Sự yếu kém này có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc: trong lựa chọn, mua sắm thuốc là việc xây dựng danh mục không phù hợp với yêu cầu, không đáp ứng đủ nhu
Trang 1LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGHÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
Trang 2Bộ y tế
TRường Đại học dược Hà Nội
Trần Thị Thu Hương
Phân tích hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện suối khoáng
mỹ lâm yên Sơn - Tuyên Quang
Năm 2013
Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I
Hà nội 2014
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, tạo gánh nặng cho nền kinh tế xã hội, và gây ra những hậu quả lớn về sức khỏe trong cộng đồng
Cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng giữ vai trò vô cùng quan trọng, mang tính quyết định đến chất lượng
công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân Với mục tiêu "Phát triển
ngành Dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, chủ động hội nhập khu vực và thế giới nhằm đảm bảo cung ứng đủ thuốc thường xuyên có chất lượng, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý và an toàn, phục vụ sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân"[10] Như vậy, có thể thấy tầm quan trọng của việc cung ứng
thuốc trong công tác khám chữa bệnh và mối quan tâm của Đảng, Nhà nước với vấn đề này
Ở Việt Nam, công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện cũng đang tồn tại nhiều bất cập và được dư luận xã hội hết sức quan tâm Sự yếu kém này
có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc: trong lựa chọn, mua sắm thuốc là việc xây dựng danh mục không phù hợp với yêu cầu, không đáp ứng đủ nhu cầu điều trị; trong bảo quản, cấp phát là việc quản lý kho thuốc kém hiệu quả; trong giám sát sử dụng là việc lạm dụng,
kê quá nhiều thuốc trong một đơn thuốc, hay hướng dẫn không đầy đủ cho người bệnh về cách sử dụng thuốc, người bệnh không tuân thủ điều trị… đều dẫn tới nguy cơ cao về tương tác và các phản ứng có hại của thuốc[13]
Hoạt động cung ứng thuốc là một trong những hoạt động thường xuyên, trọng tâm trong toàn bộ hoạt động của Bệnh viện, cung ứng thuốc không đảm bảo kịp thời, đầy đủ và có chất lượng thì không những gây lãng
Trang 4phí tiền của, mà còn gây nên những tác hại đến sức khoẻ, thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám, chữa bệnh của Bệnh viện
Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng thuốc trong
bệnh viện, chúng tôi thực hiện đề tài “Phân tích hoạt động cung ứng
thuốc tại Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm - Yên Sơn - Tuyên Quang năm 2013” Lựa chọn, mua, tồn trữ cấp phát và bảo quản
Mục tiêu nghiên cứu:
Phân tích một số chỉ tiêu của bốn nhiệm vụ cung ứng thuốc: Lựa chọn, mua, tồn trữ, bảo quản, cấp phát và sử dụng tại Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm 2013
Từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm cải thiện và nâng cao hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Chu trình cung ứng thuốc bao gồm 4 hoạt động chính: Lựa chọn thuốc; mua sắm thuốc; tồn trữ, cấp phát thuốc và giám sát sử dụng thuốc
Cả 4 hoạt động này đều có liên quan chặt chẽ với nhau, mỗi hoạt động đều dựa trên kết quả của hoạt động trước đó đồng thời cũng là nền tảng cho hoạt động tiếp theo Theo WHO chu trình cung ứng thuốc được thể hiện theo sơ đồ ở hình 1.1[12][13]
Hình 1.1 Chu trình cung ứng thuốc
Hình 1.1 Chu trình cung ứng thuốc
→ Dòng lưu chuyển các hoạt động cung ứng thuốc - Đường phối hợp
1.1.1 Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là việc xác định chủng loại và số lượng thuốc để cung ứng Trong bệnh viện, chủng loại thuốc được thể hiện qua DMT bệnh viện Lựa chọn và xây dựng DMT bệnh viện là công việc quan trọng thuộc
Lựa chọn
Phân phối Hội đồng thuốc và điều trị
Chính sách và luật pháp
Trang 6chu trình cung ứng thuốc DMT là cơ sở để đảm bảo cho việc cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch hợp lý, an toàn, hiệu quả và có tác động trực tiếp đến hiệu quả điều trị đối với người bệnh[6]
Mỗi bệnh viện tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn, mà xây dựng DMT
Căn cứ để xây dựng DMT bệnh viện
Hình 1.2 Các căn cứ xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện
1.1.1.1 Mô hình bệnh tật:
Mô hình bệnh tật thuộc bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong một thời gian nhất định (thường là theo từng năm) Tuỳ thuộc vào chức năng nhiệm vụ của từng bệnh viện, đặc điểm dân cư, địa lý nơi bệnh viện phục vụ, đặc biệt là sự phân công nhiệm vụ của bệnh viện trong các
Hướng dẫn điều trị (phác đồ điều trị)
nước: DMTTY, DMTCY
Nhu cầu thuốc đã sử dụng và
dự đoán trong tương lai
Hội đồng thuốc và điều trị
Mô hình bệnh tật
của bệnh viện
Danh mục thuốc bệnh viện
Trang 7tuyến y tế khác nhau mà mô hình bệnh tật của từng bệnh viện cũng khác nhau
