1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình giá vẻ đẹp ngôn từ và xây dựng bài tập đọc hiểu giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ trong bài văn miêu tả lớp 4

47 6,7K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình Giá Vẻ Đẹp Ngôn Từ Và Xây Dựng Bài Tập Đọc Hiểu Giúp Học Sinh Cảm Nhận Được Vẻ Đẹp Của Ngôn Từ Trong Bài Văn Miêu Tả Lớp 4
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 76,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài của tôi được xây dựng nhằm đưa ra các câu hỏi, bài tập đọc hiểu giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ trong văn miêu tả lớp 4.

Trang 1

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài:

Trong chương trình tiếng việt tiểu học cải cách năm 2000, trong phân môn tập đọc, phần lớn các tác phẩm được đưa ra là những tác phẩm thơ, văn đặc sắc, gần gũi với thiếu nhi Đặc biệt, từ lớp 4, các em bắt đầu học thành thục văn miêu tả trong các tiết tập làm văn, chính vì thế, các bài tập đọc đưa ra, phần nhiều là các bài văn miêu tả: tả người, tả cảnh, tả hoạt động hay sự đan xem giữa các yếu tố đó Các ngữ liệu văn miêu tả đưa ra rất đặc sắc, giàu hình ảnh và lôi cuốn được các em

Các tác phẩm văn miêu tả không chỉ mang đến những bài học giáo dục mà còn đem đến những ước mơ, khơi gợi khát vọng hoài bão; lấp đầy vào tâm hồn vốn đã thơ ngây của các em muốn hiểu hết những tác phẩm văn học ấy, các em cần phải

có cái nhạy cảm, rung động nhạy bén đối với từng từ, từng ý trong tác phẩm

Việc cảm thụ của các em tốt hay không, ngoài việc do bản thân các em, thì phần nhiều là do sự dẫn dắt, hướng dẫn của giáo viên Để sự cảm nhận và thông hiểu của học sinh ở mức tốt nhất, thì giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng Vaitrò của người thầy là giúp hs nắm bắt “ý” của bài, từ đó có cách nhìn nghệ thuật, cách cảm nghệ thuật về tác phẩm Muốn vậy, cần phải có 1 hệ thống bài tập phù hợp cho học sinh

Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy các giáo viên còn chưa chú trọng nhiều đến các câu hỏi nhằm khai thác vẻ đẹp của ngôn từ mà phần lớn là các câu hỏi tái hiện – dạng bài tập đọc hiểu ở mức độ thấp Như vậy sẽ không phát huy hết tiềm năng sáng tạo của các em

Trong chương trình sách giáo khoa, trong các câu hỏi đưa ra trong các bài văn miêu tả cũng chưa chú trọng đến các bài tập cảm nhận vẻ đẹp của ngôn từ

Trang 2

Chính vì thế tôi chọn đề tài này, mong muốn thông qua các bài tập đọc văn miêu tả lớp 4, thông qua việc phân tích, bình giá cái hay cái đẹp của lớp nghệ thuậtngôn từ mà đưa ra được các bài tập cảm thụ văn học- giúp hs nhận ra vẻ đẹp của ngôn từ qua đó giúp kĩ năng cảm thụ văn học của hs trở thành 1 kĩ năng quen thuộc.

Tên đề tài của tôi là:” Bình giá vẻ đẹp ngôn từ và xây dựng bài tập đọc hiểu giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ trong bài văn miêu tả lớp 4”

II Giả thuyết khoa học

Đề tài của tôi được xây dựng nhằm đưa ra các câu hỏi, bài tập đọc hiểu giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ trong văn miêu tả lớp 4 Chính vì thế, nếu được sử dụng, sẽ đem lại hiệu quả, giúp học sinh có những câu hỏi hay, phù hợp theo các mức độ nhận thức, từ đó lựa chọn cho mình bài tập phù hợp nhất để làm bài Hệ thống bài tập này cũng có tác dụng rất lớn đến giáo viên Không chỉ đưa ra bài tập, mà ở đề tài này, tôi đã xây dựng các bước đưa ra câu hỏi theo các mức độ Chính vì thế, giáo viên có thể áp dụng vào trong nhiều loại bài tập đọc khác nhau, dựa vào đó để đưa ra câu hỏi Cho nên, nếu được áp dụng và sử dụng hiệu quả, thì các bài tập này đúng là một phương tiện hỗi trợ có hiệu quả cho cả người dạy và người học

Trang 3

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I Cơ sở khoa học:

1 Cơ sở lí thuyết

1.1 Cơ sở văn học

1.1.1 Văn miêu tả và đặc điểm của văn miêu tả

1.1.1.1 Thế nào là văn miêu tả?

Theo từ điển Tiếng Việt ( Hoàng Phê chủ biên), miêu tả là “dùng ngôn ngữhoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dungđược cụ thể về sự vật, sự việc”

Trong SGKTV4 Tập 1, trang 140, các tác giả đưa ra ghi nhớ “ miêu tả là vẽlại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật giúp người nghe,người đọc có thể hình dung được các đối tượng ấy”

Các kiểu bài miêu tả dạy ở trường Tiểu học:

Dựa vào nhà trường do yêu cầu giảng dạy, văn miêu tả được chia thànhnhiều kiểu Căn cứ vào đối tượng miêu tả, văn miêu tả gồm có các kiểu bài: tả đồvật, tả cây cối, tả người, tả con vật, tả cảnh

Ở chương trình CCGD cũng như chương trình mới, các kiểu bài này dạycho các học sinh lớp 3, 4, 5 nhưng thực chất học sinh đã được làm quen với kiểubài này ngay từ lớp 2 khi tập quan sát tranh, trả lời câu hỏi, tập tả ngắn về đồ vật,con vật, người, cảnh Chính vì vậy, khi xây dựng hệ thống bài tập giúp học sinhlàm quen với văn miêu tả chúng tôi cũng quan tâm đến việc giúp các em làm quenvới các kỹ năng miêu tả đơn giản của từng kiểu bài được dạy ở các lớp trên

1.1.1.2 Các đặc điểm của văn miêu tả

a Tính sinh động và tạo hình: Là đặc điểm đầu tiên của văn miêu tả Một đoạn vănhay một bài văn mang tính sinh động và tạo hình khi đoạn văn đó hoặc bài văn đó

cụ thể, hàm súc Làm nên tính sinh động và tạo hình của văn miêu tả là những chitiết, hình ảnh sống động Những chi tiết, hình ảnh sống động đó được lấy từ thực

Trang 4

tiễn cuộc sống, từ sự hiểu biết, khả năng quan sát của chúng ta Nếu tước bỏ nhữngchi tiết ấy đi bài văn miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, kém hấp dẫn.

