Thành viên của HĐT&ĐT bao gồm các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xe
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
GIANG THỊ THU THỦY
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG CỦA BỆNH
VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÒA BÌNH NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK60720412
Người hướng dẫn: GS.TS: Nguyễn Thanh Bình
Nơi thực hiện: Trường ĐH Dược Hà Nội
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình Thời gian thực hiện: 15/11/2013/-15/03/2014
HÀ NỘI 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người thầy mà tôi
vô cùng kính trọng GS.TS Nguyễn Thanh Bình, thầy đã dành nhiều thời gian để hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian qua và đặc biệt luôn cho tôi những ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện đề tài Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, phòng sau đại học, các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và kinh tế Dược đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn DSCKI Nguyễn Thị Thanh Thủy – Trưởng khoa Dược Bệnh viện Đ.K tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè tôi, những người luôn sát cánh, động viên tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này
Hà nội, Tháng 3 năm 2014
Giang Thị Thu Thủy
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC HÌNH 8
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 3
1 Hội đồng Thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT) 3
1.1 Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và Điều trị 3
1.2 Vai trò Hội đồng Thuốc và Điều trị trong chu trình quản lý thuốc 3
2 Khái quát về một số Danh mục thuốc đang sử dụng tại các Cơ sở Y tế: 4
2.1 Sự ra đời của danh mục TTY 4
2.2 Khái niệm danh mục TTY 5
2.3 Các tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu của WHO 5
2.4 Khái quát về Danh mục TTY ở Việt Nam 6
2.5 Khái quát về Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh 7
2.6 Khái quát về Danh mục thuốc bệnh viện 8
2.6.1 Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng Danh mục thuốc tại bệnh viện: 9
2.6.2 Tiêu chí đánh giá, lựa chọn thuốc trong Danh mục thuốc tại bệnh viện: 10
2.6.3 Quy trình lựa chọn một số thuốc mới 11
3 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình 11
Trang 43.1 Sơ đồ tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa
Bình (BVĐK tỉnh Hòa Bình) 11
3.2 Hội đồng Thuốc và Điều trị Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình 13
3.2.1 Thành phần Hội đồng Thuốc và Điều trị 13
3.2.2.Tóm tắt Quá trình xây dựng Danh mục thuốc BVĐK tỉnh Hòa Bình 14
4 Vài nét về thực trạng cung ứng thuốc trong các bệnh viện nước ta hiện nay và hướng đi của đề tài……… 17
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
1 Đối tượng nghiên cứu 22
2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.1 Thiết kế nghiên cứu 22
2.2 Thu thập số liệu 22
2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 23
2.3.1 Mô tả các hoạt động xây dựng DMT của bệnh viện 23
2.3.2 Phân tích cơ cấu và tính phù hợp của DMT 23
2.4 Trình bày số liệu 25
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
1 Phân tích cơ cấu DMT đã sử dụng tại BVĐK tỉnh Hòa Bình năm 2012 26
1.1 Cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dược lý 26
1.2 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nguồn gốc, xuất xứ 30
1.3 Cơ cấu thuốc theo phân loại tân dược - thuốc có nguồn gốc dược liệu 31
1.4 Cơ cấu thuốc đơn thành phần và đa thành phần 32
1.5 Cơ cấu thuốc mang tên gốc và thuốc mang tên thương mại 33
1.6 Tỷ lệ thuốc tiêm, dịch truyền và các dạng bào chế còn lại 33
1.7 Cơ cấu DMT theo quy chế chuyên môn 34
Trang 52.1 Thuốc ngoài Danh mục thuốc Bệnh viện được sử dụng trong năm 2012 35
2.2 Phân tích danh mục thuốc theo phân loại ABC 38
2.2.1 Phân loại các nhóm thuốc ABC 38
2.2.2 Phân tích các Khoản mục trong nhóm A 40
2.3 Cơ cấu tiền thuốc trong ngân sách bệnh viện 42
CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 45
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ADR: Asdverse Drug Reaction (Phản ứng có hại của thuốc) BVĐK: Bệnh viện đa khoa
HĐT&ĐT: Hội đồng Thuốc và điều trị
KHKT: Khoa học kỹ thuật
VEN: Vital, Essential, Non-essential
WHO : World Health Organization (Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Danh sách các nguồn thu thập số liệu
2 Bảng 3.1 Cơ cấu nhóm thuốc và giá trị sử dụng của các nhóm thuốc năm
2012
3 Bảng 3.2 Cơ cấu tiêu thụ thuốc tại Bệnh viện theo nguồn gốc, Xuất xứ
4 Bảng 3.3 Cơ cấu các nhóm thuốc theo phân loại tân dược- thuốc có nguồn
gốc dược liệu
5 Bảng 3.4 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần trong DMT
6 Bảng 3.5 Tỷ lệ thuốc mang tên gốc –thuốc mang tên thương mại trong DMT
BV năm 2012
