Sự yếu kém này có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc: trong lựa chọn, mua sắm thuốc là việc xây dựng danh mục không phù hợp với yêu cầu, không đáp ứng đủ nhu
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN DANH MỤC VÀ MUA SẮM THUỐC TẠI BỆNH VIỆN VIỆT NAM - THỤY ĐIỂN UÔNG BÍ
NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, tạo gánh nặng cho nền kinh tế xã hội, và gây ra những hậu quả lớn về sức khỏe trong cộng đồng
Cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng giữ vai trò vô cùng quan trọng, mang tính quyết định đến chất lượng công tác
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân Với mục tiêu "Phát triển ngành
Dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, chủ động hội nhập khu vực và thế giới nhằm đảm bảo cung ứng đủ thuốc thường xuyên có chất lượng, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý
và an toàn, phục vụ sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân" [12]
Như vậy, có thể thấy tầm quan trọng của việc cung ứng thuốc trong công tác khám chữa bệnh và mối quan tâm của Đảng, Nhà nước với vấn đề này
Ở Việt Nam, công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện cũng đang tồn tại nhiều bất cập và được dư luận xã hội hết sức quan tâm Sự yếu kém này có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc: trong lựa chọn, mua sắm thuốc là việc xây dựng danh mục không phù hợp với yêu cầu, không đáp ứng đủ nhu cầu điều trị; trong bảo quản, cấp phát là việc quản lý kho thuốc kém hiệu quả; trong giám sát sử dụng là việc lạm dụng, kê quá nhiều thuốc trong một đơn thuốc, hay hướng dẫn không đầy đủ cho người bệnh về cách sử dụng thuốc, người bệnh không tuân thủ điều trị… đều dẫn tới nguy cơ cao về tương tác và các phản ứng có hại của thuốc
Lựa chọn danh mục và mua sắm thuốc là hai giai đoạn quan trọng trong công tác quản lý cung ứng thuốc Tuy nhiên với sự phát triển của ngành công
Trang 3nghệ dược số lượng các mặt hàng thuốc ngày càng nhiều, đa dạng và phong phú về dạng bào chế,… Song trên thực tế lại có rất nhiều loại thuốc với cùng một hoạt chất nhưng lại có nhiều biệt dược cùng được cung ứng cho bệnh viện; số lượng một số thuốc cung ứng thì nhiều nhưng chất lượng điều trị thì chưa đánh giá được hoặc chưa có tác dụng rõ ràng hay giá thuốc lại quá cao…
Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh
viện, đề tài “Phân tích hoạt động lựa chọn danh mục và mua sắm thuốc
tại bệnh viện Việt Nam - Thuỵ Điển Uông Bí năm 2012” là một nghiên cứu
được thực hiện nhằm các mục tiêu sau:
- Mô tả hoạt động xây dựng danh mục thuốc tại BV VN - TĐ Uông Bí năm
2012
- Phân tích hoạt động đấu thầu thuốc tại bệnh viện trong năm 2012
- Phân tích tính hợp lý của danh mục thuốc đã được sử dụng tại BV VN - TĐ Uông Bí năm 2012
Từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất cho các nhà quản lý nhằm cải thiện và nâng cao hoạt động lựa chọn và mua sắm thuốc tại BV VN - TĐ Uông Bí Uông Bí nói riêng và các bệnh viện khác nói chung
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Chu trình cung ứng thuốc bao gồm 4 hoạt động chính: Lựa chọn thuốc; mua sắm thuốc; tồn trữ, cấp phát thuốc và giám sát sử dụng thuốc Cả 4 hoạt động này đều có liên quan chặt chẽ với nhau, mỗi hoạt động đều dựa trên kết quả của hoạt động trước đó đồng thời cũng là nền tảng cho hoạt động tiếp theo Theo WHO chu trình cung ứng thuốc được thể hiện theo sơ đồ ở hình 1.1 [15][24]
→ Dòng lưu chuyển các hoạt động cung ứng thuốc - Đường phối hợp
Hình 1.1 Chu trình cung ứng thuốc
1.1.1 Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là việc xác định chủng loại và số lượng thuốc để cung ứng Trong bệnh viện, chủng loại thuốc được thể hiện qua DMT bệnh viện Lựa chọn và xây dựng DMT bệnh viện là công việc đầu tiên thuộc quy trình
Lựa chọn
Phân phối Hội đồng thuốc và điều trị
Chính sách và luật pháp
Trang 5cung ứng thuốc DMT là cơ sở để đảm bảo cho việc cung ứng thuốc chủ động,
có kế hoạch hợp lý, an toàn, hiệu quả [6]và có tác động trực tiếp đến hiệu quả điều trị đối với người bệnh
Mỗi bệnh viện tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn, mà xây dựng DMT
Căn cứ để xây dựng DMT bệnh viện
Hình 1.2 Các căn cứ xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện
1.1.1.1 Mô hình bệnh tật:
Mô hình bệnh tật thuộc bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong
Hướng dẫn điều trị (phác đồ điều trị)
nước: DMTTY, DMTCY
Nhu cầu thuốc đã sử dụng và
dự đoán trong tương lai
Hội đồng thuốc và điều trị
Trang 6Mô hình bệnh tật của bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp cho bệnh viện xây dựng danh mục thuôc phù hợp
1.1.1.2 Hướng dẫn điều trị chuẩn (STG)
STG là tài liệu hướng dẫn cho thầy thuốc những công việc cụ thể và không thể thiếu trong quá trình điều trị Theo tổ chức Y tế thế giới, các tiêu chí của một STG về thuốc gồm:
- Hợp lý: phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc còn hạn sử dụng
- An toàn: không gây tai biến, không làm cho bệnh nặng thêm, không có tương tác thuốc
