Tại các bệnh viện còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động cung ứng thuốc như: cung ứng không đủ chủng loại thuốc, giá thuốc không kiểm soát được, việc sử dụng thuốc chưa thực sự hợp lý, đ
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN LIÊN
PHÂN TÍCH CƠ CẤU THUỐC TIÊU THỤ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC CAM RANH – KHÁNH HÒA NĂM 2012 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN LIÊN
PHÂN TÍCH CƠ CẤU THUỐC TIÊU THỤ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC CAM RANH – KHÁNH HÒA NĂM 2012 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
HÀ NỘI - 2013
Trang 3BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN LIÊN
PHÂN TÍCH CƠ CẤU THUỐC TIÊU THỤ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC CAM RANH – KHÁNH HÒA NĂM 2012 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60.73.20
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Hương Nơi thực hiện đề tài: Trường Đại học Dược Hà Nội
Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 01/2013 đến tháng 4/2013
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới:
TS Nguyễn Thị Thanh Hương – Phó trưởng Bộ môn Quản lý và kinh tế dược – Trường Đại học Dược Hà Nội, người Thầy trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ
bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Dược Hà Nội
Phòng đào tạo sau đại học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể các Thầy giáo, Cô giáo của trường Đại học dược Hà Nội đã cho tôi cơ hội được học tập, nâng cao, truyền đạt những kiến thức và kỹ năng quý báu tại trường
Xin cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế Khánh Hòa, Ban giám đốc, các cán
bộ khoa Dược, phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Tổ chức hành chính – Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi có số liệu để hoàn thành luận văn
Xin giành lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình và những người bạn
của tôi, những người đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả sự giúp đỡ quý báu
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Vài nét về thị trường thuốc 3
1.1.1 Thị trường thuốc trên thế giới 3
1.1.2 Thị trường thuốc tại Việt Nam 5
1.2 Vài nét về tình hình sử dụng thuốc 8
1.2.1 Tình hình chi tiêu thuốc 8
1.2.2 Tình hình tài chính cho thuốc tại Việt Nam 9
1.3 Sử dụng thuốc tại bệnh viện 10
1.3.1 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam và thuốc nhập khẩu
1.3.2 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện trung
1.3.3 Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện tỉnh/thành
1.3.4 Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện huyện 12
1.3.5 Phân tích tiền sử dụng thuốc theo đối tượng 12
1.3.6 Phân tích sử dụng thuốc trong bệnh viện 13
1.4 Vài nét về mô hình bệnh tật 14
1.4.2 Mô hình bệnh tật trên thế giới 15
1.4.3 Mô hình bệnh tật ở Việt Nam 16
1.4.4 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện 16
1.5 Vài nét về bệnh viện Đa khoa Khu vực Cam Ranh 17
1.5.2 Cơ cấu nhân lực 17
1.5.3 Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện năm 2012 18
1.5.4 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.2.2 Phương thức thu thập số liệu 23
2.2.3 Phương thức phân tích và xử lý số liệu 23
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ 28
3.1.1 Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc nhập khẩu từ các nước phát triển 29
Trang 63.1.2 Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc nhập khẩu từ các đang nước phát
3.2 Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc theo thành phần 32
3.3 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo phân hạng A,B,C 33
3.3.1 Cơ cấu tiêu thụ thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý 33
3.4 Cơ cấu tiêu thụ thuốc tối cần, thiết yếu và không thiết yếu theo
Chương 4: BÀN LUẬN 47
4.1 Bàn về cơ cấu tiêu thụ thuốc theo một số chỉ tiêu chung về nguồn
gốc, xuất xứ, tên gốc, tên biệt dược và theo thành phần 47
4.2 Bàn về cơ cấu thuốc tiêu thụ theo phân hạng A,B,C 48
4.3 Bàn về cơ cấu thuốc tối cần, thiết yếu và không thiết yếu trong
KẾT LUẬN 53 KIẾN NGHỊ 55
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân bố tiêu thụ thuốc tại các khu vực trên thế giới năm 2009 4
Bảng 1.2 Số lượng các doanh nghiệp đạt GPs qua các năm được thể hiện 6
Bảng 1.3 Một số số liệu về hệ thống lưu thông, phân phối thuốc của Việt Nam 7
Bảng 1.4 Giá trị sản xuất thuốc trong nước, 2005-2010 8
Bảng 1.5 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam và thuốc ngoại nhâp của bệnh viện các tuyến 11
Bảng 1.6 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện trung ương 11
Bảng 1.7 Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện tỉnh/thành phố 12
Bảng 1.8 Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện huyện 12
Bảng 1.9 Phân tích tiền sử dụng thuốc theo đối tượng 13
Bảng 1.10 Phân tích sử dụng thuốc trong bệnh viện 14
Bảng 1.12 Biên chế cán bộ Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh 18
Bảng 1.13 Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện năm 2012 18
Bảng 1.14 MHBT tại bệnh viện ĐKKV Cam Ranh từ năm 2006 – 2010 19