7 Bảng 3.6 Tỷ lệ thuốc uống và thuốc tiêm trong DMT năm 2012
8 Bảng 3.7 Cơ cấu DMT của BVĐK tỉnh Hòa Bình năm 2012 theo quy chế
chuyên môn
9 Bảng 3.8 Danh sách thuốc ngoài Danh mục thuốc BVĐK tỉnh Hòa Bình
năm 2012
10 Bảng 3.9 Cơ cấu nhóm thuốc ABC của Danh mục thuốc tiêu thụ năm 2012
11 Bảng 3.10 Danh sách 77 thuốc thuộc nhóm A năm 2012
12 Bảng 3.11 Số lượng thuốc thuộc danh mục thuốc chủ yếu ban hành năm 2011
13 Bảng 3.12 Cơ cấu nguồn kinh phí của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình
14 Bảng 3.13 Kinh phí mua thuốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2012
Trang 8DANH MỤC HÌNH
tỉnh Hòa Bình
của các nhóm thuốc năm 2012
xuất xứ
tỉnh Hòa bình
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý nói chung và trong Bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia Đây cũng là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh Theo một số nghiên cứu, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30% - 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước, và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [22] Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nước trên thế giới Tại các nước đang phát triển, 30%-60% bệnh nhân
sử dụng kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết [21] và hơn một nửa
số ca viêm đường hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý Tại châu Âu,
sự đề kháng của phế cầu với penicillin tỷ lệ thuận với lượng kháng sinh được
sử dụng [18]
Tại Việt Nam, với những chính sách mở cửa theo cơ chế thị trường và
đa dạng hoá các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong phú cả về số lượng và chủng loại Theo số liệu của Cục quản lý Dược, hiện có khoảng 22.615 số đăng ký thuốc lưu hành còn hiệu lực, trong đó có 11.923 số đăng ký thuốc nước ngoài với khoảng 1000 hoạt chất và 10.692 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước với khoảng 500 hoạt chất [10] Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện dễ dàng và thuận tiện hơn Tuy nhiên, nó cũng gây ra nhiều khó khăn, lúng túng trong việc chọn lựa, sử dụng thuốc chữa bệnh không chỉ với các bệnh viện mà ngay
cả trong cộng đồng
Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT) tại các bệnh viện HĐT&ĐT là hội đồng được thành lập nhằm đảm bảo tăng cường độ an toàn
Trang 10và hiệu quả sử dụng thuốc trong các bệnh viện Thành viên của HĐT&ĐT bao gồm các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc thiết yếu nào cần phải cung ứng, giá cả và
sử dụng hợp lý an toàn [20]
Ngày 4/7/1997, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Thông tư số
08/BYT-TT hướng dẫn về việc tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc
và Điều trị ở bệnh viện và ngày 08/08/2013 Bộ Y tế Việt Nam ban hành Thông Tư 21/2013/BYT-TT Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng
Thuốc và Điều trị trong bệnh viện Chính vì vậy, đề tài “Phân tích danh mục
thuốc sử dụng của Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Hòa Bình năm 2012”
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1 Hội đồng Thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT)
Do sự gia tăng về chi phí điều trị và ngân sách dành cho thuốc hạn chế khiến cho hệ thống y tế không đủ khả năng cung cấp thuốc cho điều trị, vì vậy
ở mỗi bệnh viện cần phải có một diễn đàn giữa bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng để trao đổi những vấn đề quan trọng trong bệnh viện Diễn đàn sẽ là nơi mà các bất đồng trong điều trị và vấn đề kinh tế được mang ra thảo luận và giải quyết Vì vậy mà cần thiết phải có một HĐT&ĐT trong bệnh viện và các cơ
sở y tế để đảm bảo và tăng cường sử dụng thuốc hợp lý
1.1 Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và Điều trị
Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện
Nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và Điều trị:
Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện
Xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện
Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị
Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị
Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc.(TT 21/2013/BYT-TT)
1.2 Vai trò Hội đồng Thuốc và Điều trị trong chu trình quản lý thuốc
Trong chu trình quản lý thuốc ở bệnh viện HĐT&ĐT là tổ chức đứng
ra điều phối quá trình cung ứng thuốc HĐT&ĐT thường phải phối hợp với
bộ phận mua thuốc và phân phối thuốc HĐT&ĐT không thực hiện chức năng mua sắm mà có vai trò đảm bảo xây dựng hệ thống danh mục và chính sách
Trang 12thuốc, bộ phận mua thuốc sẽ thực hiện theo yêu cầu của HĐT&ĐT Vai trò của HĐT&ĐT trong chu trình quản lý thuốc được thể hiện theo hình sau:
về TTY được hình thành từ đại hội lần thứ 28 của WHO Năm 1977, danh mục TTY (danh mục mẫu) đầu tiên được biên soạn và xuất bản gồm 200 loại thuốc [21] Tính đến năm 1999, danh mục TTY đã 10 lần bổ sung, sửa đổi và