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện không chỉ lựa chọn xây dựng danh mục thuốc phù hợp mà còn là cơ sở để bệnh viện hoạch định phát triển toàn diện trong tương lai Mô hình bệnh tật luôn thay đổi theo thời gian, vì vậy các nhà quản lý cần phải nắm được để
1.1.1.2 Hướng dẫn điều trị chuẩn
Hướng dẫn điều trị chuẩn là tài liệu hướng dẫn cho thầy thuốc những công việc cụ thể và không thể thiếu trong quá trình điều trị Hướng dẫn điều trị chuẩn là văn bản chuyên môn có tính pháp lý Nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị học mỗi loại bệnh Theo tổ chức Y tế thế giới, các tiêu chí của một hướng dẫn điều trị chuẩn về thuốc gồm:
- Hợp lý: phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc còn hạn sử dụng
- An toàn: không gây tai biến, không làm cho bệnh nặng thêm, không có
tương tác thuốc
- Hiệu quả: dễ dùng, khỏi bệnh hoặc không để lại hậu quả xấu hoặc đạt
mục đích sử dụng thuốc trong thời gian nhất định
- Kinh tế: chi phí điều trị thấp nhất
Ở Việt Nam nhận thấy ý nghĩa sát thực của hướng dẫn điều trị chuẩn, rất nhiều bệnh viện đã tiến hành xây dựng phác đồ điều trị cho bệnh viện mình, dựa trên hướng dẫn điều trị chuẩn của Bộ Y tế
1.1.1.3 Danh mục thuốc thiết yếu
Trang 8Là DMT có đủ chủng loại đáp ứng yêu cầu điều trị các bệnh thông thường Tên thuốc trong DMT là tên gốc dễ nhớ, dễ biết, dễ lựa chọn, dễ sử dụng, dễ bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin, việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ
Danh mục thuốc thiết yếu là căn cứ lựa chọn thuốc quan trọng trong bệnh viện Danh mục thuốc thiết yếu là danh mục những loại thuốc thõa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân, những loại thuốc luôn sẵn có bất cứ lúc nào, với số lượng cần thiết đảm bảo phục vụ cho công tác khám, chữa bệnh
Khái niệm DMTTY được thể hiện rõ trong chính sách quốc gia về
thuốc như sau: “DM TTY là danh mục những loại thuốc thoả mãn nhu cầu
chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân, những loại thuốc này luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lí”[2]
DMTTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của Nhà nước về: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và chữa bệnh cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong DMTTY và là
cơ sở để xây dựng DMTCY tại các cơ sở khám, chữa bệnh
1.1.1.4 Danh mục thuốc chủ yếu tại cơ sở khám, chữa bệnh
Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám chữa bệnh nhằm mục tiêu đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu điều trị cho người bệnh và phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế Danh mục thuốc chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam và của Tổ chức y tế thế giới hiện hành có hiệu quả tốt trong điều trị[8]
DMTCY sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh là cơ sở để lựa chọn, đảm bảo nhu cầu điều trị và thanh toán cho các đối tượng người bệnh, bao gồm cả người có thẻ bảo hiểm y tế Để phù hợp với thực tế sử
Trang 9dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh DMT ngày càng được hoàn thiện
và bám sát thực tế sử dụng
Như vậy lập danh mục thuốc phải trải qua quá trình nghiên cứu, phân tích, dự đoán nhu cầu, điều kiện cung ứng thuận lợi, có hiệu quả điều trị cao nhất, ít tác hại nhất, ưu tiên thuốc nội cùng loại Mặt khác danh mục thuốc phải phù hợp với mô hình bệnh tật, phân hạng bệnh viện, tài chính của bệnh viện, phù hợp với điều kiện địa lý, khả năng kinh tế của bệnh nhân và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế[7][12]
1.1.2 Mua thuốc
1.1.2.1 Chu trình mua thuốc:
Chu trình mua thuốc bao gồm hầu hết các quyết định và hoạt động nhằm xác định sử dụng của từng thuốc, giá cả phải chi trả và chất lượng của thuốc nhận về Một quá trình mua sắm thuốc hiệu quả phải đảm bảo cung cấp đúng thuốc, đúng số lượng, giá cả hợp lý và với tiêu chuẩn chất lượng được thừa nhận Chu trình mua sắm thuốc bao gồm các bước sau:
Hình 1.3.Chu trình mua sắm thuốc
Xác định nhu cầu, cân đối nhu cầu – kinh phí
Chu trình mua thuốc
Kiểm nhận thuốc và kiểm tra
Thu thập thông tin về
Trang 10- Xác định nhu cầu sử dụng thuốc: Thông thường, việc xác định nhu cầu về
số lượng thường dựa vào số lượng thuốc tồn trữ và lượng thuốc luân chuyển qua kho Tuy nhiên, khi có sự thay đổi cơ chế cung ứng, thay đổi phác đồ điều trị hoặc sử dụng thuốc không hợp lý thì việc xác định nhu cầu thuốc là rất khó khăn Trong thực tế, để xác định nhu cầu thuốc thường kết hợp các phương pháp sau:
+ Thống kê dựa trên sử dụng thuốc thực tế
+ Dựa trên cơ sở quản lý các dịch vụ y tế
+ Dựa trên mô hình bệnh tật và hướng dẫn thực hành điều trị tại cơ
sở
Ngoài ra còn kết hợp với các yếu tố ảnh hưởng như bệnh dịch, điều kiện kinh tế, sức khoẻ, trình độ chuyên môn, những tiến bộ trong khoa học và kỹ thuật điều trị mới, …
- Chọn phương thức mua: Bộ Y tế đã nêu rõ: “Tổ chức đấu thầu mua