Bảng 1.15 Các nhóm bệnh chiếm ưu thế trong chương bệnh chiếm ưu thế qua 5 năm từ năm 2006 – 2010 21
Bảng 3.16 Cơ cấu tiêu thụ thuốc sản xuất trong nước và thuốc
Bảng 3.17 Cơ cấu tiêu thụ thuốc nhập khẩu từ các nước phát triển 29
Bảng 3.18 Cơ cấu tiêu thụ thuốc nhập khẩu từ các nước đang phát triển 30
Bảng 3.19 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo thành phần 32
Bảng 3.20 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo phân hạng ABC 33
Bảng 3.21 Cơ cấu tiêu thụ thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý 33
Bảng 3.22 Cơ cấu tiêu thụ thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 35
Bảng 3.23 Cơ cấu tiêu thụ thuốc kháng sinh nhóm β – lactam 36
Trang 8Bảng 3.24 Cơ cấu tiêu thụ thuốc kháng sinh nhóm quinolon 38
Bảng 3.25 Cơ cấu tiêu thụ thuốc kháng sinh nhóm macrolid 38
Bảng 3.26 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc điều trị tim mạch 39
Bảng 3.27 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp 40
Bảng 3.28 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc điều trị tim mạch khác 41
Bảng 3.29 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc điều trị đau thắt ngực 42
Bảng 3.30 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống
Bảng 3.31 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc giảm đau 43 Bảng 3.32 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc chống thoái hóa khớp 44
Bảng 3.33 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc chống viêm 45
Bảng 3.34 Cơ cấu tiêu thụ thuốc tối cần, thiết yếu và không thiết yếu theo phân hạng ABC 45
Trang 9CÁC CHỬ VIẾT TẮT Chử viết tắt Tiếng Anh Tiếng việt
Tổng hợp và phân tích dữ liệu đối với dược phẩm trên thế giới
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chỉ đạo xây dựng Ngành Dược Việt Nam phát triển một cách bền vững, đảm bảo cung ứng thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân Trong những năm qua, ngành dược Việt Nam đã có những tiến bộ nhanh và hết sức cơ bản Ngành dược đã cung ứng đủ thuốc cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân, thuốc sản xuất trong nước đã chiếm gần 50% thị phần dược phẩm
Đặc biệt trong năm 2012 Cục quản lý Dược đã tổ chức thành công diễn đàn
“Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” Đây là một trong những giải pháp quan trọng hỗ trợ cho ngành dược Việt Nam phát triển bền vững, bảo đảm nguồn cung ứng thuốc phòng, chữa bệnh cho nhân dân và không lệ thuộc nguồn nhập khẩu từ nước ngoài [3]
Thị trường dược phẩm đã được vận hành trong nền kinh tế thị trường có sự định hướng và quản lý của Nhà nước, dựa trên nền tảng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng được pháp quy hóa theo hướng tuân thủ và đồng bộ với pháp luật quốc gia, hòa hợp khu vực và cam kết hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, ngành dược Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức to lớn, đang phải đối diện với những hạn chế do cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan Tại các bệnh viện còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động cung ứng thuốc như: cung ứng không đủ chủng loại thuốc, giá thuốc không kiểm soát được, việc sử dụng thuốc chưa thực sự hợp lý, đặc biệt là tình trạng kê đơn không phải là thuốc thiết yếu mà là những thuốc có tính thương mại cao … và tình trạng lạm dụng kháng sinh, lạm dụng thuốc trong kê đơn thuốc vừa ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, vừa gây lãng phí cho xã hội, gây khó khăn cho bộ phận nhân dân lao động có thu nhập thấp Trước tình trạng đó Bộ Y tế
đã ban hành nhiều văn bản để chấn chỉnh và đặc biệt là Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 về việc Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
Với Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh trước đây là Trung tâm Y tế Cam Ranh, bao gồm Bệnh viện Cam Ranh, Đội Y tế Dự phòng, Đội Sức khỏe sinh sản, 04 Phòng khám Đa khoa khu vực và 27 Trạm Y tế xã phường Trung tâm Y tế Cam Ranh
Trang 11lúc đó làm hai nhiệm vụ là phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân Thị xã Cam Ranh Đến cuối năm 2010 Trung tâm Y tế Cam Ranh được tách ra thành Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh và Trung tâm Y tế Thành phố Cam Ranh Việc tách Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh ra khỏi Trung tâm Y tế Cam Ranh có nhiều lý do về mặt hành chính nhưng cơ bản là để phát triển chuyên môn, tập trung làm tốt nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân và đến tháng 8/2011 được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ký quyết định thăng hạng cho Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh từ hạng III lên hạng II trực thuộc Sở Y tế Khánh Hòa Hiện nay bệnh viện có quy mô 255 giường bệnh theo chỉ tiêu, bao gồm có 14 khoa và 05 phòng chức năng Bệnh viện có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân trong toàn thành phố Cam Ranh và các huyện lân cận bao gồm huyện Khánh Sơn và Cam Lâm
Từ những thực tế và yêu cầu cấp thiết nêu trên, để thấy rõ tình hình, nhu cầu thuốc tiêu thụ tại bệnh viện và từ đó kiến nghị những vấn đề cần thiết, góp phần nâng cao và thực hiện tốt hơn công tác khám chữa bệnh, đáp ứng ngang tầm sự phát triển của bệnh viện, đề tài:
“Phân tích cơ cấu thuốc tiêu thụ tại bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa năm 2012” được thực hiện với mục tiêu:
Xác định cơ cấu thuốc sử dụng tại bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh năm
2012 theo một số chỉ tiêu, từ đó chỉ ra một số thuốc chưa hợp lý trong danh mục thuốc bệnh viện
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Vài nét về thị trường thuốc
1.1.1 Thị trường thuốc trên thế giới
Tốc độ tăng trưởng về tiêu dùng đối với sản phẩm thuốc sẽ tăng chậm đáng kể trong vòng 4 năm tới do một khối lượng lớn thuốc chi phí thấp sẽ đưa vào các nhà thuốc tại Hoa Kỳ và các quốc gia phát triển, cùng việc tăng chậm trong chi tiêu của các quốc gia này cho các loại thuốc có thương hiệu mà các quốc gia này sử dụng
Điều này được cho là tin tốt đối với bệnh nhân và người thuê mướn lao động, công đoàn lao động và các chương trình chăm sóc sức khỏe được trợ cấp từ chính phủ, do không phải lo lắng về chi phí đối với thuốc
Trong cùng giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, công nghiệp dược phẩm sẽ tăng doanh thu tại các thị trường mới nổi bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, theo một báo cáo từ IMS Health (tổng hợp và phân tích dữ liệu đối với dược phẩm trên thế giới)
Báo cáo dự đoán mới nhất về doanh số bán thuốc và khuynh hướng chi tiêu sẽ tăng
từ khoảng 956 tỉ USD trong năm 2011 đến dưới 1200 tỉ USD trong năm 2016, căn cứ theo giá bán sĩ đã được báo cáo Tuy nhiên IMS ước tính kế hoạch giảm giá mà các hãng thuốc sử dụng đối với chương trình thuốc trợ giá của chính quyền và các hãng thương mại, một chiến lược kinh doanh của họ, sẽ giảm bớt chi tiêu thực – giảm 15% [22]
Doanh số bán thuốc trên thế giới tăng với tốc độ 9-10% mỗi năm và cứ sau một thập kỷ, giá trị sản lượng thuốc lại tăng gấp 2 đến 2,5 lần Tính đến năm 2008, doanh số bán thuốc đạt 773 tỷ USD, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2003.Tuy nhiên phân bố tiêu thụ thuốc lại khác nhau tại các khu vực:
Trang 13Bảng 1.1: Phân bố tiêu thụ thuốc tại các khu vực trên thế giới năm 2009
Đơn vị: tỷ USD
Năm 2009 Các Khu vực Tăng trưởng
năm 2008 (%) Doanh số Tỷ lệ % Tăng trưởng
so với 2008 %
Châu Á, châu Đại
Sản lượng thuốc trên thế giới ngày càng tăng nhưng có một thực tế đáng quan tâm
là sự phân bố tiêu dùng rất chênh lệch giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Thị trường dược ở một số thị trường chủ chốt như châu Âu và châu Mỹ đang có dấu hiệu bão hòa, một phần do dân số các nước này đã ổn định và các loại thuốc quan trọng bắt đầu hết hạn sáng chế Ngược lại, ngành công nghiệp dược của các nước châu Á, Thái Bình Dương, châu Mỹ Latinh… vẫn còn tiềm năng tăng trưởng mạnh trong thời gian tới Đây là các nước phát triển loại thuốc generic, dân số đông, thu nhập trên mỗi đầu người không ngừng được cải thiện [17]
Trong báo cáo năm 2011 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về tình hình chi tiêu cho thuốc trên toàn thế giới có nêu:
Chi phí sử dụng thuốc bình quân đầu người trên thế giới trong năm 2005/2006 dao động trong khoảng từ 7,61 USD ở các nước có thu nhập thấp đến 431,6 USD ở các nước
có thu nhập cao Không chỉ có vậy, ngay trong mỗi quốc gia thì chi phí dành cho dược phẩm cũng có mức dao động đáng kể giữa các nhóm thu nhập trong xã hội
Trang 14So với năm 1995, mức tăng chi phí xảy ra mạnh hơn ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình;
16% dân số sống ở các nước có mức thu nhập cao trên thế giới, riêng nhóm dân số này đã chiếm hơn 78% chi phí sử dụng thuốc trên toàn cầu;
Tổng chi tiêu dược phẩm (Total Pharmaceutical Expenditure – TPE) chiếm 1,41% đến 1,63% tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP) theo các nhóm thu nhập và các khu vực khác nhau, tuy nhiên có sự biến động đáng kể giữa các quốc gia từ mức 0,2% đến 3,8% GDP;
TPE liên quan chặt chẽ đến cả tổng chi cho y tế (Total Health Expenditures – THE),
và GDP Tỷ lệ chi cho thuốc trên tổng chi cho y tế lớn hơn ở những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp Trung bình 24,9% tổng chi y tế dành cho thuốc, với mức dao động
1.1.2 Thị trường thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam các hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông phân phối thuốc trong thời gian qua đều biến đổi theo chiều hướng tích cực so với các năm trước Nhìn chung thị trường dược phẩm đã đi vào ổn định, bảo đảm tốt việc cung cấp đủ thuốc có chất lượng cho nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân Tình trạng khan hiếm thuốc, đầu cơ, tăng giá đột biến đã được kiểm soát và hầu như không xảy ra trên toàn quốc
Các cơ sở đạt GMP đã thực sự cố gắng vươn lên, cải tạo nhà xưởng cũ hoặc xây dựng nhà máy mới đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn GMP và tiếp tục đầu tư, nâng cấp duy trì theo tiêu chuẩn GMP Đặc biệt các công ty, xí nghiệp ở các tỉnh phía Nam đã tích cực huy
Trang 15động mọi nguồn vốn như vốn tự có, vốn ưu đãi với sự giúp đỡ của Uỷ ban nhân dân địa
phương, đã cải tạo xây dựng và mua sắm trang thiết bị để đáp ứng yêu cầu GMP
Thuốc sản xuất tại Việt Nam ngày càng tương đối đa dạng về dạng bào chế như: Thuốc dung dịch tiêm truyền, thuốc tiêm, kháng sinh, thuốc tiêm bột đông khô và các nhóm thuốc khác [6]
