Một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến công tác khám chữa bệnh trong bệnh viện là công tác cung ứng thuốc.Trong đó hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc là hoạt động đầu tiên tron
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐÀM HỮU TÂN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NĂM 2012
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA I
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐÀM HỮU TÂN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NĂM 2012
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN KHOA I
MÃ SỐ : CK60.72.40.12
Người hướng dẫn Khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Bình
Nơi thực hiện: Trường ĐH Dược Hà Nội
Bệnh viện ĐK Sóc Sơn – Hà Nội
Thời gian thực hiện: 15/11/2013 – 15/3/2014
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và có hiệu quả của rất nhiều cá nhân
và tập thể, của các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các Thầy, các Cô Bộ môn Quản lý kinh tế dược của Trường Đại học Dược Hà Nội, đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và khoa Dược, Phòng tổ chức cán bộ, Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng tài chính kế toán của Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai
đề tài nghiên cứu tại thực địa
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn: GS.TS Nguyễn Thanh Bình -
Phó Hiệu Trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội, thầy đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, các bạn đồng nghiệp
và những người thân đã chia sẻ, động viên tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại để tôi được yên tâm học tập và hoàn thành bản luận văn
DS ĐÀM HỮU TÂN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC HÌNH 9
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 VÀI NÉT VỀ CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN 4
1.2 HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN XÂY DỰNG DMT CỦA BVĐKSS NĂM 2012 4
1.2.1 Tình trạng bệnh tật và mô hình bệnh tật 5
1.2.2 Hướng dẫn điều trị chuẩn (STG) 7
1.2.3 DMT chủ yếu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 9
1.2.4 Hội đồng thuốc và điều trị 9
1.2.5 Xây dựng và thực hiện DMT của bệnh viện 11
1.2.6 Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn – TP.Hà Nội 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
2.1.1 Đối tượng 25
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 25
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 25
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.3 Sử lý và phân tích số liệu 26
2.3.4 Trình bày số liệu 29
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
Trang 53.1 MÔ TẢ CÁC HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG DMT CỦA BVĐKSS
NĂM 2012 30
3.1.1 Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT của BVĐKSS năm 2012 30
3.1.2 Mô tả các hoạt động xây dựng DMT của BVĐKSS năm 2012 33 3.2 PHÂN TÍCH TÍNH HỢP LÝ DMT ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN NĂM 2012 41
3.2.1 Phân tích DMT theo nhóm tác dụng dược lý 41
3.2.2 Tỷ lệ thuốc nội và thuốc ngoại trong DMTSD năm 2012 43
3.2.3 Tỷ lệ thuốc generic và thuốc biệt dược trong DMTSD năm 2012 43
3.2.4 Tỷ lệ thuốc nội và thuốc ngoại trong DMTSD generic 44
3.2.5 Tỷ lệ thuốc theo phân loại nhóm thuốc trong thông tư 01/2012/TTLT- BYT- BTC 45
3.2.6 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và đa thành phần trong DMTSD
Được thể hiện qua bảng 3.11 sau: 46
3.2.7 Tỷ lệ thuốc mang tên generic, thuốc biệt dược, thuốc tên thương mại trong danh mục thuốc đơn thành phần của BVĐKSS năm 2012 47
3.2.8 Tỷ lệ giữa thuốc tiêm và thuốc bào chế các dạng khác trong DMTSD năm 2012 47
3.2.9 Tỷ lệ thuốc gây nghiện - Hướng tâm thần trong DMTSD 48
3.2.10 Tỷ lệ thuốc hạn chế sử dụng trong DMTSD năm 2012 49
3.2.11 Phân tích ABC của DMTBV đã sử dụng năm 2012 50
3.2.12 Phân tích VEN 54
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 55
4.1 CÁC HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG DMTBV NĂM 2012 55
4.1.1 Các bước xây dựng DMTBV năm 2012 55
Trang 64.1.2 Các hoạt động cụ thể trong xây dựng DMTBV năm 2912 56
4.2 TÍNH HỢP LÝ DMT ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN NĂM 2012 60
4.2.1 Tính hợp lý DMT đã sử dụng tại bệnh viện năm 2012 60
4.2.2 Phân tích ABC của DMTBV đã sử dụng năm 2012 63
4.2.3 Phân tích VEN 64
4.2.4 Thuốc huỷ trong DMTBV năm 2012 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 4
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADR Adverse Drug Reaction Phản ứng có hại của thuốc
Trang 8LCK Liên chuyên khoa
VEN Vital, Essential,
Non-essential
Phân tích tối cần thiết, cần thiết,
Không cần thiết
Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Các yếu tố liên quan đến xây dựng danh mục thuốc 5 Hình 1.2 Mô hình bệnh tật của hệ thống bệnh viện 7 Hình 1.3 Chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả chăm sóc và phòng bệnh 8 Hình 1.4 Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn 21 Hình 1.5 Cơ cấu tổ chức khoa dược của bệnh viện đa khoa Sóc Sơn 24 Hình 3.1 Quy trình các Bước xây dựng DMT năm 2012 của BVĐKSS
30
Hình 3.2 Lựa chọn thuốc vào DMTBV năm 2012 38
Trang 10DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 MHBT chung ở Việt Nam giai đoạn từ 1976 – 2008 6
Bảng 1.2 Các bước xây dựng và thực hiện DMTBV 11
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực của BVĐKSS năm 2012 22
Bảng 1 4 Nhân lực khoa dược BVĐKSS năm 2012 24
Bảng 3.1 Tỷ lệ kinh phí mua thuốc so với kinh phí chi thường xuyên BVĐKSS 31
Bảng 3.2 MHBT năm 2012 của BVĐKSS 34