thuốc chữa bệnh theo qui định của pháp luật”[6] Trong Luật đấu thầu đã đưa ra khái niệm về đấu thầu như sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế
- Chọn nhà cung ứng: Sau khi xác định và lựa chọn được nhà cung ứng,
hai bên thương thảo hoàn thiện hợp đồng và tiến hành ký kết hợp đồng mua bán bằng văn bản
- Đặt hàng và theo dõi đơn đặt hàng: Đặt hàng theo nhu cầu về số lượng
và chủng loại theo hợp đồng Bên đặt hàng phải giám sát đơn đặt hàng về
số lượng, chủng loại, giá cả, tiến độ giao hàng như đã qui định trong hợp đồng
- Thanh toán: Thanh toán theo số lượng mua, giá trúng thầu Phương thức
thanh toán theo qui định trong hợp đồng
Trang 11- Nhận thuốc và kiểm tra: Nhận thuốc và ghi chép sổ sách rõ ràng số
lượng, qui cách, đối chiếu với hóa đơn, phiếu báo lô
- Thu thập thông tin về tiêu thụ: Thông qua các báo cáo sử dụng, đánh giá
lại những thuốc đã lựa chọn làm cơ sở cho chu kỳ mua thuốc tiếp theo hiệu quả hơn
1.1.2.2 Những yêu cầu của một quá trình mua sắm thuốc hiệu quả
Để đạt được hiệu quả trong việc mua sắm thuốc tại bệnh viện, những người tham gia quá trình mua sắm cần chú ý đến các yếu tố sau:
- Sự minh bạch
- Kiểm soát chi phí
- Khả năng kỹ thuật
- Thực hiện thực hành tốt mua sắm thuốc
- Phát triển danh mục thuốc thích hợp
- Thông tin kịp thời, chính xác và có thể tiếp cận
Quy trình cấp phát, giao thuốc từ khoa dược đến các khoa lâm sàng và sau
đó đến bệnh nhân được xây dựng cụ thể căn cứ vào nhân lực của khoa dược, nhân lực khoa lâm sàng, nhu cầu điều trị của mỗi bệnh viện
* Thuốc gây nghiện, hướng thần phải thực hiện cấp phát đúng quy chế
* Phiếu lĩnh thuốc phải ghi đúng danh pháp, hàm lượng nếu có sửa chữa phải ký xác nhận bên cạnh
* Phiếu lĩnh thuốc phải đầy đủ chữ ký các thành phần liên quan
Trang 12* Trước khi giao nhận phải thực hiện 3 kiểm tra, 3 đối chiếu
- Tên thuốc trong đơn
- Nồng độ, hàm lượng thuốc trong đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao
- Số lượng, số khoản thuốc sẽ giao[2]
Tồn trữ, bảo quản:
Tồn trữ bao gồm cả quá trình xuất, nhập kho hợp lý, kiểm tra, kiểm
kê, dự trữ và các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hóa Trong quá trình tồn trữ và bảo quản thuốc cần thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn dược[3]
Xây dựng cơ số tồn kho hợp lý cũng là một công việc quan trọng trong cung ứng Xây dựng cơ số tồn kho phải dựa trên nguyên tắc: đảm bảo nhu cầu điều trị và đảm bảo kinh tế, không để tồn đọng hàng ảnh hưởng đến công tác bảo quản và tồn đọng tiền ảnh hưởng đến kinh phí mua thuốc
kỳ sau[13]
Bảo quản thuốc là việc cất gữi an toàn các thuốc Kho thuốc xây dựng đúng yêu cầu chuyên môn và an toàn thực hiện 5 chống Thuốc phải được bảo quản trong kho có đầy đủ điều kiện cần thiết, mỗi thuốc có yêu cầu bảo quản khác nhau và phải bảo quản đúng điều kiện ghi trên nhãn Các thuốc gây nghiện, hướng thần được bảo quản đúng quy chế liên quan[5]
Thuốc sắp xếp trong kho phân theo nhóm tác dụng dược lý, theo nguyên tắc hạn dùng của thuốc Hạn dùng của thuốc là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thuốc
Trang 13Đảm bảo chất lượng thuốc:
Khoa dược chịu trách nhiệm về chất lượng thuốc phát ra
Sử dụng thuốc hợp lý là cải thiện hiệu quả sử dụng, năng cao độ an toàn và đảm bảo tính kinh tế khi dùng thuốc cho từng cá thể bệnh nhân Tính hợp lý phải cân nhắc sao cho chỉ số Hiệu quả/Rủi ro và Hiệu quả/ kinh tế đạt cao nhất[10]
Công tác quản lý sử dụng thuốc là công tác của dược lâm sàng và đơn vị thông tin thuốc
1.2 VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI CÁC
CƠ SỞ Y TẾ TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, ngành công nghiệp dược phẩm cũng đã có bước phát triển vượt bậc Thị trường thuốc Việt Nam rất phong phú
Trong bối cảnh nước ta hiện nay, theo cơ chế thị trường cùng với sự phát triển của nhiều nghành nghề công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã có
Trang 14những sự phát triển nhất định Tuy nhiên với tình trạng hơn 60% tiền khám chữa bệnh là kinh phí mua thuốc và tăng dần theo từng năm thì công tác cung ứng thuốc là một vấn đề lớn[16][19]
Những tác động cuả khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như thay đổi khí hậu trong thời gian gần đây ảnh hưởng quá trình phát triển kinh tế xã hội, qua đó cũng gây ra các biến đổi không nhỏ cho nghành Y tế của Việt Nam cụ thể
1.2.1 Hoạt động lựa chọn thuốc
Hầu hết các bệnh viện đều xây dựng được quy trình xây dựng thuốc hợp lý, danh mục thuốc bệnh viện có tỉ lệ cao các thuốc có trong danh mục thuốc chủ yếu của Bộ Y tế, trung bình trên 90% Điều đó thể hiện rằng cácbệnh viện đã tuân thủ tốt quy định của Bộ Y tế đảm bảo quyền lợi về thuốc của người tham gia Bảo hiểm y tế Tỉ lệ thuốc thiết yếu trong danh mục thuốc của các bệnh viện chiếm tỉ lệ khoảng 40%[17][20]