Bảng 1.2 Số lượng các doanh nghiệp đạt GPs qua các năm được thể hiện
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
GMP 18 25 31 41 45 57 66 74 89 98 105 114 GLP 0 6 16 26 32 43 60 74 88 98 104 113 GSP 0 3 8 11 30 42 64 79 106 126 137 158
(Nguồn: Cục Quản lý dược)[6]
Đánh giá về thực trạng sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế:
Hiện nay, Việt Nam đã có 8 đơn vị tham gia sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế và đã sản xuất được cả 3 loại theo phân loại vắc xin trên của WHO, trong đó có 04 cơ sở có dây chuyền đạt GMP, doanh thu sản xuất của vắc xin, sinh phẩm y tế sản xuất tại Việt Nam năm 2009 là: 130 tỉ VNĐ
Các vắc xin sử dụng trong Chương trình TCMR là sản xuất tại Việt Nam, bao gồm: vắc xin bạch hầu, ho gà , uốn ván, bại liệt uống, sởi, thương hàn, viêm gan B, lao, viêm não Nhật Bản, tả Trong thời gian tới, Chương trình TCMRQG đang nghiên cứu sẽ đưa thêm một số vắc xin vào chương trình như: vắc xin 5 trong 1 (bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, Hib), HPV (ung thư cổ tử cung) [6]
Trang 16Bảng 1.3 Một số số liệu về hệ thống lưu thông, phân phối thuốc của Việt Nam
Số doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (đã triển
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ báo cáo của các Sở Y tế [6]
Theo báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2011, hệ thống sản xuất, cung ứng thuốc đã đảm bảo cung ứng đủ thuốc thiết yếu cho nhu cầu CSSK của nhân dân Sản xuất trong nước tăng, đáp ứng khoảng 50% nhu cầu về thuốc (Bảng 1.4) Tuy nhiên mức tăng tính theo tỉ lệ của những năm gần đây giảm đi so với những năm trước và tỉ lệ đáp ứng nhu cầu cũng giảm chút ít Vì vậy nhà nước ban hành nhiều văn bản nhằm hỗ trợ sản xuất thuốc trong nước
Bảng 1.4 Giá trị sản xuất thuốc trong nước, 2005-2010
Năm Giá trị sản xuất trong
nước (1000 USD)
Tỉ lệ tăng so với năm trước
Đáp ứng nhu cầu về thuốc
Trang 171.2 Vài nét về tình hình sử dụng thuốc
1.2.1 Tình hình chi tiêu thuốc
Trong hai mươi năm qua, mức tiêu dùng thuốc bình quân/đầu người ở Việt Nam tăng trưởng vượt bậc Năm 1990, mức tiêu dùng thuốc chỉ đạt 0,5 USD/người/ năm chủ yếu dựa trên nguồn viện trợ của Liên Xô (cũ) và khối SEV (30 triệu rúp chuyển đổi/năm) Thời kỳ đó, Việt Nam thuộc nhóm các nước tiêu thụ thuốc thấp nhất thế giới
Năm 2010 Việt nam đã có mức tiêu thụ thuốc bình quân trên đầu người đạt 22,25 USD, tăng hơn 40 lần trong 2 thập kỷ nhưng vẫn còn ở mức thấp so với thế giới Năm
2009, mức tiêu dùng thuốc bình quân trên thế giới là 100 USD người/năm Dự báo năm
2015, mức tiêu dùng thuốc bình quân trên đầu người ở Việt Nam đạt gần 40 USD Các
cơ sở kinh doanh dược phẩm và cơ sở bán lẻ thuốc phát triển mạnh đặc biệt trong khu vực kinh tế tư nhân
Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2012 của Bộ Y tế có đánh giá: Tổng giá trị tiền thuốc ước tính sử dụng năm 2012 là 2600 triệu USD, tăng 9,1% so với năm 2011 Giá trị thuốc sản xuất trong nước năm 2012 ước tính đạt khoảng 1200 triệu USD, tăng 5,26% so với năm 2011 Trị giá thuốc nhập khẩu năm 2012 là 1750 triệu USD và bình quân tiền thuốc đầu người là 29,5 USD [3]
1.2.2 Tình hình tài chính cho thuốc tại Việt Nam
Trong báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2011 của Bộ Y tế nói về tài chính cho thuốc có nêu [4]: trong Nghị định 188/2007/NĐ-CP, Bộ Y tế có nhiệm vụ “Chủ trì, phối hợp với các Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan quản lý nhà nước về giá thuốc,
sử dụng các biện pháp bình ổn giá trên thị trường” Điều này mâu thuẩn với nhiệm vụ khác của Bộ Y tế là thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp
có vốn nhà nước do mục đích chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là tăng cường lợi nhuận Trong bối cảnh đó, rõ ràng việc kiểm soát giá thuốc là điều việc rất khó Chi phí thuốc trên đầu người năm 2010 là 22,25 USD tăng 12,5% so với năm 2009 Với mục đích chăm sóc sức khỏe người dân, gia tăng chi phí thuốc không phải là chỉ số tốt,
mà có thể là một trong những nguyên nhân gây khó khăn trong tiếp cận thuốc của người bệnh, nhưng đối với doanh nghiệp sản xuất dược phẩm, đó lại là dấu hiệu tốt
Trang 18Chi phí thuốc cao có hai nguyên nhân: giá cao hoặc số lượng mua cao Đối với việc kiểm soát giá thuốc, năm vừa qua chưa có nhiều tiến bộ Các đề xuất như xây dựng chính sách phát triển sử dụng thuốc gốc (genegic), áp dụng biện pháp tham khảo giá thuốc quốc tế và nội địa, giám sát và công khai giá bán lẻ, giá đấu thầu thuốc, quản lý thặng dư số bán buôn thuốc tối đa, chống xung đột lợi ích, minh bạch hóa quá trình định giá bán lẻ thuốc chưa được quan tâm đúng mức, mặc dù Nghị định số 45/2005/NĐ-CP về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dược đã được sửa đổi, mức phạt đã được tăng cao Tin học hóa việc giám định BHYT nhằm kiểm soát tốt hơn đơn thuốc tại bệnh viện
và thực hiện rộng rãi việc chi trả theo nhóm bệnh, theo định suất cũng chưa được thực hiện [6]