Trang 13ban hành lại [15] [16] [17] Sự thay đổi này ngoài mục đích cập nhật những thuốc mới còn nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân WHO còn ban hành danh mục ATC (Antomical Therapeutic Chemical Classification) gồm 14 phân nhóm, phân loại theo giải phẫu - điều trị - hoá học nhằm tạo thuận lợi cho các quốc gia xây dựng danh mục TTY [2]
Cho đến nay đã có hơn 150 quốc gia trên thế giới áp dụng danh mục TTY Số lượng tên thuốc có trong danh mục TTY của mỗi quốc gia trung bình là 300 thuốc [23] Và vào tháng 3/2007 danh mục thuốc thiết yếu lần thứ
15 đã được ban hành bởi uỷ ban chuyên gia của WHO[22]
2.2 Khái niệm danh mục TTY
Khái niệm về TTY là một khái niệm mang tính chất toàn cầu mà bất kỳ quốc gia nào đều có thể áp dụng cho cả hệ thống nhà nước, tư nhân và các cấp khác nhau của hệ thống chăm sóc sức khỏe Danh mục TTY là trung tâm của chính sách quốc gia về thuốc và việc sử dụng danh mục TTY góp phần cải thiện chất lượng của việc chăm sóc sức khỏe và cải thiện đáng kể nguồn lực
và chi phí về thuốc Theo WHO, để thực hiện cho việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chỉ cần 1USD TTY có thể đảm bảo chữa khỏi 80% các chứng bệnh thông thường của một người dân tại cộng đồng
Khái niệm danh mục TTY được thể hiện rõ trong chính sách quốc gia
về thuốc như sau:
“Danh mục TTY là danh mục những loại thuốc thoả mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân, những loại thuốc này luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý”
2.3 Các tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu của WHO
WHO năm 1999 đã xây dựng một số tiêu chí lựa chọn thuốc như sau [22]:
Trang 14• Chỉ chọn những thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, độ
an toàn thông qua các thử nghiệm lâm sàng và trên thực tế sử dụng rộng rãi tại các cơ sở khám chữa bệnh
• Thuốc được chọn phải sẵn có ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng, cũng như sự ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và
sử dụng nhất định
• Khi có hai hoặc nhiều hơn hai thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu quả điều trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng
• Khi so sánh chi phí giữa các thuốc cần phải so sánh tổng chi phí cho toàn bộ quá trình điều trị chứ không phải chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc Khi mà các thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi chọn cần phải tiến hành phân tích hiệu quả - chi phí
• Trong một số trường hợp, sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những đặc điểm tại địa phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng
• Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất Những thuốc ở dạng đa chất phải có đủ cơ sở chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị của một nhóm đối tượng cụ thể và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, độ an toàn hoặc tiện dụng so với các thuốc ở dạng đơn chất
• Thuốc nên được ghi theo tên gốc hoặc tên chung quốc tế (INN), tránh
đề cập đến tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
2.4 Khái quát về Danh mục TTY ở Việt Nam
Bắt nhịp cùng với các nước trên thế giới, năm 1985 Bộ Y tế đã ban hành DMT chủ yếu lần thứ I gồm 225 thuốc tân dược được xác nhận là an toàn và có hiệu lực [3] Năm 1989 DMT tối cần và chủ yếu được ban hành lần
Trang 15thứ II gồm 116 TTY, cùng một DMT gồm 64 thuốc tối cần, trong đó tuyến xã
có 58 TTY và 27 thuốc tối cần [4] Danh mục TTY theo đúng thông lệ quốc tế được ban hành lần thứ III năm 1995 gồm có 225, TTY phân theo trình độ chuyên môn [5] Để phát triển sử dụng thuốc y học cổ truyền ngày 28/07/1999, Bộ Y tế đã ban hành danh mục TTY lần thứ IV với 346 thuốc tân dược, 81 thuốc y học cổ truyền, 60 cây thuốc nam, 185 vị thuốc nam, bắc [6]
Danh mục TTY Việt Nam lần thứ V được ban hành kèm theo quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 của Bộ Y tế bao gồm 355 tên thuốc của 314 hoạt chất tân dược; 94 DMT chế phẩm y học cổ truyền; danh mục cây thuốc nam và 215 danh mục vị thuốc, kèm theo bản hướng dẫn sử dụng danh mục TTY Việt Nam lần thứ V [14]
Danh mục TTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của Nhà nước về: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong danh mục TTY Cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chủ trương, chính sách trong việc tạo điều kiện cấp số đăng ký lưu hành thuốc, xuất nhập khẩu thuốc Các đơn vị ngành y tế tập trung các hoạt động của mình trong các khâu: xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất, phân phối, tồn trữ, sử dụng TTY, an toàn hợp lý phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân Các cơ sở kinh doanh thuốc của nhà nước và tư nhân phải đảm bảo danh mục TTY với giá thích hợp, hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý, hiệu quả