Trong quy trình xây dựng danh mục thuốc, các đề tài và kết quả này khá tương đồng giữa các đề tài nghiên cứu [21] đều chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động lựa chọn thuốc của bệnh viện Các kết quả nghiên cứu cho thấy công tác lựa chọn thuốc chủ yếu vẫn dựa trên kinh nghiệm, số liệu sử dụng của năm trước, kinh phí thuốc của năm hiện có và dự báo nhu cầu thuốc do các khoa phòng lâm sàng đề nghị
Yếu tố về mô hình bệnh tật và xây dựng thuốc dựa trên phác đồ điều trị chuẩn vẫn chưa được chú trọng, điều này dẫn đến việc xây dựng danh mục còn thiếu căn cứ khoa học, thực tế nhiều thuốc trong danh mục không được sử dụng trên lâm sàng[4]
Hầu hết các khoa phòng của bệnh viện đều chỉ đề nghị bổ sung thuốc vào danh mục thuốc mà ít khi có yêu cầu loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục, đặc biệt là những thuốc bị hủy do không được sử dụng [25][19]
Trang 15Nhìn chung tỉ lệ thuốc nội trong danh mục thuốc vẫn còn thấp và có
sự chênh lệch giữa các bệnh viện khác nhau Nghiên cứu của Vũ Bích Hạnh và cộng sự thực hiện tại bệnh viện đa khoa Saint Paul cho thấy tỉ lệ thuốc nội chỉ chiếm khoảng 30%, kết quả này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà và cộng sự thực hiện tại bệnh viện Thanh Nhàn, là khoảng 60%, xét trong cùng một giai đoạn 2008-2008 và cùng một mức xếp hạng bệnh viện [21][23]
Hiện tại “Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán’’ban hành kèm theo Thông tư 31/2011/TT-BYT ngày 11/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế đã trở thành căn
cứ pháp lý cho các cơ sở khám, chữa bệnh lụa chọn xây dựng danh mục thuốc cụ thể cho đơn vị mình, ngoài ra cũng là cơ sở để Bảo hiểm xã hội thanh toán tiền thuốc cho người bệnh tham gia Bảo hiểm y tế
Việc bổ sung, sửa đổi danh mục thuốc cũng được các bệnh viện thực hiện thường xuyên hàng năm đáp ứng với tình hình thưc tế và những thay đổi về nhu cầu thuốc điều trị ở bệnh viện
Cùng với thời gian, các văn bản pháp lý quy định hướng dẫn việc thực hiện công tác mua sắm thuốc tại các cơ sở y tế công lập đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở y tế trong công tác đấu thầu mua thuốc Hiện nay đấu thầu thuốc đang thực hiện theo Thông tư số 36/2013/TTLT-BYT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2013 hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế
Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm không tự tổ chức đấu thầu mà xây dựng danh mục thuốc gửi Sở Y tế tổng hợp và tổ chức đấu thầu
Trang 16Đây là cơ sỏ pháp lý quan trọng để các đơn vị khám, chũa bệnh thực hiện việc đấu thầu mua sắm thuốc
Với đặc điểm, quy mô của từng bệnh viện mà các bệnh viện đã vận dụng linh hoạt để có hình thức mua sắm hợp lý và phù hợp với đơn vị mình Hình thức đấu thầu rộng rãi vần là hình thức được phần lớn các bệnh viện áp dụng cho hoạt động mua sắm thuốc
Mặc dầu nhiều bệnh viện đã tiến hành đúng các bước trong quy trình đấu thầu mua thuốc, có thể theo các hình thức khác nhau như: đấu thầu riêng lẻ, tập trung hay đại diện thì phần lớn hoạt động đấu thầu vẫn mang tính thủ công, trong khi số lượng thuốc mời thầu và số lượng các nhà thầu
dự thầu rất lớn nên đã gây khó khăn và mất nhiều thời gian, kinh phí cũng như nhân lực tham gia trong quá trình đấu thầu[3]
Nhiều Bệnh viện tuyến trung ương như: Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Mắt trung ương, bệnh viện Thống Nhất đã xây dựng được thang điểm trong việc đánh giá, chấm thầu thuốc và cơ sở xác định giá dựa trên thang điểm kỹ thuật và giá dự thầu Tuy nhiên, do chấm thầu thủ công nên dễ dẫn đến sai sót và kéo dài thời gian xét thầu
Hiện nay với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, ứng dụng phương pháp tính điểm có phần mềm hỗ trợ trong đấu thầu giúp chi hoạt động xét thầu được công bằng, minh bạch, giảm chi phí và rút ngắn thời gian
Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm không tự tổ chức đấu thầu mà mua thuốc theo gói thầu chung toàn tỉnh Hình thức đấu thầu tập trung thuận lợi
là cả tỉnh chung một giá thuốc, các thông tin đễ cập nhật Tuy nhiên bệnh viện Suối khoáng có những khó khăn nhất định như: số lượng thuốc sử dụng ít, xa trung tâm Thành phố các Công ty ngại cung ứng nên có những lúc cung ứng thuốc không được kịp thời ảnh hưởng đến công tác phục vụ điều trị
Trang 171.2.3 Tồn trữ, bảo quản, cấp phát thuốc
Các bệnh viện đã xây dựng được quy trình cấp phát phù hợp với đặc thù, kịp thời đáp ứng nhu cầu điều trị Tuy nhiên vẫn còn nhiều bệnh viện đăc biệt là ở tuyến tỉnh, huyện quản lý việc cấp phát thuốc còn mang tính thủ công và chưa áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động cấp phát Hướng phát triển của hoạt động cấp phát là Dược sỹ kiểm soát đảm bảo được thuốc đến tận tay người bệnh theo Chỉ thị 05/2004/CT-BYT Thực tế do nhân sự của khoa dược thường thiếu nên hoạt động cấp phát thuốc chưa được thực hiện tốt
