao đổi thông tin và nguồn nhân lực trong bảo tồn

- Hệ thống bảo tồn nguyên vị, gồm 30 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên, 38 khu bảo vệ cảnh quan với tổng diện tích hơn 2,4 triệu ha, bao phủ khoảng 90% số loài có trong Sách đỏ Việt Nam và bảo tồn chuyển vị Có

4 vườn quốc gia trong số đó tham gia Đề án Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đã tích cực tham gia vào hoạt động bảo tồn cây thuốc Các hoạt động khá đa dạng, phần lớn là điều tra cơ bản và lập danh mục cây thuốc, thực hiện các hoạt động bảo tồn tại cộng đồng (như VQG Ba Bể, Ba Vì, Cúc Phương, Tam Đảo, Xuân Sơn, Bến

En, Bạch Mã, Cát Tiên) và xây dựng vườn thực vật (trong đó có cây thuốc)

Hệ thống này tồn tại lâu dài nhờ ngân sách nhà nước, do đó có tiềm năng rất lớn trong các hoạt động bảo tồn nguyên vị [36]

Bảng 1.3 Một số Vườn Quốc gia ở Việt Nam và số lượng cây thuốc được bảo

vệ trong đó [19]

STT Tên Vườn Quốc gia Diện tích (ha) Số loài cây thuốc

Trang 28

STT Tên Vườn Quốc gia Diện tích

(ha)

Số loài cây thuốc

độ khác nhau; 200 loài bảo tồn an toàn đã được xác định chuyển sang đánh giá lập lý lịch giống giai đoạn 2 phục vụ tư liệu hoá nguồn gen cây thuốc Ngoài ra, hoạt động bảo tồn chuyển vị còn được thực hiện dưới dạng các vườn thực vật ở các vườn quốc gia (như Ba Bể, Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phương, vv.), tại các vườn cây thuốc Nam tại các Trạm y tế xã trong cả nước

và tại rất nhiều vườn thuốc tại gia đình các thầy lang tại các cộng đồng Mặc

dù chưa có thống kê chính thức nhưng có điều chắc chắn rằng, việc trồng và

sử dụng cây thuốc ở các vườn thuốc Nam tại trạm y tế và vườn gia đình của các thầy lang chính là hoạt động bảo tồn chuyển vị lớn nhất và bền vững đang được thực hiện trên phạm vi toàn quốc [36]

Trang 29

1.3 Khu vực Yên Tử - Quảng Ninh

Khu rừng quốc gia Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh được thành lập theo công văn số 1671/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ dựa trên cơ sở là Khu rừng đặc dụng Yên Tử, được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) phê duyệt tại Quyết định số 194/QĐ-CT ngày 9/6/1986 Khu rừng quốc gia Yên Tử thuộc loại khu rừng lịch sử - văn hóa – môi trường, trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam Việc nâng cấp Rừng đặc dụng Yên tử thành Rừng quốc gia Yên Tử sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan môi trường cùng như bảo tồn và phát triển các mẫu chuẩn hệ động thực vật, bảo vệ sự đa dạng sinh học, các nguồn gen động, thực vật quý hiếm Mục tiêu là (i) Bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị đa dạng sinh học, giá trị thẩm mỹ của cảnh quan thiên nhiên nhằm tôn tạo các giá trị đặc biệt về văn hóa - lịch sử của một trong những triều đại vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam tại khu vực Yên Tử, đồng thời là nơi phát tích Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; giữ gìn các giá trị truyền thống góp phần tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, giáo dục bảo vệ môi trường và phục

vụ tham quan du lịch (ii) Đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới các công trình

hỗ trợ nhằm góp phần bảo tồn, tôn tạo hệ động - thực vật rừng, các mô hình rừng có giá trị cảnh quan, di tích lịch sử phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, tham quan du lịch, lễ hội truyền thống [29]

Diện tích Khu rừng quốc gia Yên Tử là 2.783 ha (đất rừng tự nhiên: 2.060,3 ha; đất có rừng trồng: 545,5 ha và đất khác: 177,2 ha) nằm trên địa bàn 2 xã: Thượng Yên Công và Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tọa độ địa lý từ 21005' đến 29009' độ vĩ Bắc và từ 106043' đến