Bảng 3.3 Số khoản mục thuốc và kinh phí hoạt động năm 2011 của BVĐKSS 36
Bảng so sánh số khoản thuốc trong DMT năm 2012 với năm 2011 40
Bảng 3.5 Số khoản mục thuốc, kinh phí hoạt động năm 2012 BVĐKSS 40
Bảng 3.6 Tỷ lệ các nhóm thuốc tác dụng dược lý trong DMTSD 41
Bảng 3.7 Tỷ lệ thuốc nội - thuốc ngoại trong DMTSD năm 2012 43
Bảng 3.8 Tỷ lệ thuốc generic và thuốc biệt dược trong DMTSD 44
năm 2012 44
Bảng 3.9 Tỷ lệ thuốc nội, ngoại trong DMT generic năm 2012 44
Bảng 3.10 Phân loại nhóm thuốc trong thông tư 01/2012/TTLT- BYT- BTC 45
Bảng 3.11 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và đa thành phần trong DMTSD năm 2012 46
Bảng 3.12 Tỷ lệ thuốc mang tên generic, thuốc biệt dược, thuốc tên thương mại trong DMT đơn thành phần 47
Bảng 3.13 Tỷ lệ giữa thuốc tiêm và thuốc bào chế các dạng khác trong DMTSD năm 2012 48
Bảng 3.14 Tỷ lệ thuốc gây nghiện - Hướng tâm thần trong DMTSD 49
Bảng 3.15 Tỷ lệ thuốc hạn chế sử dụng trong DMTSD năm 2012 50
Bảng 3.16 Kết quả phân tích ABC của DMTSD tại BVĐKSS năm 2012 51
Bảng 3.17 Phân nhóm điều trị các thuốc thuộc nhóm A 52
Bảng 3.18 Tỷ lệ thuốc đa thành phần, đơn thành phần trong DMT nhóm A 53
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt, có thể cứu mạng sống con người và góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống nhưng chi phí cho thuốc cũng khá cao.Tại Việt Nam, tiền thuốc bình quân đầu người trong năm tăng lên từ 19,77USD/người năm 2009[13], đến năm 2012 là 23USD/người, dự kiến các năm tới có thể tăng lên trên 30USD/người[14] Bên cạnh đó việc sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý nói chung và trong bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia Đây cũng là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh Theo một số nghiên cứu, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30% - 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước, và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do
sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [8]
Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nước trên thế giới Tại các nước đang phát triển, 30% - 60% bệnh nhân sử dụng kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết [7] và hơn một nửa số ca viêm đường hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý Tại châu Âu, sự đề kháng của phế cầu với penicillin tỷ lệ thuận với lượng kháng sinh được sử dụng [17]
Trong bối cảnh nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường và tham gia hội nhập WTO, thị trường thuốc phát triển liên tục với sự đa dang phong phú về chủng loại cũng như nguồn cung cấp, tình trạng thiếu thuốc phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đã được khắc phục Tuy nhiên, do sự mất cân đối về nhóm dược lý với các thuốc sản xuất trong nước, sản xuất chủ yếu các nhóm thuốc như chống nhiễm khuẩn - ký sinh trùng, vitamin, thuốc bổ, hạ nhiệt giảm đau, chống viêm, còn các thuốc điều trị chuyên khoa như chuyên khoa tim mạch, ung thư, nội tiết tố còn rất
Trang 12ít dẫn đến các doanh nghiệp cạnh tranh nhau giá trên thị trường Trong khi
đó các doanh nghiệp nhập khẩu chỉ nhập khẩu các thuốc bán chạy, lợi nhuận cao chưa phù hợp với mô hình bệnh tật MHBT, dẫn đến sự không lành mạnh trên thị trường, ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng và sử dụng thuốc trong bệnh viện[8]
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh Một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến công tác khám chữa bệnh trong bệnh viện là công tác cung ứng thuốc.Trong đó hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc là hoạt động đầu tiên trong chu trình cung ứng thuốc, là cơ sở để mua sắm, tồn trữ và sử dụng thuốc tại bệnh viện
Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và Điều trị HĐT&ĐT tại các bệnh viện HĐT&ĐT là hội đồng được thành lập nhằm đảm bảo tăng cường độ an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc trong các bệnh viện Thành viên của HĐT&ĐT bao gồm các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc thiết yếu nào cần phải cung ứng, giá cả và sử dụng hợp lý an toàn [20] HĐT&ĐT đóng vai trò quan trọng trong hoạt động lựa chọn thuốc xây dựng Danh mục thuốc bệnh viện Đối với mỗi bệnh viện, một hệ thống DMT có hiệu quả sẽ đem lại lợi ích rất lớn trong công tác KCB Trong lĩnh vực cung ứng thuốc, nó giúp cho việc mua sắm thuốc dễ dàng hơn, việc lưu trữ thuốc thuận tiện hơn, vừa đảm bảo cung ứng đủ thuốc chất lượng và cấp phát dễ dàng, tiện cho việc kê đơn chính xác và điều trị bệnh hợp lý, thông tin thuốc được cấp nhật và đúng trọng tâm, xử trí ADR được kịp thời Từ đó giúp cho việc sử dụng thuốc trên người bệnh được hiệu quả nhất
Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn là bệnh viện hạng II, thuộc Sở y tế Hà Nội
có nhiệm vụ KCB cho nhân dân trong toàn huyện và các vùng lân cận
Trang 13Hiện nay, công trình xây dựng mới bệnh viện với quy mô 300 giường bệnh, bệnh viện có cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, đáp ứng tốt chất lượng KCB, tạo thương hiệu và làm tốt công tác quản lý bệnh viện Tuy nhiên, lĩnh vực quản lý dược bệnh viện đang triển khai hiện chưa có đề tài nhgiên cứu về hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện, cũng như đánh giá tính hiệu quả của việc xây dựng DMT bệnh viện, để tăng cường cho viếc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả cho bệnh viện.Chúng tôi tiến
hành đề tài “Phân tích danh mục thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện
đa khoa Sóc Sơn - Hà Nội trong năm 2012” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả các hoạt động trong xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện
đa khoa Sóc Sơn- Hà Nội cho năm 2012
2 Phân tích tính hợp lý danh mục thuốc đã được sử dụng năm 2012 tại bệnh viện đa khoa Sóc Sơn - Hà Nội
Trên cơ sở đó đề xuất một quy trình xây dựng DMT hợp lý và giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc hiệu quả cho bệnh viện đa khoa Sóc Sơn -
Hà Nội những năm tiếp theo
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 VÀI NÉT VỀ CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật ngành dược đã có những bước tiến dài về mọi mặt Thị trường dược phẩm thế giới và trong nước ngày càng được mở rộng, với sự đa dạng, phong phú
cả về chủng loại và số lượng Hệ thống cung ứng thuốc cũng ngày càng được mở rộng và phát triển Đánh gía việc kiểm soát chi phí thuốc tại cơ sở KCB, ngày 27/7/2012, tại Hà Nội, BHXH Việt Nam tổ chức hội thảo: Chi phí thuốc chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí KCB, khoảng trên 60% tổng chi phí KCB BHYT Năm 2010 quỹ BHYT chi trả là: 12.722 tỷ đồng tiền thuốc tăng 25% so với năm 2009, năm 2011 lên tới gần 15 nghìn tỷ đồng Cùng với chi phí tiền thuốc tăng, đồng thời xảy ra những bất cập như: Trong các loại thuốc được sử dụng tại các bệnh viện, các thuốc chiếm
tỷ lệ chi phí lớn thường chỉ tập chung vào một số nhóm thuốc chính thuốc kháng sinh(46%), thuốc điều trị các bệnh tim mạch(15,5%), các thuốc điều trị hỗ trợ(11,3%)[14] Nhằm đảm bảo cho công tác hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện được tốt nhất cần thiết lập một chu trình cung ứng thuốc khép kín, cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến người sử dụng, cung ứng thuốc trong bệnh viện là đáp ứng nhu cầu điều trị hợp lý của bệnh viện và là một nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác dược bệnh viện của khoa dược
1.2 HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN XÂY DỰNG DMT CỦA BVĐKSS NĂM 2012
Các yếu tố liên quan đến hoạt động lựa chọn xây dựng DMTBV được khái quát theo sơ đồ hình 1.1 sau:
Trang 15Hình 1.1 Các yếu tố liên quan đến xây dựng danh mục thuốc 1.2.1 Tình trạng bệnh tật và mô hình bệnh tật
Nhu cầu thuốc của một người bệnh phụ thuộc vào bệnh tật, sức khỏe của họ Còn nhu cầu về thuốc của một cộng đồng nào đó sẽ phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật của cộng đồng đó : tình trạng bệnh tật, sức khỏe cộng đồng trong những điều kiện ngoại cảnh nhất định, ở những khoảng thời gian nhất định được khái quát dưới dạng MHBT
- Mô hình bệnh tật ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới
Vì thế, Việt Nam có một MHBT đặc trưng của quốc gia nhiệt đới đang phát triển Tuy nhiên, hiện nay MHBT đã có nhiều thay đổi, bảng 1.1 sau đây sẽ cho ta thấy rõ hơn về MHBT ở Việt Nam[2]
Khả năng chi trả của người bệnh; quỹ bảo hiểm y tế, ngân
sách NN
Danh mục thuốc bệnh viện
Trang 16Bảng 1.1 MHBT chung ở Việt Nam giai đoạn từ 1976 – 2008
(Nguồn: Niên giám thống kê y tế các năm 1976,1986,1996,2008)
‘‘Ở Việt Nam, về mặt MHBT các bệnh nhiễm khuẩn là những bệnh phổ biến nhất, kể cả trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai’’[11] Tuy nhiên, các bệnh không nhiễm trùng như bệnh tim mạch, huyết áp, tai nạn, chấn thương đang có xu hướng gia tăng
Tại Hội nghị chuyên đề về công tác y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết nếu như trước kia chủ yếu là các bệnh nhiễm trùng thì nay MHBT đã hoàn toàn thay đổi : chỉ có 27% là các bệnh do vi trùng gây nên, có đến 62% các bệnh không phải là do vi trùng (các bệnh lây nhiễm do siêu vi trùng) 62%
số ca bênh ở Việt Nam thuộc không có khả năng lây nhiễm như : huyết áp, tâm thần, tim mạch, suy dinh dưỡng, tiểu đường , còn lại 11% loại bệnh do tai nạn thương tích (trong đó có tai nạn giao thông) Nguyên nhân của sự thay đổi MHBT này là do sự biến đổi khí hậu, quá trình công nghiệp hóa,
sự ô nhiễm môi trường xuất hiện như: Ebola, bò điên, SARS, cúm A/H5N1 đang có xu hướng gia tăng mà nguyên nhân chính là do biến đổi khí hậu và
ô nhiễm môi trường [12]
- Mô hình bệnh tật của bệnh viện
Bệnh viện là nơi khám chữa và chữa bệnh cho người mắc bệnh trong cộng đồng Mỗi bệnh viện có tổ chức nhiệm vụ khác nhau, đặt trên các địa
Trang 17bàn khác nhau, với các đặc điểm dân cư - địa lý khác nhau, đặc biệt là sự phân công chức năng nhiệm vụ trong các tuyến y tế khác nhau Ở Việt Nam cũng như trên thế giới có hai loại MHBT bệnh viện theo hình1.2[7](Tr 136)
Hình 1.2 Mô hình bệnh tật của hệ thống bệnh viện
MHBT trong bệnh viện là một căn cứ quan trọng giúp bệnh viện xây dựng danh mục thuốc phù hợp
1.2.2 Hướng dẫn điều trị chuẩn (STG)
“ STG (phác đồ điều trị) là văn bản chuyên môn có tính chất pháp lý
Nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị mỗi loại bệnh Một phác đồ điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau”
Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO: Các tiêu chuẩn của một STG về thuốc gồm:
- Hợp lý: phân phối đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc còn hạn sử dụng
- An toàn: không gây tai biến, không làm cho bệnh nặng thêm, không có tương tác thuốc
- Hiệu quả: dễ dàng, khỏi bệnh hoặc không để lại hậu quả xấu hoặc đạt mục đích sử dụng trong thời gian nhất định
Mô hình bệnh tật bệnh viện
Mô hình bệnh tật của bệnh viện đa
khoa (gồm các bệnh thông thường và
bệnh chuyên khoa)
Mô hình bệnh tật của bệnh viện chuyên khoa, viện có giường bệnh (gồm chủ yếu là bệnh chuyên khoa
và bệnh thông thường)