Năm 2011, thuốc sản xuất trong nước đạt tổng doanh thu xấp xỉ 1,2 tỷ USD, chiếm lĩnh chưa đầy 50% thị trường nội địa Theo dự báo, năm 2013 Việt Nam sẽ chi khoảng 1,7 tỷ USD cho dược phẩm, nhưng dự kiến kim ngạch nhập khẩu thuốc cũng sẽ vượt 1,37 tỷ USD, có nghĩa là thuốc nội sản xuất bán ra cũng chỉ thu về được khoảng 400.000 USD Còn hiện tại, theo thống kê, giá trị thuốc nội so với tổng giá trị tiền thuốc
sử dụng đang giảm dần trong các năm gần đây, từ 52,85% năm 2007 xuống còn 47,82% năm 2011 Khảo sát của Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho thấy, năm 2011, trong tổng số 18.500 tỷ đồng tiền mua thuốc của các bệnh viện thì thuốc ngoại chiếm hơn 11.300 tỷ đồng Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại các bệnh viện tuyến trung ương chỉ
1.3 Sử dụng thuốc tại bệnh viện
Ngày sức khỏe Thế giới năm 2011 có chủ đề: “Chống kháng thuốc: không hành
động hôm nay, không chữa khỏi ngày mai”, nhằm tập trung sự chú ý các quốc gia để đưa
ra các giải pháp phù hợp để khắc phục vấn đề nan giải này Tuy nhiên tình trạng sử dụng kháng sinh ở cộng đồng chưa được kiểm soát Việc mua thuốc (kể cả thuốc kháng sinh)
Trang 19không có đơn rất còn khá phổ biến Năm 2011 Bộ Y tế đã ban hành quyết định 1790/2011/QĐ-BYT về triển khai chương trình quốc gia giám sát sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh, nhưng chưa có kinh phí thực hiện
Các biện pháp khác được đề xuất nhằm tăng cường sử dụng thuốc an toàn hợp lý chưa được thực hiện như: rà soát lại và sửa đổi chính sách thuốc chủ yếu dựa trên hướng dẫn điều trị chuẩn, tiêu chí về chi phí – hiệu quả; xây dựng mô hình kiểm soát việc sử dụng kháng sinh, hệ thống giám sát sử dụng kháng sinh, tình hình kháng thuốc toàn quốc; thành lập khoa vi sinh có chất lượng cao tại bệnh viện; đánh giá và điều chỉnh cho hiệu quả hơn chương trình tuyên truyền về sử dụng thuốc an toàn hợp lý, thực hiện nghiêm quy chế kê đơn
1.3.1 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam và thuốc nhập khẩu của bệnh viện các tuyến
Tổng số tiền mua thuốc năm 2010 của 1018 bệnh viện là 15 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với năm 2009, trong đó tỷ lệ tiền thuốc sản xuất tại Việt Nam chiếm 38,7% tăng nhẹ so với năm 2009 (38,2%)
Bảng 1.5 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam và thuốc ngoại nhâp của bệnh
Tổng số 12.329.750.119 100,0 15.095.680.009 100,0 122,4
(Nguồn: Cục Quản lý KCB)[6]
1.3.2 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện trung ương
Tổng trị giá tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam của 34 bệnh viện trung ương năm 2010 là hơn 378 tỷ đồng (11,9%), giảm nhẹ so với năm 2009 (12,3%)
Trang 20Bảng 1.6 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện trung ương
1.3.3 Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện tỉnh/thành phố
Tổng trị giá tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam của 307 bệnh viện tỉnh/thành phố năm 2010 là hơn 2.232 tỷ đồng (33,9%), tăng nhẹ so với năm 2009 (33,2%)
Bảng 1.7 Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện tỉnh/thành phố
1.3.4 Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện huyện
Năm 2010, tổng trị giá tiền sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam của 559 bệnh viện huyện là 2.900 tỷ đồng, chiếm 61.5% so với tổng số tiền mua thuốc Tỷ lệ này tăng hơn so với năm 2009 (60,4%)
Trang 21Bảng 1.8 Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại bệnh viện huyện
1.3.5 Phân tích tiền sử dụng thuốc theo đối tượng
Tổng số tiền thuốc đã sử dụng năm 2010 là trên 13,7 nghìn tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó cơ cấu sử dụng thuốc theo đối tượng hầu như không thay đổi so với năm trước, tiền thuốc BHYT chiếm 65,9%, đối tượng viện phí trực tiếp chiếm 28,7% trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng
Bảng 1.9 Phân tích tiền sử dụng thuốc theo đối tượng
(đơn vị tính 1.000 đồng)
Năm 2009 (1018 bv) Năm 2010 (1018 bv) So sánh Đối tượng người bệnh Giá trị % Giá trị % %
1.3.6 Phân tích sử dụng thuốc trong bệnh viện
Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng chiếm 37,7% giảm nhẹ so với năm 2009 (38,4) Tỷ lệ sử dụng vitamin, dịch truyền và corticoid trong cơ cấu sử dụng thuốc giảm so với cùng kỳ năm 2009 Vitamin giảm từ 6,5% (năm
Trang 222009) xuống còn 4,7% (năm 2010) Đây là tín hiệu đáng mừng trong công tác sử dụng
thuốc hợp lý tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị đặc biệt tuyến tỉnh, huyện chưa thực hiện
tốt sử dụng thuốc hợp lý, gây tăng chi phí không cần thiết cho người bệnh, tăng tình trạng
kháng kháng sinh Trong thời gian tới, cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt
động của Hội đồng thuốc và điều trị, công tác bình bệnh án, phân tích sử dụng thuốc
trong các ca lâm sàng nhằm hạn chế việc lạm dụng kháng sinh và vitamin, nâng cao chất
-Thuốc giảm đau, chống
viêm không steroid 1.240.587.200 11,4 2.495.777.610 18,2 201,2
Mô hình bệnh tật của một quốc gia, một cộng đồng là sự phản ánh tình hình sức
khỏe, tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia hay cộng đồng đó Việc xác định mô hình
bệnh tật giúp cho ngành y tế xây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một
cách toàn diện, đầu tư cho công tác phòng chống bệnh có chiều sâu và trọng điểm, từng
bước hạ thấp tỷ lệ tử vong cho cộng đồng, nâng cao chăm sóc sức khỏe nhân dân Mô