- Hiệu quả: dễ dùng, khỏi bệnh hoặc không để lại hậu quả xấu hoặc đạt mục đích sử dụng thuốc trong thời gian nhất định
- Kinh tế: chi phí điều trị thấp nhất
1.1.1.3 Danh mục thuốc thiết yếu
Là DMT có đủ chủng loại đáp ứng yêu cầu điều trị các bệnh thông thường Tên thuốc trong DMT là tên gốc dễ nhớ, dễ biết, dễ lựa chọn, dễ sử dụng, dễ bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin, việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ
Cho đến nay đã có hơn 150 quốc gia trên thế giới áp dụng DMTTY Số lượng tên thuốc có trong DMTTY của mỗi quốc gia trung bình là 300 thuốc [29] Và vào tháng 3/2007 DMTTY lần thứ 15 đã được ban hành bởi Uỷ ban chuyên gia của WHO
Tại Việt Nam, năm 1985 Bộ Y tế đã ban hành danh mục thuốc chủ yếu lần thứ nhất gồm 225 thuốc tân dược được xác nhận là an toàn và có hiệu lực [5] DMTTY Việt Nam lần thứ V bao gồm 335 tên thuốc của 314 hoạt chất tân duợc; 94 danh mục thuốc chế phẩm y học cổ truyền; danh mục cây thuốc
Trang 7nam và 215 danh mục vị thuốc [7], kèm theo bản hướng dẫn sử dụng DMTTY Việt Nam lần thứ V [8]
Khái niệm DMTTY được thể hiện rõ trong chính sách quốc gia về thuốc
như sau: “DM TTY là danh mục những loại thuốc thoả mãn nhu cầu chăm sóc
sức khỏe cho đa số nhân dân, những loại thuốc này luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lí”
DMTTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của Nhà nước về: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và chữa bệnh cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong DMTTY và là cơ
sở để xây dựng DMTCY tại các cơ sở khám, chữa bệnh
1.1.1.4 Danh mục thuốc chủ yếu tại cơ sở khám, chữa bệnh [9][10]
DMTCY sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh là cơ sở để lựa chọn, đảm bảo nhu cầu điều trị và thanh toán cho các đối tượng người bệnh, bao gồm cả người có thẻ bảo hiểm y tế Để phù hợp với thực tế sử dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh DMT ngày càng được hoàn thiện và bám sát thực
tế sử dụng Hiện nay DMTCY đang được áp dụng tại Việt Nam gồm 2 danh mục: thuốc tân dược và thuốc y học cổ truyền
1.1.1.5 Hội đồng thuốc và điều trị (DTC)
Chức năng và vai trò của DTC (Thông tư số 08/TT-BYT ngày 4/7/1997 Hướng dẫn việc tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của DTC bệnh viện)
1.1.2 Quản lý việc mua thuốc
1.1.2.1 Chu trình mua thuốc:
Trang 8đúng thuốc, đúng số lượng, giá cả hợp lý và với tiêu chuẩn chất lượng được thừa nhận
Chu trình mua sắm thuốc bao gồm các bước sau:
Hình 1.3 Chu trình mua sắm thuốc [25]
- Xác định nhu cầu sử dụng thuốc: Thông thường, việc xác định nhu cầu về số lượng thường dựa vào số lượng thuốc tồn trữ và lượng thuốc luân chuyển qua kho Tuy nhiên, khi có sự thay đổi cơ chế cung ứng, thay đổi phác đồ điều trị hoặc sử dụng thuốc không hợp lý thì việc xác định nhu cầu thuốc là rất khó khăn Trong thực tế, để xác định nhu cầu thuốc thường kết hợp các phương pháp sau:
+ Thống kê dựa trên sử dụng thuốc thực tế
+ Dựa trên cơ sở quản lý các dịch vụ y tế
+ Dựa trên mô hình bệnh tật và hướng dẫn thực hành điều trị tại cơ sở Ngoài ra còn kết hợp với các yếu tố ảnh hưởng như bệnh dịch, điều kiện kinh
tế, sức khoẻ, trình độ chuyên môn, những tiến bộ trong khoa học và kỹ thuật điều trị mới, …
Xác định nhu cầu, cân đối nhu cầu – kinh phí
Chu trình mua thuốc
Kiểm nhận thuốc và kiểm tra
Thu thập thông tin về
sử dụng, đánh giá Chọn phương thức mua
Đặt hàng, theo dõi đơn đặt hàng
Trang 9- Chọn phương thức mua: Bộ Y tế đã nêu rõ: “Tổ chức đấu thầu mua thuốc chữa bệnh theo qui định của pháp luật” [6] Trong Luật đấu thầu đã đưa ra khái niệm về đấu thầu như sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” [19] Một số văn bản pháp quy trong lĩnh vực đấu thầu được tổng hợp theo phụ lục 1
- Chọn nhà cung ứng: Sau khi xác định và lựa chọn được nhà cung ứng, hai bên thương thảo hoàn thiện hợp đồng và tiến hành ký kết hợp đồng mua bán bằng văn bản
- Đặt hàng và theo dõi đơn đặt hàng: Đặt hàng theo nhu cầu về số lượng và chủng loại theo hợp đồng Bên đặt hàng phải giám sát đơn đặt hàng về số lượng, chủng loại, giá cả, tiến độ giao hàng như đã qui định trong hợp đồng
- Thanh toán: Thanh toán theo số lượng mua, giá trúng thầu Phương thức thanh toán theo qui định trong hợp đồng
- Thu thập thông tin về tiêu thụ: Thông qua các báo cáo sử dụng, đánh giá lại những thuốc đã lựa chọn làm cơ sở cho chu kỳ mua thuốc tiếp theo
1.1.2.2 Những yêu cầu của một quá trình mua sắm thuốc hiệu quả
Để đạt được hiệu quả trong việc mua sắm thuốc tại bệnh viện, những người tham gia quá trình mua sắm cần chú ý đến các yếu tố sau:
- Sự minh bạch
- Kiểm soát chi phí
- Khả năng kỹ thuật
Trang 10- Dự trù ngân sách và tài chính hợp lý
1.1.3 Quản lý việc tồn trữ và cấp phát thuốc
Thuốc sau khi nhập vào kho khoa dược được phân loại theo điều kiện bảo quản của nhà sản xuất, đảm bảo thực hiện đúng các qui định về bảo quản GSP
Quy trình cấp phát, giao thuốc từ khoa dược đến các khoa lâm sàng và sau đó đến bệnh nhân được xây dựng cụ thể căn cứ vào nhân lực của khoa dược, nhân lực khoa lâm sàng, nhu cầu điều trị của mỗi bệnh viện