Trang 18Nếu đơn thuần tuân thủ theo DMT sẽ không cải thiện chất lượng điều trị như các lựa chọn không dựa trên STG Thật là lý tưởng nếu như DMT được xây dựng trên cơ sở các hướng dẫn điều trị các bệnh thường gặp ở nhiều nước trên thế giới, khi bắt đầu xây dựng DMT thì đã có sẵn hướng dẫn điều trị hoặc những tài liệu tương tự để tham khảo và sử dụng
Hình 1.3 chỉ ra mối quan hệ giữa STG, DMT và những tác động của chúng với việc sử dụng và dự trữ thuốc[10](Tr 19-20)
Hình 1.3 Chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả chăm sóc và
Chuẩn bị ngân sách và cung ứng thuốc
Cải thiện sử dụng và khả năng cung ứng
Trang 191.2.3 DMT chủ yếu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
DMTCY được sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh là cơ sở để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn, đảm bảo nhu cầu điều trị và thanh toán cho các đối tượng người bệnh, bao gồm cả người có thẻ bảo hiểm y tế BHYT
DMTCY sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán đang áp dụng tại Việt Nam hiện nay là các danh mục thuốc được ban hành theo thông tư số 31/2011/TT-BYT, ngày 11/07/2011( đối với thuốc tân dược) và thông tư 12/2010/TT- BYT, ngày 29/04/2010 ( đối với thuốc y học cổ truyền) của Bộ trưởng Bộ Y Tế Hệ thống danh mục này bao gồm 900 thuốc tân dược; 57 chất phóng xạ và hợp chất đánh dấu; DMT
y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh bao gồm
127 chế phẩm y học cổ truyền được phân thành 11 nhóm; 300 vị thuốc y học cổ truyền được sắp xếp vào 27 nhóm theo phân nhóm tác dụng chữa bệnh của y học cổ truyền và kèm theo bảng hướng dẫn sử dụng[3] DMTCY được xây dựng trên cơ sở DMTTY của Việt Nam và của WHO
Trang 20thế nào Ngày 4/7/1997, Bộ Y tế ban hành thông tư 08/BYT- TT hướng dẫn việc tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị ở bệnh viện[6], để thực hiện chỉ thị 03/BYT- CT ngày 25/3/1997 của Bộ trưởng Bộ
Y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc tại
bệnh viện[3]
+ Nhiệm vụ của HĐT & ĐT
Bộ Y tế quy định bốn nhiệm vụ của HĐT&ĐT [6]:
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt các các quy định cơ bản về cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc của bệnh viện
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt DMT dùng cho bệnh viện
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt quy trình cấp phát thuốc và theo dõi sử dụng thuốc và đồng thời giúp giám đốc kiểm tra việc thực hiện khi quy trình trên được phê duyệt
- Giúp Giám đốc bệnh viện các hoạt động: Giám sát kê đơn hợp lý; tổ chức theo dõi các phản ứng có hại và các vấn đề liên quan đến thuốc trong bệnh viện; tổ chức thông tin thuốc; tổ chức nghiên cứu khoa học và đào tạo kiến thức về thuốc và thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa dược sỹ, bác sỹ và điều dưỡng
+ Vai trò của HĐT&ĐT trong chu trình quản lý thuốc
Lựa chọn thuốc là hoạt động đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình quản lý cung ứng thuốc Đánh giá và lựa chọn thuốc cho DMT bệnh viện là chức năng quan trọng nhất của HĐT&ĐT Thuốc được lựa chọn phải dựa trên các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị chuẩn đó được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hay cơ sở khám chữa bệnh Một DMT được xây dựng tốt
có thể giúp loại bỏ được các loại thuốc không an toàn và không hiệu quả do
đó có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong đồng thời giúp giảm số lượng
Trang 21thuốc được mua sắm dẫn đến giảm tổng số tiền chi tiêu cho thuốc, giảm số ngày nằm viện DMTBV sẽ giúp cung cấp thông tin thuốc tập trung và có trọng tâm, giúp cho chương trình tập huấn giáo dục được diễn ra thường xuyên liên tục Một DMT được xây dựng tốt sẽ tiết kiệm chi phí và sử dụng hợp lý nguồn tài chính đồng thời cải thiện chất lượng chăm sóc y tế tại bệnh viện Chính vì vậy, có thể nói rằng việc lựa chọn xây dựng DMT là một bước then chốt và có vai trò quan trọng tiên quyết, ảnh hưởng tới hiệu quả của việc cung ứng thuốc trong bệnh viện nói chung và sử dụng thuốc hợp lý
an toàn nói riêng[9]
1.2.5 Xây dựng và thực hiện DMT của bệnh viện
Danh mục thuốc bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện
DMTBV phải thống nhất với DMT chủ yếu của Bộ Y tế Việc thống nhất một cách rõ ràng các tiêu chí chọn lựa khi xây dựng DMT là rất quan trọng và cần phải được thực hiện một cách bài bản nhằm tạo dựng giá trị của DMT cũng như sự tin tưởng của thầy thuốc kê đơn khi sử dụng DMT đó Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng một quy trình để xây dựng DMT trong bệnh viện bao gồm 4 giai đoạn với 19 bước[18] HĐT&ĐT thể hiện vai trò rất quan trọng trong từng giai đoạn và từng bước cụ thể trong quy trình này:
Bảng 1.2 Các bước xây dựng và thực hiện DMTBV
Trang 22Bước 6: Phân tích mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc Bước 7: Đánh giá lại các nhóm thuốc và xây dựng phác thảo DMTBV
Bước 8: Phê chuẩn danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Bước 9: Đào tạo cho nhân viên trong bệnh viện về DMTBV: quy định và quá trình xây dựng, quy định bổ sung hoặc loại bỏ thuốc khỏi danh mục, quy định sử dụng thuốc không có trong danh mục và kê đơn thuốc tên generic
Bước 13: Xây dựng các chuyên luận đặc biệt trong cẩm nang
Bước 14: Xây dựng các hướng dẫn tra cứu cẩm nang Bước 15: In ấn và phát hành cẩm nang danh mục thuốc
Bước 19: Cập nhật các thuốc trong cẩm nang danh mục thuốc
Trong giai đoạn một, HĐT&ĐT thu thập một số thông tin để giúp Ban giám đốc bệnh viện thấy rõ hiệu quả của việc quản lý tốt DMT và thuyết
Trang 23phục các nhà quản lý bệnh viện đồng ý và ra quyết định về DMT và xem đây là quy định của bệnh viện[18]