b Tính sáng tạo, thẩm mĩ, tính chứa đựng tình cảm của người viết

Khi miêu tả bất kỳ một đối tượng nào đó ( người, vật hay cảnh ) dù có bám sátthực tế đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh những

sự vật, con người đó một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởngtượng, đánh giá hết sức phong phú, người viết nó bao giờ cũng gửi gắm tình cảm

và quan điểm thẩm mỹ của mình vào đó

Cùng một đối tượng miêu tả nhưng mỗi người chọn một vị trí quan sátkhác nhau, có cách cảm nhận, sự rung cảm trước cảnh khác nhau nên phong cáchviết của từng người khác nhau Bài văn miêu tả của người nào có sự quan sát thấuđáo, tinh tế phát hiện ở cảnh vật, con người, … những nét đặc sắc, tinh tế, đồngthời lại biết dùng những phương tiện tu từ để diễn đạt lại cách cảm, cách nghĩ củamình thì bài văn đó đã thể hiện được sự sáng tạo Như vậy tính sáng tạo chứa đựngtình cảm của người viết trong văn miêu tả thể hiện ở chỗ họ phát hiện ra cái riêng,cái mới của người khác không thấy hoặc chưa thấy, không cảm hoặc chưa cảm nhưmình

c Tính chân thực

Văn miêu tả không chỉ đòi hỏi tính sinh động và sáng tạo mà còn đòi hỏi tính chânthật, tính chân thật đòi hỏi người viết phải miêu tả bằng những chi tiết sát thực,không “bịa” đặt mà phải miêu tả đúng bản chất của đối tượng

Văn miêu tả không hạn chế tính tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo mới mẻcủa người viết, nhưng như vậy không có nghĩa là văn miêu tả cho phép người viếtmuốn tả thế nào thì tả Tính chân thật đòi hỏi người viết phải miêu tả băng nhữngchi tiết sát thực, đúng với bản chất của đối tượng Điều này có liên quan đến việcquan sát để lựa chọn chi tiết, nếu người nào quan sát tinh vi, thấu đáo thì miêu tả sẽchân thực, thấu đáo

Trang 5

d Ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh và cảm xúc

Đây là đặc điểm quan trọng nhất của văn miêu tả Bởi lẽ văn miêu tả là “vẽ”,

là tái hiện lại cảnh vật, con người thông qua ngôn ngữ Nhờ cớ ngôn ngữ, ngườiviết có thể miêu tả được tiếng động, âm thanh hay tư tưởng, tình cảm của conngười mà sự miêu tả trong các lĩnh vực khác không có được

Ngoài ra, ngôn ngữ miêu tả còn giúp cho người viết bộc lộ được vẻ đẹp muônmàu của cảnh vật và con người xung quanh Thứ làm nên chất liệu ngôn ngữ miêu

tả này chính là các phương tiện ngôn ngữ Vận dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ

so sánh, nhân hóa cùng với tính từ chỉ màu sắc, mức độ với từ ghép, từ láy, … vàotrong viết văn miêu tả đã làm cho đối tượng miêu tả trở nên ấn tượng, hấp dẫntrong con mắt người đọc

1.1.2 Văn bản nghệ thuật – nghệ thuật của ngôn từ

1.1.2.1 Ngôn từ là chất liệu xây dựng hình tượng văn học

Chất liệu của văn chương là ngôn từ Mỗi nhà văn, nhà thơ đều lao động trênchất liệu đó Sắp xếp “tiếng lòng” như thế nào cho hay, cho du dương hay có vầnđiệu để có được “cái thú được nghe lời mình nói” là một việc làm nhọc lòng,nhưng tự nguyện Thơ là tự giác Không ai bắt nhà thơ ngồi vào bàn gửi gắm tâm

sự của mình “Tiếng lòng” giống như những sợi tơ lóng lánh sẽ theo ngòi bút chảyxuống trang giấy “bện” thành các con chữ Chữ viết là hình thức vật chất hóa ýnghĩ, tư tưởng Ngôn từ thơ “photo” lại “tiếng lòng” của nhà thơ Thơ vốn được coi

là “một ngôn ngữ bí mật”, nhà thơ lao động trên sự bí mật đó

Hội họa dùng màu sắc, đường nét… âm nhạc diễn tả bằng âm thanh, tiếttấu… điêu khắc dùng chất liệu (kim loại, đá, gỗ ) tạo nên hình khối, đường nétv.v… Còn văn học phải diễn tả bằng ngôn từ Mỗi tác phẩm văn học phải đượcgắn liền với một thứ ngôn ngữ và văn tự (gốc) nhất định Ngôn ngữ, văn tự là công

cụ của nhà văn Nhà văn Nguyễn Tuân được ca ngợi là bậc thầy về ngôn ngữ

Trang 6

Văn của ông là tờ hoa, là trang văn Hồ Chí Minh viết văn làm thơ bằng tiếng mẹ

đẻ, bằng tiếng Pháp, bằng chữ chữ Hán Thật là kì tài

Con người sống và làm việc để duy trì sự tồn tại và hơn nữa là thúc đẩy lịch

sử con ngưởi phát triển Từ mục đích đó thì ngôn ngữ ra đời để chỉ rõ hiện tượng,

sự vật và ý nghĩa biểu tượng cần diễn đạt , phục vụ cuộc sống và mục đích củacon người Và còn mang một ý nghĩa khác quan trọng không kém trong cuộc sốngcủa con người là phục vụ trong hoạt động tinh thần, về những sáng tạo nghệ thuậtnhư thơ văn của con người Trong đó muốn diễn đạt nó bao hàm đầy đủ ý nghĩa,muốn lưu lại và muốn hữu hình ý của mình thì hẳn nhiên con người phải tạo ramột phương thức biểu hiện mới dễ dàng và khô đúc hơn- đó là ngôn từ

Ngôn từ khác ngôn ngữ ở chỗ, ngôn từ là một trong hai bộ phận cấu thànhngôn ngữ Nó mang nét đặc trưng, cá nhân nhưng phổ biến và khoa học Ngôn từ

là sự biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ trong sự giao tiếp sống động của con ngườiqua lời nói của một cá nhân, mang đậm sắc thái cá nhân để tác động đến một ngườikhác Ngôn từ có thể là một từ, một nhóm từ, một câu, một đoạn văn khi nóihoặc khi viết Và ngôn từ là cái tác động trực tiếp nhất, sớm nhất khi con ngườitiếp xúc với tác phẩm Nên nói đến một “tác phẩm nghệ thuật đích thực” không thểkhông bàn đến sự phát minh về hình thức và sự khám phá về nội dung của ngôn từtrong tác phẩm

Nhưng nếu xét trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung thì ngôn từ chưa có tronghầu hết bộ phận này Cụ thể như trong kiến trúc hay hội họa rất ít có ngôn từ, ítlấy ngôn từ làm cách diễn đạt chính trong tác phẩm đó và không mang ý nghĩaquan trọng, chủ chốt trong ngành Vì nghệ thuật là tư duy của hình tượng, không

có hình tượng thì không có nghệ thuật Mà hình tượng là một phương tiện cố địnhthu hút những cái được yêu thích thường hay biến đổi; là một cái gì đơn giản và rõràng hơn nhiều so với cái được giải thích Vì tính hình tượng có mục đích làm xích