Hệ thống kho tàng bảo quản cơ bản là đáp ứng được yêu cầu bảo quản tồn trữ thuốc, đảm bảo 5 chống Thuốc trong kho sắp xếp hợp lý, thuận tiện Các bệnh viện cân đối lượng thuốc dự trữ hợp lý đáp ứng được yêu cầu điều trị, đảm bảo kinh phí và không bị đọng vốn
Thường lượng thuốc dự trữ của các bệnh viện là 1- 3 tháng Ở bệnh viện Đại học Y Huế năm 2011 là 1,5 tháng [23], bệnh viện Hữu Nghị năm
2010 là 1,4 tháng [17] Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2008 là 2,8 tháng [19] Nhìn chung các viện đều đã có sự cân đối hợp lý trong việc dự trữ thuốc Ở bệnh viện Suối khoáng là 2,1 tháng Hoạt động thống kê trong khoa dược chủ yếu vẫn còn thủ công, chưa nhiều bệnh viện áp đụng phần mềm chuyên dụng
Việc sử dụng phần mềm ở một số bệnh viện như: như bệnh viện Hữu Nghị, bệnh viện Xanh – Pôn đã hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động cấp phát và tồn trữ thuốc Khoa dươc kiểm soát được lượng thuốc xuất, nhập, tồn nhanh chóng chính xác[26]
Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm đã ứng dụng phần mềm giải pháp bệnh viện giúp cho công tác bảo quản thuốc được hiệu quả, chính xác Các khoa phòng đều cập nhật được danh mục thuốc, số lượng thuốc tồn trong kho để kê đơn cho người bệnh
Trang 181.2.4 Sử dụng thuốc
Hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị ở bệnh viện vẫn không ngừng được củng cố để nâng cao năng lực can thiệp và quản lý hoạt động cung ứng, sử dụng thuốc cũng như đảm bảo thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn trong bệnh viện Tiếp tục thực hiện theo chỉ thị 05/2004/CT-BYT, hoạt động bình đơn thuốc, bình bệnh án đã được tiến hành ở hầu hết các bệnh viện Tuy nhiên tần xuất còn ít 1 đến 2 lần/ tháng chất lượng chưa cao và còn mang tính hình thức
Công tác dược lâm sàng còn nhiều hạn chế Dược sỹ lâm sàng chưa thể thực hiện được chức năng tư vấn cho Bác sỹ trong việc kê đơn, vai trò của Dược sỹ lâm sàng còn mờ nhạt, chưa thật sự là một chuyên gia trong tư vấn sử dụng thuốc Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là thiếu hụt nguồn nhân lực Dược sỹ lâm sàng một cách trầm trọng Mặt khác, chưa có
sự nhận thức đúng của ban lãnh đạo bệnh viện về vai trò và tầm quan trọng của dược lâm sàng, nên vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình phối hợp hoạt động[21]
Việc kê đơn ngoại trú vẫn còn khó thực hiện Một số Bác sỹ ít khi kê đơn gốc mà thường chỉ kê đơn biệt dược theo giới thiệu của trình dược viên hoặc kê những thuốc đã quen Một đơn kê nhiều thuốc so với nhu cầu thực
tế, thời gian và khoảng cách dùng thuốc chưa rõ ràng, tên thuốc viết không
rõ đễ gây nhầm lẫn cho người cấp phát [25]18[27]
Công tác thông tin thuốc, hầu hết các bệnh viện đã thành lập Tổ thông tin với chức năng cập nhật và cung cấp thông tin cho các cán bộ y tế, tiếp nhận thông tin phản hồi và báo cáo ADR của thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc cho người bệnh Trong thực tế công tác thông tin thuốc còn nhiều khó khăn như: nhân lực, trình độ chuyên môn, mỗi cán bộ còn kiêm nhiệm nhiều công việc nên hoạt động này còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế
Trang 19Ở tỉnh Tuyên Quang là một tỉnh miền núi điều kiện về địa lý, kinh tế
xã hội còn nhiều khó khăn, các Dược sỹ gần như không được tập huấn, hội thảo về dược lâm sàng nên không cập nhật được thông tin cũng như các kiến thức mới nên công tác này còn rất nhiều khó khăn Tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm khoa dược chỉ có một Dược sỹ đại học khối lượng công việc nhiều nên công tác dược lâm sàng cũng gặp rất nhiều khó khăn
1.3 BỆNH VIỆN SUỐI KHOÁNG MỸ LÂM
Nguồn Suối khoáng Mỹ Lâm - Tuyên Quang được nhà địa chất người Pháp là C Madrolle phát hiện năm 1923, được xếp loại nước khoáng Sulfua -Silic - Fluor, độ khoáng cao
Các phương pháp dùng nước khoáng gồm: tắm nước khoáng, đắp bùn khoáng, xông hơi nóng nước khoáng Tác dụng tốt của nước khoáng chủ yếu trên các bệnh về xương khớp, thần kinh, phục hồi chức năng, các bệnh về da liễu Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm được thành lập năm 1974, cho đến nay có quy mô 100 giường bệnh (kế hoạch 2015 nâng lên 150 giường bệnh)
Bệnh viện có 8 khoa phòng, trong đó có khoa Xương khớp-Thần kinh- Phục hồi chức năng, khoa Y học dân tộc, khoa Da liễu Phương pháp điều trị là dùng nước khoáng, bùn khoáng phối hợp với các phương pháp vật lý trị liệu như: Xoa bóp, bấm huyết, châm cứu, hồng ngoại, tử ngoại, vi sóng, điện xung, điện phân, nhiệt dung từ, tần phổ, điện từ trường cao áp, sóng ngắn Các thuốc điều trị phối hợp gồm thuốc tân dược và thuốc đông dược
Địa chỉ Bệnh viện: Km 13, Quốc lộ 37, xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (cách thành phố Tuyên Quang 13 Km) Điện thoại
0273875191
Trang 20Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm là một Bệnh viện chuyên khoa Điều dưỡng - Phục hồi chức năng hạng III trực thuộc Sở Y tế Tuyên Quang, quy
mô là 100 giường bệnh cơ cấu tổ chức gồm 5 khoa 3 phòng