1.1.4 Quản lý việc sử dụng thuốc
Giám sát sử dụng thuốc bao gồm giám sát các hoạt động từ việc chẩn đoán, chỉ định dùng thuốc và thực hiện sử dụng thuốc theo y lệnh
Việc sử dụng thuốc không hợp lý sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội, làm tăng đáng kể chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe, làm giảm chất lượng điều trị và chăm sóc y tế Mặt khác nó làm tăng nguy cơ xảy ra tác dụng không mong muốn và làm cho bệnh nhân lệ thuộc quá mức về thuốc
Công tác quản lý sử dụng thuốc là công tác của dược lâm sàng và đơn vị thông tin thuốc
1.2 VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI CÁC CƠ
SỞ Y TẾ TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, ngành công nghiệp dược phẩm cũng đã có bước phát triển vượt bậc Thị trường thuốc Việt Nam rất phong phú, có khoảng 1500 hoạt chất với hơn
18000 mặt hàng năm 2008 và khoảng 22000 sản phẩm năm 2009 Tuy nhiên, công nghiệp dược Việt Nam vẫn phát triển ở mức trung bình - thấp, chưa sáng chế được thuốc mới và thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là generic, không có
Trang 11giá trị cao, mới chỉ đáp ứng được trên 47% nhu cầu về thuốc của người dân (về giá trị sử dụng) Thuốc sản xuất trong nước hiện đáp ứng được 234/314 hoạt chất trong DMTTY Việt Nam lần V
Vấn đề mua sắm thuốc được Chính phủ và Bộ Y tế rất quan tâm Tháng
8 năm 2007, thông tư 10/2007/TTLT_BYT-BTC đã được ban hành bước đầu
đã đưa ra được những hướng dẫn cơ bản nhất cho công tác đấu thầu tại các cơ
sở y tế Cùng với thời gian, các văn bản pháp lý quy định hướng dẫn việc thực hiện công tác mua sắm thuốc tại các cơ sở y tế công lập đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở y tế trong công tác đấu thầu mua thuốc
Đấu thầu mua thuốc rộng rãi đã tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong việc cung cấp thuốc cho các cơ sở y tế công lập, đảm bảo mua thuốc đúng nguồn gốc tránh việc nâng giá thuốc một cách bất hợp lý, góp phần bình ổn giá thuốc, tạo công bằng trong việc sử dụng thuốc, giảm gánh nạng cho bệnh nhân cận nghèo và giảm chi phí tiền thuốc cho bệnh nhân có BHYT
Tuy nhiên hoạt động cung ứng thuốc tại các cơ sở y tế vẫn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập:
- Việc xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện còn chưa chú trọng nhiều đến nguyên tắc “ưu tiên chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước, thuốc của các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn GMP Việc sử dụng thuốc nhập ngoại, thuốc biệt dược vẫn chiếm tỷ lệ cao Đặc biệt là những loại
Trang 12- Việc phê duyệt kế hoạch và kết quả lựa chọn nhà thầu trong công tác đấu thầu chậm làm ảnh hưởng đến việc cung ứng thuốc và đảm bảo đủ thuốc cho người bệnh Theo thống kê của Cục quản lý Dược, hiện nay hầu hết các cơ sở
y tế đều gặp lúng túng trong hoạt động triển khai đấu thầu thuốc Nguyên nhân chính là do chưa có mẫu hồ sơ mời thầu, qui trình đánh giá cũng như chưa có một tiêu chí chung đánh giá lựa chọn thuốc phù hợp với kinh phí của bệnh viện trong khi thị trường thuốc ngày càng phong phú, đa dạng
- Thiếu một số thuốc chuyên khoa, cấp cứu [12]
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động cung ứng thuốc bệnh viện Các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về 4 nội dung của chu trình cung ứng thuốc trong các bệnh viện như: Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, Bạch Mai, Phụ sản trung ương, … và đã sơ bộ cho thấy trong những năm gần đây, lĩnh vực cung ứng thuốc bệnh viện đã được quản lý và chấn chỉnh ngày một tốt hơn Tuy nhiên, tuỳ từng hoàn cảnh và giai đoạn cụ thể mà việc cung ứng thuốc còn những bất cập cần được các cơ quan chức năng và các bệnh viện cải tiến, hoàn thiện thêm
Bệnh viện Việt Nam - Thuỵ Điển Uông Bí là một bệnh viện đa khoa hạng
I trực thuốc Bộ Y tế đóng trên địa bàn tỉnh với những đặc thù riêng Từ trước tới nay bệnh viện luôn được đánh giá là bệnh viện làm tốt các công tác dược nhưng chưa có đề tài nghiên cứu nào phân tích đánh giá nghiêm túc về công tác cung ứng thuốc của bệnh viện, đánh giá hiệu quả và vấn đề theo dõi sử dụng thuốc…
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn có được những đánh giá chính xác nhất về hai nội dung xây dựng danh mục thuốc và lựa chọn thuốc trong bệnh viện nhằm hoàn thiện công tác quản lý cung ứng thuốc, góp
Trang 13phần tích cực cho cán bộ quản lý lựa chọn và đưa ra các quyết định đúng đắn
để cải thiện các mặt còn tồn tại này
1.3 BỆNH VIỆN VIỆT NAM - THUỴ ĐIỂN UÔNG BÍ
1.3.1 Lịch sử hình thành
BV VN - TĐ Uông Bí Uông Bí là một bệnh viện đa khoa Hạng I trực thuộc
Bộ Y tế, nằm cách Hà Nội 120km về phía Đông Nam, được đưa vào hoạt động ngày 17/3/1981 Tổng diện tích của bệnh viện là 5,97 hécta, trong đó diện tích nhà sử dụng là 26.000m2 Bệnh viện nhận được sự hỗ trợ của phía Thụy Điển trong công tác xây dựng nên có một cơ sở hạ tầng đồng bộ và liên hoàn theo tiêu chuẩn Châu Âu Hiện nay, bệnh viện có 750 giường bệnh kế hoạch, có 6 phòng chức năng, 19 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng, 2 trung tâm trực thuộc và bộ phận phục vụ