Các thông tin HĐT&ĐT cần thu thập bao gồm: tổng giá trị và tỷ trọng tiền thuốc trong năm trước, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử dụng, giá trị và nguyên nhân của thuốc bị huỷ trong năm trước, tên của 10 thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại của thuốc, số lượng các ca
tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm sử dụng, các thuốc giả, thuốc kém chất lượng
HĐT&ĐT chịu trách nhiệm xây dựng giám sát mọi quy định và quy trình liên quan đến thuốc tại bệnh viện [21]. Một số quy định nên được HĐTĐT quy định rõ bằng văn bản: quy trình lựa chọn thuốc mới, các thuốc hạn chế sử dụng, sử dụng thuốc ngoài danh mục và kê đơn thuốc mang tên generic
- Quy trình lựa chọn một số thuốc mới
Chỉ có bác sỹ, dược sỹ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ thuốc, có xác nhận của trưởng khoa phòng lâm sàng Các đề xuất bổ sung thuốc được chuẩn bị dựa trên các mẫu chính thức đã được xây dựng, sau đó gửi cho thư ký của HĐT&ĐT, nếu đã được điền đầy đủ các thông tin yêu cầu, được chuyển tới đơn vị thông tin thuốc hoặc dược sỹ chịu trách nhiệm
về thông tin thuốc Đơn vị thông tin thuốc tìm kiếm các thông tin để đánh giá thuốc mới được yêu cầu với các thuốc đó có trong DMTBV có cùng chỉ định Mục tiêu so sánh là chi phí - hiệu quả, độ an toàn và giá
HĐT&ĐT đánh giá các đề nghị bổ sung thuốc dựa trên các tiêu chí có cơ
sở bằng chứng rõ ràng, cụ thể và được tất cả các thành viên HĐT&ĐT thống nhất [20]
Đối với các thuốc đề nghị chưa có trong DMTBV hiện tại, cần đánh giá hiệu quả điều trị, hiệu lực và độ an toàn của thuốc theo các tài liệu đáng
Trang 24tin cậy; chất lượng của thuốc thông qua việc cấp số đăng ký của Bộ Y Tế
và hệ thống cung cấp đảm bảo chất lượng về vận chuyển, bảo quản và sản xuất Các thuốc mới đánh giá dựa trên năng lực, kinh nghiệm lâm sàng cũng như điều kiện trang thiết bị cần cho việc sử dụng thuốc, vai trò của bác sỹ khi theo dõi điều trị và dự tính chi phí của bệnh viện khi thuốc được đưa vào sử dụng và khả năng cung ứng của thuốc[10]
Đối với các thuốc đề nghị mà đã có thuốc cũ tác dụng tương tự trong danh mục, HĐT&ĐT cần xem xét các yếu tố: Thuốc mới có vượt trội hơn
so với thuốc hiện có về mặt hiệu quả điều trị, độ an toàn, tiện dụng không
và so sánh tổng chi phí cho một liệu trình điều trị bằng thuốc mới so với các thuốc hiện có Đối với những thuốc đề nghị để sử dụng cho một số trường hợp nhất định thì không nên đưa các thuốc này vào trong danh mục Những tình huống như vậy bao gồm: Bệnh nhân không đáp ứng hoặc có những chống chỉ định với các thuốc hiện có hoặc trước đó đã đáp ứng tốt với thuốc không có trong DMTBV và việc thay đổi thuốc có thể gây nguy hại cho người bệnh HĐT&ĐT thảo luận và biểu quyết ý kiến đề xuất về thuốc mới Quyết định của HĐT&ĐT được phổ biến tới tất cả nhân viên
trong bệnh viện [10]
- Thuốc hạn chế sử dụng
HĐT&ĐT quy định hạn chế sử dụng một số thuốc nhất định trong DMTBV: thuốc kháng sinh thế hệ 3,4 hay một số thuốc hóa trị liệu hoặc độc cho tế bào, thuốc có giá thành cao, thuốc dễ bị sử dụng lạm dụng[10].Thuốc cần phải sử dụng an toàn và hiệu quả Riêng với kháng sinh là thuốc trị bệnh nhiễm khuẩn cần phải đặc biệt lưu ý vì nếu sử dụng kháng sinh không hợp lý sẽ đưa đến tác hại rất lớn:Thứ nhất chính thuốc kháng sinh sẽ gây tai biến cho cơ thể ta như dị ứng, nhiễm độc các cơ quan, loạn khuẩn đường ruột làm tiêu chảy đôi khi rất trầm trọng Tác hại thứ hai
Trang 25nghiêm trong hơn nhiều là nếu sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi sẽ gây hiện tượng vi khuẩn đề kháng lại kháng sinh Hiện nay các nhà y học rất lo lắng vì thuốc kháng sinh trước đây tỏ ra rất hiệu quả trong điều trị thì nay
nó bị nhiều loại vi khuẩn đề kháng Ví dụ: Khi nghi ngờ, thì cephalosporin thế hệ thứ hai và thứ ba là sự lựa chọn tốt cho hầu hết những loại nhiễm khuẩn Phổ kháng khuẩn phần lớn tương tự giữa các thuốc trong nhóm này bao gồm: gram +, gram - và vi khuẩn kỵ khí Sự khác biệt về phổ kháng khuẩn chủ yếu là liên quan Pseudomonas aeruginosa.về các thuốc thuộc
nhóm này bao gồm cefmetazole, cefuroxim, cefoxitin, cefotetan, và
cefamandole
- Sử dụng thuốc nằm ngoài DMT của bệnh viện
HĐT&ĐT quy định mẫu đề nghị sử dụng thuốc ngoài DMTBV Khoa Dược lưu lại các biên bản đề xuất bao gồm tên bác sỹ đề nghị, tên và số lượng thuốc yêu cầu để theo dõi sự tuân thủ DMTBV và đánh giá sự đáp ứng của DMTBV với MHBT và cân nhắc có bổ sung thuốc vào DMTBV hay không[10]
- Sử dụng thuốc mang tên generic
Thuốc mang tên generic là một thuốc thành phẩm nhằm thay thế một thuốc phát minh được sản xuất không có giấy phép nhượng quyền của công ty phát minh và được đưa ra thị trường sau khi bằng phát minh và các độc quyền đó hết hạn[5]
Việc lựa chọn thuốc thành phẩm theo nguyên tắc sau: ưu tiên lựa chọn thuốc mang tên generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước, thuốc của các doanh nghiệp dược đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc[4] Trong giai đoạn hai, HĐT&ĐT tiến hành lựa chọn các thuốc cho DMT Các quyết định về lựa chọn thuốc thuốc phải dựa trên các bằng
Trang 26chứng y học lâm sàng, đạo đức, luật pháp, quy tắc xã hội, chất lượng cuộc sống, các yếu tố kinh tế nhằm đạt được kết quả tối ưu trong chăm sóc bệnh nhân[21] Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình xây dựng DMT vì kết quả của các lựa chọn này ảnh hưởng đến hiệu quả - chi phí của việc điều trị Để đưa ra một quyết định lựa chọn thuốc tối ưu cần có sẵn các dữ liệu về hiệu quả và chi phí điều trị[18] Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu này thường không đầy đủ, không có sẵn các dữ liệu cần thiết hoặc không phù hợp với các thành viên HĐT&ĐT[19].