Bệnh viện, có các chức năng, nhiệm vụ sau:
- Khám, chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng cho bệnh nhân trong tỉnh và các tỉnh lân cận
- Tham gia nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến theo nhiệm vụ được phân công
- Quản lý bệnh viện: nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị
Trang 211.3.2 Mô hình tổ chức của bệnh viện
Hình 1.4 Mô hình cơ cấu tổ chức bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm
2013
1.3.3 Cơ cấu nhân lực bệnh viện
Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm được trình bày
ở bảng sau:
BAN GIÁM ĐỐC
- Đoàn thanh niên
- Hội điều dưỡng
- Khoa Dược - Cận lâm sàng
PHÒNG CHỨC NĂNG
- Phòng kế hoach tổng hợp
- Phòng tổ chức hành chính
- Phòng Điều dưỡng
Trang 22Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
TT Phân loại cán bộ Số lượng
1.3.4 Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của Khoa Dược
Mô hình tổ chức khoa dược
Hình 1.5 Mô hình tổ chức khoa Dược Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm 2013
BAN GIÁM ĐỐC
TRƯỞNG KHOA DƯỢC
Kho thuốc tân dược
- Dự trù thuốc
- Tập hợp, theo dõi thuốc và tiền thuốc
Trang 23- Lập kế hoạch cung ứng hóa chất, vật tư tiêu hao đảm bảo chất lượng cho công tác điều trị nội ngoại trú của bệnh viện
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị
- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường Trung học về dược
Trang 24- Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh
và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện
- Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra, báo cáo về vật tư y tế tiêu hao (bông, băng, cồn, gạc) khí y tế đối với các khoa lâm sàng, bệnh viện chưa có phòng Vật tư - Trang thiết bị y tế
1.3.5 Tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
Số lượng bệnh nhân đến khám bệnh tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm trong năm 2013 thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.2 Số lượng bệnh nhân đến khám bệnh tại bệnh viện Suối khoáng năm 2013
1.3.6 Mô hình bệnh tật của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
Một trong những yếu tố quan trọng để xây dựng danh mục thuốc là
mô hình bệnh tật
Bảng thống kê mô hình bệnh tật tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm
2013
Trang 25Bảng 1.3 Mô hình bệnh tật, số lượng bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm 2013
SỐ LƯỢNG
E00-E99 Bệnh nội tiết dinh dưỡng và
Trang 26+ Bệnh hệ cơ, xương khớp và mô liên kết: chiếm tỉ lệ 33%
xã hội của nước ta
Nhìn vào bảng mô hình bệnh tật Nhóm bệnh co xương khớp chiếm
tỉ lệ cao nhất là điểm đặc trưng và cũng là thế mạnh của bệnh viện; do bệnh viện có khoa Xương khớp thần kinh - phục hồi chức năng với các Bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên được đào tạo rất cơ bản và giàu kinh nghiệm điều trị
Bên cạnh đó được sự đầu tư trang thiết bị về hệ thống phục hồi chức năng đầy đủ và hiện đại đảm bảo phục vụ người bệnh, đặc biệt bệnh viện còn có thế mạnh về nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên hỗ trợ rất nhiều cho công tác điều trị và mang lại hiệu quả cao đặc biệt đối với bệnh lý xương khớp, da liễu
Trang 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cán bộ khoa dược, Hội đồng thuốc và điều trị, các đối tượng liên quan
đến việc sử dụng thuốc (bác sĩ, điều dưỡng, người bệnh)
2.1.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2013 đến 12/2013
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu:
- Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm - Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả hồi cứu:
- Hồi cứu mô hình bệnh tật, mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm 2013
- Hồi cứu các hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm bao gồm: hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc, mua thuốc, tồn trữ bảo quản cấp phát, sử dụng thuốc năm 2013
Hồi cứu các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động cung ứng thuốc năm 2013 của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
Trang 282.3 CÁC NỘI DUNG VÀ CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
- Danh mục thuốc hiện có của Bệnh viện
- Kết quả trúng thầu thuốc năm 2013
- Sổ sách xuất, nhập, tồn, báo cáo sử dụng thuốc, biên bản kiểm kê hàng tháng
- Kinh phí mua thuốc, chứng từ thanh quyết toán năm 2013
Phân tích hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện
Suối khoáng Mỹ Lâm năm 2013
Nội dung 3
Tồn trữ, bảo quản, cấp phát
Nội dung 4
Sử dụng thuốc
- Quy trình mua
- Kết quả mua + Kinh phí mua + Doanh nghiệp cung cấp thuốc
- Tồn trữ, bảo quản
- Quy trình cấp phát thuốc
- Kê đơn
- Dược lâm sàng
- Thông tin thuốc\
- Theo dõi phản ứng có hại của thuốc
Trang 29- Biên bản họp Hội đồng thuốc và điều trị
- Các tài liệu, văn bản có liên quan đến hoạt động cung ứng, quản lý, sử dụng thuốc
2.4.1 Hoạt động lựa chọn và mua thuốc