Trang 7

gần ý nghĩa của hiện tượng với cách hiểu của chúng ta Nhưng xét trong tác phẩmvăn chương thì ngược lại Nó có ý nghĩa sâu sắc, mạnh mẽ và quyết định tới thànhcông của tác phẩm Nó là kẻ tạo ra thành công của tác phẩm vì hình tượng đượctoát ra từ ngôn từ Ngôn từ vừa mang một nghĩa bên trong nó, tức là tính biểu thịcủa ngôn từ; vừa gợi ra một vật gì đó ở bên ngoài nó - là tính hàm nghĩa của ngôn

từ Mặt thứ hai này của ngôn từ đưa đến cho con người nét nhìn sâu hơn, xa hơn,phát triển hơn Giúp chúng ta tư duy nhanh về hình tượng

Nói như nhà văn Nga Leonov: “Tác phẩm nghệ thuật đích thực nhất là tácphẩm mà ngôn từ bao giờ cũng là một phát minh về hình thức, một khám phá vềnội dung”

Như trên ta đã nói ngôn từ có thể là một từ, một câu, một đoạn Nó có cấutrúc bên trong và có quy luật, trình tự nhất định của nó Nhiều khi chúng tạo thành

hệ thống, tạo nên mối liên hệ cái này làm nảy sinh cái kia Có đối lập nhưng lạidựa vào nhau để cùng tồn tại, chi phối nhau, quy định nhau và đòi hỏi nhau Ngoài

ra chúng còn có mối quy luật giữa ngôn từ với những thành tố bên ngoài nó nhưhoàn cảnh tác động từ bên ngoài tới sự hình thành của tác phẩm Vì thế conngười làm ra ngôn từ và vô tình làm ra quy luật mới Sự thể hiện rõ ràng lậptrường, quan điểm, ý thức tư tưởng, thế giới quan của mỗi người qua ngôn từ trongtác phẩm chính là “phát minh” hình thức của ngôn từ

Tuy nhiên những quy luật đó đều mang tính cộng đồng, tập thể nên rất hiệnthực và gần gũi Nếu “phát minh” đó quá xa lạ hay quá nghịch lí thì khó chấp nhận

mà dễ bị phê phán, chống đối Nó luôn luôn bị chi phối bởi ý thức và tư tưởng củađọc giả, của người trong ngành

Còn “sáng tạo nội dung” qua ngôn từ là như thế nào? Ngôn từ rõ ràng khôngchỉ là hình thức, mà là bắt nguồn từ thực tiễn và ý thức của con người Hình thức

Trang 8

muốn tồn tại được thì phải luôn luôn gắn liền với nội dung, mang dấu ấn của nộidung.

Ngôn từ mang nhiều nghĩa khác nhau và gần nhau Ngôn từ là đa nghĩa vàkhi đem nó vào sử dụng Qua phát minh hình thức thành công của ngôn từ sẽ tạo rađược những đoạn văn chương, những tác phẩm nghệ thuật cụ thể Sẽ tạo ra “văncảnh” cho tác phẩm mà không một tác phẩm nghệ thuật đích thực nào có thể biểuhiện hơn điều đó Qua văn cảnh đó, ý muốn và dụng ý sáng tạo của tác giả đượcbộc lộ sâu sắc, vì thế ngôn từ cũng đã làm tròn nhiệm vụ của mình là “phát minh

về hình thức và sáng tạo về nội dung”

Trong sáng tạo về nội dung của ngôn từ thể hiện thì không phải người sángtạo dựa trên quy luật, dựa trên cái đã có để “xếp chữ” tạo ra một hình thức ngôn từmới là đủ như hiện nay điều này diễn ra rất phổ biến Vì như vậy tạo ra sự saochép, học đòi và tính khoe mã không trung thực trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuậtqua ngôn từ Vì như vậy người nghệ sĩ sẽ chẳng khác nào một thợ lắp ráp ngôn từđơn thuần, ai muốn cũng có thể làm được Mà họ phải làm chủ được tác phẩm củamình, làm chủ ngôn từ trong tác phẩm của mình Nó bắt nguồn từ cuộc sống vàviết nên từ sâu thẳm tim gan người cầm bút, từ những tư tưởng lớn và những suynghĩ qua bút pháp riêng Giúp con người nâng cao tâm hồn, nhận thức, tư tưởng

về cuộc sống, về nhân lọai đó cũng là điều dễ hiểu vì sao các tác giả lại đa sốkhông tìm cách phát triển năng lực tư duy hay phân tích trong mình mà lại dồn tất

cả năng lượng vào sự say mê đối với vật liệu- ngôn từ hơn

Ngôn từ văn học có thể tồn tại ở nhiêù dạng : lời nói ,câu hát,… Đối với vaănhọc viết, ngôn từ là chữ viết

Các bộ môn khoa học khác cũng được hình thành từ ngôn từ Nhưngvăn bản ngôn từ chỉ là tác phẩm văn học khi văn bản ngôn từ ấy dùng lời văn với

Trang 9

mọi phương tiện biểu hiện của lời nói như: Nghĩa ,vần, nhịp, ngữ điệu , các biệnpháp tu từ , … để tạo ra những hình tượng nghệ thuật.

1.1.2.2 Văn bản nghệ thuật – nghệ thuật của ngôn từ

Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ Nhờ chất liệu ngôn ngữ mà chất nhânvăn, tính hình tượng, tính cảm xúc và độc đáo của văn chương còn có những sắcthái riêng mà các nghệ thuật khác không có Ngôn ngữ văn chương phải chauchuốt, cô đọng, hàm xúc, có tính biểu cảm, tính hình ảnh Nếu không, nghĩa, tình,

lí của văn chương chỉ sẽ là một nắm xương khô Một tác phẩm văn học có giá trịphải là sự hài hòa của nội dung và hình thức, tình ý chan chứa mà lời lẽ phải dạtdào Vì vậy, ngoài việc giải mã nghĩa, lí, tình, dạy đọc hiểu văn bản văn chươngcòn phải cho học sinh tiếp nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của cách nói vănchương, khả năng phát hiện được tín hiệu nghệ thuật, và cao hơn nữa là cho các emđánh giá được giá trị của các tín hiệu nghệ thuật trong việc biểu đạt nội dung Đâycũng chính là nội dung dạy cảm thụ văn học ở trường tiểu học

Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức không chỉ hiện ra trong toàn bộvăn bản mà ngay trong từng yếu tố, từng cấp độ của văn bản ở trên tất cả các bìnhdiện: từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp Việc tìm hiểu tác phẩm văn học phải bắt đầu

từ việc khám phá văn bản ngôn từ của nó Không có chìa khóa để mở cánh cửa đivào cấu trúc ngôn từ của tác phẩm thì chúng ta chỉ có thể đứng ngoài ngôi nhà củavăn chương

a) Nói về hình thức của tác phẩm, trước hết đó là phương diện âm thanh,

nhạc tính Nó có vai trò không nhỏ trong tác phẩm văn chương, nhất là trong thơ.