1.3.2 Chức năng nhiệm vụ:
BV VN - TĐ Uông Bí là bệnh viện đa khoa, có các chức năng, nhiệm vụ sau:
- Khám, chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng cho bệnh nhân các tỉnh, thành phố vùng Đông Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc ở tuyến cao nhất
- Tham gia đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến theo nhiệm
vụ được phân công
- Nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng các công nghệ, kỹ thuật hiện đại
để phục vụ sức khoẻ nhân dân
- Hợp tác quốc tế
Trang 141.3.3 Mô hình tổ chức của bệnh viện:
Hình 1.4 Cơ cấu tổ chức của BV VN - TĐ Uông Bí
1.3.4 Cơ cấu nhân lực bệnh viện:
Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bệnh viện
Cơ cấu nhân lực của BV VN - TĐ Uông Bí năm 2012 được thể hiện qua bảng 1.2 sau:
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực của BV VN - TĐ Uông Bí năm 2012
BAN GIÁM ĐỐC
- Đoàn thanh niên
- Hội điều dưỡng,…
- Ung bướu
- Đào tạo và chỉ đạo tuyến
Trang 15TT Trình độ chuyên môn Số lượng
1 Trên đại học (Tiến sĩ, Thạc sĩ, CK II, CK I…) 74
6 Hộ lý, sơ cấp 116 Tổng số biên chế 766
1.2.5 Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của Khoa Dược
1.2.5.1 Mô hình tổ chức khoa dược:
GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN
TRƯỞNG KHOA DƯỢC
BP kiểm nhập hàng
Kho chính
BP thống
kê
BP pha chế theo đơn và đông y
Nhà thuốc bệnh viện
Kho lẻ TGN, Kho lẻ thuốc Kho lẻ thuốc BHYT Kho
Trang 161.2.5.2 Nhân lực:
- Tổng số 26 cán bộ viên chức, trong đó
+ Dược sĩ đại học và trên đại học: 06
+ Đại học khác: 01 (Cử nhân ngoại ngữ)
+ Dược sĩ trung học, kỹ thuật viên: 18
+ Công nhân kĩ thuật: 01
1.2.5.4 Nhiệm vụ:
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc, hoá chất, VTTH
- Quản lý, theo dõi công tác nhập, cấp phát thuốc, hoá chất, VTTH
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị
- Thực hiện bảo quản thuốc GSP
- Pha chế theo đơn
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin tư vấn sử dụng thuốc
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện qui chế chuyên môn về dược tại các khoa
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo
- Phối hợp các khoa theo dõi, giám sát, đánh giá việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
- Quản lý hoạt động nhà thuốc
1.2.6 Hội đồng thuốc và điều trị BV VN - TĐ Uông Bí
DTC của bệnh viện được thành lập năm 2004 Thành phần gồm 15 người, là những người có kinh nghiệm và được đào tạo cao nhất trong lĩnh vực điều trị bằng thuốc cũng như công tác cung ứng thuốc, thành phần của DTC có thể thay đổi cho phù hợp với nhân lực và tình hình cụ thể của bệnh viện
Trang 17+ Giám sát việc thực hiện quy chế chẩn đoán bệnh, làm hồ sơ bệnh án,
kê đơn, quy chế điều trị, quy chế sử dụng thuốc
Trang 18Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng
- Hoạt động xây dựng danh mục thuốc của Hội đồng thuốc và điều trị; các hội đồng chuyên môn có liên quan khác
- Tài liệu đấu thầu và tài liệu cung ứng thuốc tại bệnh viện năm 2012
2.1.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2012 đến 12/2012
2.2 NỘI DUNG VÀ CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
Hình 2.6 Sơ đồ tóm tắt nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu
Phân tích một số hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện Việt Nam - Thuỵ Điển Uông Bí năm 2012
Nội dung 2
Phân tích hoạt động đấu thầu thuốc tại bệnh viện năm 2012
- Cơ cấu thuốc trong DMT
- Tính hợp lý với kinh phí mua thuốc của bệnh viện
- Tính hợp lý của DMT
sử dụng tại bệnh viện từ kết quả phân tích ABC
Trang 192.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả hồi cứu [2]
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu:
- Hồi cứu tài liệu, sổ sách liên quan đến hoạt động xây dựng danh mục thuốc: + Quyết định thành lập Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện
+ Nội dung biên bản họp của DTC về hoạt động xây dựng DMT năm
2012
+ Báo cáo tóm tắt kết quả hoạt động bệnh viện năm 2012
+ Danh mục thuốc lưu hành tại bệnh viện năm 2012
+ Báo cáo sử dụng thuốc (nhập, xuất, tồn) năm 2011, 2012
- Hồi cứu tài liệu, dữ liệu liên quan đến hoạt động đấu thầu thuốc tại bệnh viện năm 2011, 2012:
+ Danh mục thuốc đề nghị Bộ Y tế phê duyệt
+ Danh mục thuốc kế hoạch được Bộ Y tế phê duyệt (danh mục mời thầu)
+ Hồ sơ mời thầu, thẩm định hồ sơ mời thầu
+ Đánh giá và thẩm định kết quả đấu thầu
+ Kết quả trúng thầu
+ Công văn từ chối giao hàng của một số công ty trúng thầu
+ Tài liệu mua hàng trực tiếp
2.3.3 Phân tích số liệu
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích số liệu:
Trang 20Sử dụng để hệ thống hoá các chỉ tiêu lựa chọn nhà thầu, thuốc trúng thầu tại bệnh viện
Phương pháp tỷ trọng:
Sử dụng để tính tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước/thuốc nhập ngoại, tỷ lệ nhóm thuốc uống/ thuốc tiêm trong DMT sử dụng năm 2012
Phương pháp phân tích ABC:
Là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng
năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách [21]
Các bước tiến hành:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm: gồm N sản phẩm
Bước 2: Điền các thông tin sau cho mỗi sản phẩm:
- Đơn giá của từng sản phẩm: gi (i = 1, 2, 3 … N)
- Số lượng các sản phẩm: qi
Bước 3: Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm ci = gi x qi
Tổng số tiền sẽ bằng tổng lượng tiền cho mỗi sản phẩm: C = ci
Bước 4: Tính giá trị % của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền : pi = ci x 100/C
Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
Bước 6: Tính giá trị % tích luỹ của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm (k): bắt đầu với sản phẩm số 1 sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau
- Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75-80% tổng giá trị tiền (có k từ 0 80%)
- Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15-20% tổng giá trị tiền (có k từ 80 95%)
- Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5-10% tổng giá trị tiền (có k > 95%)
Trang 21Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10-20%, tổng sản phẩm; hạng
B chiếm 10-20% và 60-80% còn lại là hạng C
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu được trình bày dưới dạng: bảng biểu, đồ thị và sơ đồ
- Xử lý số liệu và kết quả thu được bằng phần mềm Microsoft Excel
Trang 22Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 MÔ TẢ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG DMT TẠI BỆNH VIỆN VIỆT NAM - THUỴ ĐIỂN UÔNG BÍ NĂM 2012
3.1.1 Quy trình xây dựng DDMT tại BV VN - TĐ Uông Bí năm 2012
Các bước xây dựng DMT năm 2012 của BV VN - TĐ Uông Bí
Hình 3.7 Quy trình xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
Sửa đổi, bổ sung
Thông qua
Các căn cứ:
- DMTCY của Bộ Y tế
- Hướng dẫn điều trị một số bệnh
thường gặp tại bệnh viện
- Các Quyết định đình chỉ, thu hồi
thuốc của Bộ Y tế
- Các văn bản liên quan đến
khuyến cáo sử dụng thuốc của Bộ
Y tế
Thông tin từ khoa/phòng:
- Khoa Dược: báo cáo sử dụng thuốc năm 2011; tổng kết báo cáo ADR; danh mục các thuốc không đảm bảo chất lượng năm 2011
- Phòng KHTH: báo cáo hoạt động bệnh viện năm 2011
- Phòng TCKT: kinh phí cho mua thuốc năm 2012
- Các khoa lâm sàng: nhu cầu thuốc năm2012
HỘI ĐỒNG THUỐC VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIỆN
Danh mục hoạt chất
DMTBV năm 2012
Đấu thầu Giám đốc bệnh viện
Trang 233.1.2 Những hoạt động cụ thể trong việc xây dựng DMT
- Thông tin về danh mục các thuốc ít sử dụng, các thuốc tồn đọng, thuốc
có thông báo thu hồi, đình chỉ, cấm lưu hành, thuốc có báo cáo ADR nghiêm trọng
Trang 24a Thông tin về giá trị tiền thuốc năm 2011:
Bảng 3.2 Tổng giá trị tiền thuốc năm 2011 của BV VN-TĐ Uông Bí
Đơn vị tính: 1000VN đồng
1 Tổng giá trị tiền thuốc dự kiến sử dụng 30.708.885
2 Tổng số tiền mua thuốc (bao gồm cả giá trị dự kiến từ
3 Tổng chi phí cho hoạt động thường xuyên của bệnh viện 124.175.15
6Nhìn vào bảng trên ta thấy:
- Tỷ lệ tiền thuốc đã sử dụng thực tế so với kinh phí dự kiến năm 2011: 103,52%
- Tổng số tiền thuốc/ tổng chi phí của bệnh viện năm 2011: 25,6%
Theo khuyến cáo của WHO, chi phí dành cho thuốc trung bình chỉ nên ở mức 25% so với tổng chi phí điều trị Như vậy, năm 2011, chi phí cho thuốc của BV VN - TĐ Uông Bí ở mức 25,6% so với tổng chi phí điều trị là tương đối hợp lý Tuy nhiên, tỷ lệ tiền thuốc sử dụng dự kiến cao hơn
kế hoạch Điều này đã được ghi trong biên bản họp của DTC tháng 7/2011,
là do số thẻ BHYT ban đầu tại bệnh viện tăng và DTC có kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động kê đơn thuốc nhằm phát hiện và điều tiết thuốc sử dụng
Mặc dù, DTC có họp phân tích giá trị sự dụng thuốc của bệnh viện so với tổng chi phí bệnh viện tuy nhiên nội dung này không được quan tâm xem xét trong việc phân bổ giá trị tiền thuốc năm 2012
Trang 25b Thông tin về DMT năm 2011
Để đánh giá được tình hình sử dụng thuốc, thư ký của DTC đã thu thập
số thuốc đang được sử dụng và không được sử dụng trong năm 2011, số thuốc mua ngoài DMTBV năm 2011 kết quả như trong bảng 3.3 sau:
Bảng 3.3 Số thuốc đã được sử dụng và không được sử dụng năm 2011
Đơn vị: Khoản mục
1 Thuốc được sử dụng năm 2012
- Tổng số thuốc (gồm các hàm lượng và dạng bào
chế)
- Tổng số hoạt chất
372303
2 Thuốc không được sử dụng năm 2011 63
3 Thuốc được sử dụng ngoài DMTBV năm 2011 02
Những thông tin trên dùng để DTC làm căn cứ lựa chọn thuốc vào trong DMT năm 2012 Số thuốc mà DTC cần phải xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ ra khỏi DMT năm 2012 là 398 thuốc, cụ thể:
+ 372 thuốc đang được sử dụng cần được DTC đánh giá tính thường xuyên và khả năng đáp ứng nhu cầu điều trị trong bệnh viện của từng danh mục
+ Với 63 thuốc không được sử dụng năm 2011, DTC cần xem xét và
Trang 26Như vậy, DTC bệnh viện đã xem xét, đánh giá các thông tin liên quan đến sử dụng thuốc năm 2011 làm căn cứ để xây dựng DMTBV năm 2012 Tuy nhiên việc đánh giá chưa mang tính khoa học (chưa thực hiện phân tích ABC/VEN) Đây là vấn đề mà bệnh viện cần rút kinh nghiệm trong việc xây dựng DMT