2.5 Khái quát về Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh
Danh mục thuốc có vai trò quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong bệnh viện Vì thế nên bệnh viện có một danh mục các thuốc đảm bảo chất lượng, an toàn, hợp lý, hiệu quả, và kinh tế Danh mục thuốc chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc thuốc thiết yếu Việt Nam và WHO hiện hành với các mục tiêu sau:
Trang 16• Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả;
• Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh;
• Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia bảo hiểm y tế;
• Phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế
Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh đang được áp dụng tại Việt Nam hiện nay là danh mục được ban hành kèm Thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/07/2011 Bộ trưởng Bộ Y tế Hệ thống danh mục này bao gồm 900 mục thuốc tân dược (danh mục này không ghi hàm lượng, nồng độ, thể tích, khối lượng gói, dạng đóng gói của từng thuốc được hiểu rằng bất kể hàm lượng, nồng độ, thể tích, khối lượng đóng gói, dạng đóng gói nào đều được BHYT thanh toán cho bệnh nhân); 57 mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu; 98 mục chế phẩm y học cổ truyền; 237
vị thuốc y học cổ truyền và kèm theo bảng hướng dẫn sử dụng.[6]
2.6 Khái quát về Danh mục thuốc bệnh viện
Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các qui định về sử dụng danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế) HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện theo nguyên tắc:
“Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện;
Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật;
Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị;
Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện;
Trang 17Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành;
Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước.”( TT21/2013-TT - BYT)
“Danh mục thuốc bệnh viện là một danh mục thường xuyên cập nhật các thuốc và các thông tin liên quan tới thuốc đáp ứng yêu cầu lâm sàng của bác sĩ, dược sĩ, và các chuyên gia y tế khác trong chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh hoặc cải thiện sức khỏe” [16]
Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lí, an toàn, hiệu quả Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện trong các kỳ họp của HĐT&ĐT.[6]
2.6.1 Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng Danh mục thuốc tại bệnh viện:
Hội đồng thuốc và điều trị của Bệnh viện xây dựng các quy định cụ thể về:
1 Các tiêu chí lựa chọn thuốc để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện;
2 Lựa chọn các hướng dẫn điều trị (các phác đồ điều trị) làm cơ sở cho việc xây dựng danh mục thuốc;
3 Quy trình và tiêu chí bổ sung hoặc loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục thuốc bệnh viện;
4 Các tiêu chí để lựa chọn thuốc trong đấu thầu mua thuốc;
5 Quy trình cấp phát thuốc từ Khoa Dược đến người bệnh nhằm bảo đảm thuốc được sử dụng đúng, an toàn;
6 Lựa chọn một số thuốc không nằm trong danh mục thuốc bệnh viện trong trường hợp phát sinh do nhu cầu điều trị;
7 Hạn chế sử dụng một số thuốc có giá trị lớn hoặc thuốc có phản ứng có hại nghiêm trọng, thuốc đang nằm trong diện nghi vấn về hiệu quả điều trị hoặc
độ an toàn;
Trang 188 Sử dụng thuốc biệt dược và thuốc thay thế trong điều trị;
9 Quy trình giám sát sử dụng thuốc tại các khoa lâm sàng;
10 Quản lý, giám sát hoạt động thông tin thuốc của trình dược viên, công ty dược và các tài liệu quảng cáo thuốc.(TT 21/2013-TT_BYT)
2.6.2 Tiêu chí đánh giá, lựa chọn thuốc trong Danh mục thuốc tại bệnh viện:
Các tiêu chí lựa chọn thuốc trong Danh mục thuốc Bệnh viện bao gồm: Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng Mức độ tin cậy của các bằng chứng được thể hiện theo quy định
Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định;
Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí được quy định
ở trên thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng;
Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế,
cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc;
Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt
và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất;
Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng (TT21/2013/BYT-TT)
Trang 192.6.3 Quy trình lựa chọn một số thuốc mới
Căn cứ vào nhu cầu sử dụng thuốc của từng khoa lâm sàng trong điều trị, các khoa (Trưởng khoa) làm đề nghị bằng văn bản gửi cho thư kí Hội đồng
Thuốc và Điều trị
• Chỉ có bác sỹ, Trưởng khoa Dược mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ một dược phẩm