Chính âm thanh, nhạc tính đã góp phần rõ rệt để tạo ra giọng văn, giọng thơ màchúng ta đã có dịp nói đến ở phần đọc diễn cảm Cũng chính vì vậy, đọc diễn cảm

sẽ trở thành một biện pháp để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh.Đọc diễn cảm sẽ giúp các em tái sản sinh tác phẩm nghệ thuật, để cho các dòng

Trang 10

chữ được vang lên Vì vậy có những bài tập đọc ở tiểu học chỉ cần để học sinh trựctiếp cảm thụ bằng chính giọng đọc, bằng chính nhạc thơ Nó sẽ giúp HS nâng caokhả năng cảm xúc thẩm mĩ và kích thích các em khám phá cái hay, cái đẹp của vănchương Tất nhiên những yếu tố âm thanh không tồn tại một cách cô lập mà gắnvới hình ảnh, ý nghĩa do lời nói tạo nên

b) Tiếp đó là phương diện từ vựng (1) Từ ngữ trong văn bản văn chươngthường mang tính gợi tả, gợi cảm, chúng “đi lại”, “nhảy nhót” trong tác phẩm.Chính vì thế, trong các bài miêu tả, lớp từ láy được sử dụng rất nhiều Nhờ có lớp

từ tượng hình, tượng thanh mà cảnh người, vật đang gồng gánh hàng họ đi chợđược tả thật là sinh động, hối hả, nhộn nhịp:

Tiếng ve kêu rền rĩ trong những đám lá cây bên đường Tiếng kéo lách cách của những người bán thịt bò khô Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt Tiếng còi tàu hỏa thét lên và tiếng bánh sắt lăn trên đường ray ầm ầm (Âm thanh thành phố – TV3

–T1)

Chỉ với một sắc vàng với các cấp độ khác nhau: vàng xuộm, vàng hoe, vàng

lịm, vàng tươi, vàng ối, vàng xọng, vàng mượt, vàng giòn, vàng mới, vàng trù phú

nhà văn Tô Hoài đã thổi vào phong cảnh làng quê vào giữa ngày mùa một vẻ đẹp

lạ lùng: vẻ đẹp của những sắc vàng đầm ấm và trù phú (Quang cảnh làng mạcngày mùa – TV5 – T1)

Những tính từ, nhất là những tính từ tuyệt đối như đỏ ối, xanh rợn, tím ngắt,

vắng tanh, vàng hoe, trắng tuyết, đỏ son, xanh um, thơm lừng, thơm ngát, đỏ chót, ngọt lịm, cao vút, sâu hoắm,…được dùng với tần số cao tạo ra những sắc màu,

hình khối phong phú, đa dạng của những bài tập đọc ở tiểu học

Về mặt ngữ nghĩa, từ trong văn bản văn chương có biên độ nghĩa được mởrộng tối đa, tạo ra những nghĩa văn cảnh, nghĩa bóng rất đa dạng Các nhà văn đãvận dụng các nét nghĩa khác nhau và đã sử dụng từ rất là đắc địa

Trang 11

Khi giải mã văn chương, phải nắm được các thế đối lập về nghĩa của từtrong hệ thống ngôn ngữ mới hiểu văn bản và chỉ ra được sự tài tình của việc dùng

từ Phải thấy được sự khác nhau về nghĩa của “xông” với “xộc”, hoặc “bay” thìmới lột tả hết được sự ngỡ ngàng, thái độ ngạc nhiên vui thích và sự rung cảm củanhà văn trước mùi hương ngào ngạt, đậm đà lan tỏa nhiều trong không khí

Vì muốn gây ấn tượng, các nhà văn, nhà thơ đã đi chệch ra khỏi chuẩn mựcthông thường của ngôn ngữ toàn dân, sáng tạo ra bao từ mới chẳng hề có trong từđiển “Tím ngắt” thì chỉ màu sắc của mà hoa sầu riêng “tím ngát” thì lại có cả màu,

cả mùi thơm, cả sự lan tỏa của màu, của hương và sự mơ hồ lan tỏa của tâm hồn

người đứng ngắm sầu riêng (Sầu riêng – TV4 )

Nếu việc nắm các thế đối lập của từ trong hệ thống ngôn ngữ là rất cần thiết,

nó cho phép chúng ta chỉ ra cái “đắc địa”, sự tài tình của việc lựa chọn từ trong trục dọc của ngôn ngữ, thì những hiểu biết về những nét nghĩa chung của một trường từ vựng cũng không kém phần quan trọng Nó sẽ giúp chúng ta giải mã được nhiều bài tập đọc ở tiểu học Giá trị của tác phẩm văn chương không chỉ là ở cái hay riêng của từng từ đơn lẻ mà còn là sự hài hòa, lan tỏa, cộng hưởng của cả một trường từ Chính nét nghĩa chung, sự hòa đồng, cộng hưởng này sẽ tạo ra những giá trị ngữ nghĩa mới của văn bản Cả một trường từ của những sắc màu rực

rỡ: người ta không thể không nghĩ tới màu đỏ rực của hoa chuối, người ta cũng

không thể nào bỏ qua cái “vàng hoe ” của phố huyện, càng không thể bỏ qua màu sương núi “tím nhạt” trong buổi hoàng hôn, hay màu “trắng xóa” của thác nước

Có thể nói việc sử dụng các từ ngữ gợi màu sắc rất độc đáo khiến chúng ta có cảm giác như chính mình đang đi trên con đường chênh vênh, thưởng ngoạn nhữngcảnh đẹp hùng vĩ ấy Đường lên Sa Pa dường như lung linh trong những sắc màu tuyệt diệu

Chính việc lựa chọn từ có những nét nghĩa chung đã tạo ra sự cộng hưởngcủa các từ làm nên phép tu từ có tên gọi biện pháp hoà hợp

Trang 12

Một đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật là sử dụng nhiều biện pháp tu từ Các biệnpháp tu từ thường được sử dụng trong các bài tập đọc ở tiểu học là so sánh, ẩn dụ(so sánh ngầm), hoán dụ, nhân hóa, hòa hợp.