Sau khi đó thiết lập được các quy định và quy trình, bước tiếp theo của HĐT&ĐT là xây dựng hoặc lựa chọn các nhóm thuốc cho DMTBV Trước khi xây dựng danh mục, cần thu thập những dữ liệu cần thiết để phân tích các mô hình sử dụng thuốc hiện có Các thông tin cần thu thập trước khi xây dựng DMTBV: Tổng giá trị tiền thuốc đó sử dụng trong năm trước, tỷ lệ giá trị tiền thuốc so với tổng chi phí của bệnh viện, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử dụng tại bệnh viện, giá trị của thuốc bị huỷ trong năm, tên của 10 thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại của thuốc đó được thu thập, số lượng các ca tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm
sử dụng, thuốc giả, thuốc kém chất lượng đó được thông tin[21]
Các thông tin trên được trình bày các nhà quản lý cho thấy có thể giảm được các chi phí mua thuốc thông qua quản lý danh mục thuốc và nhấn mạnh về hiệu quả của việc quản lý tốt danh mục thuốc
Phân tích ABC: Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Phân tích VEN là một hệ thống xác lập sự ưu tiên trong việc chọn lựa và mua sắm các thuốc được phân loại theo tác động của chúng: các thuốc tối cần thiết, thuốc thiết yếu và không thiết yếu
Trang 27Cả hai phương pháp trên phân tích cung cấp cho HĐT&ĐT các dữ liệu quan trọng để quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào cần thiết và thuốc nào ít quan trọng hơn
Nghiên cứu về cung ứng thuốc tại bệnh viện đa khoa Sóc Sơn, bệnh viện đã sử dụng phương pháp phân tích ABC để đánh giá các bất cập trong quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện
Sau khi thu thập các thông tin cần đánh giá lại các nhóm thuốc và xây dựng phác thảo DMTBV Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình xây dựng DMTBV Các thuốc trong DMTBV đã được đánh giá và lựa chọn phù hợp với MHBT và tài chính của bệnh viện
Trong giai đoạn ba của quy trình xây dựng DMT, HĐT&ĐT cần xây dựng một cuốn Cẩm nang DMT Thông tin trong cuốn cẩm nang nhằm giúp cán Bộ Y tế trong bệnh viện, đặc biệt là bác sỹ hiểu được hệ thống DMT và chức năng của HĐT&ĐT[18]
Giai đoạn cuối cùng trong quá trình xây dựng DMT là duy trì DMT Việc sử dụng thuốc không hợp lý vẫn xảy ra ngay cả khi có một DMT lý tưởng Hướng dẫn điều trị chuẩn hay phác đồ điều trị là công cụ hiệu quả
để tăng cường kê đơn hợp lý[10] Các điều tra sử dụng thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc cũng giúp HĐT&ĐT quản lý DMT và việc sử dụng thuốc trong bệnh viện hiệu quả hơn
Thông tư 08/BYT-TT ra ngày 4 tháng 7 năm 1997 hướng dẫn xây dựng DMTBV dựa trên: Phác đồ điều trị chuẩn, mô hình bệnh tật, các kiến thức khoa học mới trong điều trị, nhiệm vụ điều trị, nhu cầu thuốc của bệnh viện đã sử dụng trong quá khứ và dự liệu trong tương lai và chính sách thuốc của nhà nước, ưu tiên theo thứ tự: Thuốc chủ yếu, thuốc quy định cho BHYT, thuốc sản xuất trong nước có chất lượng đảm bảo đạt tiêu chuẩn GMP[6]
Trang 28- Danh mục thuốc bao gồm cả thuốc cấp cứu các dạng( thuốc giải độc, các dịch truyền, các thuốc tim mạch,costicoid…)
- Những thuốc có cùng một hoạt chất của nhiều nhà sản xuất hoặc phân phối khác nhau, dưới những tên thương mại khác nhau có tác dụng điều trị tương đương phải được ghi theo tên generic
- Đối với những thuốc có tác dụng điều trị tương đương nhưng hoạt chất có cấu trúc hóa học khác nhau thì tiêu chuẩn chọn lựa là: Hoạt lực điều trị cao, khoảng giới hạn nồng độ sử dụng rộng, ít các phản ứng không mong muốn, mức độ nghiên cứu thử nghiệm sâu, chất lượng khoa học của các hồ sơ nghiên cứu, tài liệu cung cấp có số liệu đầy đủ, độ sinh khả dụng cao, giá cả thấp, cung ứng thuận tiện, dự trù dễ dàng, các điều kiện bảo quản tốt và nhà sản xuất có tín nhiệm
- Danh mục được lựa chọn này từng thời kỳ cần phải loại bỏ những thuốc mà hoạt lực điều trị bị giới hạn
- DMT cần được thông báo cho tất cả các thầy thuốc kê đơn, các trưởng, phó khoa, các trợ lý, y tá, dược sỹ, dược tá trong bệnh viện
- Các thuốc kê đơn ngoài DMT của khoa, của bệnh viện cần được quy
định, tuân thủ một quy trình xét duyệt cụ thể
1.2.6 Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn – TP.Hà Nội
Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn một bệnh viện hạng 2 trực thuộc Sở Y
Tế Hà Nội được thành lập ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ Hoà bình lập lại Sau hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành đã tiếp thu, kế thừa, phát huy và phát triển vốn quý ngành Y dựơc học Việt Nam để phục vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân trong Huyện, đến nay bệnh viện đã lớn mạnh với
cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp gồm 300 giường bệnh, trang thiết bị hiện đại, đội ngũ Bác sỹ, kỹ thuật viên có tay nghề cao, nhiều kỹ thuật mới
Trang 29được triển khai có hiệu quả trong điều trị, tạo được niềm tin nơi người bệnh
+ Lịch sử hình thành
- Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn (tiền thân là hai Bệnh viện Đa Phúc và Kim Anh của hai Huyện Đa Phúc và Kim Anh, trụ sở đóng tại trung tâm của hai huyện) Sau hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Bệnh viện đã trải qua các thời kỳ:
- Từ những năm đầu thập kỷ 60 tới năm 1972 trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bệnh viện hai huyện được giao công việc tuyến 3( tuyến 2 và tuyến 1 được thực hiện ở Xã và Hợp tác xã), ngoài công tác khám và chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân còn làm công tác cấp cứu, cứu thương khi địch đánh phá gây chấn thương
- Đến năm 1978 bệnh viện hai Huyện được sáp nhập thành bệnh viện Huyện Sóc Sơn (sau khi Hội đồng chính phủ ra quyết định hợp nhất hai Huyện Đa Phúc, Kim Anh thành Huyện Sóc Sơn), bệnh viện được nâng cấp với quy mô 90 giường bệnh
- Tháng 6/1986,do nhu cầu mở rộng bệnh viện nhằm đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong tình hình mới Bệnh viện Sóc Sơn
đã chuyển về địa điểm hiện nay: Số 18,đường bệnh viện- Tổ 1 Miếu Thờ - Tiên Dược - Sóc Sơn - Hà Nội, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được đầu
tư, bệnh viện bao gồm 12 khoa phòng, được tăng cường về nhân lực: 12 bác sĩ, 02 dược sĩ đại học
- Giai đoạn từ năm 1988 - 2007, Năm 1988 thực hiện theo Quyết định số 3025/QĐ- UBND, ngày 30/6/1988 của UBND Thành phố Hà Nội thành lập Trung tâm y tế Sóc Sơn (bệnh viên Sóc Sơn sáp nhập với Phòng
y tế Sóc Sơn).Trung tâm Y Tế Sóc Sơn lúc này thực hiện chức năng chăm sóc sức khoẻ nhân dân vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà Nước về y tế,
Trang 30tuyên truyền, phòng chống dịch bệnh, công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, công tác Giám định y khoa trên địa bàn
- Năm 2006, theo Quyết định số 5693/QĐ- UBND, ngày 21/12/2006 của UBND Thành phố Hà Nội, thành lập Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn cho
đến nay
+ Chức năng nhiệm vụ
Thực hiện khám bệnh và chữa bệnh cho 30 vạn dân trong huyện, nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát triển ngành y dược, đào tạo, chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật và là cơ sở thực hành về y dược của các cơ
sở đào tạo y dược, các đơn vị có nhu cầu:
9 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Sở y tế Hà Nội giao
Mô hình tổ chức của bệnh viện được thể hiện ở hình 1.4 sau :
Trang 31Hình 1.4 Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn
Giám đốc BV
(BS CKII)
+ Lãnh đạo,quản lý toàn BV + Phòng: TCCB,TCKT,HCQT + Khoa dược
PGĐ (DS CK II)
Phụ trách chuyên môn
PGĐ (DS CK I) Phụ trách
+ Phòng KHTT – TTB-VTYT
+ Nghiên cứu khoa học
+ Khoa Xét nghiệm
+ Khoa Phẫu thuật- gây mê hồi sức
+ Khoa Dinh dưỡng
+ Khoa Sản phụ
+ Khoa Khám bệnh + Khoa Hồi sức cấp cứu + Khoa Liên chuyên khoa + Khoa ngoại
+ Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
PGĐ (Thạc sĩ) Phụ trách
+ Khoa Nội + Khoa Nhi + Phòng Điều dưỡng + Khoa y học cổ truyền + Khoa chẩn đoán hình ảnh + Khoa truyền nhiễm
Trang 32+ Cơ cấu nhân lực của bệnh viện
Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng dịch
vụ bệnh viện Cơ cấu nhân lực của BVĐKSS năm 2012 thể hiện qua bảng 1.3 sau :
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực của BVĐKSS năm 2012
Trang 33+ Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của Khoa dược
- Chức năng:
Khoa dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
3 Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của HĐT& ĐT
4 Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc GSP
5 Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, theo dõi, báo cáo về ADR
6 Quản lý, theo dõi thực hiện quy định chuyên môn về dược tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, đặc biệt sử dụng kháng sinh trong bệnh viện
7 Tham gia nghiên cứu khoa học, đào tạo, cơ sở cho các trường đại học, cao đẳng, trung học về dược
8 Tham gia chỉ đạo tuyến
9 Tham gia hội chẩn các ca bệnh nặng
10 Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
- Tổ chức của Khoa dược
Khoa dược bao gồm các bộ phận chính sau:
1 Nghiệp vụ dược
2 Kho và cấp phát
Trang 343 Thống kê dược
4 Dược lâm sàng và thông tin thuốc
Cơ cấu tổ chức khoa dược của bệnh viện đa khoa Sóc Sơn được thể
hiện ở hình 1.5 sau:
Hình 1.5 Cơ cấu tổ chức khoa dược của bệnh viện đa khoa Sóc Sơn
Cơ cấu nhân lực khoa dược BVĐKSS năm 2012 thể hiện ở bảng
1.4 sau:
Bảng 1 4 Nhân lực khoa dược BVĐKSS năm 2012
STT TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN SỐ LƯỢNG TỶ LỆ %
Trang 35CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng
BVĐKSS, trong đó tập trung vào:
- Hoạt động xây dựng DMTBV năm 2012 của Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện, tổ chuyên gia đấu thầu, tổ thẩm định đấu thầu
- Sử dụng thuốc và kinh phí sử dụng thuốc cho bệnh nhân năm 2012
- Các bác sĩ, dược sĩ tại khoa/phòng lâm sàng và cận lâm sàng liên quan đến hoạt động xây dựng và sử dụng DMT bệnh viện
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Năm 2012
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu: Tại bệnh viện đa khoa Sóc Sơn
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả hồi cứu [1]
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập các thông tin sẵn có