106045' độ kinh Đông Trung tâm của KRQG Yên Tử là ngọn núi Yên Tử cao 1.068m Các khe núi hình thành ở sườn phía Bắc chảy theo hướng Bắc chảy vào sông Lục ngạn, các suối ở sườn Nam đổ vào sông Kinh Thầy Phía Bắc

Trang 30

KRQG Yên Tử giáp Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang Phía Nam là địa bàn xã Phương Đông Phía Đông giáp khu vực Than Thùng,

xã Thượng Yên Công Phía Tây giáp xã Tràng Lương và xã Hồng Thái Đông, huyện Đông Triều Quy hoạch các phân khu chức năng của rừng quốc gia Yên Tử được quy hoạch thành các phân khu chức năng sau: (i) Phân khu bảo

vệ nghiêm ngặt diện tích 768,4 ha; (ii) Phân khu phục hồi sinh thái cảnh quan diện tích 1.855,3 ha; (iii) Phân khu hành chính - dịch vụ diện tích 159,3 ha [29]

KRQG Yên Tử là khu vực có tiềm năng đa dạng sinh học to lớn, với khu hệ động thực vật phong phú đa dạng, có nhiều loài quí hiếm, đặc trưng cho hệ thực vật Đông Bắc Kết quả điều tra năm 2005 – 2006 (Nguyễn Trung Thành, Phùng Văn Phê, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) [27] đã phát hiện được ở khu vực có phân bố tự nhiên của 721 loài thuộc 425 chi, 154 họ của 4 ngành

thực vật bậc cao có mạch là ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Thông (Pinophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Trong đó có 547 loài cây có ích được xếp vào 12 nhóm

công dụng khác nhau, 20 loài cây quí hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) Nhiều loài quí hiếm và có giá trị sử dụng cao như Lim xanh, Táu mật, Lát hoa, Thông tre, La hán rừng, Vù hương, Kim giao,vv., và 6 loài cây được ghi trong Nghị định 32/NĐ-CP/2006 [10]

Dân cư sống trong khu vực KRQG Yên Tử gồm 7 dân tộc (Kinh, Dao, Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Cao Lan) trong đó đông nhất là dân tộc Dao (sống tập trung ở xã Thượng Yên Công) Là các dân tộc có tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc lâu đời và phong phú Hiện nay, ở đây các cộng đồng vẫn tiếp tục duy trì hoạt động khai thác và sử dụng cây thuốc Nam trong việc phòng chống bệnh tật và buôn bán Theo cuộc điều tra của Phùng Văn Phê, Nguyễn Trung Thành [24], đã phát hiện được 143 loài thực vật thuộc 131 chi, 69 họ, 3

Trang 31

ngành thực vật bậc cao có mạch có giá trị làm thuốc Trong đó ngành Ngọc Lan đa dạng nhất với 137 loài (chiếm 95,80%); tiếp theo là ngành Dương xỉ

có 5 loài (chiếm 3,5%); cuối cùng là ngành Thông có 1 loài (chiếm 0,7%) Trong ngành Ngọc lan thì lớp Ngọc lan ưu thế hơn với 107 loài (chiếm 74,82%), lớp Hành có 30 loài (chiếm 20,98%)

Nằm ở phía Bắc của KRQG Yên Tử là Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, nằm ở địa phận tỉnh Bắc Giang Do chung dãy núi Yên Tử, và có cùng các cộng đồng dân cư như ở KRQG Yên Tử nên hai khu này có sự tương đồng về mặt đa dạng sinh học cũng như về đa dạng cây thuốc

KBTTN Tây Yên Tử có tổng diện tích đất rừng là 13.022,7 ha, nằm trên địa bàn hành chính của các xã An Lạc, Tuấn Mậu, Thanh Luận, Thị trấn Thanh Sơn (huyện Sơn Động), Lục Sơn (huyện Lục Nam) Toạ độ địa lý của KBT: 21o9'–21o13' vĩ độ Bắc và 106o33' - 107o2' kinh độ Đông Phía Đông và phía Nam giáp các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, phía Tây và Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và phần còn lại của Thị trấn Thanh Sơn, các xã Thanh Luận, An Lạc, Dương Hưu, Long Sơn, Lục Sơn Trụ sở chính của KBTTN Tây Yên Tử đặt tại thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động [9]