Những cách dùng từ đặc sắc cùng với các biện pháp tu từ đã làm cho lớpngôn từ nghệ thuật kết lại thành những hình ảnh văn chương lung linh màu sắc tạonên vẻ đẹp của phần Tập đọc trong bộ SGK tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 Đó lànhững hình ảnh “Cọ xoè ô che nắng” rất dễ thương làm râm mát đường em đi học

trong bài “Đi học”, hình ảnh “Ngọn tre cong gọng vó Kéo mặt trời lên cao.” (Luỹ

tre) gây ấn tượng bởi sự liên tưởng độc đáo, thú vị Rồi những “Long lanh lưỡi hái

liếm ngang chân trời” (Tiếng hát mùa gặt) cho thấy hình ảnh con người lao động

đứng ở tư thế ngang tầm trời đất; “Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiếttha” làm hiện lên gương mặt một đất nước mới dạt dào niềm vui say đắm vì đượclàm chủ vận mệnh của mình Rồi “Mái chèo khua bóng núi rung rinh” mới thể hiệnđược sự xao động của lòng người khi đi thuyền trên hồ Ba Bể cùng với những hìnhảnh tượng trưng “Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh” nói về sức sống, sự trườngtồn của dân tộc Việt Nam,…

c) Về phương diện cú pháp, trước hết nhờ từ ngữ mang nghĩa biểu trưng, mà

tác phẩm văn học thường có những cách kết hợp từ bất bình thường, gây ấn tượng,

không hề có trong ngôn ngữ đời thường kiểu như: “Sắc màu Việt Nam” (Sắc màu

em yêu) ,”màu phượng mạnh mẽ kêu vang” ( hoa học trò), “ Thân hình cột

chặt”(thắng biển), “Khúc hát ngọt ngào”, “Tiếng hót làm xanh da trời” (Con chim

chiền chiện), “Đôi cánh đẫm nắng trời” (Hành trình của bầy ong), “hoa sầu riêng

tím ngát” (Sầu riêng),”Tuổi thơ được nâng lên từ những cánh diều”( cánh diều tuổi thơ) “Giấc ngủ em nghiêng” (Lời ru trên nương)

Cấu trúc ngữ pháp thơ không phải lúc nào cũng như cú pháp lời nói thường.Lời thơ được nén lại, nên nhiều khi muốn giải mã câu thơ phải thêm từ ngữ để lấpđầy Không hiểu đặc điểm cú pháp của thơ, nhiều GV đã không cắt nghĩa đúng Có

Trang 13

cô giáo đã giải nghĩa, “Gió về đưa hương lạ” (chùm hoa giẻ) là “Gió đưa về mộtmùi hương không quen”, trong lúc câu thơ phải được hiểu “gió về mang theo mùihương thơm đến lạ lùng” Có cô giáo đã dùng rất nhiều lời lẽ, cả hình ảnh trựcquan để giải nghĩa “dáng ân cần” trong câu thơ “Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ”

(Mẹ) là cái dáng như thế nào, trong lúc từ ân cần không phải dùng để tả dáng dấp

bề ngoài mà câu thơ phải được hiểu “Nhớ dáng mẹ, sự chăm sóc của mẹ…tất cảđều toát ra vẻ ân cần”

Trong văn bản nghệ thuật, các kiểu câu theo mục đích nói khác nhau được

sử dụng đan xen rất linh hoạt, đặc biệt là những câu cảm thán, câu hỏi tu từ được

sử dụng tài tình đã phát huy được hiệu quả nghệ thuật

Nói đến phương diện ngữ pháp của văn bản nghệ thuật, cần phân biệt lờinhân vật và lời tác giả, những nhận định, những lời bàn trực tiếp hay những câutrực tiếp bộc lộ cảm xúc, cần phân biệt những câu miêu tả và câu nhận định Nhiềukhi, sự hiểu biết này sẽ giúp chúng ta nhanh chóng khám phá ra đích thông báo,đích tác động của văn bản

Không xác định đúng vai nói, đối tượng nói năng của các câu trong văn bản,nhiều khi ta sẽ bỏ quên những tình cảm, cảm xúc rất đáng yêu của bài văn, bài thơ

Ví như bài ca dao Trâu ơi nếu không xác định là lời của ai nói với ai thì sẽ không

thấy hết lòng yêu mến của người nông dân đối với con trâu “đầu cơ nghiệp” củamình Người nông dân – nhân vật trữ tình của bài thơ – đã gọi “trâu” và xưng là

“ta” thân thiết như gọi – xưng với một người bạn

Bàn về cú pháp văn chương cần chú ý đến các biện pháp tu từ cú pháp nhưđiệp ngữ, đảo ngữ Chúng có giá trị nhấn mạnh, gây ấn tượng về sự vật, hiện tượng

và cảm xúc Chẳng hạn, đoạn văn “thoắt cái lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùathu Thoắt cái trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận.Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu nhung hiếm

Trang 14

quý (Đường đi Sa Pa) có điệp kiểu câu cùng với điệp từ “Thoắt cái” nên đã nhấn

mạnh được sự biến đổi mau lẹ và lạ kì của thời tiết và cảnh vật Sa Pa

d) Nói đến nghệ thuật ngôn từ, nhiều bài văn, bài thơ lại có thành công đặc

sắc ở lập luận, cấu tứ bài Trăng sáng sân nhà em (TV1) được khép bằng mấy câu

mở “ Ông trăng tròn sáng tỏ Soi rõ sân nhà em.” tạo ra cấu tứ đầu cuối tương ứngkhiến bài thơ như một bài đồng dao, một bài hát xoay vòng mãi không hết, tạo một

giai điệu yên ắng không gây động nhưng lay động Bài Luỹ tre (TV2) chọn trật tự

miêu tả theo trục thời gian một ngày đêm và kết thúc bằng hai câu thơ:

Đêm chuyển dần về sáng Mầm măng đợi nắng về

mở ra một ngày mới đầy ánh sáng và tương lai

Một đoạn thơ ngắn Nhớ Việt Bắc cũng có cấu trúc rất chặt chẽ với một câu

tự nghĩa đầu tiên nêu ý khái quát tạo cho khổ thơ có lập luận diễn dịch “Ta về mình

có nhớ ta, Ta về ta nhớ những hoa cùng người.” Hoa ở đây là cảnh Việt Bắc,

người ở đây là người Việt Bắc được tất cả các câu còn lại của đoạn thơ theo từng

cặp lục bát sóng đôi láy đi láy lại mãi : câu lục nhớ về cảnh Việt Bắc, câu bát nói

về người Việt Bắc cùng với điệp từ nhớ, cứ thế cảnh với người, người cảnh điệp lạimiên man không dứt trong nỗi nhớ

Ba khổ thơ trong bài Con chim chiền chiện (TV2) cũng được viết rất chặt chẽ : khổ

thơ nào cũng dùng hai câu để nói về dáng bay và hai câu nói về giọng hót của conchim sơn ca này Nhưng khổ thơ sau không phải là sự lặp lại mà phát triển thànhkhổ thơ trước : đã bay cao càng cao hơn : “bay vút vút cao” đến “chim bay chimsà” và cuối cùng “bay cao cao vút” tiếng hót đã hay càng hay hơn : “Khúc hát ngọtngào” đến “Chan chứa lời chim ca” và cuối cùng hay đến gây bất thường, đến mứcnghe tiếng chim hót ta tưởng như trời xanh hơn, đẹp hơn lên “Tiếng hót làm xanh

da trời”

Trang 15

Những bài như Vẽ quê hương, Nghệ nhân Bát Tràng cùng có một điểm

chung về cấu tứ : Vừa ca ngợi bức vẽ đẹp, ca ngợi tài hoa của người vẽ - một nghệ

sĩ tí hon hay một nghệ nhân, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước nguồn đề tài vô tận của những nghệ sĩ này Câu thơ “Chị ơi bức tranh Quê ta đẹp