hình bệnh tật luôn biến đổi theo thời gian và theo tình hình phát triển của đất nước Việc
Trang 23xác định mô hình bệnh tật tại một nơi cụ thể, tại một thời điểm cụ thể, sẽ là cơ sở khoa học giúp cho công tác phòng bệnh, xây dựng kế hoạch cấp cứu và điều trị để giúp hạ thấp tối đa tần suất mắc bệnh và tỉ lệ tử vong
Mô hình bệnh tật của một khu vực, trong một giai đoạn chính là kết cấu phần trăm các
nhóm bệnh tật của các bệnh trong khu vực ở giai đoạn đó
1.4.2 Mô hình bệnh tật trên thế giới
MHBT của các nước trên thế giới phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội mỗi nước Theo điều tra của ngân hàng thế giới và Trường đại học Oxfort (Mỹ) thì trên thế giới có 2 loại MHBT có tính chất riêng biệt:
- MHBT của các nước phát triển chủ yếu là các bệnh không nhiễm trùng như tim mạch, tiểu đường, các bệnh mãn tính …
- MHBT của các nước đang phát triển với các bệnh nhiễm trùng vẫn chiếm tỉ lệ cao như sốt rét, ỉa chảy, nhiễm khuản hô hấp, tả, lỵ, thương hàn, lao …
Từ thập niên 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhận thấy các bệnh nhiễm trùng vẫn chiếm tỉ lệ cao trong MHBT của các nước có nền kinh tế kém và chậm phát triển ở châu Á, châu Mỹ Latinh và châu Phi Trong khi đó các bệnh này đã được thanh toán ở hầu hết các nước phát triển
Như vậy trên thế giới có 2 loại MHBT: MHBT của các nước phát triển với chủ yếu là các bệnh không nhiễm trùng và MHBT của các nước đang phát triển với tỉ lệ các bệnh nhiễm trùng cao Theo WHO cuộc chiến chống bệnh tật trên thế giới có ở thế kỷ 21 vẫn chủ yếu là bệnh nhiễm khuẩn và bệnh kinh niên không lây truyền [2] [14]
Trang 24Bảng 1.11 MHBT của các nước trên thế giới
MHBT của các nước đang phát triển (%)
MHBT của các nước phát triển (%)
STT Chương bệnh
MHBT chung trên thế giới
MHBT của các nước phát triển, tỉ lệ các bệnh nhiễm trùng chỉ chiếm có 5,3%, trong
khi ở các nước đang phát triển tỉ lệ này là 41,2% Ở các nước phát triển MHBT chủ yếu
là các bệnh không nhiễm trùng chiếm 87,3% [14]
1.4.3 Mô hình bệnh tật ở Việt Nam
Mô hình bệnh tật ở Việt Nam gắn với đặc điểm địa lý, khí hậu, vùng KT-XH Đời
sống nhân dân còn khó khăn, thiếu thốn, kiến thức phòng chống bệnh còn hạn chế Hệ
thống y tế thiếu thốn về cơ sở vật chất kỹ thuật - đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa Các loại
bệnh tồn tại nổi trội đó là bệnh nhiễm trùng, siêu vi trùng và ký sinh trùng chiếm tỷ lệ
cao, sinh đẻ, các bệnh như tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, dị ứng, ngộ độc, các bệnh
nghề nghiệp…ngày càng tăng Các bệnh thiếu dinh dưỡng, di chứng do chiến tranh còn
tồn tại nhiều Bên cạnh đó, sự thay đổi về khí hậu, sự phát triển kinh tế, phương tiện giao
thông… cũng làm tăng thêm mô hình bệnh tật tại Việt Nam
1.4.4 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện
Bệnh viện là nơi trực tiếp khám và điều trị cho người mắc bệnh trong cộng đồng, vì
vậy MHBT của bệnh viện cũng bao gồm cả MHBT của cộng đồng Nhưng khác với
MHBT ở cộng đồng là mỗi bệnh viện có tổ chức khác nhau, đặt trên các địa bàn khác
nhau với địa điểm dân cư, địa lý khác nhau và đặt biệt là sự phân công chức năng, nhiệm
vụ trong tuyến y tế khác nhau, từ đó dẫn đến MHBT của mỗi bệnh viện cũng khác nhau
Trang 25Ở Việt Nam có 2 loại MHBT của bệnh viện cơ bản đó là MHBT của bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa
MHBT của bệnh viện cũng giống như của cộng đồng đều bị chi phối bởi một số yết
tố như điều kiện kinh tế, xã hội, tôn giáo, địa lý, tổ chức mạng lưới và chất lượng dịch vụ
Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh có địa chỉ phía trước của bệnh viện giáp đường Nguyễn Thái Học, phía sau giáp đường Lê Hồng Phong, phía bên phải giáp đường
22 – 8 và phía bên trái giáp trường PTTH Phan Bội Châu Cam Ranh
1.5.2 Cơ cấu nhân lực
Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh là bệnh viện hạng II, với cơ cấu nhân lực gồm có:
- Ban giám đốc bệnh viện: có 04 người (01 giám đốc và 3 phó giám đốc);
- 05 phòng chức năng;
- 09 khoa lâm sàng;
- 03 khoa cận lâm sàng;
- 02 khoa hậu cần;
Trang 26Kỹ thuật viên Hộ sinh Khác
1.5.3 Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện năm 2012
Năm 2012 bệnh viện đa khoa khu vực Cam Ranh có nhiều khó khăn về mọi mặt (cơ
sở vật chất đang xây dựng lại toàn bộ, trang thiết bị đang xuống cấp và nhân lực thiếu hụt), Ban Giám đốc đã có nhiều giải pháp khắc phục khó khăn nhằm duy trì và ổn định chất lượng hoạt động chuyên môn như thay đổi cơ cấu nhân sự của khoa Khám, bố trí trực ca kíp ở một số khoa, phân công lại vị trí trực chuyên môn trong bệnh viện … kết quả hoạt động chuyên môn thể hiện ở bảng 1.13
Trang 27Bảng 1.13 Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện năm 2012
Năm 2012 Năm 2011 Nội dung hoạt động
Chỉ tiêu Th/hiện TL % đạt Th/hiện KCB ngoại trú 250000 268771 107,51 267828
1.5.4 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh
MHBT tại bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh từ năm 2006 đến năm 2010 được phân thành 21 chương bệnh trên 21 chương bệnh theo phân loại bệnh tật ICD-10 của Tổ chức Y tế thế giới
Trang 28Bảng 1.14 MHBT tại bệnh viện ĐKKV Cam Ranh từ năm 2006 – 2010
Ghi chú: (I) Nhiễm trùng và ký sinh trùng; (II) Bướu tân sinh; (III) Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và
các rối loạn liên quan đến cơ chế miễn dịch; (IV) Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa; (V) Rối loạn tâm thần và hành vi; (VI) Bệnh thần kinh; (VII) Bệnh mắt và phần phụ; (VIII) Bệnh tai và xương chũm; (IX) Bệnh hệ tuần hoàn; (X) Bệnh hệ hô hấp; (XI) Bệnh hệ tiêu hóa; (XII) Các bệnh da và mô dưới da; (XIII) Các bệnh cơ – xương – khớp và mô liên kết; (XIV) Bệnh hệ sinh dục và tiết niệu; (XV) Thai ngén, sinh đẻ và hậu sản; (XVI) Một số bệnh lý xuất phát trong thời kỳ sơ sinh; (XVII) Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường nhiễm sắc thể; (XVIII) Các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở phần khác; (XIX) Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác
Trang 29do nguyên nhân bên ngoài; (XX) Nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong; (XXI) Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế [20]
Các chương bệnh qua các năm từ 2006 đến năm 2010 đều có số bệnh nhân, trong
đó bệnh thai nghén, sinh đẻ và hậu sản (chương XV) chiếm tỷ lệ cao nhất 18,57%, bệnh rối loạn tâm thần và hành vi (chương V) chiếm tỷ lệ thấp nhất 0,16% Như vậy bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh rất đa dạng bệnh
Bảng 1.15 Các nhóm bệnh chiếm ưu thế trong chương bệnh chiếm ưu thế qua 5 năm
Tỷ lệ %
so với chương bệnh I: Nhiễm trùng và ký sinh trùng
Trang 30Trong bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng (chương I) thì nhóm bệnh “Bệnh nhiễm
trùng đường ruột” chiếm tỷ lệ nhiều nhất 29,36%; Trong bệnh hệ hô hấp (chương X) thì nhóm bệnh “Nhiễm trùng hô hấp trên cấp” chiếm tỷ lệ nhiều nhất 41,37%; Trong bệnh thai nghén, sinh đẻ và hậu sản (chưng XV) thì nhóm bệnh chiếm tỉ lệ nhiều nhất là “Cuộc đẻ” với 74,58%; Trong bệnh chấn thương, ngộ độc và một số hậu qủa khác do nguyên nhân bên ngoài (chương XIX) thì nhóm bệnh “Vết thương đầu” chiếm tỷ lệ cao nhất 31,06%
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Báo cáo tổng hợp thuốc được tiêu thụ tại bệnh viện Đa khoa Khu vực Cam Ranh năm 2012 (trừ nhà thuốc bệnh viện)
- Chứng từ, hoá đơn, các báo cáo lưu tại khoa Dược, phòng TCKT, phòng Kế hoạch tổng hợp liên quan đến tiêu thụ thuốc tại Bệnh viện
- Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại Bệnh Viện năm 2012
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: năm 2012
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, tập trung phân tích mức tiêu thụ thuốc theo 28 nhóm tác dụng dược lý theo phân loại ATC, thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu, thuốc mang tên gốc và tên biệt dược, phân tích cơ cấu tiêu thụ theo phương pháp phân tích ABC, ABC/VEN
2.2.2 Phương thức thu thập số liệu
- Thu thập thông tin chi tiết (tên hoạt chất, tên thuốc – hàm lượng, dạng bào chế, đơn vị tính, quy cách đóng gói, nhà sản xuất, nước sản xuất, đơn giá, số lượng) của toàn
bộ các thuốc được tiêu thụ tại bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh năm 2012
- Thu thập các thông tin chi tiết đó từ phần mềm quản lý xuất nhập thuốc, sổ sách theo dõi xuất nhập thuốc tại khoa Dược bệnh viện
2.2.3 Phương thức phân tích và xử lý số liệu
Số liệu liên quan đến cơ cấu tiêu thụ thuốc được phân tích theo các chỉ số sau:
- Giá trị tiêu thụ (GTTT): là giá trị tiền thuốc được tiêu thụ tính cho từng nhóm, đơn vị tính: VNĐ
Trang 32- Số lượng tiêu thụ (SLTT): là số lượng tiêu thụ tính cho từng nhóm Trong đó mỗi thuốc được quy ra đơn vị đóng gói nhỏ nhất (gói, viên, lọ, ống, chai, tuýp)
Trong đó, thuốc sử dụng trong bệnh viện trong năm 2012 được phân loại và sắp xếp thành các bảng biểu theo một số tiêu chí sau
2.2.3.1 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo xuất xứ
- Thuốc sản xuất trong nước: bao gồm thuốc tên biệt dược gốc, thuốc tên gốc và thuốc tên thương mại
- Thuốc nhập khẩu: bao gồm thuốc tên biệt dược gốc, thuốc tên gốc và thuốc tên thương mại
Từ tên thuốc, tra thành phần, hoạt chất của từng sản phẩm, đối chiếu tên hoạt chất (tên chung quốc tế) với tên thuốc và phân loại sản phẩm thành 3 loại là thuốc mang tên gốc, thuốc mang tên biệt dược (tên thương mại) và thuốc mang tên biệt dược gốc (biệt dược đầu tiên)
- Tên gốc: là tên chung thống nhất của một thuốc, thường là tên chung quốc tế do WHO đặt ra
- Tên biệt dược: là thuốc có tên thương mại do cơ sở sản xuất đặt ra, khác với tên gốc hoặc tên chung quốc tế [15]
Trong các thuốc nhập khẩu, phân biệt các thuốc nhập từ các nước phát triển và các nước đang phat triển
2.2.3.2 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo thành phần
Xem xét từng hoạt chất trong mỗi thuốc để phân chia thuốc trong thành phần có chứa 1 hoạt chất và chứa nhiều hoạt chất
2.2.3.3 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo phân hạng ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [10]
Phân tích ABC có ý nghĩa:
Trang 33- Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẳn trên thị trường Thông tin này được sử dụng để: lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế, thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng
và từ đó phát hiện những chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện
Dựa trên các thông tin về đơn giá, số lượng tiêu thụ của từng sản phẩm tiến hành phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ và chi phí nhằm định ra những thuốc nào chiếm tỉ lệ lớn trong ngân sách
Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo phương pháp phân tích ABC theo 7 bước:
- Bước 1: Liệt kê sản phẩm
- Bước 2: Điền thông tin cho mỗi sản phẩm:
- Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo % giá trị giảm dần
- Bước 6: Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm, bắt đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
- Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
Hạng A: gồm những sản phẩm chiếm 75- 80% tổng giá trị tiền
Hạng B: gồm những sản phẩm chiếm 10- 15% tổng giá trị tiền
Hạng C: gồm những sản phẩm chiếm 5- 10% tổng giá trị tiền
Trang 34Thông thường sản phẩm hạng A chiếm 10- 20% tổng sản phẩm, hạng B chiếm 10- 20%
tổng sản phẩm, hạng C chiếm phần còn lại từ 60- 80% [10] [22]
Xác định cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nhóm tác dụng dược lý: các thuốc hạng A được phân chia dựa trên phân nhóm của Danh mục thuốc chủ yếu theo Thông tư 31/2011/TT-BYT của Bộ Y tế [8] [12] [13]
Xác định cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc có SLMH và GTTT cao trong thuốc hạng A
Xác định cơ cấu tiêu thụ từng loại thuốc có GTTT cao trong các nhóm có GTTT cao trong thuốc hạng A
2.2.3.4 Phân tích sống còn, thiết yếu và không thiết yếu (VEN)
Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [10]
Dựa trên danh mục thuôc đã tiêu thụ tại bệnh viện (xây dựng từ bảng Báo cáo xuất
- nhập - tồn và hoạt chất của các thuốc trong bảng), danh mục thuốc thiết yếu lần thứ V của Bộ Y tế [11] tiến hành phân loại thuốc theo phân tích VEN:
Đối chiếu danh mục thuốc đã tiêu thụ tại bệnh viện trong năm 2012 với Danh mục thuốc thiết yếu, từ đó phân loại các thuốc đã phân hạng A, B, C theo các thuốc nhóm V, E, N
để xác định nhóm “AN” của hạng A Trong đó:
- Thuốc V (Vital drugs: các thuốc sống còn): thuốc tối cần thiết có khả năng cứu
sống con người có tác dụng phụ quan trọng hoặc được quyết định để phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe cơ bản
- Thuốc E (Essential drugs: các thuốc thiết yếu): thuốc thiết yếu là một dạng thuốc
có hiệu quả chống lại bệnh tật nhưng hoàn toàn không tối cần thiết trong việc chăm sóc sức khỏe cơ bản
- Thuốc N (Non-Essential drugs: các thuốc không thiết yếu): gồm các thuốc dùng
để điều trị các bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong Danh mục thuốc thiết yếu và không cần thiết phải lưu trữ trong kho [10]
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ
Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh trong năm 2012 được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3.16 Cơ cấu tiêu thụ thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu
Số lượng mặt hàng thuốc nhập khẩu tiêu thụ là 300 (chiếm 45,80%), với giá trị tiền tiêu thụ là 8.096 triệu VNĐ (chiếm 41,84%) Trong đó thuốc biệt dược gốc có GTTT
Trang 36chiếm 11,76%, thuốc mang tên gốc có GTTT chiếm 8,32% và thuốc mang tên thương
mại có GTTT chiếm 79,92%
3.1.1 Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc nhập khẩu từ các nước phát triển
Bảng 3.17 Cơ cấu tiêu thụ thuốc nhập khẩu từ các nước phát triển
Đơn vị tính: 1.000 VNĐ
SLMH GTTT Chỉ tiêu
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị Tỉ lệ %
Pháp 44 14,67 947.595 11,70 Síp 4 1,33 571.747 7,06 Tây Ban Nha 6 2,00 521.991 6,45 Đức 36 12,00 394.247 4,87 Hàn Quốc 15 5,00 327.492 4,05
Canada 5 1,67 316.086 3,90 Italia 9 3,00 176.520 2,18
Slovenia 3 1,00 83.777 1,03 Thụy Điển 5 1,67 53.184 0,66 Thụy Sĩ 4 1,33 48.276 0,60
Đài Loan 6 2,00 15.056 0,19 Hoa Kỳ 4 1,33 14.274 0,18 Các nước khác (Nhật,New
Zealand, Hà Lan, Đan mạch và Bồ
Đào Nha) 8 2,33 19.937 0,25
Trang 37Nhận xét:
Thuốc nhập khẩu được tiêu thụ từ 21 nước phát triển có 170 mặt hàng (chiếm
56,67% so với SLMH thuốc nhập khẩu), với GTTT là 3.939.722 nghìn VNĐ (chiếm
48,66% so với GTTT thuốc nhập khẩu) Trong đó, chủ yếu là từ nước Pháp, có GTTT là
947.595 nghìn VNĐ (chiếm 11,70%) GTTT nhiều kế tiếp lần lược là các nước Síp, Tây
Ban Nha, Đức, Hàn Quốc
3.1.2 Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc nhập khẩu từ các nước đang phát triển
Bảng 3.18 Cơ cấu tiêu thụ thuốc nhập khẩu từ các nước đang phát triển
Đơn vị tính: 1.000 VNĐ
SLMH GTTT Chỉ tiêu
Trang 38Nhận xét:
Thuốc nhập khẩu được tiêu thụ từ 18 nước đang phát triển có 130 mặt hàng (chiếm
43,33%so với SLMH thuốc nhập khẩu), với GTTT là 4.156.714 nghìn VNĐ (chiếm
51,34% so với GTTT thuốc nhập khẩu) Trong đó, chủ yếu từ Ấn Độ có GTTT là
1.111.305 nghìn VNĐ (chiếm 13,76%), kế tiếp là Colombia có GTTT là 864.883 triệu
VNĐ (chiếm 10,68%)
3.2 Phân tích cơ cấu tiêu thụ thuốc theo thành phần
Bảng 3.19 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo thành phần
Theo bảng 3.19 thành phần thuốc đơn chất được tiêu thụ tại Bệnh viện Đa khoa
khu vực Cam Ranh là chủ yếu, cụ thể:
SLMH thuốc đơn chất sản xuất trong nước tiêu thụ là 254 (chiếm 38,78%), với
GTTT là 8.626.977 nghìn VNĐ (chiếm 44,69%) và SLMH thuốc đơn chất nhập khẩu tiêu
thụ là 248 (chiếm 37,86%), với GTTT là 6.601.494 nghìn VNĐ (chiếm 34,12%)