3.1.2.2 Thu thập thông tin, ý kiến đóng góp từ các khoa lâm sàng
DMT phải được thống nhất bởi tất cả các khoa lâm sàng, vì vậy việc thu thập ý kiến đóng là hết sức cần thiết Giám đốc bệnh viện đã gửi mẫu dự trù thuốc năm 2012 đến các khoa (phụ lục 2):
- Có 106 thuốc được đề xuất bổ sung vào DMT từ 15 khoa lâm sàng
- Khoa Dược tổng hợp số lượng thuốc, xem xét có thuộc DMTCY hay không? Tìm hiểu các thông tin về thuốc qua Dược thư quốc gia, MIMS, Vidal, internet…
Nhận xét:
Mặc dù bệnh viện đã có mẫu tham khảo lựa chọn thuốc từ các khoa lâm sàng, nhưng do DTC chưa xây dựng được tiêu chí lựa chọn thuốc cụ thể và phác đồ điều trị tại bệnh viện còn chưa cập nhật nên các thuốc được đề xuất
bổ sung chủ yếu do các khoa tự cập nhật khi được tập huấn, tham gia hội nghị khoa học
Các thuốc được đề xuất chủ yếu mang tên biệt dược, thư ký DTC tra cứu sang tên gốc sau đó tìm hiểu các thông tin liên quan báo cáo DTC tại cuộc họp Đây cũng là vấn đề cần phải xem xét, bệnh viện nên nhanh chóng hoàn thiện phác đồ điều trị để việc lựa chọn thuốc thực sự dựa trên căn cứ này chứ không phải do yếu tố tác động từ các công ty cung cấp
Trang 273.1.2.3 Đánh giá, lựa chọn thuốc vào DMTBV
Trưởng khoa Dược tổng kết các thông tin đã thu thập, báo cáo trong cuộc họp DTC Kết quả lựa chọn thuốc được hồi cứu trong biên bản họp DTC cho thấy các thành viên trong hội đồng đã nhất trí thông qua DDMTBV năm
2012 như sau:
Bảng 3.4 Kết quả lựa chọn danh mục thuốc của DTC
1 Thuốc được đề nghị bổ sung vào DMT sử dụng
3 Tổng số thuốc được lựa chọn vào DMT năm 2012 446
DMTBV năm 2012 được bổ sung khá nhiều so với năm 2011, các thuốc mới được bổ sung chủ yếu là thuốc điều trị ung thư và điều hoà miễn dịch (41 thuốc) do năm 2011 bệnh viện được Bộ Y tế phê duyệt thành lập Trung tâm ung bướu với qui mô 200 giường bệnh vì vậy điều này là hoàn toàn phù hợp; các thuốc loại bỏ chủ yếu là các thuốc không phù hợp với phác đồ điều trị, thuốc có khuyến cáo hạn chế sử dụng của Bộ Y tế, thuốc đa thành phần
Trang 28danh mục Đây chính là tiền đề cho việc xây dựng một DMTBV hợp lý 446 DMT nêu trên được lựa chọn thành DMT đấu thầu và sử dụng năm 2012
đồ điều trị các bệnh thường gặp đã được xây dựng tại bệnh viện Mặt khác DMTBV mới chỉ áp dụng cho bệnh nhân điều trị nội trú và cấp phát ngoại trú cho bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế nhưng chưa đáp ứng đủ yêu cầu thuốc cho hoạt động kê đơn và bán tại nhà thuốc bệnh viện (hiện nay nhà thuốc có danh mục riêng)
Để có được một DMT hợp lý, an toàn và hiệu quả, DTC của bệnh viện cần xây dựng các tiêu chí đánh giá lựa chọn các thuốc vào DMT bệnh viện một cách thống nhất và đầy đủ Đồng thời có thể dựa vào phương pháp tính điểm cho từng thuốc định chọn để so sánh và lựa chọn
Trang 293.2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU THUỐC TẠI BV VN - TĐ UÔNG BÍ NĂM 2012
3.2.1 Quy trình và các bước thực hiện đấu thầu thuốc
Bộ Y tế phê duyệt
Giám đốc phê duyệt
Quảng cáo, thông báo mời thầu Phát hành Hồ sơ mời thầu
Trang 30Để lựa chọn thuốc BV VN - TĐ Uông Bí đã lựa chọn hình thức đấu thầu rộng rãi từ đó không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự
3.2.1.1 Chuẩn bị đấu thầu
Kế hoạch đấu thầu thuốc của bệnh viện năm 2012 gồm 1 gói theo tên gốc
- Số lượng từng loại thuốc trong kế hoạch đấu thầu năm 2012 do DTC bệnh viện xác định chủ yếu dựa trên số lượng dùng thực tế của 09 tháng năm 2011, chia tỷ lệ/ 1 tháng sau đó ước tính số lượng cho sử dụng 12 tháng và cộng thêm 20% dự kiến cho số lượng bệnh nhân tăng thêm năm 2012 (bao gồm số lượng cho bệnh nhân của Trung tâm Ung bướu và 18.500 thẻ khám chữa bệnh BHYT ban đầu do Bảo hiểm Y tế Quảng Ninh phân bổ), đối với một số thuốc chuyên khoa số lượng được tính dựa trên dự đoán mô hình bệnh tật và triển khai kỹ thuật mới tại khoa lâm sàng
- Giá kế hoạch đề xuất được xây dựng dựa vào giá thuốc trúng thầu của các bệnh viện tuyến trung ương trên Website của Cục Quản lý dược hoặc 05 báo giá của công ty phân phối
- DMT kế hoạch được bệnh viện đề xuất: 446 danh mục = 62.547.684.500 đồng
Sau khi Cục Quản lý dược xem xét giá kế hoạch và các căn cứ xây dựng giá, DMT kế hoạch có sự điều chỉnh và loại bỏ: DMT được Bộ Y tế phê duyệt 438 danh mục = 61.294.851.251 đồng
Kế hoạch đấu thầu thuốc của BV VN - TĐ Uông Bí do Bộ Y tế thẩm định và phê duyệt Tại Bộ Y tế, Vụ Kế hoạch - Tài chính làm đầu mối phối hợp với Cục Quản lý Dược và các đơn vị có liên quan thẩm định kế hoạch đấu thầu sau đó trình lên Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt
Trang 31 Nhận xét:
- Với sự hạn chế về nhân lực của khoa dược và với số lượng tương đối lớn các mặt hàng thuốc, việc xây dựng giá kế hoạch là một công việc gian nan, phức tap và là khâu lâu nhất trong quá trình xây dựng kế hoạch đấu thầu (1 tháng)
- Việc lấy giá trúng thầu của năm trước để xây dựng giá kế hoạch cho năm tiếp theo là không thích hợp do giá thuốc có xu hướng tăng và hiện nay không
có nguồn thông tin chính xác và tính pháp lý về giá thuốc