Hồi cứu hồ sơ, các biên bản họp HĐT&ĐT, DMTBV số liệu của các hoạt động liên quan đến việc lựa chọn và mua thuốc tại bệnh viện:
- Mô hình bệnh tật, quy trình l
- Các tiêu trí trong việc lựa chọn
- Hình thức mua thuốc đấu thầu tập trung do Sở Y tế tổ chức năm
2013, thời gian áp thầu 12 tháng
- Lựa chọn nhà cung ứng khi đã có kết quả thầu
2.4.2 Tồn trữ, bảo quản, cấp phát và sử dụng thuốc
Hồi cứu hồ sơ, quan sát thực tế, biên bản liên quan đến hoạt động tồn trữ, bảo quản, cấp phát và sử dụng thuốc tại bệnh viện năm 2013
- Phần mềm giải pháp Bệnh viện
- Quy trình thống kê sử dụng thuốc
- Quy trình cấp phát thuốc
- Công tác thông tin thuốc và ADR thuốc
2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
2.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Các số liệu được trình bày dưới dạng bảng biểu, đồ thị và sơ đồ
- Xử lý số liệu và kết quả thu được bằng phần mềm Microsoft Excel
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Phân tích hoạt động lựa chọn thuốc
3.1.1 Quy trình xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện Suối khoáng
Mỹ Lâm
Quy trình lựa chọn thuốc là quy trình quan trọng trong việc cung
ứng thuốc Việc lựa chọn thuốc đã phần nào định hướng việc điều trị của
các bác sĩ và là cơ sở cung ứng thuốc bệnh viện
Lựa chọn thuốc đúng sẽ tiết kiệm được chi phí và sử dụng hợp lý
nguồn tài chính của bệnh viện, đồng thời cải thiện được chất lượng chăm sóc y tế Quy trình xây dựng danh mục thuốc bệnh viện Suối khoáng Mỹ
Lâm khái quát theo sơ đồ sau:
Hình 3.1 Quy trình xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện Suối
khoáng Mỹ Lâm năm 2013
Nhận xét:
Theo quy trình, việc xây dựng danh mục thuốc dựa trên các yếu tố cơ bản, cần thiết như: danh mục thuốc thiết yếu, mô hình bệnh tật, tình hình điều trị và nhu cầu thực tế, số liệu thống kê về sử dụng thuốc năm 2012, tình hình tài chính
Khoa dược căn cứ
- DMT chủ yếu dùng cho cơ
sở khám chữa bệnh của BYT
(TT31/2011/TT-BYT)
- Danh mục thuốc của bệnh
viện Suối khoáng Mỹ Lâm
năm 2013
- Số liệu của năm 2012
Hội đồng thuốc và điều trị (Xem
xét)
Giám đốc bệnh viện
(phê duyệt)
Dự thảo DMT Tư vấn
DMT bệnh viện
Trang 31Hội đồng thuốc và điều trị đóng vai trò chính trong quá trình xây dựng danh mục thuốc Ngoài ra, còn có sự tham gia đóng góp của các Bác
sĩ, dược sĩ từ các khoa, phòng có liên quan
Việc lựa chọn danh mục thuốc dựa trên các tiêu trí:
- Ưu tiên các thuốc tối cần thiết như: Giảm đau, chống nhiễm khuẩn nặng,
- Nguồn gốc của thuốc, hiệu quả/chi phí, lợi ích/nguy cơ, các dạng bào chế phù hợp với nhu cầu điều trị
Những căn cứ trong quá trình xây dựng danh mục thuốc hoàn toàn phù hợp và mang tính chất khoa học
3.1.2 Danh mục thuốc Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
3.1.2.1 Cơ cấu thuốc sử dụng năm 2012 theo nhóm tác dụng dược lý
Cơ cấu thuốc sử dụng năm 2012 được phân theo nhóm tác dụng dược lý
Trang 32Bảng 3.1 Danh mục thuốc sử dụng năm 2012 của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
SL HOẠT CHẤT
TỶ LỆ %
1 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 25 18,5
2
Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không
steroid, thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
7 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp
8 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội
9 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng
acid- base và các dung dịch tiêm truyền khác 7 5,1
Ghi chú: Phân loại nhóm thuốc theo tác dụng dựa lý dựa trên Thông tư
31/2011/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Nhận xét:
Ở bảng trên ta thấy nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid và các bệnh xương khớp,
Trang 33thuốc tim mạch chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu danh mục thuốc năm 2012 của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
Danh mục thuốc sử dụng trong năm 2012 có những loại thuốc không cần thiết Hội đồng thuốc và điều trị đã họp thống nhất và quyết định loại ra khỏi danh mục, đồng thời bổ sung vào danh mục thuốc năm 2013 những thuốc phù hợp với phân hạng bệnh viện, mô hình bệnh tật và mang lại hiệu quả trong điều trị
Các thuốc loại bỏ ra khỏi danh mục thuốc sử dụng năm 2013 được thể hiện qua bảng sau
Bảng 3.2 Các thuốc loại bỏ ra khỏi danh mục thuốc 2013 của Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
Các thuốc bổ sung cho năm 2013
Trang 34Bảng 3.3 Các thuốc được bổ sung vào danh mục thuốc năm 2013 của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
3.1.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện Suối khoáng Mỹ lâm năm
2013
Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm được phân theo nhóm tác dụng dược lý
Trang 35Bảng 3.4 Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm 2013
SL HOẠT CHẤT
TỶ LỆ %
1 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 28 20,6
3
Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không