Hồi cứu các tài liệu, sổ sách liên quan đến hoạt động xây dựng DMT năm 2012 của BVĐKSS, cụ thể:
- Tại khoa dược ta thu thập số liệu qua:
Quyết định thành lập HĐT&ĐT năm 2012
Toàn bộ biên bản họp của HĐT&ĐT về hoạt động xây dựng DMT
và quản lý sử dụng DMT năm 2012
Trang 36Bảng dự trù thuốc năm 2012 - của các khoa lâm sàng, cận lâm sàng Khoa dược tông hợp lại
Danh mục hoạt chất thuốc tân dược sử dụng tại bệnh viện năm 2011
và 2012 đã được phê duyệt
Sổ theo dõi ADR và sổ thông tin thuốc năm 2012
Giấy đề nghị bổ sung và loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục của các khoa/phòng năm 2012
Kinh phí mua thuốc năm 2011, 2012 theo DMTBV đã được phê duyệt
Kinh phí mua thuốc ngoài DMTBV năm 2012
Giấy yêu cầu sử dụng thuốc ngoài DMT bệnh viện năm 2012
- Thu thập số liệu từ các nơi khác:
Bảng kiểm tra bệnh viện năm 2012, MHBT của bệnh viện năm
2012 - Lưu tại phòng kế hoạch tổng hợp
Báo cáo tổng chi, tổng thu năm 2011 và 2012 - Lưu tại phòng tài chính kế toán
Lịch sử hình thành và xây dựng bệnh viện, tổ chức nhân sự của bệnh viện năm 2012 - Lưu tại phòng tổ chức cán bộ
2.3.3 Sử lý và phân tích số liệu
1 Mô tả các hoạt động xây dựng DMT của bệnh viện năm 2012
- Vẽ sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT
- Phân tích khái quát các hoạt động cụ thể trong xây dựng DMT
2 Phân tích tính hợp lý DMT của bệnh viện năm 2012
+ Phân tích tính hợp lý các nhóm thuốc trong DMT bệnh viện
Các số liệu sau khi thu thập được đó vào phần mềm Microsoft Excel
để xử lý và phân tích theo các bước sau:
- Tổng hợp toàn bộ những dữ liệu về DMT đã sử dụng năm 2012 trên cùng một bàn tính Excell: tên thuốc (cả generic và biệt dược); nồng độ,
Trang 37hàm lượng đơn vị tính; đơn giá; số lượng sử dụng của từng khoa/phòng; ước sản xuất; nhà cung cấp
n Dùng các hàm: sum, if, count, Subtotal, Autofilter, sort để tổng hợp
số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
Xếp theo nhóm tác dụng dược lý
Xếp theo nước sản xuất: đưa ra tỷ lệ thuốc nội/ngoại
Xếp theo tên gốc/tên biệt dược
Xếp theo nhóm thuốc của các nước tham gia EMA, ICH, PIC/S, nhóm thuốc sản xuất đạt GMP – WHO, nhóm thuốc của các nước không tham gia EMA, ICH, PIC/S và GMP- WHO[15]
Xếp theo DMT chủ yếu: Thuốc hạn chế sử dụng
Xếp theo các thuốc đơn thành phần/ đa thành phần
Xếp theo DMT nghiện, hướng thần/thuốc thường
Xếp theo DMT ngoài danh mục của bệnh viện
- Tính tổng SLDM, trị giá của từng SLDM, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu (nếu cần)
+ Phân tích ABC: là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng
thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách[10]
Các bước tiến hành:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm: gồm N sản phẩm
Bước 2: Điền các thông tin sau cho mỗi sản phẩm:
- Đơn giá của từng sản phẩm: gi (i = 1,2,3…N)
Trang 38Bước 4: Tính giá trị % của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền: pi = ci x 100/C
Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần Bước 6: Tính giá trị % tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm (k): bắt đầu với sản phẩm số 1 sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
- Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80% tổng giá trị tiền (có
+ Phân tích VEN: là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn
những thuốc cần u tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện theo các hạng mục: sống còn, thiết yếu và không thiết yếu[10]
- Các thuốc sống còn (Vital - V): gồm các thuốc dùng để cứu sống người bệnh hoặc các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản
- Các thuốc thiết yếu (Essential - E): gồm các thuốc dùng để điều trị cho những bệnh nặng nhng không nhất thiết phải có cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản
- Các thuốc không thiết yếu (Non - Essential - N): gồm các thuốc dùng để điều trị những bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong DMT thiết yếu và không cần thiết phải lưu trữ trong kho
Trang 39Do mục đích và yêu cầu của đề tài, chúng tôi áp dụng phương pháp phân tích VEN để phân tích lựa chọn những thuốc cần u tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện theo các hạng mục: sống còn, thiết yếu và không thiết yếu của năm 2012 và phân định nh sau:
- Thuốc ít dùng nhưng cần thiết phải có để dự trữ (dùng khi cấp cứu): V
- Thuốc được sử dụng một cách thường xuyên: E
- Thuốc do không được sử dụng hoặc rất ít được sử dụng: N
Phương pháp này cung cấp cho HĐT&ĐT các dữ liệu quan trọng để quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào cần thiết và thuốc nào
Trang 40CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 MÔ TẢ CÁC HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG DMT CỦA BVĐKSS
NĂM 2012
3.1.1 Sơ đồ tóm tắt các bước xây dựng DMT của BVĐKSS năm 2012
Các bước xây dựng DMT năm 2012 của BVĐKSS theo hình 3.1 sau:
Tổ chức đấu thầu
Xem xét, sửa đổi,bổ sung
HỘI ĐỒNG THUỐC VÀ ĐIỀU TRỊ (HĐT&ĐT )
Danh mục hoạt chất
DMT thầu (chia theo từng gói thầu)
DMT trúng thầu tại bệnh viện
Giám đốc bệnh viện duyệt
Tổ đấu thầu
Tổ đấu thầu