Theo số liệu của Chi cục kiểm lâm Bắc Giang [9], đã thống kê được ở KBTTN Tây Yên Tử 492 loài thực vật bậc cao có mạch, xếp theo 8 nhóm sử dụng: nhóm cho gỗ 32,3%; nhóm cây thuốc 20,9%; còn lại là các nhóm cho tanin, nhóm cho tinh dầu và nhựa, nhóm làm thức ăn cho người và động vật nuôi, nhóm làm vật liệu xây dựng, nhóm làm hàng mỹ nghệ và nhóm cây cảnh (chủ yếu là loài lan) Trong số đó có trên 40% tổng số loài cây đã thống

kê được có khả năng làm dược liệu Có 2 loài thực vật quý hiếm (nhóm IIA) được ghi trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ gồm: Lim xanh

(Erythrophleum fordii Oliv.), Vù hương (Cinnamomum balansae Lecomte)

Các loài cây thuốc Nam ở độ cao dưới 700 m có các họ Dầu

Trang 32

(Dipterocarpaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Long não (Lauraceae), họ Thông (Pinaceae) Trên 700 m có các họ Dẻ (Fagaceae), họ Sau sau (Hamamelidace), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Chè (Theaceae) và quần thể Trúc yên tử Có những loài cây đặc biệt quý hiếm như: Tùng la hán

(Taxus baccata L.), Hoàng đàn (Cupressus torulosa D.Don), Trúc bụng phật (Bambusa ventricosa McClure), Thông hai lá dẹt (Pinus krempfii Lecomte) Ngoài ra còn nhiều loài cây thuốc quý như: Ba kích (Morinda officinalis F.C.How), Trầm hương (Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte), Bình vôi hoa đầu (Stephania cephalantha Hayata), Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb.), Hoàng đằng (Fibraurea recisa Pierre), Cẩu tích (Cibotium barometz (L.) J.Sm.), Cốt toái bổ (Drynaria fortunei (Kunze ex Mett.) J.Sm.), Đẳng sâm (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f & Thomson), vv., đã và đang được

người dân địa phương (trong đó 80% là người dân tộc thiểu số) khai thác để

Bổ béo đen, Bổ béo trắng, Cu chó, Khúc khắc, Lá lốt rừng, vv Rất có thể trong số đó, có những loài chưa được nghiên cứu hoặc chưa được tư liệu hóa trong các sách về cây thuốc Do vậy, để có thể bảo tồn và phát triển bền vững

Trang 33

cây thuốc ở khu vực này, cần thiết phải có một nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về các cây thuốc ở khu vực, nhằm xác định đầy đủ nhất về tính đa dạng sinh học, sử dụng, phân bố, điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng, các hoạt động trồng trọt cây thuốc Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học, ý nghĩa trong thực tiễn, mà còn góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa – lịch sử

- tâm linh của dân tộc, của một trung tâm Phật giáo của cả nước

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cây thuốc ở Khu Rừng Quốc gia Yên Tử (theo tri thức chung và tri thức của các cộng đồng ở khu vực Yên Tử)

- Cây thuốc trong vườn gia đình của các thầy lang khu vực Yên Tử (xã Thượng Yên Công)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc ở Khu Rừng Quốc gia Yên Tử

2.2.1.1 Điều tra theo tuyến

Được thực hiện bằng phương pháp điều tra theo tuyến [4], [11], với người cung cấp tin quan trọng (KIP) KIP là những người am hiểu cây thuốc trong khu vực xã Thượng Yên Công, thông qua các chuyến điều tra thực địa

để quan sát, phỏng vấn và thu thập mẫu tiêu bản Mục tiêu điều tra là xác định thành phần loài, cách sử dụng cây thuốc trong khu vực Các bước thực hiện bao gồm:

(i) Xác định tuyến điều tra: Xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa

hình hoặc phân bố cây thuốc trong khu vực Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra được thiết kết theo các địa hình và thảm thực vật khác nhau (tuyến núi cao, rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, ven đường, rừng trồng, vv.) Tổng cộng có 6 tuyến điều tra đã được thực hiện

cùng với 3 KIP

(ii) Thu thập thông tin tại thực địa: Phỏng vấn bất kỳ cây nào gặp trên đường

hoặc dừng lại tại mỗi địa điểm có sự thay đổi về thảm thực vật và tiến hành

Trang 35

phỏng vấn Thông tin cần thu thập bao gồm: Tên cây tiếng địa phương, bộ phận dùng, công dụng, cách dùng Thu mẫu tiêu bản và chụp ảnh cây thuốc