steroid, thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
khác
13 9,6
7 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp
8 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội
9 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng
acid- base và các dung dịch tiêm truyền khác 9 6,6
ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, thuốc giảm đau hạ sốt chống viêm nonsteroid Tiếp theo là các thuốc tim mạch và thuốc khác
Trang 36Như vậy danh mục thuốc của bệnh viện nhìn chung có thể đáp ứng
được nhu cầu điều trị của nhiều loại bệnh tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ
Lâm
3.1.2.3 Thuốc gây nghiện, hướng thần
Theo mô hình tổ chức bệnh viện có khoa Khám bệnh - Cấp cứu điều
trị một số bệnh đa khoa, cấp cứu, tai nạn chấn thương nên trong danh mục
có sử dụng thuốc gây nghiện, hướng thần Tuy nhiên số lượng sử dụng rất
Bảng 3.5 cho thấy thuốc hướng thần chiếm tỉ lệ 2,9%, thuốc gây nghiện
chiếm tỉ lệ 2,1% trong danh mục thuốc
3.1.2.4 Thuốc đơn chất, thuốc phối hợp
Bảng 3.6 Số lượng thuốc đơn chất, phối hợp trong năm 2013 của bệnh
viện Suối khoáng Mỹ Lâm
Trang 37Nhận xét:
Bảng số lượng các thuốc đã sử dụng năm 2013 của bệnh viện dưới dạng đơn chất, dạng phối hợp cho ta thấy bệnh viện đã thực hiện nghiêm túc theo hướng dẫn của Thông tư 31 của Bộ Y tế, tại khoản 2 điều 4 của Thông tư lựa chọn thuốc thành phẩm theo nguyên tắc ưu tiên lựa chọn thuốc đơn chất Cụ thể tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm thuốc đơn chất chiếm tỉ lệ cao là 70,1%, thuốc phối hợp chỉ chiếm tỉ lệ 29,9%
3.2 Phân tích hoạt động mua thuốc
3.2.1 Quy trình mua thuốc
Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm không tự đấu thầu mua thuốc Tất
cả các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh đều mua theo gói thầu chung Bệnh viện đa khoa tỉnh là đơn vị trực tiếp đấu thầu từ gói thầu đó áp dụng chung toàn tỉnh
Với hình thức đấu thầu chung giúp cho các bệnh viện không có điều kiện tự đấu thầu như bệnh viện Suối khoáng giảm được chi phí, nhân lực, thời gian Tuy nhiên cũng gặp những khó khăn nhất định đối với những cơ
sở mua ít thuốc cụ thể như bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm ở xa trung tâm thành phố
Là một bệnh viện chuyên khoa về phục hồi chức năng trong điều trị chủ yếu dùng các biện pháp không dùng thuốc như: Vật lý trị liệu, xoa bóp bấm huyệt, điện từ trường, châm cứu không dùng kim, kéo giãn cột sống và thế mạnh của bệnh viện là có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên hỗ trợ rất nhiều cho điều trị và đảm bảo an toàn cho người bệnh, giảm chi phí, tránh được những tai biến và bất lợi do thuốc gây ra
Với những lý do trên số lượng thuốc mua rất ít, vận chuyển xa làm đội chi phí, các Công ty ngại cung ứng do đó làm ảnh hưởng rất nhiều đến công tác cung ứng thuốc của bệnh viện
Trang 38Tuy nhiên khoa Dược đã rất cố gắng để đảm bảo cung ứng thuốc phục vụ cho điều trị, không làm ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh, cũng như quyền lợi của người bệnh khi đến khám và điều trị tại bệnh viện
Các hình thức mua sắm của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm
2013
Bảng 3.7 Các hình thức mua thuốc được áp dụng tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm năm 2013
1 Mua theo kết quả trúng thầu của Sở Y tế - Được áp dụng theo kết quả trúng
thầu của Sở Y tế Tuyên Quang
2 Mua sắm trực tiếp - Thực hiện theo điều 23 trong
Thông tư 01 của Bộ Y tế
Nhận xét:
Tại bảng 3.7 cho thấy bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm áp dụng mua thuốc theo kết quả trúng thầu của Sở Y tế Tuyên Quang và mua trực tiếp theo điều 23 của Thông tư 01 Thông tư liên tịch Bộ tài chính - Bộ Y tế
Quy trình mua thuốc của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm thực hiện theo sơ
đồ sau:
Trang 39Hình 3.2 Quy trình mua thuốc tại bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
năm 2013
Nhận xét:
Quy trình mua thuốc của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm được thực hiện dựa trên dự trù của khoa Dược Khoa Dược căn cứ vào nhu cầu sử dụng thuốc thực tế của bệnh viện; số lượng thuốc tồn kho, sau đó lập dự trù trình Giám đốc phê duyệt trước ngày mùng 5 hàng tháng Sau đó gửi đơn hàng tới các Công ty cung ứng và làm thủ tục mua thuốc bên cung ứng sẽ vận chuyển thuốc tới kho của bệnh viện theo đúng hợp đồng đã ký Kết quả mua như sau:
Xác định nhu cầu, số lượng thuốc
Thu thập thông tin vềsử
Trang 40Bảng 3.8 Số lượng danh mục thuốc và tỉ lệ các nhóm thuốc đã mua năm 2013 của bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm
7 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp
8 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội
9 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng
acid- base và các dung dịch tiêm truyền khác 12 4,3
và thuốc các bệnh xương khớp
* Kinh phí mua thuốc