-quá!” (Vẽ quê hương) là tiếng reo vui vì biết vẽ và vì sự bất ngờ về vẻ đẹp của quê

hương Còn những gì được khắc lên đất cao lanh “nở đầy sắc hoa” trên đồ gốm BátTràng như “cánh cò bay lả bay la”, “luỹ tre đầu xóm”, “cây đa giữa đình”, “con đò

lá trúc”, “trái mơ tròn trĩnh”, “quả bóng đung đưa” (Nghệ nhân Bát Tràng) đều

là hình ảnh thân thương, tươi đẹp của làng quê Việt Nam

Với bài Sắc màu em yêu, Phạm Đình Ân (TV5 – T1) cũng đã tìm được một

cách nói sáng tạo, mới mẻ để viết về Tổ quốc, nhân dân Tác giả đã ngắm nhìn, soixét, mong muốn từ góc độ của sắc màu : màu đỏ như máu trong tim, như lá cờ Tổquốc, như khăn quàng đội viên Rồi đến màu xanh, màu trắng, màu nâu để chobài thơ từ từ hiện lên một Tổ quốc gần gũi thân yêu cùng với em bé với nhữngngười thân trong gia đình của em là bà, mẹ và chị

Bài Việt Nam của Lê Anh Xuân và Đất nước của Nguyễn Đình Thi đều chọn

cấu từ theo hai trục không gian và thời gian để nói về đất nước tươi đẹp và truyền

thống của cha ông Có những bài, đoạn chọn cấu trúc tổng – phân - hợp như Nghe

thầy đọc thơ với hình ảnh khái quát ở hai câu đầu “Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây”

rồi một loạt câu làm rõ ý “nắng đỏ, cây xanh” như thế nào để kết luận, nhắc lạichính ý ban đầu : “Nghe thơ em thấy đất trời đẹp hơn” Nhờ thế cả bài thơ đã nóimột cách hình ảnh sức tác động ghê gớm về tiếng thơ của thầy : chính những lờithầy dạy làm thay đổi cả thế giới xung quanh em, đánh thức em phát hiện ra baođiều đẹp đẽ của cuộc sống quanh mình

Có những bài chọn cách lập luận cộng hưởng từng phần, từng đoạn như

Mùa thảo quả ta có dịp nói đến ở trên Có bài lại chọn cách lập luận đối lập giữa

các đoạn như bài Sầu riêng, nhấn vào cái tầm thường của vẻ ngoài sầu riêng – cây,

Trang 16

cành, lá : Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về cái dáng của giống cây kì

lạ này Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột, thiếu cái dáng cong, dáng nghiêng, chiều quằn, chiều lượn của cây xoài, cây nhãn Lá nhỏ xanh vàng, hơi khép lại, tưởng như lá héo để làm nổi bật hơn, làm người đọc bị bất ngờ hơn

bởi hương vị diệu kì, say lòng người của quả sầu riêng

e) Vấn đề bút pháp thường ít được nhắc đến khi bàn về dạy đọc hiểu ở Tiểu

học Dù vậy, nhiều khi sự quan tâm đến bút pháp sẽ giúp chúng ta tháo gỡ nhữngvướng mắc khi đọc hiểu một cách dễ dàng hơn Chẳng hạn, chú trọng đến mạch ẩn

dụ xuyên suốt từng bài Hành trình bầy ong, Dừa ơi, Tre Việt Nam, ta mới không dạy Gửi các vì sao như một bài tả cảnh trời đêm Bài Hành trình bầy ong không

thể dừng lại ở chuyện những con ong chăm chỉ, có ích và cũng không dạy như mộttruyện ngụ ngôn như dạy bài “Con cáo và tổ ong” Ta sẽ không dạy Vào hè như bài

“Mùa hè” mặc dù đề tài nghe qua có vẻ giống nhau Ta sẽ không dạy Dừa ơi như bài “Cây dừa”, không dạy Tre Việt Nam như bài “Luỹ tre”, vì “Dừa ơi” là chuyện

về quê nội, về đồng bài miền Nam, “Tre Việt Nam” là chuyện về dân tộc Việt

Ví dụ, để tìm hiểu bài Tre Việt Nam, ngay từ đầu ta phải giải mã ẩn dụ này,

tìm cho được vế so sánh còn ẩn chìm ở dưới để không mắc sai lầm vụng về nhưmột cô giáo nọ ghi một mục đề lên bảng “Các đặc điểm của tre”, “Tre có đặc điểm

gì nữa” để cho HS trả lời đưa ra những kết hợp từ phi lí như “Tre cần cù, chămchì”, “Tre đoàn kết”, “Tre bất khuất” Vì thế mà làm thô thiển, không giải mã đượcbài thơ có chiều sâu triết lí chứa đựng biết bao xao động, ngỡ ngàng, phát hiện lắngsâu trong suy tư của Nguyễn Duy về dân tộc Việt

Cũng ca ngợi sức lao động nhưng cách nói “Mồ hôi mà đổ xuống đồng Lúamọc trùng trùng sáng cả đồi nương” khác với “Bàn tay ta làm nên tất cả Có sứcngười sỏi đá cũng thành cơm.” mà có giáo viên đã giải mã hình ảnh “bàn tay” sai,nói rằng đó là muốn nói đến lao động của các anh bộ đội hồi ấy còn vất vả, thô sơphải làm thủ công, bằng tay

Trang 17

1.1.3 Cảm thụ văn học và đặc điểm của cảm thụ văn học

đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài thơ ) hay một

bộ phận tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ, thậm chí một từ ngữ có giá trị trong câu văn, câu thơ)

Cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một tác phẩm , một câu chuyện, một bài thơ ta không hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng và thực sự gần gũi, nhập tâm với những gì đã học

1.1.3.2 Đặc điểm của cảm thụ văn học

Lí thuyết cảm thụ văn học đã chỉ ra 3 cấp độ trong cảm thụ văn học:

- Người đọc tri giác, hiểu ngôn từ, tình tiết, cốt truyện,thể loại để có cảm nhậnhiện tượng trong sự toàn vẹn của các chi tiết, các liên hệ

- Người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc tư tưởng và tình cảm của tác giả

- Người đọc đưa hình tượng vào đời sống kinh nghiệm riêng của mình để thể nghiệm, đồng cảm Cuối cùng, nâng cấp lí giải tác phẩm lên cấp quan niệm

và tính hệ thống,hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn học, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật

Lí luận văn học đã chỉ ra rằng khi nhà văn kết thúc trang viết cuối cùng thì lúc

đó tác phẩm mới thực sự bắt đầu Vì vậy, cần phải thấy được giá trị tự thân của tác phẩm và cách cảm thụ (tiếp nhận) các giá trị đó Trong văn chương, người ta phân biệt văn bản – sản phẩm văn chương cảu tác giả với tác phẩm- sản phẩm của ngườiđọc khi tiếp nhận văn bản Dạy cảm thụ là quá trình biến văn bản thành tác phẩm