• Bản yêu cầu bằng văn bản gửi cho thư ký của HĐT&ĐT
• Thành viên HĐT&ĐT đánh giá thuốc bằng cách rà soát lại thông tin trong tài liệu và chuẩn bị một bản báo cáo viết
• Đưa ra những đề xuất cho danh mục
• Trình bày kết quả đánh giá tại cuộc họp của HĐT&ĐT
• HĐT&ĐT chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu kể trên
• Phổ biến quyết định của HĐT&ĐT đến tất cả các cá nhân có liên quan
3 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình
3.1 Sơ đồ tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình (BVĐK tỉnh Hòa Bình)
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình trước ngày 11/01/2012 được xếp bệnh viện hạng II, trực thuộc Sở y tế tỉnh Hòa Bình Từ ngày 11/01/2012 được công nhận là bệnh viện đa khoa hạng I: Bệnh viện có 520 giường bệnh,
35 khoa phòng chuyên môn Bệnh viện là trung tâm y tế, khoa học kỹ thuật đầu ngành của tỉnh với 7 nhiệm vụ sau:
Trang 20TỔ CHỨC CÁN BỘ
HÀNH CHÍNH QT
VẬT TƯ TBYT
CÔNG NGHỆ TT
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỆNH VIỆN
KHỐI CẬN LÂM SÀNG (7 Khoa)
KHỐI LÂM SÀNG (20 Khoa)
- Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của Nhà nước
- Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ bệnh tật từ các nơi chuyển đến cũng như tại địa phương nơi Bệnh viện đóng Tổ chức khám giám định sức khoẻ khi hội đồng giám định y khoa trung ương hoặc tỉnh, thành phố trưng cầu; khám giám định pháp y khi cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu
3 Nghiên cứu khoa học về y học:
- Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu về y học và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật y học ở cấp Nhà nước, cấp bộ, cấp Cơ sở, chú trọng nghiên
Trang 21cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
- Kết hợp với các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của Bệnh viện
- Nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu…
4 Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật:
- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện chỉ đạo các Bệnh viện tuyến dưới phát triển kỹ thuật chuyên môn nâng cao chất lượng chuẩn đoán và điều trị
- Kết hợp với các Bệnh viện tuyến dưới thực hiện chương trình và kế hoạch chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong khu vực
5 Phòng bệnh:
- Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng
- Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thực hiện thường xuyên nhiệm
vụ phòng bệnh, phòng dịch
6 Hợp tác quốc tế:
Hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân ở ngoài nước theo đúng quy định của Nhà nước
7 Quản lý kinh tế trong Bệnh viện:
- Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp
- Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của Bệnh viện Từng bước hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh
- Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm, y tế, đầu tư của nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác
Bệnh viện có 35 khoa, phòng: 27 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và 8 phòng chức năng Bệnh viện đang thực hiện tốt nhiệm vụ công tác khám và chữa bệnh cho gần 1 triệu dân trong tỉnh và vùng lân cận tỉnh Hòa Bình như
là Phú Thọ, Sơn La
3.2 Hội đồng Thuốc và Điều trị Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình
3.2.1 Thành phần Hội đồng Thuốc và Điều trị
HĐT&ĐT BVĐK tỉnh Hòa Bình gồm 17 người, hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, do giám đốc bệnh viện ra quyết định thành lập
Trang 22Chủ tịch HĐT&ĐT: Phó giám đốc bệnh viện
Phó Chủ tịch thường trực HĐT&ĐT: Dược sĩ chuyên khoa 1, Trưởng
khoa Dược bệnh viện
Thư kí HĐT&ĐT: Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp
Ủy viên: các Trưởng khoa điều trị chủ chốt, Điều dưỡng trưởng bệnh
viện, và ủy viên dược lý là Dược sĩ CKI
3.2.2.Tóm tắt Quá trình xây dựng Danh mục thuốc BVĐK tỉnh Hòa Bình
1 Quá trình xây dựng Danh mục thuốc BVĐK tỉnh Hòa Bình tóm tắt như sau:
Hình 3.2: Qui trình xây dựng danh mục thuốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Hòa Bình
Quá trình cân nhắc và lựa chọn các nhóm thuốc và Danh mục thuốc được thực hiện mỗi năm một lần vào thời điểm cuối năm khi chuẩn bị cho đấu thầu thuốc Do đặc thù của một Bệnh viện Đa khoa nên bệnh viện đã tiến
Danh mục thuốc ( Hoạt chất)
Dự thảo Danh mục thuốc
Trang 23hành phân tích lựa chọn thuốc vào Danh mục thuốc theo thứ tự các nhóm thuốc có trong bảng Theo như thành viên của HĐT&ĐT việc thực hiện theo cách lựa chọn này phù hợp với thứ tự trong Danh mục thuốc chủ yếu, vì vậy
có thể dễ dàng kiểm soát số lượng các thuốc trong nhóm
Trong một số trường hợp do tính cần thiết trong điều trị, một số các khoa lâm sàng có ý kiến về việc cung ứng một nhóm thuốc nào đó thì khoa lâm sàng đó sẽ lên danh sách các thuốc cần được cung ứng Danh sách được tổng hợp vào tháng 11và gửi lên HĐT&ĐT, Hội đồng sẽ tiến hành đánh giá lựa chọn các thuốc trong danh sách