(iii) Xử lý thông tin: Thông tin mang tính chất định tính, bao gồm: Danh mục

loài (tên địa phương, tên thường dùng, tên khoa học, công dụng, cách dùng,

bộ phận dùng)

2.2.1.2 Điều tra bằng ô tiêu chuẩn

Thiết lập các ô tiêu chuẩn có kích thước là 100m2 (10mx10m), được xác định bằng phương pháp phân tầng – ngẫu nhiên dựa trên thực trạng thảm thực vật và địa hình [11], Tổng số 51 ô tiêu chuẩn đã được đặt trong khu vực nghiên cứu Sử dụng máy định vị GPS đánh dấu tọa độ các ô được chọn trên bản đồ Các hoạt động điều tra bao gồm:

(i) Thiết lập ô: Xác định ranh giới ô bằng thước dây, đóng cọc và căng

dây nylon màu

(ii) Thu thập thông tin: Sử dụng bộ phiếu điều tra để thu thập thông tin (Phụ lục 1.3) Mỗi ô nghiên cứu là một mẫu (sample), gồm 2 phần: (1) thông tin về điều kiện môi trường: tọa độ, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc,

hướng phơi, loại thảm thực vật, độ che đá lộ đầu, độ che đá tảng, độ che đá răm, chế độ nước mặt, độ tàn che, độ che phủ thảm tươi, các cây gỗ chính, số thân cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 10cm trở lên, chiều cao vút ngọn;

(2) thông tin về cây thuốc: tên các loài cây thuốc xuất hiện trong ô Thu mẫu

tiêu bản và chụp ảnh cây thuốc

(iii) Xử lý và phân tích thông tin: Danh mục loài và biến số của loài,

bao gồm: toàn bộ các loài cây thuốc, cây gỗ; tên khoa học; họ thực vật; tên địa phương; tên thường dùng; các biến số của loài, bao gồm: (i) dạng sống (cây gỗ, cây bụi, dây leo, cây kí sinh,…), (ii) sử dụng Dữ liệu ô điều tra, bao gồm: Thông tin về sinh thái/môi trường/thảm thực vật (biến số của ô) bao

Trang 36

gồm: (i) các biến số “trực tiếp”: đo đạc trên thực địa, không qua xử lý, tính toán; (ii) các biến số “gián tiếp”, được xác định thông qua tính toán các biến

số trực tiếp: số loài cây gỗ, số loài cây thuốc, tần số xuất hiện của cây thuốc,

độ ẩm đất, pH đất,… Thông tin về loài của ô, bao gồm tên loài cây thuốc và cây gỗ (tên khoa học)

Toàn bộ các dữ liệu trên được mã hóa và nhập và phần mềm máy tính PC-ORD, phiên bản 4.10, và phân tích bằng phép phân tích chùm (Cluster Analysis) và phép phân tích trục chính (Principal Components Analysis) để nghiên cứu về thảm thực vật, phân bố và điều kiện sinh thái của cây thuốc

2.2.2 Điều tra cây thuốc trong vườn gia đình

Chọn mẫu: Các hộ được chọn là các thầy lang đang hành nghề thuốc tại

cộng đồng có trồng cây thuốc tại vườn gia đình

Thu thập thông tin: Điều tra hộ gia đình, sử dụng biểu mẫu chung (Phụ

lục 1.2) Thông tin được thu thập thuộc các nhóm chính là (i) điều kiện xã hội, (ii) điều kiện kinh tế, (iii) hoạt động hành nghề thuốc và (iv) tình hình trồng cây thuốc tại vườn gia đình, bao gồm: điều kiện sinh thái của vườn, cây thuốc (được trồng trong vườn) Thu mẫu tiêu bản và chụp ảnh Tổng số 12 vườn hộ gia đình đã được điều tra trong quá trình nghiên cứu

2.2.3 Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc

Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc được thu thập qua 2 nguồn: (i) phỏng vấn theo tuyến và ô tiêu chuẩn tại thực địa, tại vườn gia đình và (ii) từ các tài liệu thứ cấp: Từ điển cây thuốc Việt Nam [8]; Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam [34]; Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [20]; Medicinal plants of Vietnam, Cambodia and Laos [46]; vv

Trang 37

2.2.4 Thu mẫu và làm tiêu bản thực vật

Mẫu tiêu bản thu tại thực địa được xử lý bằng phương pháp ướt: mẫu cây được xông hơi cồn trong túi nilon kín, sau đó sấy khô [11] theo các kỹ thuật tiêu bản thông thường và lưu trữ tại Phòng tiêu bản của Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP)