- Việc tham khảo giá thị trường mang tính hình thức, rất khó tìm ra giá chung cho thuốc đấu thầu theo tên gốc Việc tham khảo báo giá của 5 nhà cung cấp khi xây dựng giá thuốc là yêu cầu tốn thời gian và rất khó khăn cho bệnh viện, chính vì vậy DMT kế hoạch có 08 khoản không đủ căn cứ để Bộ Y tế phê duyệt
3.2.1.2 Tiến hành đấu thầu
Sau khi hoàn tất DMT và duyệt kế hoạch đấu thầu, bệnh viện tiến hành lập HSMT Các tiêu chí lựa chọn nhà thầu và thuốc trúng thầu được Tổ chuyên gia xét thầu bệnh viện quy định rất rõ ràng trong HSMT, trong bảng chấm điểm chi tiết của từng gói thầu và trong các biên bản xét thầu (phụ lục 3
và 4)
Năm 2012 chưa có hướng dẫn hay quy định cụ thể nào về HSMT nên bệnh viện phải tự xây dựng HSMT cho mình dựa trên kinh nghiệm và tham khảo các bệnh viện khác Hầu hết các tiêu chí mà Tổ chuyên gia xét thầu bệnh viện đưa ra đều có tác động đến quá trình lựa chọn thuốc của tất cả các thành
Trang 32quan trọng liên quan đến chi phí và hiệu quả của thuốc là giá thuốc Giá thuốc
là tiêu chí số một trong lựa chọn thuốc qua đấu thầu của bệnh viện Các tiêu chí
về độ an toàn của thuốc ít tác động trong quá trình lựa chọn thuốc
3.2.1.3 Đánh giá HSDT và công bố kết quả đấu thầu
Việc cung ứng thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị cho bệnh nhân hàng
năm được dựa vào kết quả lựa chọn nhà thầu DMT trúng thầu theo phương
thức đấu thầu rộng rãi mỗi năm 1 lần chính là DMT sử dụng chủ yếu tại
bệnh viện Kết quả đấu thầu của BV VN - TĐ Uông Bí năm 2012 được thể
hiện qua bảng 3.9 sau:
Bảng 3.5 Kết quả đấu thầu của BV VN - TĐ Uông Bí năm 2012
1 Tổng số nhà thầu dự thầu 58 100,00
2 Tổng số nhà thầu được đề nghị trúng thầu 47 81,03
3 Số nhà thầu không trúng thầu 11 18,97
II Danh mục đấu thầu danh mục Số lượng Tỷ lệ %
1 Số danh mục mời thầu 438 100,00
2 Số danh mục lựa chọn được nhà thầu 383 87,44
3 Số danh mục không lựa chọn 3 0,68
4 Số danh mục không có nhà thầu chào 52 11,87
5 Số danh mục chọn từ 2 biệt dược trở lên 9 2,05
1 Tổng giá trị kế hoạch 61.294.851 100,00
Tổng giá trị trúng thầu và giá trị dự kiến
các mặt hàng không có nhà thầu chào 47.144.989 76,92
Trang 33Thuốc là mặt hàng đặc biệt, rất khó chọn được thuốc chất lượng tốt nếu chọn thuốc có giá bán thấp nhất (đặc biệt là các thuốc chuyên khoa) Việc hài hoà giữa hiệu quả điều trị, chất lượng và giá thuốc trong khi xét thầu là một vấn đề phức tạp và khó khăn Năm 2012, BV VN - TĐ Uông Bí đã lựa chọn được 47 nhà thầu cung ứng 383 thuốc với đa số các thuốc trúng thầu được cung cấp bởi một số doanh nghiệp lớn có uy tín như: Công ty dược phẩm Trung ương 1; Công ty TNHH một thành viên Dược liệu Trung ương 2; Công
ty Dược phẩm Trung ương 2; Công ty dược phẩm & TBYT Hà Nội… có thể nói bệnh viện sẽ đảm bảo cung ứng đủ thuốc cho công tác khám, chữa bệnh năm 2012 Có 52 thuốc không có nhà thầu tham dự được Hội đồng xét thầu đề xuất hình thức mua trực tiếp
- Bệnh viện lựa chọn 1 thuốc cho 1 khoản mời thầu Cá biệt có 09 danh mục chọn từ 2 biệt dược trở lên chiếm tỷ lệ 2,05%, điều đó chứng tỏ vẫn có sự trùng lặp về hoạt chất Tuy nhiên các thuốc này có số lượng và giá trị lớn lớn
vì vậy có thể lựa chọn nhiều nhà cung ứng để tránh trường hợp công ty nào đó không có khả năng cung ứng kịp thời Mặt khác các bác sĩ kê đơn có nhiều sự lựa chọn hơn, tùy bệnh nhân có thể chọn thuốc có hiệu quả điều trị tốt hơn hoặc kém hơn, do các thuốc khác nhau có thể có tương đương điều trị khác nhau Nhưng điều này có thể gây khó khăn trong khâu cung ứng do ảnh hưởng của trình dược viên, do thói quen kê đơn của các bác sĩ, một số thuốc được kê đơn vượt quá số lượng thầu, trong khi đó thuốc khác cùng hoạt chất chỉ được dùng với số lượng ít (Ví dụ như Cefotaxim được lựa chọn 3 thuốc là
Trang 34- Giá trị trúng thầu chiếm 74,92% giá trị kế hoạch, tuy nhiên khi xem xét
DMT trúng thầu của bệnh viện, đề tài nhận thấy có 34 danh mục thuốc vượt
giá kế hoạch (phụ lục 5) Công tác xây dựng giá kế hoạch cho năm 2012 được
thực hiện từ giữa năm 2011, thời gian kể từ lúc chuẩn bị kế hoạch đến khi
thực hiện đấu thầu là 5 tháng, do đó một số loại thuốc có thể tăng giá Mặt
khác khung giá kế hoạch lại được lấy từ giá trúng thầu năm 2010 nên giá kế
hoạch nhiều khi không thể trở thành giá cơ sở để xét thầu
3.2.1.4 Thương thảo và ký kết hợp đồng
Kết thúc quá trình đấu thầu và thương thảo hợp đồng là việc ký hợp đồng
chính thức với các đơn vị trúng thầu, việc cung ứng thuốc chuyển sang các
bước tiếp theo là đặt hàng, theo dõi, nhận và kiểm tra thuốc
3.2.2 Phân tích kết quả đấu thầu thuốc trên một số tiêu chí
3.2.2.1 Giá thuốc trúng thầu tại bệnh viện năm 2011 và 2012
Tiến hành so sánh giá thuốc trúng thầu tại bệnh viện VN - TĐ Uông Bí
hai năm 2011 - 2012 của 190 thuốc (cùng biệt dược, dạng bào chế, nồng độ,
hàm lượng, quy cách đóng gói và xuất xứ) kết quả thu được như sau
Bảng 3.6 So sánh giá thuốc trúng thầu năm 2011 và năm 2012
NỘI DUNG SỐ LƯỢNG DANH MỤC TỶ LỆ %
Tăng giá 106 55,79
Trang 35Bảng 3.7 Tỷ lệ các thuốc trúng thầu năm 2012 có giá thay đổi so với năm