HĐT&ĐT dựa trên các thông tin trên tiến hành phân tích lựa chọn các thuốc vào trong danh mục thuốc của bệnh viện của năm tiếp theo HĐT&ĐT còn dựa trên các thông tin từ các nguồn khoa phòng điều trị về các thuốc không đáp ứng được nhu cầu điều trị, thuốc kém chất lượng, thuốc gây nên tương tác và các ADR
Do đặc thù của tỉnh Hòa Bình tiến hành đấu thầu tập trung nên HĐT&ĐT của bệnh viện không can thiệp sâu vào việc lựa chọn thuốc Danh mục thuốc hoạt chất được xây dựng, sau đó theo như kết quả đấu thầu tại Sở y
tế tỉnh mà mỗi bệnh viện sẽ lựa chọn các biệt dược đã trúng thầu của từng hoạt chất vào Danh mục thuốc của Bệnh viện Danh mục thuốc của bệnh viện dựa trên danh mục thuốc chủ yếu, vì vậy các thuốc này được bảo hiểm y tế chi trả
Khoa Dược của Bệnh viện thường xuyên theo dõi các thông tin về thuốc giả thuốc kém chất lượng do Cục Quản Lý Dược Việt Nam Thông tin thuốc giả thuốc kém chất lượng được gửi tới Khoa Dược bệnh viện Cán bộ của bộ phận thông tin thuốc sẽ kiểm tra các thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện Nếu có các thuốc trong danh sách thuốc đình chỉ lưu hành, thuốc kém chất lượng, bệnh viện sẽ thu hồi toàn bộ số thuốc và gửi lên Sở Y Tế tỉnh, ngừng hoạt động cung ứng thuốc đình chỉ, kém chất lượng trong toàn bệnh
Trang 24viện Trong năm 2011 bệnh viện không có thuốc nào thuộc danh mục thuốc
đình chỉ và kém chất lượng
Bệnh viện chưa xây dựng chuyên khảo về các thuốc trong danh mục thuốc Cuốn sách chuyên khảo là cuốn cẩm nang về các thuốc trong danh mục trong đó có đầy đủ các thông tin về tên thuốc hàm lượng nồng độ, chỉ định chống chỉ định, tương tác thuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc, độ dài của đợt điều trị… Bệnh viện cũng chưa tiến hành phân tích nào về vấn đề kinh tế như phân tích chi phí hiệu quả của thuốc
Phân loại nhóm thuốc có ý nghĩa quan trọng đối với công tác dược tại bệnh viện, đối với các bệnh viện trong nước ta thì việc phân loại nhóm thuốc theo tác dụng điều trị giống danh mục thuốc chủ yếu phổ biến hầu hết các bệnh viện
2 Phê chuẩn danh mục thuốc
Sau khi lựa chọn xong các thuốc trong Danh mục thuốc của một năm, Giám đốc bệnh viện, chủ tịch HĐT&ĐT, trưởng khoa Dược Bệnh viện đồng phê chuẩn Danh mục thuốc được xây dựng Quyết định này được thông báo đến toàn thể trưởng phó khoa các khoa phòng trong bệnh viện Đồng thời với
sự phê duyệt Danh mục thuốc mới, Khoa Dược bệnh viện chuẩn bị Danh mục thuốc mới này gửi đến tất cả các khoa phòng trong bệnh viện
3 Quản lý danh mục thuốc
Hiện tại Bệnh viện chưa qui định chính sách quyền hạn của HĐT&ĐT, trách nhiệm của HĐT&ĐT được qui định theo Qui chế Bệnh viện Tuy nhiên bệnh viện cũng có những qui định về việc hạn chế sử dụng thuốc ngoài danh mục
Khi Khoa phòng có nhu cầu sử dụng một thuốc không thuộc trong Danh mục thuốc của bệnh viện: bác sĩ, dược sĩ làm đơn yêu cầu, có chữ kí của trưởng khoa gửi lên trưởng khoa Dược (Phó chủ tịch HĐT&ĐT) Căn cứ vào nhu cầu Trưởng khoa Dược quyết định cung ứng thuốc đó hay không
Trang 25Bệnh viện chưa có mẫu đơn về việc thêm hoặc loại bỏ một thuốc ra khỏi Danh mục thuốc Khi có yêu cầu về việc thêm một thuốc mới các bác sĩ, dược sĩ viết giấy yêu cầu bằng tay gửi lên Khoa Dược
Việc thay thế phác đồ điều trị và sử dụng thuốc generic cũng được thảo luận trong các cuộc họp của HĐT&ĐT Tuy nhiên không có văn bản hay biên bản cuộc họp của HĐT&ĐT
Tại Khoa Dược của bệnh viện có tổ thông tin thuốc nhằm giải đáp các thắc mắc của các bác sĩ, điều dưỡng khi có vấn đề về sử dụng thuốc
4 Vài nét về thực trạng cung ứng thuốc trong các bệnh viện nước ta hiện nay và hướng đi của đề tài
ngành Công nghiệp Dược phẩm cũng đã có bước phát triển vượt bậc Trong những năm gần đây ngành Công nghiệp Dược tạo ra nhiều sản phẩm mới nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân Ví dụ trong vài năm gần đây trên thế giới xuất hiện một số đại dịch lớn như SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1… một số nước đã kịp thời nghiên cứu, sản xuất
ra Vaccine và các thuốc đề phòng và điều trị bệnh chỉ trong thời gian ngắn Ở Việt Nam, thị trường dược phẩm cũng rất phong phú, có khoảng 1.500 hoạt chất với khoảng 18.000 mặt hàng năm 2008 và năm 2009 đã lên đến 22.000 sản phẩm [24] Tuy nhiên, Công nghiệp Dược Việt Nam vẫn phát triển ở mức trung bình - thấp, chưa sáng chế được thuốc mới và hiện chỉ có hơn 52% doanh nghiệp dược đủ tiêu chuẩn sản xuất thuốc Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là generic, không có giá trị cao, mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc nội địa [25]
Theo đánh giá của Bộ y tế: “Ngành Dược đã có những thành tích nổi bật là đảm bảo nhu cầu về thuốc chữa bệnh cho nhân dân, khắc phục tình trạng thiếu thuốc trước đây”[11] Năm 2009, tổng giá trị tiền thuốc sản xuất