2.2.5 Xác định tên khoa học của cây thuốc

Tên khoa học của các mẫu được xác định theo phương pháp So sánh hình thái dựa trên các mẫu tiêu bản, mẫu tiêu bản chuẩn (type) tại các phòng

tiêu bản trong và ngoài nước (trong nước: Phòng tiêu bản – Trường Đại học

Dược Hà Nội (HNIP); Phòng tiêu bản – Khoa Sinh học – Đại học Khoa học

Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU); các phòng tiêu bản online ngoài nước: Herbarium of National Taiwan University (TAI) [115]; Herbier Muséum Paris – Muséum National d’Histoire Naturelle (P) [113]; The

Herbarium and Library, Royal Botanic Gardens, Kew (K) [110]; Herbarium, Royal Botanic Garden Edinburgh (E) [111]; New York Botanical Gardens (NY) [114]; Botanischer Garten und Botanisches Museum Berlin-Dahlem, Freien Universität Berlin (B) [116]; The Linnaean Herbarium, The Linnaean Society of London (LINN) [112], Chinese Virtual Herbarium (CVH) [117] Ngoài ra, tên khoa học được xác định và chỉnh lý theo các tài liệu Thực vật chí Việt Nam [35]; Thực vật chí Tổng quát Đông Dương (Flore Générale de l'Indochine) [106]; Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam (Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam) [107]; Cây cỏ Việt Nam [12]; Từ điển Thực vật thông dụng [6]; Từ điển Cây thuốc Việt Nam [8]; Cẩm nang tra cứu

và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnoliophyta, Angiospermae) ở Việt Nam [2]; Những họ thực vật có hoa [17], [18]; Thực vật chí Trung Quốc (Flora of China) [52]; Thực vật chí Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Flora Reipublicae Popularis Sinicae) [108]; Trung Quốc cao đẳng thực vật đồ giám

Trang 38

(Iconographia Cormophytorum Sinicorum) [109]; Thực vật chí Đài Loan (Flora of Taiwan) [47]; Thực vật chí Thái Lan (Flora of Thailand) [53]; Thực vật chí Malesiana (Flora Malesiana) [54]; Danh lục các loài thực vật Việt Nam [32]; Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam [7]; The International Plant Names Index (IPNI) [118]; The Plant List [121]

Trang 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Cây thuốc ở khu vực Yên Tử (Quảng Ninh)

3.1.1 Tính đa dạng của cây thuốc ở khu vực Yên Tử

3.1.1.1 Tính đa dạng theo các bậc phân loại

Tổng số 451 loài cây thuốc đã được phát hiện ở khu vực Yên Tử, Quảng Ninh (Phụ lục 2.1) Trong đó có 385 loài được người dân ở đây sử dụng làm thuốc, 66 loài cây thuốc (được ghi nhận trong các sách thuốc) nhưng không được người dân sử dụng Trong 451 loài cây thuốc này, có 392 loài đã được xác định tên khoa học đến loài, 57 loài xác định đến chi, 2 loài xác định được

và loài lớn nhất, lần lượt là 117 họ, 316 chi và 432 loài, chiếm 95,79% tổng

số loài, trong đó lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có nhiều cây thuốc nhất (92

họ, 261 chi, 358 loài, chiếm 79,38% tổng số loài) Số loài của các ngành thực vật còn lại chỉ chiếm 4,21% (Bảng 3.1) Trong 131 họ cây thuốc ở khu vực Yên Tử, không có họ nào có số chi và số loài đến 10% Họ có nhiều chi và nhiều loài nhất (họ Đậu, Fabaceae) chỉ có số chi chiếm 7,27% và số loài chiếm 7,10% Ở taxon bậc chi, chỉ có 26 họ (19,85%) có số chi từ 4 (1,21%) trở lên, trong khi đó có đến 77 họ (58,78%) chỉ có một chi Ở taxon bậc loài,

có 29 họ (22,14%) có số loài từ 5 (1,11%) trở lên, nhưng có đến 61 họ (46,56%) chỉ có một loài cây làm thuốc Phân bố loài của cây thuốc theo họ được trình bày ở Hình 3.1 và Phụ lục 2.2

Trang 40

Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc ở khu vực Yên Tử trong các ngành thực vật