2011
Tăng giá 48,11 27,36 24,53 Giảm giá 72,22 27,78 0
- Tỷ lệ thuốc biến động tăng giá từ 0 – 10% chiếm tỷ lệ cao, có 48,11% thuốc nằm trong khoảng này
- Có 24,53% số thuốc trúng thầu tăng giá trên 20%, trong đó chủ yếu là các thuốc có tổng giá trị sử dụng thấp Tuy nhiên, bệnh viện cũng cần xem xét mặt hàng Oramep (Glimepirid 2mg) có tỷ lệ tăng giá tới 33,33% Như đã nói ở trên đây là mặt hàng được lựa chọn cùng 2 biệt dược có cùng hoạt chất khác,
số lượng sử dụng so với hợp đồng là 110% nên việc tăng giá phần nào ảnh hưởng đến kinh phí điều trị
3.2.2.2 Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập ngoại
Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập ngoại được lựa chọn trong đấu thầu thuốc được thể hiện tại bảng 3.6 sau:
Trang 36Bảng 3.8 Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập ngoại được lựa
chọn trong đấu thầu mua thuốc năm 2012
có số lượng sử dụng lớn, bệnh viện đã kết hợp lựa chọn cả thuốc đắt tiền (thường là thuốc nhập ngoại) và thuốc rẻ tiền (thường là thuốc sản xuất trong nước nên giá thành thấp hơn) để các bác sĩ có thể sử dụng tuỳ theo tình trạng của bệnh nhân nhằm giảm chi phí tối đa mà vẫn đạt được hiệu quả điều trị Tỷ
lệ danh mục thuốc sản xuất trong nước được lựa chọn là 39,69% Tuy nhiên,
tỷ lệ thuốc nhập ngoại được sử dụng còn cao, nhiều gấp 1,52 lần thuốc sản xuất trong nước nhưng giá trị thuốc nhập ngoại được sử dụng gấp 6,01 lần thuốc sản xuất trong nước
3.3 PHÂN TÍCH CƠ CẤU VÀ TÍNH HỢP LÝ CỦA DMT SỬ DỤNG TẠI BV VN - TĐ UÔNG BÍ NĂM 2012
3.3.1 Cơ cấu DMT sử dụng tại BV VN - TĐ Uông Bí năm 2012
Trang 373.3.1.1 Cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dược lý
DMT sử dụng năm 2012 của BV VN - TĐ Uông Bí được phân loại theo
nhóm tác dụng dược lý như trong bảng 3.7 và đồ thị 3.9 sau:
Bảng 3.9 Cơ cấu DMT sử dụng tại bệnh viện theo nhóm tác dụng dược lý
Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm
không steroid, thuốc điều trị gút và
các bệnh xương khớp khác
32 7,08 1.518.596 3,57
3 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn 7 1,55 15.048 0,04
4 Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc 13 2,88 1.318.828 3,10
5 Thuốc chống co giật, chống động kinh 5 1,11 25.243 0,06
6 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 82 18,14 9.717.070 22,85
7 Thuốc điều trị đau nửa đầu, chóng
14 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 1 0,22 93.629 0,22
15 Thuốc lợi tiểu 4 0,88 202.738 0,48
16 Thuốc đường tiêu hoá 39 8,63 2.104.875 4,95
Trang 3820 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng 15 3,32 200.811 0,47
21 Thuốc có tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ và chống đẻ non 6 1,33 528.497 1,24
22 Thuốc chống rối loạn tâm thần 8 1,77 107.475 0,25
23 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 16 3,54 1.314.386 3,09
24
Dung dịch điều chỉnh nước, điện
giải, cân bằng acid- base và các
dung dịch tiêm truyền khác
31 6,86 2.453.768 5,77
25 Khoáng chất và vitamin 15 3,32 189.131 0,44
452 100,00 42.533.686 100,00
Hình 3.9 Đồ thị phân loại theo số lượng DMT của từng nhóm thuốc
DMT sử dụng tại bệnh viện năm 2012 được chia thành 25 nhóm theo tác dụng dược lý, với 452 thuốc từ 299 hoạt chất Các nhóm chiếm tỷ lệ nhiều
20 32
7
13 5 82
1
41
1 21 47
2 4 1 4
39 33
1 7
15
6 816
26 15
Ghi chú: Nhóm thuốc từ 1 đến 25 được phân loại theo bảng 3.7
Trang 39nhất là thuốc chống nhiễm khuẩn, thuốc tim mạch, thuốc đường tiêu hóa, thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch
DMT sử dụng tại bệnh viện tập trung chủ yếu vào 5 nhóm thuốc chính được thể hiện qua bảng 3.8 sau:
Bảng 3.10 Năm nhóm thuốc chính sử dụng tại BV VN - TĐ Uông Bí năm
2 Thuốc tác dụng đối với máu 21
4,65 6.180.179 14,53
3 Thuốc tim mạch 47
10,40 6.009.796 14,13
4
Hocmon và các thuốc tác động vào
hệ thống nội tiết 33
7,30 3.428.871 8,06
5
Thuốc điều trị ung thư và điều hoà
9,07 3.408.680 8,01 Nhìn vào bảng trên cho ta thấy nhóm thuốc chiếm tỉ lệ cao nhất về số
lượng danh mục là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn,
đồng thời nhóm thuốc này cũng có giá trị lớn nhất Bên cạnh đó, các nhóm thuốc tác dụng với máu, thuốc tim mạch, hocmon và các thuốc tác động vào
hệ nội tiết, thuốc điều trị ung thư, là những nhóm thuốc có số lượng danh mục
và giá trị sử dụng chiếm tỷ lệ cao Tổng cộng 5 nhóm thuốc này có giá trị sử
dụng chiếm phần lớn trong năm 2012 (> 60%) và có tỷ lệ tới gần 50% số
Trang 403.3.1.2 Tỷ lệ thuốc nằm trong DMTTY lần thứ V và trong DMTCY
Bảng 3.11 Tỷ lệ thuốc thiết yếu và thuốc chủ yếu
1 Thuốc nằm trong DMTTY 272 60,18
2 Thuốc nằm trong DMTCY 445 98,45
Trong tổng số 452 thuốc trong danh mục, chiếm 98,45% là thuốc chủ yếu, các thuốc được sử dụng cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao trong DMTTY lần V (60,18%)
3.3.1.3 Cơ cấu các dạng thuốc trong DMT bệnh viện năm 2012
Cơ cấu các dạng thuốc trong DMT năm 2012 của BV VN - TĐ Uông Bí được thể hiện tại bảng 3.8 sau:
Bảng 3.12 Cơ cấu các dạng thuốc trong DMT bệnh viện năm 2012