trong nước đạt 831,250 triệu USD, tăng 16,18% so với năm 2008, đáp ứng
Trang 26được hơn 49% nhu cầu sử dụng thuốc của người dân Tiền thuốc bình quân đầu người năm 2009 đạt 19,77 USD, tăng 3,32 USD so với năm 2008 và tăng hơn 300% so với năm 2001 Việt Nam đã sản xuất được 234/314 hoạt chất trong danh mục TTY, đủ nhóm tác dụng dược lý theo phân loại của WHO Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu thuốc với tổng giá trị năm 2009 gần 1,2 tỷ USD, tăng gần 27% so với năm 2008 Trong đó nhập khẩu thuốc thành phẩm là 904,8 triệu USD, vaccine, sinh phẩm y tế là 59,6 triệu USD và nguyên liệu là 265,9 triệu USD [25]
Qua báo cáo tổng kết công tác Dược năm 2008, triển khai kế hoạch năm 2009 của Cục Quản lý Dược, hầu hết các bệnh viện đã xây dựng DMT căn cứ theo DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh hiện hành Năm 2008, tổng giá trị mua thuốc tại các bệnh viện trên toàn quốc
là 12.322 tỷ đồng chiếm khoảng 50% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [15] Tuy nhiên, từ kết quả phân tích đánh giá về cơ cấu DMT của một số bệnh viện cho thấy, hiện nay, việc xây dựng DMT của các bệnh viện còn nhiều vấn đề bất cập Thuốc đắt tiền, thuốc ngoại nhập, thuốc biệt dược, thuốc không phải là TTY thường chiếm tỉ lệ cao trong DMT các bệnh viện nhất là các bệnh viện lớn Đặc biệt các thuốc kháng sinh luôn chiếm tỉ lệ cao trong các DMT bệnh viện (khoảng 56 – 58%) Nguyên nhân là do việc sử dụng tràn lan, lạm dụng kháng sinh phổ rộng, điều trị bao vây dẫn đến gia tăng các tác dụng không mong muốn và tình trạng kháng kháng sinh Hiện nay, thuốc kháng sinh đang được lựa chọn như một giải pháp phổ biến WHO vẫn khuyến cáo thực trạng
kê đơn kháng sinh đáng lo ngại trên toàn cầu, tới mức trung bình 30-60% bệnh nhân được kê thuốc kháng sinh và tỉ lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng Tại Bệnh viện Bạch Mai, số thuốc kháng sinh chiếm tỉ lệ 46,25%, nghĩa là theo đánh giá chuẩn của WHO đã có đến 1/2 số thuốc kháng sinh sử dụng thừa Số thuốc được kê không cần thiết này làm tăng chi phí y tế, tăng khả năng xuất hiện tác dụng phụ của thuốc và tình trạng kháng kháng sinh[26] Tại một số cơ sở y tế, mức độ sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân
Trang 27thậm chí gần như 100% Tại Bệnh viện Bạch Mai, khoa tai mũi họng: 100%, răng hàm mặt: 94%, khoa ngoại: 94%, khoa sản: 89% Tình trạng kết hợp nhiều loại kháng sinh cũng ở mức rất phổ biến (41,91%) và đã xuất hiện những đơn thuốc kê kết hợp cùng lúc đến bốn loại kháng sinh Riêng chi phí dành cho kháng sinh đã lên mức gần 100 tỉ đồng, chiếm khoảng 1/3 ngân sách mua thuốc toàn viện [25] Có thể nói, việc kê đơn, sử dụng thuốc không hợp
lý đang còn phổ biến ở hầu hết các bệnh viện Tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc sử dụng năm 2008 chiếm 32,7% một phần cho thấy MHBT ở Việt Nam có tỷ lệ nhiễm các bệnh nhiểm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến Các báo cáo về phản ứng có hại của thuốc từ các cơ sở y tế ngày càng nhiều, số lượng báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) năm 2005 là 854, năm 2006 là 1062 đến năm 2008 là 1778 [28]
Hiện nay, do ảnh hưởng tiêu cực của một số hoạt động Marketing không lành mạnh dẫn đến trong DMT của các bệnh viện thường có quá nhiều tên thuốc khác nhau cho cùng một hoạt chất, đặc biệt là các thuốc kháng sinh, thuốc bổ (bổ gan, vitamin ), thuốc tăng cường sức đề kháng… Điều này khiến cho người kê đơn dễ dàng lạm dụng kháng sinh (nhất là Cephalosporin thế hệ 3) và lạm dụng thuốc bổ, kê quá nhiều thuốc cho người bệnh, dẫn đến nhiều tương tác khi điều trị Từ đó gây khó khăn cho người mua thuốc, cấp phát thuốc và cho người giám sát sử dụng thuốc Mặt khác, việc truy cập trực tuyến thông tin thuốc trong phạm vi toàn cầu ở Việt Nam còn hạn chế dẫn đến khó khăn cho việc cập nhật thông tin thuốc Hoạt động quảng các cho thuốc sản xuất trong nước còn chưa thực sự phổ biến dẫn đến hạn chế cho việc lựa chọn thuốc nội vào DMT bệnh viện Việc giá thuốc tại thị trường Việt Nam
có nhiều biến động trong thời gian gần đây cũng ảnh hưởng đến việc duy trì danh mục thuốc bệnh viện Giá của một số thuốc phê duyệt trúng thầu thấp hơn nhiều so với mặt bằng giá chung trên thị trường nên một số đơn vị trúng thầu đã bỏ thầu không cung ứng thuốc, chịu phạt hợp đồng Vì vậy, để đáp
Trang 28ứng nhu cầu điều trị bệnh viện lại phải bổ sung thuốc khác vào DMT bệnh viện Ngược lại, do DMT có quá nhiều chủng loại nên việc thuốc trúng thầu
có được sử dụng hay không còn tuỳ vào lòng hảo tâm… của các bác sĩ kê đơn Theo thống kê tại công ty Dược Vật tư y tế Tiền Giang, năm 2003 có 80/390 mặt hàng trúng thầu vào bệnh viện không bán được viên nào, chiếm tỉ