Trang 18

văn học của mỗi người học Đây là một quá trình phức tạp, do tính đa nghĩa, hàm súc, tính đối thoại của ngôn từ, tính không nói hết của hình tượng nghệ thuật cũng như do sự liên tưởng, tưởng tượng khám phá sáng tạo hết sức phong phú của ngườiđọc Khi ta bắt đầu đọc tác phẩm, ta sẽ tri giác toàn bộ tác phẩm, từ những yếu tố nhỏ nhất như hình vị (tiếng), từ, câu đến việc tiếp nhận ý nghĩa của toàn bộ tác phẩm, chuyển nội dung văn bản thành tác phẩm của mình

1.1.4 Các dạng bài tập dạy cảm thụ cho học sinh

Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ là hình thành năng lực đọc cho học sinh giúp các em có kĩ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản, giáo dục các em lòng ham thích đọc sách, giúp các em làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và văn hóa, bồi dưỡng các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy cho các em cách suy nghĩ logic và tư duy hình ảnh Các mục đích và nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện thông qua hệ thống các câu hỏi và bài tập tương ứng

Có nhiều cách phân loại hệ thống bài tập Tuy nhiên để phục vụ cho việc nghiêncứu xây dựng bài tập, chúng tôi căn cứ theo mục đích, nội dung dạy học, các công việc cần làm phân loại bài tập thành các kiểu dạy như sau:

- Nhóm bài tập có tính chất nhận diện, tái hiện ngôn ngữ của văn bản

Đây là nhóm bài được sử dung nhiều nhằm mục đích làm cầu nối để đi đến giải quyết các vấn đề có tính chất phát hiện và sáng tạo Nhóm bài tập này dùng khi học sinh tham gia quá trình đọc giải mã, nhận diện các đơn vị ngôn ngữ, tái hiện hình tượng, nhận diện nhân vật, nắm bắt tình tiết và hình dung bức tranh miêu

tả trong văn bản nghệ thuật

Loại bài tập này chỉ cần nhận diện ghi nhớ, phát hiện ra các từ ngữ, câu, đoạn, chi tiết của văn bản chưa yêu cầu cao tính làm việc độc lập của học sinh Vì thế dạng bài này chỉ nên sử dụng ở mức độ nhất định và đan xen với các dạng bài tập khác

- Nhóm bài tập cắt nghĩa ngôn ngữ văn bản

Trang 19

Đây là loại bài yêu cầu nỗ lực của người học ở mức độ cao hơn, yêu cầu giảinghĩa từ, làm rõ nghĩa và cái hay của từ ngữ, câu, đoạn bài, hình ảnh, chi tiết trong văn bản Để làm bài tập này việc đầu tiên là các em phải nhận ra các từ hay, các hình ảnh, chi tiết đắt giá có trong bài, mặc dù thực tế đây không phải là một việc

mà bất cứ em nào cũng có thể làm được Tiếp đó các em có thao tác cắt nghĩa, biết khái quát hóa và suy nghĩ rút ra các ý nghĩa của các đơn vị trong văn bản

- Nhóm bài tập phản hồi văn bản:

Đây là các bài tập giúp học sinh bình giá giá trị các tín hiệu nghệ thuật, làm

rõ mục đích của văn bản, hướng cho các em những bài học bổ ích sau khi đọc văn bản, biết liên hệ với bản thân mình để có thái độ, hành động, tình cảm đúng đắn Việc xây dựng các đáp án mở, phong phú gây hứng thú cho các em khi học các tác phẩm văn chương

1.2 Cơ sở tâm lí học

1.2.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh lớp 4:

Học sinh lớp 4 đã bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên Các em lớn nhanh, kích thước và tổ chức cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành Hành vi và đời sống nội tâm của các em đang có những thay đổi rõ rệt

Do cơ thể các em đã mất cân bằng, các em bướng bỉnh, khó bảo nếu không được tôn trọng Lứa tuổi này vì vậy được gọi là lứa tuổi chuyển giao giữa trẻ con

và người lớn Các em rất dễ xúc động Chính việc dâng cao cảm xúc đã làm các emthay đổi hoạt động sáng tạo yêu thích, từ vẽ sang hình thức sáng tạo bằng lời nói

So với vẽ và đặc biệt là những bức vẽ chưa hoàn thiện thì lời nói cho phép diễn đạt

dễ dàng hơn rất nhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vận động logic, sự phức tạp của sự kiện

Vì vậy, hoạt động sáng tạo yêu thích của các em là sáng tạo văn học, và nếu được học theo một chương trình đúng, một phương pháp phù hợp thì các em tuổi này rất thích học văn, và loại bài viết yêu thích của các em là bài viết theo chủ đề

Trang 20

tự do Được viết những xúc động từ trong lòng, được thả mình vào tưởng tượng, không ít học sinh đã viết được những bài khá hoàn chỉnh và hấp dẫn như những sáng tác trẻ em thực sự

1.2.2 Đặc điểm cảm thụ học sinh lớp 4:

So với người lớn, sự cảm thụ của các em chưa hoàn thiện bởi những đặc điểm sau:

- Các em thường thờ ơ, không thích thú với các nhân vật ít hành động, các em thường bỏ qua hay đọc lướt những đoạn bình luận, suy nghĩ, triết lí của nhân vật hay tác giả Ngược lại, các nhân vật hành động được yêu thích ngay cả khi các nhân vật ấy được miêu tả sơ lược, không có biểu tượng về tính cách

- Năng lực phân tích, so sánh- tổng hợp của các em ở lứa tuổi này phát triển chưa hoàn thiện, các em dễ dàng phân tích được những hành động của nhân vật, những tình huống nhân vật hành động được thể hiện một cách trực quan và dễ nhận biết, nhưng các em khó phân phân tích hơn về tính cách của nhân vật Các

em có thể so sánh được hành động và động cơ của nhân vật này với nhân vật khác, nếu các hành động động cơ này được thể hiện rõ ràng, trực quan Nhưng các em khó so sánh, tổng hợp những hành động, động cơ, ý nghĩ, cảm xúc của nhân vật khi chúng không bộc lộ một cách dễ nhận thấy

- Ở lứa tuổi này, óc khái quát của các em chưa cao Các em thường sa vào những chi tiết cụ thể, thiếu khả năng tổng hợp vấn đề Bên cạnh đó là sự hạn chế

về vốn từ cũng làm các em không đủ khả năng thể hiện đúng điều muốn nói.Tuy nhiên, sự cảm thụ trực tiếp, hồn nhiên tác phẩm văn học của các em lứa tuổi này vẫn diễn ra là do khả năng đọc hiểu của các em đã tốt hơn trước nên khi đọc một tác phẩm các em có thể hiểu ngay nội dung (nếu trong đó không có quá nhiều

Trang 21

và mở rộng hiểu biết cho các em Và dù học văn với bất kì hình thức nào thì văn học vẫn là môn học không thể thiếu Nó dạy các em lòng nhân ái, trí thông minh, khả năng cảm thụ cái đẹp và nhu cầu tạo ra cái đẹp trong cuộc sống.