Tổng cộng (1-6) 131 100 330 100 451 100

Hình 3.1 Phân bố số lượng họ cây thuốc ở khu vực Yên Tử theo số loài

Có 29 họ có số loài từ 5 loài trở lên Tổng số loài của các họ này là 283

loài, chiếm 62,75% số loài cây thuốc điều tra được ở khu vực Yên Tử (Bảng

3.2)

Ngày đăng: 25/07/2015, 12:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Tỷ lệ dân số sử dụng thuốc YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Hình 1.1. Tỷ lệ dân số sử dụng thuốc YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu (Trang 20)
Hình 1.2. Tỷ lệ dân số sử dụng các sản phẩm thảo dược ít nhất một lần một số  nước phát triển (Nguồn: Fisher P & Ward A (1994) [50]; Health Canada - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Hình 1.2. Tỷ lệ dân số sử dụng các sản phẩm thảo dược ít nhất một lần một số nước phát triển (Nguồn: Fisher P & Ward A (1994) [50]; Health Canada (Trang 20)
Bảng 3.1. Sự phân bố cây thuốc ở khu vực Yên Tử trong các ngành thực vật - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Bảng 3.1. Sự phân bố cây thuốc ở khu vực Yên Tử trong các ngành thực vật (Trang 40)
Hình 3.2. Phân bố số lượng chi cây thuốc ở khu vực Yên Tử theo số loài - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Hình 3.2. Phân bố số lượng chi cây thuốc ở khu vực Yên Tử theo số loài (Trang 42)
Bảng 3.8. Danh mục các dạng sống của cây thuốc ở khu vực Yên Tử - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Bảng 3.8. Danh mục các dạng sống của cây thuốc ở khu vực Yên Tử (Trang 48)
Bảng 3.10. Mối quan hệ giữa các biến số về môi trường, thảm thực vật và cây  thuốc với 3 trục chính đầu tiên của PCA (Principal Components Axis) - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Bảng 3.10. Mối quan hệ giữa các biến số về môi trường, thảm thực vật và cây thuốc với 3 trục chính đầu tiên của PCA (Principal Components Axis) (Trang 51)
Hình 3.3. Phân bố của cây thuốc ở khu vực Yên Tử theo loại thảm thực vật - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Hình 3.3. Phân bố của cây thuốc ở khu vực Yên Tử theo loại thảm thực vật (Trang 53)
Hình 3.4. Mức độ đa dạng cây thuốc theo loại thảm thực vật - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Hình 3.4. Mức độ đa dạng cây thuốc theo loại thảm thực vật (Trang 53)
Hình 3.5. Tần số xuất hiện cây thuốc trong các ô nghiên cứu - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Hình 3.5. Tần số xuất hiện cây thuốc trong các ô nghiên cứu (Trang 55)
Bảng 3.13. Danh mục các bộ phận dùng của cây thuốc ở khu vực Yên Tử - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Bảng 3.13. Danh mục các bộ phận dùng của cây thuốc ở khu vực Yên Tử (Trang 58)
Bảng 3.14. Danh mục các cách dùng thuốc ở khu vực Yên Tử - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Bảng 3.14. Danh mục các cách dùng thuốc ở khu vực Yên Tử (Trang 59)
Hình 3.6. Tần số xuất hiện trong vườn của các loài cây thuốc - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Hình 3.6. Tần số xuất hiện trong vườn của các loài cây thuốc (Trang 61)
Bảng 3.16. Danh mục các loài cây thuốc trồng ở vườn gia đình có trong Sách - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Bảng 3.16. Danh mục các loài cây thuốc trồng ở vườn gia đình có trong Sách (Trang 63)
Hình 3.8. Tỷ lệ số loài cây thuốc trồng trong vườn theo mức độ sử dụng - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Hình 3.8. Tỷ lệ số loài cây thuốc trồng trong vườn theo mức độ sử dụng (Trang 66)
Bảng 4.3. So sánh số loài cây thuốc được cộng đồng người Dao, Kinh ở khu  vực Yên Tử sử dụng so với số loài cây thuốc ở các cộng đồng khác ở Việt - Điều tra tài nguyên cây thuốc ở vùng yên tử (quảng ninh)
Bảng 4.3. So sánh số loài cây thuốc được cộng đồng người Dao, Kinh ở khu vực Yên Tử sử dụng so với số loài cây thuốc ở các cộng đồng khác ở Việt (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w