lệ 21% Sáu tháng đầu năm 2004 cũng có 78/280 thuốc không bán được viên nào dù được tuyên bố trúng thầu [26]
Qua khảo sát tình hình sử dụng thuốc nội năm 2006, 2007 ở 565 bệnh viện trong cả nước cho thấy, năm 2009, tỷ lệ thị phần giữa thuốc nội và thuốc ngoại là 50/50, đến tháng 6 năm 2010 là 46/54 [27], thuốc nội chỉ chiếm 19-25% về giá trị tiền Kết quả khảo sát tại bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy năm 2006 thuốc ngoại chiếm tỉ lệ 78,9%, thuốc nội 21,1% mặc dù so với năm 2002 tỉ lệ thuốc nội trong DMT đã tăng từ 13,6% lên 21,1% [17] Tại bệnh viện Châm cứu Trung ương tỉ lệ thuốc ngoại năm 2006 là 63,4%, năm
2007 là 65,6% [18] Tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn – Hà Nội tỷ lệ thuốc nội tăng trong 3 năm, tỷ lệ thuốc nội năm 2006 là 28,5%, năm 2007 là 31,9%, đến năm 2008 đã là 33,4%[19]…
Việc xây dựng DMT trong bệnh viện còn chưa chú trọng nhiều đến nguyên tắc “ưu tiên chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước đạt chất lượng, thuốc của các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc tốt (GMP)” Việc sử dụng thuốc nhập ngoại, thuốc biệt dược vẫn chiếm tỷ lệ cao Đặc biệt là những loại thuốc của một số công ty Dược phẩm phân phối độc quyền được sử dụng nhiều dẫn đến tình trạng hiện nay sử dụng thuốc ở các bệnh viện lớn thường vượt quá khả năng kinh tế của người bệnh
và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế Thống kê của Cục Quản lý dược -
Bộ Y tế cho biết, tính đến hết năm 2009, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng ở Việt Nam đã lên tới hơn 1.696 triệu USD, tăng gần 19% so với năm 2008 Điều này có nghĩa, tiền thuốc đã tăng mạnh qua từng năm và phản ánh hai khía cạnh, một là số lượng người bệnh tăng lên, sử dụng thuốc nhiều hơn, và hai là
Trang 29giá thuốc đã tăng cao và kéo theo chi phí bỏ ra mua cũng tăng theo Năm
2009, quỹ Bảo hiểm y tế bị thâm hụt xấp xỉ 2.000 tỷ đồng [25]
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động cung ứng thuốc bệnh viện Các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về 4 nội dung của chu trình cung ứng thuốc trong các bệnh viện như: Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, Bạch Mai, Phụ sản trung ương, Phụ sản Hà Nội, viện E, Viện
108, Bệnh viện Châm cứu trung ương, Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn… và đã
sơ bộ cho thấy trong những năm gần đây, lĩnh vực cung ứng thuốc bệnh viện
đã được quản lý và chấn chỉnh ngày một tốt hơn Tuy nhiên, cung ứng thuốc trong bệnh viện nói chung và việc lựa chọn thuốc nói riêng là vẫn còn là một vấn đề nan giải cần có những chấn chỉnh không chỉ từ phía các bệnh viện mà
Trang 30CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
- Hội đồng Thuốc và Điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm
2012, tập trung vào các hoạt động của HĐT&ĐT trong xây dựng danh mục thuốc Bệnh viện
số lượng, giá thuốc, tên generic, tên biệt dược, nguồn gốc xuất xứ
Thời gian nghiên cứu từ 1/1/2012 tới 31/12/2012 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài tiến hành phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu
2.2 Thu thập số liệu
Thu thập số liệu
Bảng 2.1 Danh sách các nguồn thu thập số liệu
1 Danh mục thuốc năm 2012 Khoa Dược BVĐK tỉnh Hòa Bình
2 Danh mục thuốc tiêu thụ năm 2012 Khoa Dược BVĐK tỉnh Hòa Bình
3 Mô hình bệnh tật năm 2012 Phòng Kế hoạch tổng hợp
4 Báo cáo tài chính năm 2012 Phòng Tài chính kế toán
Trang 312.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.3.1 Mô tả các hoạt động xây dựng DMT của bệnh viện
• Vẽ sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT
• Phân tích khái quát các hoạt động cụ thể trong xây dựng DMT
2.3.2 Phân tích cơ cấu và tính phù hợp của DMT
a, Phân tích cơ cấu DMT
Các số liệu sau khi được thu thập được đưa vào phần mềm Microsoft Excel để xử lý và phân tích theo các bước sau:
- Tổng hợp toàn bộ những dữ liệu về DMT đã sử dụng năm 2012 trên cùng một bản tính Excell: Tên thuốc (cả generic và biệt dược); Nồng độ, hàm lượng; đơn vị tính; đơn giá; số lượng sử dụng của từng khoa/phòng; nước sản xuất; nhà cung cấp
- Tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
• Xếp theo nhóm tác dụng dược lý
• Xếp theo nước sản xuất: đưa ra tỷ lệ thuốc nội/ngoại
• Xếp theo tên gốc/tên biệt dược/tên thương mại
• Xếp theo các thuốc đơn thành phần/ đa thành phần
• Xếp theo DMT nghiện, hướng thần/ thuốc thường
• Xếp theo DMT uống/tiêm
- Tính tổng SLDM, trị giá của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu (nếu cần)
b, Phân tích ABC: là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc
tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách [22]
Các bước tiến hành:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm: gồm N sản phẩm
Bước 2: Điền các thông tin sau cho mỗi sản phẩm: