1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự du nhập, phát triển của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần ở Nhật Bản

91 1,6K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự du nhập, phát triển của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần ở Nhật Bản
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn hóa Nhật Bản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 354,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mấy chục năm gần đây, do quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản càng ngày càng thắt chặt,

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt, ra đời và tồn tại hàngvạn năm nay với nhân loại, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đông đảonhân dân ở hầu khắp các quốc gia trên hành tinh này Với con số hàng tỷngười trên thế giới và gần như 100% dân cư ở nhiều nước cụ thể theo cáctôn giáo khác nhau đã nói rõ nhu cầu đó Tôn giáo đã có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến đời sống xã hội nhiều mặt của con người

Tuy nhiên, xung quanh hiện tượng tôn giáo đang còn nhiều ý kiếnkhác nhau trong giới nghiên cứu (và có thể nói là một trong những hiệntượng xã hội có nhiều tranh cãi nhất) Chẳng hạn, tôn giáo là một hiệntượng tích cực hay tiêu cực, có ảnh hưởng tốt hay xấu đến đời sống conngười, xã hội và đánh giá nó trên cơ sở khoa học nào Về mặt hình thái ýthức xã hội, tôn giáo lâu nay được xem như đối lập với khoa học và nếuvậy thì cắt nghĩa như thế nào về hiện tượng tôn giáo có chiều hướng giatăng hiện nay trong khi có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệtrên phạm vi toàn thế giới cũng như mỗi quốc gia? vấn đề quan hệ hay tácđộng, ảnh hưởng qua lại giữa tôn giáo với chính trị, văn hóa, đạo đức, khoahọc như thế nào và bản thân tôn giáo trong nội dung các quan niệm củamình có chứa đựng các yếu tố chính trị, văn hóa, đạo đức, khoa học không?

Có thể nói, những vấn đề trên đây là những vấn đề có phạm vi rộnglớn và có tính thời sự cấp thiết, nhất là vấn đề ảnh hưởng của tôn giáo đốivới xã hội, con người cần được quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoahọc trên các lĩnh vực khác nhau

Nhật Bản là quốc gia có trình độ phát triển cao trên nhiều lĩnh vực.Trong những nguyên nhân tạo nên thành công chung của quốc gia này phải

Trang 2

kể đến sự tác động của một nền văn hóa rất độc đáo mang bản sắc NhậtBản (bao gồm văn hóa Phật giáo) Chỉ có nghiên cứu chính nền văn hóaNhật Bản trong đó có văn hóa Phật giáo mới giúp ta cắt nghĩa được mộtphần thành công của đất nước này trong sự phát triển.

Khi nghiên cứu quá trình du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản hiệnvẫn còn nhiều ý kiến cho rằng, đó chỉ là sự bành trướng tư tưởng, văn hóaTrung Hoa hơn là nhu cầu nội tại của nước Nhật, và mặc dù các môn pháiBukkyo (đạo Phật) ở đây trong thế giới quan của mình còn chứa đựng nhữngyếu tố tiêu cực, song khách quan mà nói, đạo Phật ở Nhật Bản nói chung đã

có những đóng góp tích cực cho sự phát triển xã hội Nhật Bản trong lịch sửcũng như hiện tại Nghiên cứu những đóng góp đó sẽ có ý nghĩa bổ ích cho

sự chế định những chính sách kinh tế - xã hội của một quốc gia

Trong lịch sử nhân loại, tuy giữa các nước có những khác biệt vềtruyền thống thể hiện qua phong tục, tập quán, tính cách, lối ứng xử củanhân dân và mọi đặc tính văn hóa khác do lịch sử để lại, song giữa các dântộc vẫn có nhiều nét tương đồng, nhất là đối với Việt Nam và Nhật Bản lànhững quốc gia cùng nằm trong cộng đồng châu Á, cùng có chung mộtxuất phát điểm về kinh tế là nông nghiệp lúa nước, mà điểm nổi bật nhất là

cả hai nước đều mang dấu ấn đậm nét của văn hóa Trung Hoa Do đó,nghiên cứu Nhật Bản nói chung, văn hóa Nhật Bản (bao gồm văn hóa Phậtgiáo) nói riêng, chắc chắn Việt Nam sẽ tìm được một phần những bài họckinh nghiệm bổ ích cho sự phát triển đất nước mình Vì vậy, chúng tôi chọn

vấn đề "Sự du nhập, phát triển của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần ở Nhật Bản" làm đề tài luận văn thạc sĩ của

mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trang 3

Mấy chục năm gần đây, do quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bảncàng ngày càng thắt chặt, nhu cầu tiếp xúc, học hỏi Nhật Bản tăng lên,nhiều tác phẩm bàn về văn hóa Nhật Bản được giới thiệu Đáng chú ý là bộ

sách Lịch sử văn hóa Nhật Bản của G.B Samson (Nxb Khoa học xã hội, năm 1995) hay Chân dung văn hóa đất nước mặt trời mọc của Hữu Ngọc,

xuất bản năm 1993 Trong những tác phẩm đó, vấn đề Phật giáo ở NhậtBản cũng đã được đề cập Có thể thấy, Phật giáo được xem là một trongnhững nhân tố góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đầy tính đa sắc, độc đáocủa Nhật Bản

Ngoài những tác phẩm đã được kể trên, những công trình khoa học

khác như Nhật Bản tăng cường hiểu biết và hợp tác (1994-1995); Sổ tay

nghệ thuật Nhật Bản (dịch năm 1990) hay nhiều công trình trên tạp chí

Nghiên cứu Nhật Bản đã đưa lại một cách nhìn ngày càng đầy đủ và chânthực về văn hóa Nhật Bản nói chung, diện mạo Phật giáo Nhật Bản nói riêng

Mặc dù vậy, việc nghiên cứu một cách khái quát, hệ thống lịch sửPhật giáo ở Nhật Bản cũng như những ảnh hưởng của nó đối với đời sống

xã hội vẫn rất cần được tiếp xúc Lý do cơ bản trong nghiên cứu Phật giáo

ở Nhật Bản vẫn đang tồn tại nhiều bất đồng Chẳng hạn những nguyênnhân nào làm cho Phật giáo tồn tại và phát triển ở Nhật Bản hay trong đờisống tinh thần của người Nhật hiện nay thì Phật giáo có vị thế đến đâu? Tạisao Thiền là yếu tố trội của Phật giáo ở Nhật Bản?

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích

Khái quát một số đặc điểm cơ bản của quá trình du nhập, phát triểncủa Phật giáo ở Nhật Bản cũng như một số ảnh hưởng của nó đến đời sốngvăn hóa tinh thần ở Nhật Bản

Trang 4

3.2 Nhiệm vụ:

Luận văn có hai nhiệm vụ chủ yếu:

- Khái quát bối cảnh lịch sử của quá trình du nhập Phật giáo vàoNhật Bản và một số đặc điểm cơ bản của quá trình du nhập, phát triển củaPhật giáo ở Nhật Bản

- Làm sáng tỏ một số ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo đến đời sốngvăn hóa tinh thần ở Nhật Bản

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn đề cập chủ yếu đến phương diện lịch sử của quá trình dunhập và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản và chỉ phân tích những ảnhhưởng cơ bản của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần ở Nhật Bản trêncác phương diện như: Văn hóa nghệ thuật, đạo đức, phong tục và lối sống

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Ngoài phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp cấu trúc hệ thống,lịch sử, lôgíc, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như so sánh,phân tích tổng hợp

Trang 5

5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn bước đầu khái quát một số đặc điểm cơ bản của quátrình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản

- Góp phần đánh giá vai trò của Phật giáo vào kho tàng văn hóa tinhthần của Nhật Bản

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Đề tài góp phần gợi mở một số vấn đề giúp các nhà quản lý xã hộisuy nghĩ về việc khuyến khích những đóng góp của Phật giáo vào nền vănhóa dân tộc và vận dụng nó trong điều kiện xã hội Việt Nam

- Kết quả của luận văn có thể sử dụng vào quá trình nghiên cứu vàgiảng dạy môn khoa học về tôn giáo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm 2 chương 6 tiết

Trang 6

Chương 1

QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO

Ở NHẬT BẢN

1.1 ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI NHẬT BẢN

Nhật Bản là quần đảo gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ có diện tíchvào khoảng 322.000km2, tương đương với tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốchay gần bằng diện tích lãnh thổ Việt Nam (329.000km2) Phần lớn các đảo có diện tích không lớn và chỉ có 4 đảo lớn là: Hokkaido, Honshu,Shikoku, Kyushu

Quần đảo Nhật Bản nằm ở Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương vớichiều dài tổng cộng 4.000km Phần lớn lãnh thổ Nhật Bản là núi (chiếm 70%diện tích đất đai) với nhiều ngọn núi cao Trong số đó dãy Alpơ có nhiềunúi cao trên 3.000m, ngọn Fuji (Phú Sĩ) cao 3.776m Điểm đặc biệt là, NhậtBản có rất nhiều núi lửa hoạt động, hàng năm gây ra nhiều tai họa cho conngười và xã hội Với điều kiện núi cao, bờ biển gập ghềnh với những vách

đá thẳng đứng đã tạo cho Nhật Bản một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp

Về mặt hình dạng của lãnh thổ, trông xa có người bảo có hình trănglưỡi liềm, lại có người bảo có hình con tằm, nhiều người tin rằng, Nhật Bảnmuốn tồn tại phải dựa vào Trung Quốc vì hình dạng Trung Quốc giống ládâu Tuy nhiên, đó chỉ là phỏng đoán nặng tính tư liệu bởi thực tế lịch sử

đã chứng minh rằng, sức tự cường của người Nhật không xô đẩy họ vàocon đường lệ thuộc, ngược lại, Nhật Bản là nước duy nhất ở Đông Bắc Ákhông rơi vào họa thực dân thời kỳ thực dân hóa Về phương diện văn hóa,mặc dù Nhật Bản tiếp nhận nhiều giá trị văn hóa ngoại lai song họ vẫn làquốc gia có bản sắc dân tộc độc đáo

Trang 7

Về phương diện nhân chủng học, người Nhật Bản hiện nay là kết quảcủa sự cộng hợp nhiều dòng máu của nhiều tộc người khác nhau Theo kếtquả của các nhà nhân chủng học và khảo cổ học, đất nước Nhật Bản có vếtchân người là vào cuối thời đại đồ đá mới (cách đây khoảng 3.000 năm).Xét về mặt địa hình nhiều người đã phát hiện thấy sự liên kết chặt chẽ giữalục địa Trung Hoa và quần đảo Nhật Bản Từ đó có suy luận rằng, gốc gác

người Nhật có quan hệ với các tộc người ở đại lục Theo sách Lịch sử Phật

giáo thế giới (tập 1, Nxb Hà Nội, 1995), cho rằng xuất xứ người Nhật từ ba

- Một số tộc người thiểu số khác

Những điều kiện tự nhiên khá đa dạng, khí hậu ôn đới, cây cối tốttươi, rậm rạp đã có những ảnh hưởng đến tính cách, tâm lý người Nhật,khiến cho họ có lòng dũng cảm, có tính tiến thủ mà biểu tượng được ví nhưnúi Fuji Ngoài ra người Nhật cũng khá cởi mở, nặng tính thực dụng vớimột bản lĩnh thép được hun đúc qua quá trình phát triển quốc gia Đánh giá

về vấn đề này EDWIN.O.REISCMAUR trong cuốn: Nhật Bản quá khứ và

hiện tại cho rằng:

Ý thức về tinh thần liên kết trong thị tộc và niềm tin vàotầm quan trọng của các quyền lợi và uy quyền cha truyền connối, chắc chắn phải là khá mạnh trong dân tộc này, vì những sứcmạnh này luôn chiếm ưu thế trong suốt lịch sử của Nhật Bản vàvẫn còn rất sống động trong nước Nhật hiện đại Có lẽ hình ảnh

Trang 8

người chiến sĩ quý tộc, người đàn ông kỵ mã, lúc bấy giờ đã cómột vị trí quan trọng trong xã hội Nhật, bởi vì các hình ảnh mờ

ảo này của Nhật Bản thời sơ khai đã vượt qua được trận lũ củanền văn minh vay mượn của Trung Hoa để sau này trỗi lên nhưcột xương sống của Nhật Bản thời phong kiến [26, tr 16]

Về phương diện tín ngưỡng, người Nhật cổ đại sùng kính các vịthần tự nhiên Từ sùng bái tự nhiên dẫn đến sùng bái tổ tiên Theo truyềnthuyết, số lượng thần tự nhiên của người Nhật có đến tám mươi vạn vị.Ngoài ra, nhiều hiền tướng, hào kiệt cũng được suy tôn, thiêng hóa và trởthành các vị thần Trong số các vị thần, Vũ Thiên Hoàng được tôn kínhnhất, Tenno (Thiên Hoàng) vì vậy là đại diện cho dòng dõi tôn quý, trởthành lãnh tụ cả về tôn giáo và chính trị

Những thần linh được người Nhật tôn kính thường được gọi là Kami.Tín ngưỡng thờ Kami hay Shinto (Thần đạo) trở thành tín ngưỡng bản địa cólịch sử tồn tại xuyên suốt lịch sử Nhật Bản, chi phối mạnh mẽ các hìnhthức tín ngưỡng khác Vì lẽ ấy, về sau, khi Phật giáo được du nhập, ta thấylúc đầu là sự phản ứng, sau nữa là sự kết hợp và tùy tương quan lực lượng

cụ thể, có thể có lúc Phật giáo có ưu thế song nhìn chung, Shinto vẫn đóng vaitrò trụ cột Nguyên nhân của tình hình này chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau

Về phương diện tổ chức xã hội ta thấy, mặc dù hai cuốn sách Kojiki(Cổ sự ký) và Nihongi (Nhật Bản thư ký) mang nhiều tính truyền thuyết vàthần thoại nhưng là những tài liệu quan trọng để nghiên cứu xã hội NhậtBản cổ đại Theo các cuốn sách trên (sách được viết từ thế kỷ thứ VIII)Nhật Bản đã bắt đầu tiếp nhận ảnh hưởng của các tư tưởng ngoại lai(Khổng giáo, Phật giáo) song những ảnh hưởng đó cũng không làm lu mờtính dân tộc và tín ngưỡng truyền thống Qua các truyền thuyết và nhữngcâu chuyện dân gian, có thể hình dung xã hội Nhật Bản tồn tại trên nhữngnguyên tắc của một nền quân chủ Học thuyết Shinto (con đường của thần

Trang 9

thánh) không mạnh và làm say lòng người như một tôn giáo thực thụ nhưngcũng thể hiện rõ ý thức dân tộc của người Nhật Trong tín ngưỡng Shinto,những ước nguyện về một cuộc sống tốt đẹp được pha quyện với lòng yêunước bởi người Nhật nghĩ rằng, đất nước của họ là của thần thánh Ai đượcthần thánh tin cẩn sẽ được giao quyền cai trị đất nước Vì lẽ đó, trong đờisống, đạo Shinto chỉ đạo ý thức cộng đồng Theo đó, cá nhân chỉ tồn tạiđược khi là thành viên của gia đình Một gia đình chỉ tồn tại được khi làthành viên của quốc gia Hiện tại phải hy sinh cho truyền thống và nhữngkhát vọng tương lai Điều này giống ở Việt Nam với đạo Tổ, với việc thờvua Hùng, các Thiên tử, thành hoàng và dòng họ.

Thông qua các chuyện kể ta cũng thấy rằng, quyền lực xã hội tậptrung ở các Tenno mặc dù quyền lực đó không phải lúc nào cũng được thựchiện suôn sẻ Chính quyền Trung ương của Tenno có quyền lực cai quảncác tộc người khác, trong đó có những tộc người mạnh Những tộc người

đó mặc dù thần phục Tenno nhưng vẫn có quyền lực độc lập, vẫn có khảnăng kiểm soát đất đai và cư dân của mình Tenno thường đại diện cho mộttộc người lớn mạnh nhất và được coi là sứ giả, đại diện cho thần dân trongmối quan hệ với thần thánh Quyền lực đó, vì vậy mang tính tôn giáo nhiềuhơn là tính chính trị

Các đại thần, thường là người đứng đầu các dòng họ quý tộcNakutomi và Imibe Họ là các chúa đất có quyền lực, quyền lực ấy đượcduy trì theo kiểu cha truyền con nối về mặt tôn giáo Thường thì nhữngngười đứng đầu cứ mỗi năm hai lần, làm chủ lễ đọc kinh cầu nguyện trongcác dịp lễ tẩy rửa, cầu xin thần linh trút bỏ cho dân lành ô uế và tội ác

Tùy theo tương quan lực lượng giữa các dòng họ mà qui định dòng

họ nào được đảm nhiệm chức năng gì Vì vậy trong xã hội Nhật Bản cổ,cuộc tranh giành giữa các dòng họ cũng hay xảy ra Việc chọn người đứng

Trang 10

đầu tộc người có một số tiêu chí nhất định, hoặc họ là người giàu có, hoặc

có khả năng sản xuất những đồ quý hiếm hay có tay nghề cao trong một số ngành thủ công mỹ nghệ.

Cuối cùng, có thể nói, trong xã hội Nhật Bản cổ đại, các tầng lớpquý tộc và chúa đất ở trung ương và địa phương với vây cánh của họ đã chiphối quyền lực của triều đình Họ có thể buộc triều đình có hành động theo

ý muốn của họ kể cả việc bành trướng lãnh thổ Họ xây dựng các vây cánh

và có thể lôi kéo các thủ lĩnh địa phương đi theo mình Chính sách của họ

là tập hợp những người thợ giỏi, cho họ quyền lợi thỏa đáng để lôi kéo họ

Trong bối cảnh lịch sử như vậy, Phật giáo được du nhập Lúc đầu

nó được đưa vào Nhật Bản thông qua vai trò của những người Triều Tiên,Trung Hoa vốn là những người buôn bán hoặc như các tù binh Sau đó, nhờ

sự nâng đỡ của chính quyền, Phật giáo chính thức được thừa nhận và pháttriển khá nhanh

nhất cần thiết Có thể thấy có hai loại quan điểm chính: Loại thứ nhất cho

rằng, sự du nhập Phật giáo vào Nhật Bản là do những động cơ từ phíaTrung Hoa hay đó chỉ là sự bành trướng về tư tưởng, văn hóa của Trung

Hoa; loại thứ hai cho rằng, đó là sự tiếp nhận diễn ra trên cơ sở nhu cầu nội

tại của người Nhật Bản hay người Nhật đã chủ động tiếp nhận Phật giáo.Theo ý kiến của chúng tôi, trong sự phát triển của văn hóa Nhật Bản nóiriêng và của bất kỳ nền văn hóa nào nói chung không bao giờ là một quátrình thuần nhất, bởi các dân tộc liên tục có những cuộc tiếp xúc văn hóa dù

Trang 11

tự giác hay tự phát Trường hợp Nhật Bản trước khi tiếp xúc với TriềuTiên, Trung Hoa có những đặc biệt bởi đó là xứ sở của các hòn đảo sốnggần như biệt lập so với thế giới bên ngoài, nhất là khi kỹ nghệ hàng hảichưa phát triển Chính sự cô độc trong những mối giao cảm văn hóa mà sovới Triều Tiên, Trung Hoa, trình độ văn minh của Nhật Bản lúc đó thấphơn Về mặt xã hội, đó là sự tồn tại của chế độ thị tộc còn khá phổ biến, và

về kinh tế là trình độ của lực lượng sản xuất còn rất thấp kém Những thấpkém trong lĩnh vực kinh tế được biểu hiện cả trong lĩnh vực tư tưởng ỞNhật Bản chưa hình thành các tư tưởng có tính hệ thống trong nghệ thuật,tôn giáo, triết học Khi những quan hệ đầu tiên của Nhật Bản hình thànhvới lân bang qua buôn bán và nhất là chiến tranh, người Nhật đã nhận rarằng, bên cạnh họ là những quốc gia có trình độ phát triển cao hơn.EDWIN.O.REIS CHAUER đã từng khẳng định: "Không có gì đáng ngạcnhiên nếu người Nhật sơ khai trên một đất nước gồm những hòn đảo biệtlập của họ cảm nhận được những phản quang của đế quốc Trung Hoa mới

và bừng tỉnh với một nhận thức mới về cái đất nước lớn lao ở bên kia bờbiển" [26, tr 23]

Tuy nhiên như lịch sử đã chứng tỏ, buổi đầu giao tiếp với TrungHoa, những vay mượn diễn ra rất chậm chạp và không tự giác Mãi cho đếngần cuối thế kỷ thứ VI thì có một sự gia tăng đột ngột trong quá trình dunhập các yếu tố của văn hóa Trung Hoa vào Nhật Bản Sự thật này chỉ cóthể giải thích bởi hai lý do:

- Một là: Có thể dân tộc Nhật lúc ấy mới đạt được một trình độ văn

hóa cho phép họ nhận thức ra và có đủ khả năng để tiếp nhận các nhân tốngoại lai một cách nhanh chóng và có ý thức

- Hai là: Mọi giá trị văn hóa, tự nó đều có nhu cầu và khả năng lan

tỏa hay bành trướng, nhất là khi chúng đạt trình độ cao Trong thời kỳ đó, ở

Trang 12

Trung Hoa, nhà Đường đã tạo ra một chế độ phong kiến đạt đến cực thịnh,

vì vậy khả năng lan tỏa của nó ra xung quanh dễ dàng hơn

Những tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa Nhật Bản và Trung Hoa lúcđầu thông qua vai trò của những thương gia, thợ thủ công hay tù binh dướidạng hành vi và nhân cách của các cá nhân đó hay qua những vật phẩm hữuhình có được trong các cuộc trao đổi Dần dần những kiểu tiếp xúc đó trởnên thứ yếu và thay bằng cuộc tiếp xúc tôn giáo Điều cần thấy ở đây là, lúcnày Phật giáo cực thịnh ở Trung Hoa và Phật giáo trở thành công cụchuyển tải văn hóa quan thiết nhất từ đại lục sang Nhật Bản

Sự xâm nhập của Phật giáo vào Nhật Bản cũng vậy, lúc đầu bằngcon đường dân gian Những ảnh hưởng của Phật giáo lớn dần, gây chấnđộng đến cả tầng lớp thống trị Những chấn động đó đã tạo nên hai xuhướng tư tưởng chủ yếu trong thị tộc Yamato đến mức gây nên những xungđột giữa nhóm ủng hộ Phật giáo và phản đối Phật giáo Sự thắng lợi củanhóm ủng hộ Phật giáo diễn ra khoảng năm 587 đã mở đường cho sự tiếpnhận nhanh hơn các tư tưởng của Trung Hoa nói chung và tín ngưỡng Phậtgiáo nói riêng Nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, nhiều phái đoàn ngườiNhật được cử sang đại lục học hỏi tri thức và ở trong nước Phật giáo được

hỗ trợ, trở thành tôn giáo có vị thế còn lớn hơn cả Shinto

Như vậy, có thể nói rằng, sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bảnkhông thuần túy chỉ là sự bành trướng văn hóa của người Trung Hoa vànếu giả định đó là sự bành trướng văn hóa mà thiếu sự nhiệt tình tiếp nhận

từ phía Nhật Bản thì khả năng bén rễ, tồn tại, phát triển của nó sẽ khó khăn

hơn nhiều Điều này là có cơ sở bởi, một mặt, khi văn minh nhà Đường có

dấu hiệu suy vi thì người Nhật cũng bắt đầu suy nghĩ lại Đó là sự tái khẳngđịnh ngày càng mạnh mẽ tinh thần độc lập về văn hóa được biểu hiện quathái độ không còn chăm chú học hỏi hay thái độ quá sùng bái đối với mọi

Trang 13

yếu tố của văn minh Trung Hoa Mặt khác, qua lịch sử nước Nhật ta thấy,

dân tộc đó có sự khôn ngoan đặc biệt trong tiếp nhận văn hóa ngoại lai Họtiếp nhận rất nhiều yếu tố ngoại lai song vẫn luôn tìm cách giữ gìn, pháttriển các nhân tố bản địa Bằng chứng là, khi Phật giáo du nhập, có cuộcđấu tranh giữa Thần - Phật Cuộc đấu tranh đó tiếp tục diễn ra trong cácthời kỳ và cuối cùng Phật giáo bị bản địa hóa mặc dù có thời kỳ Phật giáotrở thành trụ cột và chi phối mạnh mẽ các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.2.2 Một số đặc điểm chính của Phật giáo ở Nhật Bản buổi đầu du nhập

Theo quy luật của sự tiếp biến văn hóa, khi muốn bắt rễ vào mộtkhu vực nào đó, các hiện tượng văn hóa ngoại lai phải biến đổi cho phùhợp với những yêu cầu của bản địa Quá trình du nhập của Phật giáo vàoNhật Bản cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Nó đã có nhiều biếnđổi đến mức làm cho một số yếu tố của Phật giáo ở Nhật Bản đã có nhữngkhác biệt khá căn bản với Phật giáo, Ấn Độ hay với Phật giáo Trung Hoa.Những biến đổi đó lúc đầu được tạo nên bởi nền tảng kinh tế - xã hội cũngnhư những yêu cầu của cư dân Nhật Bản, của văn hóa Nhật Bản nhưng đếnlượt nó, nhiều khi lại trở thành những định hướng cho sự phát triển của vănhóa Nhật Bản về sau Vì lẽ ấy, mặc dù tồn tại trong những điều kiện củamột xã hội hiện đại nhưng văn hóa Nhật Bản vẫn giữ được những yếu tốnhư nhân ái, mềm mại của đạo Phật, cứng nhắc đến tàn nhẫn của võ sĩ đạo,thực dụng như Khổng giáo và mộng mơ siêu thoát của thiền, tư tưởng trọnglợi ích vật chất và yêu cái đẹp da diết, một tư duy khoan hòa nhưng lạichứa đầy tính duy lý v.v

Nghiên cứu quá trình du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản có thểrút ra một số đặc điểm chủ yếu như sau:

Trang 14

Một là: So với các nước trong khu vực, thời điểm du nhập Phật giáo

vào Nhật Bản có muộn hơn Theo các nguồn sử liệu còn lưu lại, khoảng thế

kỷ VI Phật giáo đã từng có mặt ở Nhật Bản Việc du nhập Phật giáo vàoNhật Bản chủ yếu từ hai con đường: Trung Quốc và Triều Tiên (Phật giáo

có mặt ở Triều Tiên sớm hơn ở Nhật Bản chừng 150 năm) Cuốn Lịch sử

Phật giáo thế giới (tập I) có dẫn lại sách Phù Tang lược ký cho biết: "Tháng 2

năm thứ 16 sau khi Kế Thể Thiên Hoàng tức vị (năm thứ 3 niên hiệu PhổTông Vũ Đế nhà Lương, năm 522) một người Hán là Tư Mã Đạt đến NhậtBản làm nhà cỏ ở bản Điền Nguyên, quận Cao Thị nước Đại hòa, bàytượng phật lễ bái" Cũng theo nguồn sử liệu trên thì vào tháng 10 năm 522(năm thứ 13 đời Khâm Minh Thiên Hoàng) có Thánh Minh Vương ở nướcBách Tế trên bán đảo Triều Tiên đã sai Cơ Thị Đạt dẫn đầu một đoànngười đến tặng một pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng và có cờ phướn,kinh luân" Giới nghiên cứu ở Nhật Bản quen gọi hai con đường du nhậpPhật giáo: Tư truyền và Công truyền để phân biệt Phật giáo được dân giantruyền vào và chính phủ truyền vào

Qua nghiên cứu thời điểm và con đường du nhập Phật giáo vàoNhật Bản có thể thấy rằng, Phật giáo được du nhập muộn hơn một số nướctrong khu vực, hơn nữa Phật giáo trên con đường truyền bá đã từng bị khúc

xạ qua nhiều nước trung gian vì vậy nó không còn nguyên vẹn như Phậtgiáo chính gốc Điều căn bản hơn là ở chỗ Phật giáo ở Nhật Bản bị chi phốimạnh bởi các yếu tố tín ngưỡng bản địa vốn đã có truyền thống ở Nhật Bản

đó là tục thờ Kami (biểu tượng thần linh của Shinto) Điều này cũng chothấy trong lịch sử tồn tại của Phật giáo ở Nhật Bản luôn có sự giằng cothậm chí là xung đột trong đời sống tín ngưỡng của cá nhân và trên bìnhdiện xã hội giữa một bên là Phật và bên kia là Thần Nếu so sánh với Phậtgiáo ở Việt Nam ta thấy Phật giáo được du nhập vào Việt Nam sớm hơnvào Nhật Bản khoảng 6 thế kỷ Ở Việt Nam ngoài con đường du nhập Phật

Trang 15

giáo trực tiếp từ phía các cao tăng Ấn Độ còn có các cao tăng của TrungHoa Tuy nhiên các cao tăng của Trung Hoa khi truyền Phật giáo vào ViệtNam thì tính chất Phật giáo Ấn Độ cũng rõ rệt hơn Mặt khác, Phật giáovào Việt Nam chủ yếu bằng con đường dân gian nên sự xung đột giữa nó

và tín ngưỡng bản địa ít quyết liệt Có thể nói, nó được du nhập một cáchtương đối hòa bình

Thứ hai: Phật giáo du nhập vào Nhật Bản trong bối cảnh người

Nhật đã có một truyền thống tín ngưỡng khá vững chắc: tín ngưỡng vềThần (Kami) Kami là đối tượng của sự thờ cúng trong Shinto đã tồn tại từthời cổ đại "Đây là những thực thể mờ ảo, tồn tại không hình dạng, thiếuhẳn tính người và giống với sự biểu hiện quyền lực lạnh lùng Tất cả đượccoi như là cao hơn ở bên trên con người bằng kiến thức và quyền lực, giữanhững quyền lực đời sống và nằm ngoài sự kiểm soát của con người" [2, tr.183] Kami có nhiều loại nhưng tựu trung có 4 đặc điểm chung:

- Kami không có hình dạng riêng nhưng có thể được mời gọi đếnvới những hình thức mời thích hợp

- Kami là thực thể trừu tượng, có thể mang phúc hay chuốc họa chocon người tùy thuộc vào thái độ đối xử của con người đối với Kami

- Kami có thế giới riêng nhưng vẫn có thể viếng thăm thế giới loàingười và sử dụng vào những mục đích của họ

- Kami là thế lực ban phát cho con người những lợi ích vật chất màkhông đại diện cho một thứ chân lý tối hậu

Nhìn nhận những đặc trưng của Kami như đã chỉ ra ta thấy, về thựcchất, Shinto có những khác biệt căn bản với Phật đạo Điểm căn bản nhất là

ở chỗ, Kami là trừu tượng trong khi Phật là cụ thể Tôn sùng, thờ cúngKami sẽ được đền đáp trong khi Phật chủ trương chính con người tự chịutrách nhiệm về kết quả của hành động của bản thân mà không trông chờ bất

Trang 16

kỳ một sự ban phát nào nhất là trong quan niệm của Phật giáo nguyên thủy.Kami là thế lực ban phát trong khi Phật đại diện cho chân lý tối hậu, Shintokhông đủ và được một hệ thống các giá trị đạo đức được xem là chân lý Vìnhững lẽ trên nên ở buổi đầu du nhập, Shinto và Phật giáo luôn chứng tỏnhững sự xung khắc và sự xung khắc đó kéo dài cho đến tận ngày nay Tuynhiên, cũng phải thấy rằng, mặc dù xung khắc nhưng Phật giáo đã góp phần

bổ sung, bù đắp cho những lỗ hổng về nhận thức mà Shinto không thể có,

do đó xuất hiện xu hướng hỗn dung, vay mượn lẫn nhau giữa Thần và Phật

là một thực tế trong đời sống tín ngưỡng của người Nhật Bản Bách khoatoàn thư Nhật Bản khẳng định: "Đạo Phật đã cung cấp cho người Nhật toàn

bộ khái niệm về đạo đức Đạo Phật đã đưa đến cho văn hóa Nhật Bản những

từ về lòng thương xót, anh minh, lòng từ bi, lòng nhân ái " [2, tr 191] Sosánh vấn đề này với bối cảnh Phật giáo du nhập vào Việt Nam, ta thấy cảhai cuộc du nhập đó có những tương đồng nhưng cũng có nhiều dị biệt Sựtương đồng thể hiện ở chỗ, Phật giáo là một tôn giáo ngoại lai nên tất yếuphải có những phản ứng từ phía bản địa Thêm nữa cả Việt Nam và NhậtBản đều là những quốc gia nông nghiệp và tín ngưỡng bản địa đều cónhững khiếm khuyết cần phải được bổ sung Ngoài những tương đồng trênnhững dị biệt sau đây là căn bản:

- Phật giáo du nhập vào Việt Nam trong bối cảnh đất nước bị đô hộcòn ở Nhật Bản thì nội chiến lại liên tục

- Ở Việt Nam, Phật giáo vào sớm hơn nhưng phải 1000 năm sau kể

từ thời Đinh - Lê nó mới được phát huy tác dụng, còn ở Nhật Bản tuy được

du nhập muộn hơn nhưng nó lại có quá trình phát triển liên tục

- Các tôn giáo ngoại nhập muốn bắt rễ vào một khu vực nào đókhông thể không dựa vào tôn giáo truyền thống nhưng vì trong giai đoạn

Trang 17

đó, Shinto đã là một tôn giáo phổ biến của người dân lại có nhiều dị biệtvới Phật giáo nên sự du nhập diễn ra khó khăn hơn.

Chính những dị biệt đó làm cho sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản có phần khó khăn và sự đụng độ của nó với Shinto thêm phầnquyết liệt

Thứ ba: Trong bối cảnh về văn hóa, tín ngưỡng của Nhật Bản, Phật

giáo muốn bắt rễ phải tự biến đổi mà nhiều biến đổi đã trở nên khác lạ sovới Phật giáo chính gốc

Trước hết, muốn bắt rễ, Phật giáo không thể du nhập bằng hệ thống

lý luận trừu tượng mà phải là dưới hình thức nào đó của ma thuật, về nhữnglời hứa sẽ bảo vệ toàn bộ xứ sở, về sự sẵn sàng cứu giúp của các Bồ tát Do

đó một điều tự nhiên là trong hai thế kỷ tôn giáo mới này được hiểu mộtcách đơn thuần như "một phương tiện có hiệu quả giúp tạo ra những ân huệtrần tục mà chúng sinh luôn luôn tìm kiếm, mong đợi từ những vị thầntrong Shinto" Cũng vì tính chất đó mà triều đình nhanh chóng chấp nhậnPhật giáo vì nó mang lại mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi và khuyếnkhích cho sự giàu có của đất nước Để đi vào lòng người thuộc mọi đối

tượng, Phật giáo ở Nhật Bản luôn chủ trương hai khuynh hướng: Khuynh

hướng thứ nhất, đối với dân chúng chiếm số đông, nó thường xuyên cung

cấp những dịch vụ thiết thân như chữa bệnh hay là tìm ra đôi lứa hợpnhau hoặc chăm sóc người chết, vỗ về người sống bằng các nghi lễ cầuhồn nhằm tạo sự an tâm về sự quấy rối của linh hồn khi có người chết

Khuynh hướng thứ hai, phục vụ những người coi thế giới này là ảo và chất

đầy sự đau khổ Với loại người này Phật giáo cung cấp cho họ phương tiện

để làm thay đổi nhận thức - tập Thiền Có thể nói, vì tập tục thờ thần cũ,cho nên Phật giáo Nhật Bản thời kỳ đầu đặc biệt coi trọng việc cầu mongcông đức Các sử gia gọi đây là: Phật giáo cầu mong; họ không tha thiết

Trang 18

tìm hiểu kinh nghĩa mà chỉ mong mượn chú nguyện để kéo dài tuổi thọ, trừtai, chữa bệnh, cầu mưa, giữ nước Họ vẫn lễ Phật với tâm lý cầu thần, cầuxin đời sống hiện thực được bình yên như ý.

Qua đây có thể thấy rằng Phật giáo ở Nhật Bản rất đậm tính thựcdụng và có màu sắc nhập thế khá gần gũi với tính chất của Phật giáo ở Việt Nam

Thứ tư: Phật giáo vào Nhật Bản trong điều kiện xã hội đang ở giai

đoạn xã hội thị tộc, mỗi thị tộc chỉ thờ thần của thị tộc mình Bởi vậy đốivới thờ cúng của Shinto hết sức đa dạng Có những thần ngự trong các đốitượng tự nhiên như cây cối, núi non, mặt trời, nhưng cũng có những vị thầnphụ trách một số nghề thủ công chuyên ban phát năng lực cho những ngưdân hay những thợ săn có những vị thần còn sống như những chuyên gia

về tôn giáo hay những người bằng sự rèn luyện khổ hạnh đã đạt đến khảnăng hòa nhập và hóa thân thành các Kami Có những vị thần bảo hộ cho

cá nhân, gia đình, dòng tộc nhưng cũng có những Kami có khả năng sángtạo ra các hòn đảo hay bảo hộ cho Hoàng gia Lại nữa có những Kami khiđược thờ cúng có khả năng thay đổi tính chất, từ thần phá phách trở thànhthần có ích sẵn sàng giúp đỡ nhân loại

Rõ ràng, sự đa dạng của các Kami là sự biểu hiện của lối tư duyphong phú khá phổ biến của người phương Đông Cố nhiên khi đối tượngthờ cúng đa dạng, hỗn tạp thì niềm tin cũng đa dạng và hỗn tạp Tình hìnhnày là sự phản ánh thực tế phân biệt giữa các thị tộc trên quần đảo Nhật Bản,

nó không tạo cơ sở tinh thần cho sự thống nhất của quốc gia Trong bối cảnh

đó, Phật giáo du nhập nhanh chóng được Hoàng gia và người dân chấp nhận

Sự kiện vĩ đại này đã tạo ra cơ sở cho sự thống nhất về đức tin và từ sựthống nhất về đức tin đã tạo điều kiện cho sự thống nhất về quốc gia Vì lẽ

ấy, các Tenno của Nhật Bản không chỉ là lãnh tụ về chính trị mà còn là

Trang 19

lãnh tụ về tôn giáo Nơi ở của Tenno cũng là nơi ở của thần linh và chỉ saunăm 1945 khi nước Nhật bại trận thì Tenno mới trở lại tư cách như conngười.

Đề cập đến một vài đặc điểm của Phật giáo ở Nhật Bản buổi đầu

du nhập như trên, chúng tôi muốn so sánh với quá trình du nhập của Phật

giáo vào Việt Nam Điều dễ nhận thấy là, cũng xuất phát từ Phật giáo, songkhi vào Nhật Bản, vào Việt Nam thì đã có những khác biệt Nếu như ởNhật Bản, Phật giáo được tiếp nhận để phục vụ cho lợi ích thực dụng củangười dân, phục vụ cho sự thống nhất quốc gia và được chấp nhận từ phíathế lực cầm quyền thì ở Việt Nam Phật giáo chủ yếu được tiếp nhận bằngcon đường dân gian Vì lẽ ấy, tính nhập thế của Phật giáo ở Nhật Bản rõhơn tính nhập thế của Phật giáo ở Việt Nam Người Nhật Bản tiếp nhậnPhật giáo không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần mà còn tìm được sựthỏa mãn những nhu cầu thực tế như chữa bệnh, học hành hay chí ít cũng làtìm được sự phù hợp cho hạnh phúc đôi lứa

Phật giáo ở Nhật Bản được tiếp nhận trên nền tảng Shinto - một tínngưỡng không chỉ có tính thực dụng cho người dân mà còn có tính thựcdụng cho giới cầm quyền nên có sự hỗn dung Thần - Phật, trong đó yếu tốtrội là Thần

Người Việt Nam chấp nhận Phật giáo trên nền tảng tín ngưỡng thờcúng tổ tiên (tất nhiên có cả thờ thần tự nhiên), do đó tính quyền lực ởphương diện chính trị có phần ít đậm đặc Vì vậy người Nhật cũng trọngchữ "trung" nhưng là trung với thủ lĩnh còn Việt Nam cũng trọng chữ

"trung" nhưng là trung với vua, với tổ quốc Từ suy nghĩ như vậy, chúng

tôi đồng tình với tác giả bài Nghĩ về cấu trúc văn hóa Nhật Bản, đã viết:

Quá trình nhập ngoại của người Nhật bao giờ cũng trải quahai giai đoạn: sau một thời kỳ làm thợ (bắt chước) là thời kỳ làmthầy (cải tiến) Sự phát triển rực rỡ của Shinto Nhật Bản là một

Trang 20

minh chứng Bởi vậy, càng tiếp thu những yếu tố ngoại sinh, thìbản sắc văn hóa Nhật càng óng chuốt và nổi thêm sâu sắc [43, tr.506-507]

Hy vọng rằng, người Việt Nam trong quá khứ cũng đã từng làm đượcnhư người Nhật Bản thì ngày nay cũng có thể làm được điều kỳ diệu đó saocho vẫn tồn tại một vóc dáng văn hóa Việt Nam trong dòng thác của toàn cầuhóa

1.3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở NHẬT BẢN

Kể từ khi du nhập đến nay, Phật giáo ở Nhật Bản đã có lịch sử tồntại khoảng 1500 năm Trong khoảng thời gian đó, Phật giáo trải qua nhiềubiến cố, gắn chặt với sự phát triển của xã hội Nhật Bản Theo cách phân kỳphổ thông, có thể chia sự phát triển đó thành 7 thời kỳ chính

1.3.1 Phật giáo thời kỳ Asuka (300 - 710)

Phật giáo bắt đầu được truyền vào Nhật Bản dưới thời Kế Thể ThiênHoàng (507 - 531) nhưng mãi đến thời Thái Tử Shotoku (thế kỷ VI) mới đượctruyền bá công khai nên có thể xét Phật giáo sơ kỳ bắt đầu từ thời kỳ này.Nhiều học giả thống nhất năm Phật giáo truyền vào Nhật Bản là 538 [58, tr.3]

Khoảng hai đến ba tông phái được truyền vào Nhật thời kỳ này:

- Tông Sanron (Tam luận tông)

Đây là tông phái do vị sa môn nước Triều Tiên tên là Huệ Quan dunhập vào Nhật Bản năm 33 đời Suiko Tenno (Suy Cổ Thiên Hoàng) HuệQuan trụ trì ở chùa Nguyên Hương Dưới trướng của Huệ Quan có nhiều

đệ tử tài giỏi như Phúc Long, Trí Tạng, Đạo Tử

Giáo lý chủ yếu của Tông Sanron nằm trong ba bộ luận của Bồ tátLong Thọ (những âm Hán - Việt chưa tra cứu chính xác xin được giữnguyên phiên âm trong luận văn) mà nổi tiếng nhất là Trung quán luận

Trang 21

Trung quán luận là bộ sách luận về tương quan giữa các bề ngăn và thựctướng vạn vật mà kết luận được rút ra là mọi hiện tượng (vạn pháp) là hư,huyền và không tồn tại biệt lập Ngược lại, chúng tồn tại trong mối "tươngquan", "tương duyên" với nhau.

Vì tập tục thờ thần cũ, nên Phật giáo thời kỳ này đặc biệt coi trọngviệc cầu mong công đức với hình thức lễ Phật nhưng cầu thần Tư tưởng Jodo(Tịnh độ) của Phật giáo được người Nhật chấp nhận thay đổi cho tư tưởnghuyệt mộ Đối với người Nhật Bản, Jodo tức là sự thăng hoa của thế giớihuyệt mộ, do đó người ta cầu minh phúc bằng cách xây chùa Phật thay choxây mộ

Năm 645 sau khi chiếu thư đầu tiên về phát triển Phật giáo đượcban bố, Phật giáo nhanh chóng phát triển Đến cuối thế kỷ VII cả nước đã

có trên 540 ngôi chùa

- Tông Hosso (Pháp Tướng tông)

Phái này truyền vào Nhật Bản do công của Dosho (Đạo Chiêu)

khoảng năm 650 Theo cuốn Lịch sử Phật giáo thế giới thì dưới trướng của

Dosho có đến 3.000 đệ tử, 70 hiền sĩ Ngoài việc đạo, sự nghiệp của Doshocòn được ghi nhận như là người tích cực tham gia công ích xã hội, giúp dânđào giếng, đặt thuyền, bắc cầu

Giáo lý chủ yếu của Hosso tông dựa trên bộ luận gọi là "Thànhdung thức luận" của Bồ Tát Thế Thân Hosso tông chủ trương duy chỉ cócác "Thức", các tư tưởng trong tâm là thật Nó chứa tất cả vào trong nó.Vạn vật mà ta nhận thấy đều là sự phát luận của nó, cho nên đều là mộng

ảo Tóm lại vạn vật do thức biểu hiện mà thành Do đó khi tâm thức tịnhtĩnh, vắng lặng thì đồng nghĩa với chân lý

1.3.2 Phật giáo thời kỳ Nara (Nại Lương) (710 - 794)

Trang 22

Sau những cuộc đấu tranh quyết liệt giữa Shinto và Phật giáo, được

sự hậu thuẫn của tập đoàn do Soganoiname (Tô Ngũ Đạo Mục) và sau đó làThái tử Thánh Đức (Shotoku Taishi), Phật giáo bắt đầu thắng thế

Trong thời kỳ Nara, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và khá đa dạng.Lúc này ở Nhật có 6 tông phái Phật giáo chủ yếu bao gồm (kể cả hai tôngHosso và Sanron):

- Tông Jojitsu (Thánh đức tông)

- Tông Kusha (Câu xá tông)

- Tông Ritsu (Luật tông)

- Tông Kegon (Hoa Nghiêm tông)

- Tông Sanron

Trong thời kỳ Nara, Tông Sanron một tông phái đã tồn tại từ trước

-có phần suy yếu, nhất là vào cuối thời Nara Sự suy yếu này -có lẽ, một là

do những luận lý trừu tượng, khó hiểu của nó và hai là, do tâm lý ngườiNhật ưa thực dụng và ba là, do lý luận của nó khá khác biệt với tín ngưỡngbản địa vốn rất coi trọng những điều thực tế

- Tông Hosso

Trong thời Nara, Hosso tông là tông phái thịnh trị nhất Nó gópphần không chỉ tạo ra đông đảo những học giả hiền tài mà còn có ảnhhưởng mạnh mẽ về giáo nghĩa đối với Phật giáo ở Nhật Bản

- Tông Jojitsu

Là tông phái được du nhập vào Nhật Bản từ Triều Tiên tồn tại dướithời Nara Tên của tông phái là lấy theo tên bộ kinh "Thành thực luận" ỞNhật Bản tông này không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào tông Sanron và

số lượng tín đồ quá ít ỏi

Trang 23

Jojitsu tông được du nhập khoảng đầu thế kỷ thứ VII bởi nhà sưTriều Tiên là: Kiếc Tạng (Ekwan) và Khuyếc Lặc (Kwanro Ku).

Giáo nghĩa của Jojitsu tông cho rằng, bản ngã và vạn pháp là hư vô.Đời sống của con người là những chuỗi liên tiếp các hiện tượng luânchuyển nhanh chóng đầy tính giả tạm Nếu con người nhận ra tính giả tạm

và hư vô đó (vạn vật đều giả dối như bọt nước trên dòng sông, đều trốngrỗng như xác con ve) thì sẽ dứt bỏ được phiền não và đạt đến sự tịch tĩnh

- Tông Kusha

Cho đến nay, các nguồn tài liệu không cho phép đưa ra một kết luận

về thời điểm Kusha tông được du nhập vào Nhật Bản

Giáo lý của Kusha tông (kho tàng của phép siêu hình) dựa trên một

bộ luận nổi tiếng của nhà sư Vanshubac dhu là bộ "Abidharma-kasa-sastra"

Giáo lý chủ yếu của Kusha tông chủ trương "Pháp thể hữu vôkhông sinh diệt" (Pháp có mặc dù những sự vật cá thể là ảo ảnh)

- Tông Kegon

Kegon tông được truyền vào Nhật Bản vào năm 736 đời Thánh VũThiên Hoàng do vị tăng người Trung Quốc là Đạo Duệ mang vào và tăngRoben (Lương Biện), Shinjo (Thẩm Tường) hoằng pháp lấy chùa Todaiji(Đông Đại) trụ trì

Giáo lý của Kegon tông dựa trên căn bản của bộ hình Hoa Nghiêm.Kegon tông cho rằng, tư tưởng của Đức Phật và lời lành của ông rọi chiếuvạn vật Vạn vật ở thế đều liên hệ và tiếp ứng cho nhau, đồng soi sáng chonhau Phật và chúng sinh đồng một tính - tính Phật và cõi Châu như Phậtquyết đưa về cõi Giác tất cả chúng sinh Bao giờ còn một mạng phải vớt thìlòng Phật chưa yên Những bậc sáng suốt phải thấu rằng, cõi đời chẳngthật, song cái thật và không thật cùng bản tính như nhau, cho nên đắc được

Trang 24

cảnh tự nhiên ắt sẽ đắc đạo Vì vậy ở Nhật, Kegon tông có địa vị là tôn giáocủa đế vương.

- Tông Ritsu

Ritsu tông là tông phái do nhà sư đời Đường là Gián Châu mangvào Nhật Bản Ông là người huyện Giang Dương đất Dương Châu Năm 55tuổi có ý nguyện đi Nhật và sau 6 lần trải 11 năm mới toại nguyện

Đến đất Nhật, Gián Châu được tất thảy mọi người trong thànhngoài nội đặc biệt sùng ngưỡng và nghênh tiếp, được Thánh Vũ ThiênHoàng tặng Truyền Đăng đại pháp sư Ông đã trực tiếp thọ giới cho Tenno,Hoàng hậu, Hoàng Thái tử và 500 người khác

Giáo lý của Ritsu tông thừa nhận, muốn giải thoát không cần họcthuộc kinh vài quyển mà chỉ giữ tròn giới luật Nhờ giữ giới, "trì luật" nênsinh "định" Nhờ có Định mà phát Huệ

Qua sự du nhập và tồn tại của 6 tông phật giáo ở Nhật thời Nara, tathấy các tông đó không được truyền vào Nhật theo thứ tự như nơi chúngđược sinh ra mà tùy thuộc vào sự tiếp xúc của Nhật Bản với láng giềngTrung Hoa, Triều Tiên

Mặc dù có những dị biệt ở các tông phái đó đều phản ánh sự khaokhát hướng tìm bản chất của vũ trụ và để hướng đến nhận thức bản chất đóphải giải phóng tư duy khỏi mê chướng bởi ảo ảnh của giác quan Thêmvào đó chúng đều hướng con người tới những hoàn thiện mà trước hết vềđạo lý làm người

Trong thời Nara, có thể nói, Phật giáo có phần phát triển nhanh hơn

ở Trung Quốc và Triều Tiên cũng thời kỳ Sự tồn tại của nó mang lại chongười Nhật nhiều lợi ích nhất là lợi ích tinh thần Tuy nhiên, cũng để lạinhững hậu quả xấu (sẽ bàn ở phần kết)

1.3.2 Phật giáo thời kỳ Heian (Bình An) (794 - 1185)

Trang 25

Vào cuối thời kỳ Nara, Nhật Bản diễn ra tình trạng rối loạn về xãhội, đồi bại về chính trị do sự tranh giành quyền lực trong tầng lớp cầmquyền.

Trong nội bộ Phật giáo, thói hư tật xấu ở tăng ni cũng tràn lan Lý

do cơ bản là, sau thời kỳ phát triển mạnh nhờ sự nâng đỡ của chính quyền,nhiều tăng ni đã biến chất trở thành những kẻ mượn cửa chùa để làm việcphàm phu, ăn chơi, hưởng lạc Nhiều kẻ có dã tâm ngoài đời, vì chuộng sựnhàn tản và sung sướng nên cũng khoác áo sa môn

Trước tình hình đó vào năm thứ 13 niên hiệu Diên Lịch (794 theoCông lịch) Hoàn Vũ Thiên Hoàng đã quyết định dời đô tới Heian (Kyotongày nay) với mục đích chấn chỉnh kỷ cương, thống nhất dân tâm, đổi mớiphong khí

Ngoài những lý do trên, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, sở dĩTenno phải thiên di kinh đô tới Heian còn vì để tránh những áp lực của cácdòng họ giàu có, cũng như áp lực ngày càng gia tăng của giới tăng lữ phậtgiáo Vì lẽ ấy, trước đây khi thiên di kinh đô, các chùa viện Phật giáo cũngdời đi theo nhưng nay theo chỉ của Tenno, toàn bộ chùa viện vẫn ở chỗ cũ.Duy chỉ có vài chùa viện được xây dựng nhằm tạo bộ mặt cho kinh đô mới.Trong tình hình đó, Phật giáo xuất hiện thêm hai tông phái với hai gươngmặt đại diện Đó là tông Tendai (Thiên Thai) với sư tổ Saicho (Tối Trừng)

và Shingon (Chân ngôn tông) với sư tổ Kukai (Không Hải)

- Tông Tendai

Là tông phái được thành lập ở Trung Hoa bởi Trì Khải Đại sư tạinúi tông Tendai vào thế kỷ thứ VI Tông phái này tồn tại ở Nhật Bản gắnvới tên tuổi Saicho Ông là người đã từng tu ở chùa Heian, Todaiji nhưng

vì bất mãn với hiện trạng Phật giáo chỉ chạy theo hư danh mà phát tâm kim

Trang 26

cương thề nguyền không thoái không hoại, lên núi Hiyei (Tỳ Duệ), vàorừng ở ẩn để tịnh tâm, dứt tuyệt thị dục.

Thời đó, ở Nhật dù có kinh điển Thiên Thai do Gián Châu mangđến nhưng không phát triển Năm thứ 23 niên hiệu Diên Lịch (804 cônglịch), phụng chiếu Tenno, Saicho sang Trung Quốc học đạo

Tháng 5 niên hiệu Diên Lịch thứ 24 (805 công lịch) Saicho về Nhật.Năm sau xin lập tông Tendai Từ lúc tông Tendai ra đời, lập tức chịu sựphản bác mạnh mẽ của sáu tông phái đã tồn tại trước ở Nara Theo Saicho,Phật giáo thời đó chủ yếu là Phật giáo đô thị, sa vào lợi danh và Phật giáoTendai tông lại chủ trương xây dựng Phật giáo núi rừng, coi nhẹ lợi danh.Ông từng nói: "Trong cơm áo không có đạo tâm, trong đạo tâm có cơmáo"

Giáo lý cơ bản của tông Tendai dựa căn bản trên bộ Diệu pháp liên

hoa kinh với chủ trương vạn vật đều có Phật tính, đều có thể thành Phật.

Khi Saicho vào học đạo ở Trung Hoa, ông đã tiếp nhận tư tưởngcăn bản trên của tông Tendai Tuy nhiên, ông còn lĩnh hội nhiều tư tưởngkhác của Zen (Thiền tông), Ritsu tông và Mật tông Điều đặc biệt đáng nói

ở đây là chỗ, ở Nhật Bản dường như tín ngưỡng Phật giáo ít nhiều đượccộng sinh bởi các yếu tố Mật tông Có thể giải thích điều này bởi hai lý do,

một là do sự chi phối của tín ngưỡng Shinto, một thứ tín ngưỡng bản địa

chủ trương thờ Kami để được ban phúc, tránh họa; hai là do tâm lý người

Nhật ưa chuộng thực chất, ít quan tâm đến lễ siêu hình Vì lẽ ấy, các tôngiáo muốn được người ta tin theo phải tạo ra những công dụng thực tế Phậtgiáo ở Nhật Bản cũng vậy, ngoài việc tham gia các hoạt động từ thiện nhưnuôi dạy trẻ mồ côi, mở cơ sở chữa bệnh nó còn phải giúp con ngườitránh được ma tà và cao hơn nữa, chi phối được sức mạnh siêu hình đểphục vụ dân sinh nhất là trong điều kiện dân trí còn thấp, khoa học kỹ thuậtchưa phát triển Hơn nữa, các thế lực cầm quyền cũng rất muốn lợi dụng

Trang 27

các yếu tố của mật giáo với mục đích làm tăng tính thiêng liêng của quyềnlực Chẳng hạn Tenno có thể cùng sư tăng tham gia cầu đảo để gọi mưachống hạn hay trừ tiêu bệnh tật

Sau khi học đạo ở Trung Hoa trở về vào năm thứ 13 niên hiệuHoàng Nhân (năm 822 theo công lịch) lập Viện Shingon ở chùa Todaiji.Ông đã từng giảng kinh Nhật kinh sớ, làm lễ cầu khấn cho thánh thể Tennoyên ổn và quốc gia đại thịnh Vào năm 823 được ban cho chùa Todaiji làmđạo trưởng của Shingon tông Trong cuộc đời của mình, Kukai đã viết

nhiều sách Nổi tiếng là sách Tam giáo chỉ quy bàn về lẽ hay dở của tam đạo: Nho, Phật, Lão Sách Thập tục tâm luận bàn về sở đắc của Shingon

tông

Nhìn chung Shingon tông của Kukai đưa vào Nhật Bản là dựa trêncăn bản của Shingon tông được sáng lập ở Trung Quốc vào năm 719 bởiKim Cang Trí (Vajraboddhi) một nhà sư Ấn Độ Kinh nghĩa chủ yếu củaShingon tông là Đại nhật kinh, Kim cang đỉnh kinh

Giáo nghĩa chủ yếu của tông Shingon thừa nhận có những bí mật,huyền diệu trong vũ trụ Thông qua châm ngôn (những lời nói linh diệu -thần chú, những hành vi huyền diệu - bất ấn, những nghi lễ linh thương -bùa chú ) để tác động đến những huyền diệu

Trang 28

Thời Heian, Shingon tông phát triển mạnh và được chia thành haibộ: giác tướng và sự tướng Giác tướng thuộc về giáo lý, sự tướng là cáchlàm (hành pháp) Mặc dù tông Tendai cùng tồn tại nhưng (như đã nói rõ ởtrên) Shingon tông có ưu thế hơn và Tendai tông cũng mang nặng các yếu

tố Mật tông (Thai Mật)

Trong thời kỳ này, bên cạnh đông đảo tín đồ sùng bái Phật giáo,trong cung đình đã hình thành một thứ Phật giáo mà sử sách gọi là Phậtgiáo quý tộc Lý do là ở chỗ, Phật giáo có quan hệ mật thiết với Hoàng thất(có đến 15 Tenno trong tổng số 19 Tenno cắt tóc đi tu) Nhờ những quan hệđặc biệt ấy, Phật giáo được nâng đỡ, phát triển mạnh cả về tín đồ và chùaviện Người Hoàng thất coi đi tu là cao quý Tăng lữ xuất gia có giá trị vàđược đãi ngộ như tầng lớp quý tộc

Động cơ xuất gia của giới quý tộc lúc đầu cũng chỉ là vì tín ngưỡngnhưng sau đó có sự thoái hóa Họ được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi, trởnên giàu có và có quyền lực Họ được bổ nhiệm những trọng trách tronggiới tôn giáo Vì lẽ ấy cuộc sống của giới xuất gia càng ngày càng sa đọa.Đạo lúc này chỉ là cái cớ để giới xuất gia hưởng lạc thú trần tục

Sự sa sút phẩm hạnh của giới quý tộc và giới xuất gia vào nửa cuốithời kỳ Heian đã làm xuất hiện một tầng lớp mới: Võ quan, sự xuất hiệncủa võ quan đã đẩy Nhật vào thời kỳ đạo đời rối loạn, trị an thấp kém Cácchùa viện, do những tác động của nhiều nhân tố, để tự vệ, đã tự vũ trang vàdiễn ra những xung đột ác liệt giữa các chùa

- Tông Jodo

Từ giữa thời kỳ Heian, trong cảnh xã hội rối loạn, cuộc đời lắmchướng ngại nên dân gian xuất hiện nhu cầu muốn hướng tới một thế giớiđẹp đẽ Trong tình hình đó, tín ngưỡng A Di Đà dần được coi trọng vàđược tín ngưỡng hóa trong nhân gian sau khi tăng Không Dã xuất hiện

Giáo lý Jodo tông cho rằng cái tâm là căn bản, sự học chỉ là phươngtiện Vì vậy phải tin vào đức A Di Đà vì khi đã tin vào Ngài sẽ được an cư

Trang 29

lạc nghiệp và khi chết sẽ được vãng sanh ở chốn Tây phương cực lạc;Người tu theo Jodo, bất phân sang hèn, bất phân trình độ, dòng dõi đềubình đẳng trước Phật A Di Đà Họ chỉ cần dốc tâm niệm Phật, tâm niệm vềnơi tịch thổ thì khi chết không phải lặn ngụp trong cõi Ta Bà khổ não.

Có thể nói, trong thời Heian, Phật giáo ở Nhật Bản có sự phát triểnmạnh mẽ Ngoài 6 tông phái đã có từ thời Nara nay xuất hiện thêm nhiềutông phái khác Sự phát triển của Phật giáo sở dĩ có được như thế bởi mộtmặt, có sự nâng đỡ từ phía các tập đoàn cầm quyền do nó đã đáp ứng lợiích cá nhân của những kẻ quý tộc muốn tiến thân và mặt khác tạo dựngđược chỗ tựa về tư tưởng cho chính các Tenno Cũng thông qua Phật giáo,những văn minh của Trung Hoa được du nhập dù thời kỳ này quan hệ giữaNhật Bản và Trung Hoa càng về cuối càng tỏ ra lạnh nhạt và không thểsánh với thời kỳ Nara

1.3.3 Nhật Bản thời kỳ Kamakura (Khiếm Thương) (1185 - 1333)

Mở đầu thời kỳ Kamakura là sự dời đô từ Heian tới Kamakura củaTenno vào năm 1185 Trong thời kỳ này, Phật giáo có hai khuynh hướng

mới Một là, quay trở lại các tông phái của thời Nara; hai là sự xuất hiện

các tông phái mới trong Zen

Nguyên nhân của sự xuất hiện hai khuynh hướng trên ở chỗ, thứnhất, do ảnh hưởng của chiến loạn; thứ hai, do sự sa đọa của tăng lữ; thứ

ba, do quan hệ Nhật - Trung bắt đầu được thiết lập Những tác động trên đãlàm cho tín ngưỡng Phật giáo quay trở lại, hướng con người vào sự cầukhấn, bùa chú Mặt khác, do lẽ đời loạn lạc, tâm trạng con người bất an lạiđược cổ vũ bởi quan hệ Nhật - Tống nên mảnh đất của Zen xuất hiện

- Sự phục hưng của các tông phái thời Nara

* Kegon tông

Trang 30

Như đã trình bày ở phần trước, Kegon tông được du nhập từ TrungQuốc vào Nhật Bản nhờ công của Đạo Duệ, trong thời Heian, Kegon tông

có phần sa sút Năm 997 Trí Quang xây dựng Tôn Thắng viện ở chùaTodaiji cầu mong phục hưng tông phái này nhưng không thành công Sangthời Kamakura, các đệ tử của Kegon tông như Cao Biện (1172 - 1232),Ngưng Nhiên (1239 - 1321) mới thực sự chấn hưng được tông phái này

Điểm lưu ý của giai đoạn phục hưng Kegon tông là ở chỗ, các sưtăng không chỉ thuần Kegon mà trong tư tưởng có sự sùng tín nhiều tôngkhác, nhất là Shingon tông Chẳng hạn Cao Biện chủ trương Kegon và Mậtnhất trí, nguyện vãng sanh cõi trời đâu suốt hay như Ngưng Nhiên là ngườitinh thông các sách thanh minh, âm luật, quốc sử và cả thần thư

* Hosso tông

Đây là tông được hình thành từ thời Nara Đến thời Heian thì suy

vi Đến cuối thời Heian, các cao tăng như Tụng Tuấn, Giác Hiếu, DịchKhánh chủ tâm trung hưng Mặc dù chủ trương đạt đến một tâm thức vắnglặng (vì tâm động thành cảnh) nhưng Hosso tông cũng có sự pha tạp củacác tông phái khác như Jodo tông, Ritsu tông Các cao tăng của Hosso tôngcũng có người mong cầu được vãng sanh nơi cực lạc và là những người rấtcoi trọng luật ghi

Trang 31

Người có công lao phục hưng Ritsu tông là Thực Phạm Ông đã dốc

sức phục hưng tông Luật và đã để lại cho đời bộ sách Đồng Đại tự giới đài

việc thụ giới thức (nghi thức thụ giới của việc giới đàn chùa Todaiji) vào

năm 1122 Tiếp theo Thực Phạm là Tạng Tuấn, Giác Hiếu, Trịnh Khánh,Giới Như cũng rất nỗ lực cổ xúy Ritsu tông

- Shin (Tịnh độ chân tông) và Nichiren (Nhật Liên tông)

Jodo tông là tông phái Phật giáo đã có từ thời Heian, tuy vậy nó chỉ

là tông phái yếu về thế lực và phụ thuộc vào các tông khác Sang thờiKamakura, dưới sự nỗ lực của sư Genko (Nguyên Không) mà nó trở thànhmột tông phái độc lập Genko {còn gọi là Hozen (Pháp Nhiêu Thượng)}(1133 - 1212) là người vốn đã học Tendai tông Sau đó nghiên cứu cả

"Vững sanh yếu tập" của Nguyên Tín dòng Jodo và "Quá vô lượng thọkinh" mà quyết tâm theo Jodo tông (1175)

Jodo tông là đạo đi cứu rỗi tất cả mọi người, tạo đường sống lại cho

cả những kẻ nghèo khó, không có tiền tài dựng đền đắp tượng hoặc nhữngngười không được học hành tu luyện cho nên từ tầng lớp quý tộc cho đếnloại đầu trộm đuôi cướp đều có thể tham gia Vì vậy, sự phát triển của Jodotông đã bị các tông phái khác kịch liệt phản đối vì cho rằng Genko đã nhạobáng các tông khác, coi nhẹ pháp giới và họ đã dâng biểu tâu trình lên triềuđình để phản đối Vào năm 1207 niên hiệu Kiến Vĩnh thứ hai, triều đình ralệnh bắt giữ và xử thầy trò Genko vào trọng tội (có 4 người tử hình, 8người đi đày trong đó có Genko) Năm 1211 ông được ân xá và tịch năm

1212 Mặc dù bị bức hại nhưng Jodo tông vẫn phát triển Vào các năm

1244, 1688, 1712 Genko liên tục được các Tenno truy phong tên hiệu Vềsau các đệ tử của Genko đã sáng lập ra tông Shin và một số tông phái khác

Cùng với Genko Shinran (Thân Loan) (1173 - 1262) chuyên tupháp môn niệm Phật, cùng bị tù đày với Genko Ông đã lấy vợ trong thờigian bị đày, sau được tha và tiếp tục hoằng thông niệm Phật suốt hai mươi

Trang 32

năm Tác phẩm tiêu biểu của ông là Tịnh độ chân thực giáo hành chứng

văn loại gồm 6 quyển Tư tưởng tôn giáo của Shin hết sức bình dị về mặt

thực hành, là đạo dễ hành nhưng hệ thống tư tưởng tôn giáo là sản phẩmcủa quá trình đi từ tìm hiểu đến hành chứng Ông vượt qua việc nhấn mạnhlòng tin tuyệt đối vào quyền lực cứu vớt của Adiđà và hệ quả tất yếu củađiều đó là gạt bỏ hoàn toàn lòng tin vào bất cứ cái gì khác trên thế giới, kể

cả bản thân Ông cho rằng, chỉ cần tin vào Adiđà là có thể đạt tới sự giácngộ Ông bác bỏ tổ chức tự viện truyền thống, tán thành việc môn đồ có thểlấy vợ và có cuộc sống bình thường, từ đó việc tăng lữ được kết hôn landần sang các tông phái khác và trở thành một điều phổ biến, bình thường ởNhật

Dốc lòng tôn thờ Adiđà, bình đẳng trước Phật pháp, thành thựctrong cuộc sống là chủ trương của Shin

Sau khi pháp môn Jodo tông của Genko ra đời khoảng 80 năm thì ởNhật xuất hiện thêm dòng Nichiren Lấy tín ngưỡng Pháp hoa làm căn bản

Theo Đoàn Trung Còn trong cuốn Các tông phái đạo Phật [6] thì Nichiren

sinh vào năm 1222 và mất năm 1282 Ngài đã từng thọ giáo Shingon tông,sau đó Tendai tông và tin vào kinh Diệu pháp liên hoa Theo giáo nghĩa,Nichiren tin rằng, các tông phái khác sai lầm chỉ tin vào Tam Thừa mà khôngthấy rằng chính Nhất Thừa mới là rốt ráo của Phật tổ Vì thế ngài kịch liệtphải đối Jodo tông, Ritsu tông và cho rằng đó là những tà phái Thái độcủa Nichiren đã làm xúc phạm đến các tông phái khác và ngay cả niềm tincủa giới cầm quyền ở Mạc Phủ Vì vậy ông bị truy bức, bị đi đày Ông đã

soạn ra bộ Đối tự sao để bàn về việc bảo vệ quốc gia và bộ " bày tỏ thái độ

phản đối các tông khác và ủng hộ Pháp hoa Theo ông "Niệm Phật lànghiệp địa ngục vô gián, Zen là của Thiên ma, Shingon là tội mất nước,

Ritsu tông là giặc nước nói xằng" Trong cuốn Lịch sử Phật giáo thế giới

có chép rằng:

Trang 33

Cả cuộc đời, Nichiren vì tín ngưỡng của mình mà khôngngại xông pha nguy hiểm, tỏa ra một thứ ánh sáng đặc biệt củacuộc đời một nhà tôn giáo Tinh thần đó bắt nguồn từ tinh thầndân tộc Nhật Bản và hoàn cảnh địa lý của Nhật Bản Tính kiêncường của Phật giáo Nhật Bản được gắn liền với tinh thần đó.Nhưng cũng vì tinh thần đó, cho nên sự ngăn cách giữa các tôngphái rất vững chắc [6].

- Sự du nhập và phát triển của Zen

Như đã trình bày ở phần trước, vào thời Nara có 6 tông phái pháttriển, đến thời Heian lại có thêm ba tông phái mới Điểm lưu ý là, các vị tổ

sư của các tông phái trên ít nhiều đều học Zen như Đạo Chiêu, Đạo Duệ,Saicho Đến đời Đường, có nhà sư Trung Hoa hiệu là Nghĩa Không đếntruyền Zen ở Nhật Bản Theo Đoàn Trung Còn [6], vào thế kỷ thứ VIII năm

729 có Dôsen (Đạo Tuyên), đại sư người Tàu có truyền Zen vào Nhậtnhưng không được hoan nghênh lắm Đến thế kỷ XII (năm 1168) có đại sưEisai (Vĩnh Tây) (1141 - 1215) sang Tàu học Zen phái Rinzai và truyền

vào Nhật Bản gọi là Rinzai Eisai đã viết Hưng thiền hộ quốc luận (3

quyển), phân tích nguồn gốc Zen và chứng minh quốc gia không thể thiếu

Zen Ông còn viết Xuất gia đại cương để nói rõ thiên chức việc xuất gia.

Ông không chỉ truyền bá Zen mà còn làm cho Zen phát triển và thịnhvượng Ông chú ý phương pháp dưỡng sinh bằng trà và "Trà đạo" đượcxuất hiện ở Nhật

Vào năm 1223 có sư Dôgen (Đạo Nguyên) (1200 - 1253) sang Tàuhọc phái Soto (Tào Động) và trở thành tổ thứ nhất phái Soto ở Nhật Ônggiữ giới luật nghiêm túc và theo lời giáo huấn là "không thân cận quốcvương và đại thần" [25, tr 577] Ông khác với Eisai của phái Rinzai là từ

chối sự hậu đãi, dung nạp của giới quyền quý Tác phẩm của ông có Chính

Trang 34

pháp nhãn tạng (95 quyền), Vĩnh bình quảng lục (10 quyển), Vĩnh bình thanh quy (2 quyền), Học đạo dụng tâm tập (1 quyển) [25, tr 577].

Như vậy, vào thời Kamakura, bên cạnh Jodo tông và Nichiren tông,còn có thêm Zen cũng phát triển rất mạnh Sự phát triển của Zen giai đoạnnày đã đưa đến một sự dung hợp mới giữa Nho, Phật và tư tưởng của tầnglớp võ sĩ đạo Có thể nói trong thời đại Kamakura, Shin, Nichiren và Zen là

ba dòng Phật giáo mới và trở thành đặc sắc của Nhật Bản, cũng như nóiZen là sản phẩm của Phật giáo Trung Hoa

1.3.4 Phật giáo thời Muromachi (Nam Bắc triều) (1333 - 1568)

và Azuchi - Momoyama (Thất Đinh) (1568 - 1600)

Trong thời Muromachi và Azuchi - Momoyama, xã hội Nhật Bản

có xảy ra nhiều rối loạn Các quan viên sát phạt lẫn nhau làm cho quyền lựccủa triều đình có nhiều nguy khốn Trước tình thế đó, Tenno phải thiên đôtới Cát Dã làm xuất hiện cục diện Muromachi

Tình hình đó kéo dài mãi cho tới thời Nghĩa Mãn (1368 - 1394) mớikết thúc, khôi phục chế độ Mạc Phủ, gọi là thời kỳ Azuchi - Momoyama

Đối với Phật giáo thời kỳ này có sự phát triển mạnh mẽ của Zen,Nichiren tông và Jodo tông

- Zen thịnh vượng:

Zen thời kỳ này nhờ có sự quy y của triều đình mà trở nên thịnhvượng Các dòng Soto, Rinzai đều phát triển

Dòng Rinzai với các đại ca tăng như Mộng Long (1276 - 1351) hiệu

là Sơ Thạch và quốc sư Đại Đăng (1282 - 1337) hiệu là Diệu Sao đã trởthành nhân vật nổi tiếng thúc đẩy dùng Rinzai phát triển Các sư tăng này

đã rất được triều đình quý trọng, cho ra vào cung cấm thuyết pháp và trựctiếp làm lễ thọ giới cho nhiều thân thích Hoàng gia Triều đình đã sắcphong Mộng Long và Đại Đăng làm quốc sư

Trang 35

Thời kỳ này Tenno thực hiện chế độ đội ngũ sơn thập sát theo kiểuTrung Hoa Họ chọn lấy hai trung tâm là kinh đô và Kamakura mỗi nơichọn một chùa nổi tiếng hợp hai ngũ sơn thành Thập Sát, tôn làm chùaquốc gia Lại đặt chùa Nam Thiên ở kinh đô lên cao nhất trong Thập Sát.

Nếu như dòng Rinzai phổ biến ở cung đình thì dòng Soto lại pháttriển mạnh cho quan viên địa phương và dân dã Pháp hệ của họ từ TrungQuốc, Bắc Lục mà phát triển đến Cửu Châu, tiếp cận các địa danh, các địaphương, lại xây dựng căn cứ trong nông dân và chỉ cố gắng giáo hóa cáctầng lớp dưới của xã hội nên nhanh chóng phát triển Dòng Soto lấy BắcLục làm trung tâm phát triển đến Áo Châu, Cửu Châu và khác với Rinzaichủ yếu phát triển ở Kamakura và kinh đô

- Tông Nichiren và tông Jodo

Hình thành từ thời Kamakura và đã có những phát triển nhất địnhsong Nichiren tông chỉ phát triển mạnh mẽ vào thời Muromachi và Azuchi

- Momoyama Trong thời kỳ này đã sản sinh nhiều vị cao tăng đắc đạo màthiên hạ đến ngày nay còn ca tụng trong đó có "Lăng môn cửu phượng"(chín con phượng dưới cửa Nhật Lãng) Dòng Nichiren phát triển và phânthành hai phái: Thắng Luật và Nhất Trí Sự khác nhau giữa hai phái là ởchỗ, phái Thắng Luật cho rằng giáo nghĩa môn phái mình và môn phái xưa

có chỗ cao thấp khác nhau Phái Nhất Trí lại khẳng định giáo nghĩa củamôn phái mình và môn phái xưa là nhất trí Trong phái Thắng Luật lại chiathành 5 phái nhỏ và phái Nhất Trí chia thành 3 phái nhỏ

Vào cuối thời Azuchi - Momoyama nhân tài xuất hiện nhiều, thếlực dòng Nichiren lớn mạnh Chỉ riêng ở kinh đô đã có 21 chùa Hơn nữa

vì thái độ phê phán gay gắt các tông phái khác nên tông Nichiren chịu sựphản ứng mạnh mẽ Năm đầu niên hiệu Thiên Văn (1532) chùa BảnNguyên của tông Nichiren bị đốt Năm năm sau (1537) toàn bộ 21 chùa của

Trang 36

tông Nichiren ở kinh đô bị thiêu hủy toàn bộ và sử gọi đây là thời kỳ loạnPháp hoa đời Thiên Văn 6 năm sau sự kiện đó (năm 1543) tông Nichirenkhôi phục trở lại được 15 chùa Từ đó về sau những đệ tử của Nichirenkhông còn dám công kích, phỉ báng các tông phái khác nữa.

Riêng tông Jodo thời kỳ này cũng có sự phát triển vượt bậc và phânhóa thành nhiều hệ phái lớn nhỏ Nét nổi bật của cuối thời Azuchi -Momoyama là, giữa các tông phái Phật giáo liên tục có sự hiềm khích, gâyhấn Đạo binh của các chùa thường sát phạt lẫn nhau để tranh giành thế lực,bành trướng về mặt chính trị Những xung đột đó kéo dài cho đến năm thứ

11 niên hiệu Thiên Chính (1583) mới cơ bản kết thúc

Có thể nói, thời Muromachi và Azuchi - Momoyama, cả ba tôngphái Zen, Jodo, Nichiren đều phát triển Chúng đều có quan hệ mật thiếtvới đời sống xã hội, trở thành trung tâm kinh tế của xã hội Nhà chùa đãtiến hành hàng loạt hoạt động kinh tế như tổ chức các ngân hàng địaphương, kinh doanh phương dược, quán trọ, phòng tắm vì vậy thế lựckinh tế rất hùng hậu Ngoài ra, chùa viện còn trở thành các trung tâm họcthuật Nhà chùa kèm luôn chức năng của nhà trường Trên lĩnh vực vănhọc, nghệ thuật, dấu ấn của Phật giáo cũng cực kỳ sâu đậm

1.3.5 Phật giáo thời kỳ Edo (Giang Hộ) (1600 - 1868)

Mặc dù thời kỳ Muromachi và Azuchi - Momoyama Phật giáo tiếptục có những bước phát triển mới nhưng do đấu tranh nội bộ, xung đột bạolực giữa các tông phái gia tăng cũng như sự lạm dụng Phật giáo để tăngcường thế lực của thế tục mà cuối thời này Phật giáo có sự sa sút Sự sa sút

đó còn được tạo bởi sự lớn mạnh trở lại của tư tưởng Nho giáo, Shinto và

sự cạnh tranh của đạo Kytô (được du nhập vào Nhật năm 1549) Thêm vào

đó, do chính sách mới của giới tục quyền mà Phật giáo trở nên xơ cứng,thiếu sinh động và rơi vào trạng thái trì trệ Tình hình này cũng gây bất lợi

Trang 37

cho Phật giáo, nhất là khi quốc gia bị chia cắt, biệt lập bởi sự cạnh tranhgiữa các tướng quân.

Trong bối cảnh đó, nhiều hào kiệt khắp nước có tâm nguyện đứnglên thống nhất quốc gia Người khởi xướng là Chức Điều Tín Trường vàsau đó là Phong Thần Tú Cát sau khi Phong Thần Tú Cát bị Mạc Phủ ĐứcXuyên diệt (năm 1600), thủ đô được thiên di về Edo (Tokyô ngày nay)

Để thống nhất lại quốc gia bị chia cắt, từ Chức Điều Tín Trườngđến Tú Cát và Đức Xuyên đều tìm cảnh thâu tóm thế lực từ tay Phật giáo.Nếu như Tú Cát sử dụng chính sách tịch thu bất động sản của nhà chùa rồi

bố thí một phần trở lại để nắm mạch máu kinh tế của nhà chùa, lợi dụng thếlực một số chùa để kiềm chế những chùa khác, thì Đức Xuyên lại dùngchính sách bảo hộ và can dự, đưa Phật giáo dần dần vào hệ thống chínhquyền phong kiến Đức Xuyên đã dùng các Pháp độ để qui định các quan

hệ mọi mặt của chùa viện Năm 1608 ban pháp độ 7 điều qui định tư cáchcác chùa, cấp bậc tăng tài, y phục và danh hiệu cho sư tăng trong đó thừanhận chùa nhánh phải chấp hành mệnh lệnh của chùa gốc Những chínhsách này đã có những tác dụng tích cực, làm hạn chế xung đột giữa cácchùa, đặt các chùa vào sự quản lý của Mạc Phủ Ngoài ra còn ra pháp độnăm 1615 tước bỏ quyền can thiệp của tục pha vào các chùa

Khi Cơ Đốc giáo được du nhập, Chức Điều Tú Trường lại bảo hộ

Cơ Đốc giáo để kiềm chế Phật giáo Tư Cát lấy cớ Cơ Đốc giáo khinh miệtThần Xã và Phật giáo, lại có dã tâm dòm ngó lãnh thổ nên ra lệnh cấm chỉ(năm 1578) Đến thời Đức Xuyên, lúc đầu cho Cơ Đốc giáo phát triển tự donhưng sau đó vì hành vi của tín đồ trái chuẩn mực phong kiến truyền thốngnên cuối cùng cũng bị cấm Năm 1637 tín đồ Cơ Đốc giáo gây bạo loạn vàMạc Phủ bắt đầu thi hành chính sách bế quan tỏa cảng Để tiêu diệt tận gốc

Trang 38

Cơ Đốc giáo, Mạc Phủ lợi dụng Phật giáo đưa ra chế độ "Tự đàn" Tự đànthực chất là bắt người dân phải đăng ký vào một ngôi chùa nào đó và phảicung cấp nuôi sống nhà chùa Giai đoạn này tăng lữ phật giáo có đặc quyềnthi chứng hộ tịch, hộ khẩu Vì lẽ ấy mặc dù nhà chùa có cuộc sống ổn địnhnhưng sự phát triển cũng trở nên xơ cứng.

Trong thời kỳ này, Nhật Bản ngoài hai phái Zen đã có từ thờiMuromachi là Soto và Rinzai còn xuất hiện thêm một phái thứ ba Phái này

do một cao tăng người Trung Hoa tên là Ingen (Ẩn Nguyên) vốn theo dòngRinzai truyền vào năm 1653 Ingen chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởngThiền Tịnh hợp nhất là chỗ khác biệt với dòng Rinzai truyền thống Năm

1658 được tướng quân Gia Cương ban cho đất của Sơn Thành Trị Vũ đểxây chùa Năm 1661 chùa xây xong lấy tên là Vạn Phúc núi Hoàng Bá nêndòng thiền này thường được gọi là Hoàng Bá

Từ năm 1600 kể từ khi Gia Khang Đức Xuyên lập Mạc Phủ Giang

Hộ, ông đã từng ban phát cho các chùa những khoản tiền dưới danh nghĩakhuyến khích học vấn Từ đó các chùa thi nhau lập ra các cơ cấu giáo dụcgọi là Đàn Lâm, Học Hiệu, Học Lâm nhờ việc học phát triển nên cácdòng cũng xuất hiện nhiều học giả có uy tín

Mặc dù việc nghiên cứu kinh điển, giáo lý Phật giáo có những tiếntriển song vì thời kỳ này về mặt tư tưởng bị các Mạc Phủ khống chế nêntính chất giáo điều của Phật giáo gia tăng Lịch sử gọi Phật giáo thời này làPhật giáo đọc kinh

Trước áp lực ngày càng tăng của giới Nho học lại thêm những hiểmhọa từ các quan hệ với Nga, Mỹ cùng hàng loạt các nước phương Tây nhưTây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan nên chính quyền quân sự Takagawacộng với nạn đói kém của dân chúng đã làm tăng sự căng thẳng xã hội Kếtquả là năm 1836 đã có cuộc bạo động lớn được đông đảo dân chúng tham

Trang 39

gia Nhân cơ hội ấy, các nho sĩ ở vùng Mito (Thủy Hộ) đã mở đầu cho việcphế Phật, hủy hoại chùa chiền, đào thải tăng ni, phá tượng Phật đúc đạibác diễn ra năm 1843 năm thứ 14 niên hiệu Thiên Bảo.

Trước tình trạng nguy cấp, lúc này xã hội xuất hiện chủ nghĩa "Tônvương nhương di" Tư tưởng này chín muồi buộc chính quyền quân sựTakagawa phải đem chính quyền trả lại cho Tenno Từ đây chiến dịch bãiPhật phát triển, truyền thống Thần - Phật hợp nhất dần dần bị mai mộtnhường chỗ cho sự khôi phục vị thế quốc đạo của Shinto vào thời kỳ Meiji(Minh Trị duy tân)

1.3.6 Phật giáo từ thời Meiji

Thời kỳ Meiji (1868 - 1912) là kỷ nguyên của những thay đổi lớn ởNhật Động cơ của những thay đổi là do nhu cầu phải tự vệ quốc gia khinước Nhật buộc phải đương đầu với các thế lực Âu - Mỹ và châu Á - TháiBình Dương Các nhà lãnh đạo Meiji tin tưởng rằng chỉ có khả năng quân

sự mạnh mới bảo vệ được đất nước Điều này đòi hỏi một nền tảng côngnghiệp mạnh và kinh tế vững chắc Khẩu hiệu của chính sách này là:

"Nước giàu - quân mạnh"

Nhờ những cải cách về chính trị mà nền tảng là Hiến pháp năm

1885, Tenno Meiji đã thâu tóm được những quyền hành to lớn và trở thànhbiểu tượng thiêng liêng của dân tộc

Để củng cố thế lực, quyền hạn, chính quyền Meiji đã lợi dụng đức tinvào đạo Shinto để thiết lập một cơ cấu chính trị ổn định tập trung vào Tenno

Trong những năm đầu thời kỳ Meiji các tổ chức tôn giáo

có sức mạnh đáng kể trong chính phủ, mặc dù tính ưu thế của họđối với phái thế tục trong chính phủ lại mang tính hình thức chứkhông phải thực chất trong Hiến pháp 1889, những tổ chức tôngiáo như vậy không có vị trí chính thức nhưng uy thế tôn giáođối với cơ quan Tenno là một thứ vũ khí đầy quyền lực Những

Trang 40

nghi thức cổ xưa liên quan tới Tenno đã được chính thức hóatrong cái được gọi là đạo Shinto, Nhà nước trở thành một phầncăn bản trong đời sống người Nhật Những sắc chỉ và những chỉ

dụ của Tenno có ý nghĩa thiêng liêng [2, tr 95]

Trong bối cảnh như vậy, Phật giáo lâm vào một giai đoạn cực kỳkhó khăn Đầu tiên vào năm 1867 triều đình tuyên bố vương chính phục cổ,đến tháng 3 năm 1868 tuyên bố Thần - Phật phân ly Ngoài ra y phục, cách

ăn uống của tăng ni cũng phải trở về như người phàm tục Tên Thần linhtheo Phật ngữ cũng bị đổi lại, tăng ni bị cưỡng ép hoàn tục và tiến hành hợpnhất nhiều chùa Phật thành một chùa lớn

Những chính sách của Meiji đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt củaPhật giáo Chính quyền buộc phải tuyên bố: Thần - Phật phân ly chứ khôngphải bãi Phật Cuộc đấu tranh quyết liệt của Phật giáo mà đi đầu là các sưtăng của Shingon tông, Nichiren tông đã dần dần buộc chính phủ Meijiphải thay đổi quan điểm Năm thứ 22 đời Meiji đã ban bố Hiến pháp trong

đó điều 28 qui định tín ngưỡng tự do

Trước những khó khăn do sự o ép của chính quyền, để tồn tại, Phậtgiáo phải tự thích nghi và đổi mới Quá trình này diễn ra theo các trọngđiểm như sau:

- Tự làm trong sạch phẩm hạnh, tăng cường đào tạo những tăng ni

Ngày đăng: 12/04/2013, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w