2.Cơ sở thực tiễn của việc rèn cảm thụ văn học cho học sinh

2.1 Chương trình, sgk tiếng việt với việc rèn cảm thụ văn học cho hs

2.1.1 Mục đích của việc rèn kĩ năng cảm thụ văn học thông qua phân

môn tập đọc + Các em hiểu và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của các bài văn, bài thơ và có

được những rung động, những ấn tượng, những cảm xúc mạnh mẽ khi tiếp xúc với tác phẩm văn học trong phân môn tập đọc

+ các em được làm quen với một số nhà văn, nhà thơ cùng với tác phẩm viết cho thiếu nhi trong phân môn tập đọc, từ đó giúp vốn sống các em thêm phong phú, nhạy cảm Chỉ có những tình cảm hồn nhiên trong sáng mới tạo ra được những cảm xúc đáng yêu, đẹp đẽ

+ Qua việc cảm thụ tác phẩm, các em biết lựa chọn hình ảnh, chi tiết đặc sắc biết cách dùng từ, đặt câu để có được những bài văn hay, sinh động

2.1.2 Nhận xét về các bài văn miêu tả trong phân môn tập đọc lớp 4

2.1.2.1 Thống kê các văn bản miêu tả trong phân môn Tập đọc 4

Sách giáo khoa Tiếng việt 4 đưa ra nhiều văn bản tập đọc là văn xuôi (46 bài) trong đó các bài đọc là văn miêu tả chỉ chiếm 21,5 % (10 bài) Sự phân chia các thểloại bài đọc như sách giáo khoa là tương đối hợp lí Thể loại văn miêu tả ở lớp 4 lớp 5 xuất hiện nhiều hơn ở các lớp dưới cũng bởi đến lớp 4 các em thực sự làm quen và viết bài văn miêu tả (tập làm văn), chính vì vậy các bài đọc là văn miêu tả giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, của nghệ thuật miêu tả từ đó vận dụng vào trong việc miêu tả của bản thân mình

Ngoài ra, các tác phẩm văn miêu tả là khía cạnh khai thác không bao giờ ngừng của bất cứ ai yêu và cảm nhận được cái đẹp của thơ, văn Việc đưa vào sgk các bài

Trang 22

văn miêu tả cũng là 1 trong những các để giáo viên khai thác và sử dụng như là 1 ngữ liệu trong việc dạy cảm thụ văn học cho học sinh.

Các bài văn miêu tả trong phân môn tập đọc trong sách giáo khoa tiếng việt lớp

4 gồm:

1) Trung thu độc lập (Tr 66 – SGK TV4 tập 1)2) Đôi giầy ba ta màu xanh (Tr81 – SGK TV4 tập 1)3) Cánh diều tuổi thơ(Tr 146 – SGK TV4 tập 1)4) Kéo co (Tr 155 – SGK TV4 tập 1)

5) Sầu riêng (Tr 34 - SGK TV4 tập 2)6) Hoa học trò (tr 43 – SGK TV4 tập 2)7) Thắng biển (Tr76 – SGK TV4 tập 2)8) Đường đi Sa pa (Tr102 – SGK TV4 tập 2)9) Ăng – co – vát (Tr123 – SGK TV4 tập 2)10) Con chuồn chuồn nước (Tr127 – SGK TV4 tập 2)

2.1.2.2 Nhận xét về các bài tập trong các văn bản văn miêu tả tập đọc 4

Trong chương trình sách giáo khoa tiếng việt lớp 4, trong các bài tập đọcvăn miêu tả đã đưa ra 1 số bài tập khai thác vẻ đẹp của ngôn từ, cụ thể như sau:

a) Nhóm bài tập có tính chất nhận diện, tái hiện ngôn ngữ của văn bản (6câu hỏi )

- Tìm những câu văn tả vẻ đẹp của đôi giầy ba ta (Đôi giầy ba ta màuxanh)

- Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh diều? (Cánh diều tuổithơ)

- Tìm những câu văn thể hiện tình cảm của tác giả đối với cây sầuriêng (Sầu riêng)

- Tìm những từ ngữ nói lên sự đe dọa của cơn bão biển( trong đoạn 1)(Thắng biển)

Trang 23

- Những từ ngữ nào (trong đoạn 3) thể hiện lòng dũng cảm, sức mạnh

và chiến thắng của con người trước cơn bão biển? ( Thắng biển)b) Nhóm bài tập cắt nghĩa ngôn từ trong văn bản(3 câu hỏi)

- Tại sao tác giả gọi hoa phượng là “hoa học trò” (Hoa học trò)

- Tại sao tác giả gọi Sa Pa là “món quà tặng diệu kì” của thiên nhiên?(Đường đi Sa Pa)

- Cách miêu tả chú chuồn chuồn bay có gì hay? ( Con chuồn chuồnnước)

- Chú chuồn chuồn được miêu tả bằng những hình ảnh so sánh nào ?(Con chuồn chuồn nước)

c) Nhóm bài tập phản hồi ( 2 câu hỏi )

- Mỗi đoạn trong bài là một bức tranh đẹp về cảnh về người Hãy miêu

tả những điều em hình dung được về mỗi bức tranh (Đường đi Sa Pa)

- Em thích hình ảnh so sánh nào? Vì sao? (Con chuồn chuồn nước)Như vậy, qua khảo sát các văn miêu tả trong phân môn tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4, chúng tôi nhận thấy các nhà biên soạn sách giáo khoa đã đưa ra hệ thống bài tập khá phong phú, đa dạng về hình thức, có nhiều bài tập hay phù hợp với vốn sống và trình độ nhận thức của đa số học sinh

Tuy nhiên hệ thống câu hỏi về vẻ đẹp của ngôn từ chưa phù hợp Dạng bài tái hiện ngôn từ chiếm tới hơn 60 % trên tổng số câu hỏi đưa ra cho hs cảm nhận

vẻ đẹp của ngôn từ Những bài tập giúp các em cảm thụ văn học, cảm nhận được

vẻ đẹp của ngôn từ, hiện tượng văn chương làm nên nội dung văn bản chiếm một

số lượng rất khiêm tốn, và có rất ít bài tập khai thác vẻ đẹp của biện pháp tu từ, chủyếu dừng ở mức độ yêu cầu nhận diện phép tu từ trong văn bản

Chính vì vậy trên thực tế, khi học, các em sẽ thiên về tái hiện nhận diện hơn, chứ kĩ năng cảm thụ thì hoàn toàn rất ít có cơ hội được luyện tập và phát triển

Ngày đăng: 12/04/2013, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học – dự án phát triển giáo viên Tiểu học Khác
2. Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học Khác
3. Vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương trong các bài tập đọc ở Tiểu học nhìn từ góc độ rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh – Lê Phương Nga Khác
4. Phương pháp dạy học tiếng việt ở Tiểu học II – Lê Phương Nga (chủ biên) – Lê A – Đặng Kim Nga – Đỗ Xuân Thảo Khác
5. SGK Tiếng Việt lớp 4 tập 1 – tập 2 – Nhà xuất bản giáo dục Khác
6. Xây dựng bài tập bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 trong giờ tập đọc (LA) / Huỳnh Đình Chiểu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w