1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010

65 418 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 598,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Các bệnh nhiễm khuẩn là một trong mười nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở Việt Nam, kinh phí chi cho kháng sinh chiếm trên 50% tổng tiền thuốc sử dụng tại tất cả các bệnh viện

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

THI THỊ TUYẾT THANH

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG KHÁNG SINH NGOÀI LAO TẠI BỆNH VIỆN LAO

& BỆNH PHỔI BẮC NINH NĂM 2010

LUẬN VĂN DSCK CẤP I

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 2

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

THI THỊ TUYẾT THANH

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG KHÁNG SINH NGOÀI LAO TẠI BỆNH VIỆN LAO

& BỆNH PHỔI BẮC NINH NĂM 2010

LUẬN VĂN DSCK CẤP I CHUYÊN NGHÀNH DƯỢC LÝ DƯỢC LÂM SÀNG

MÃ SỐ: CK62730505

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Liên Hương

Nơi thực hiện đề tài: Trường đại học Dược Hà nội

Thời gian thực hiện: 30/6/2011 – 30/9/2011

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Liên H-ơng – Trưởng Bộ môn D-ợc lâm sàng, Tr-ờng Đại học D-ợc Hà Nội – ng-ời thầy đã trực tiếp h-ớng dẫn, giúp

đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và các Bác

sĩ, D-ợc sĩ đang công tác tại Bệnh viện Lao & Bệnh phổi Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi khảo sát, nghiên cứu và thực hiện Luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của Tr-ờng Đại học D-ợc Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy

và truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ khóa học

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận đ-ợc sự động viên, khích lệ của gia đình; sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè và đồng nghiệp Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vì sự giúp đỡ quý báu đó

Trang 4

MỤC LỤC Trang ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1

PHẦN 1 TỔNG QUAN……… 2

1.1 Giới thiệu về Bệnh viện Lao và bệnh phổi Bắc Ninh 2

1.2 Sơ lược về kháng sinh……… 4

1.2.1 Nguyên tắc sử dụng kháng sinh……… 4

1.2.2 Đại cương về các nhóm kháng sinh sử dụng tại Bệnh viện……… 6

1.2.2.1 Các nhóm kháng sinh……… 6

1.2.2.2 Một số tương tác……… 28

PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu……… 29

2.2 Phương pháp khảo sát……… 29

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu……… 29

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin……… 29

2.3 Các chỉ tiêu khảo sát……… 29

2.3.1 Đặc điểm chung của mẫu khảo sát……… 29

2.3.2 Tình hình sử dụng kháng sinh trong bệnh viện……… 30

2.4 Xử lý số liệu……… 30

PHẦN 3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT……… 31

Trang 5

3.1 Đặc điểm chung của mẫu khảo sát……… 31

3.1.1 Tuổi – giới tính……… 31

3.1.2 Tình trạng tuyến nhập viện và BHYT……… 32

3.1.3 Đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân……… 33

3.2 Tình hình sử dụng kháng sinh trong mẫu nghiên cứu……… 35

3.2.1 Lý do chỉ định dùng kháng sinh……… 35

3.2.2 Tỷ lệ bệnh nhân đã sử dụng kháng sinh trước lúc nhập viện……… 35

3.2.3 Các kháng sinh đã sử dụng tại bệnh viện……… 36

3.2.4 Các phác đồ trong quá trình điều trị……… 37

3.2.5 Các phác đồ thay đổi trong quá trình điều trị……… 40

3.2.6 Liều dùng của một số kháng sinh đã sử dụng trong điều trị……… 42

3.2.7 Độ dài đợt điều trị bằng kháng sinh……… 43

3.2.8 Tác dụng không mong muốn……… 43

3.2.9 Hiệu quả điều trị……… 43

PHẦN 4 BÀN LUẬN……… 45

4.1 Về tình hình ở Bệnh viện Lao & Bệnh phổi Bắc Ninh năm 2010 45

4.2 Về tình hình sử dụng kháng sinh trong bệnh viện……… 45

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……… 48

Trang 6

DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

1.1 Mô hình bệnh tật Bệnh viện Lao & Bệnh phổi Bắc Ninh

năm 2010

3

3.2 Tình trạng tuyến nhập viện và BHYT của bệnh nhân 33

3.7 Tỷ lệ các kháng sinh được chỉ định trong phác đồ đơn 38

3.10 Liều dùng của các kháng sinh đã sử dụng trong điều trị 42

3.11 Thời gian sử dụng kháng sinh tại bệnh viện 43

3.12 Kết quả điều trị của bệnh nhân lúc ra viện 44

Trang 7

DANH MỤC HÌNH TRONG LUẬN VĂN

1.1 Mô hình bệnh tật Bệnh viện Lao & Bệnh phổi Bắc Ninh 4

3.5 Tỷ lệ kháng sinh được chỉ định trong phác đồ đơn 38

3.6 Tỷ lệ phác đồ phối hợp được chỉ đinh trong điều trị 40

3.7 Kết quả điều trị của bệnh nhân lúc ra viện 44

Trang 8

QUI ƯỚC VIẾT TẮT

CSBVSKND : Chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các bệnh nhiễm khuẩn là một trong mười nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở Việt Nam, kinh phí chi cho kháng sinh chiếm trên 50% tổng tiền thuốc sử dụng tại tất cả các bệnh viện [16] Do vậy kháng sinh là nhóm thuốc cần được quan tâm hàng đầu nhằm đảm bảo mục tiêu sử dụng thuốc hợp lý an toàn của Ngành Y tế Sử dụng không hợp lý kháng sinh sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như:

Không đảm bảo hiệu quả điều trị (điều trị kéo dài hoặc thất bại)

Gia tăng tính kháng thuốc (xuất hiện nhanh các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh)

Lãng phí về kinh tế, không đảm bảo an toàn cho bệnh nhân…

Vi khuẩn kháng kháng sinh đang là vấn đề nhức nhối mang tính toàn cầu [18] Nghiên cứu, đánh giá thực trạng sử dụng kháng sinh, từ đó tìm ra các điểm bất hợp lý làm cơ sở để có các giải pháp can thiệp là một vấn đề lớn, được thực hiện ở tất cả các quốc gia là nội dung không mới, các đề tài trong nước liên quan đến vấn đề quản lý sử dụng kháng sinh đã có nhiều và đã phần nào phản ánh được thực trạng sử dụng kháng sinh bất hợp lý [12,19]

Chúng tôi đã tổ chức khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện Lao & bệnh phổi Bắc Ninh là một đơn vị sử dụng nhiều kháng sinh trên bệnh nhân, đưa ra một số thông tin cơ bản trong việc sử dụng kháng sinh tại bệnh viện

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài “Khảo sát việc sử

dụng kháng sinh ngoài lao tại Bệnh viện Lao và bệnh phổi Bắc Ninh năm 2010” với

mục tiêu:

- Khảo sát đặc điểm bệnh nhân phải sử dụng kháng sinh tại bệnh viên Lao

và bệnh phổi Bắc Ninh

- Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trong mẫu nghiên cứu

Từ đó đưa ra một số đề xuất về việc quản lý và sử dụng kháng sinh tại bệnh viện

Trang 10

PHẦN I: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về Bệnh viện Lao và bệnh phổi Bắc Ninh

Bệnh viện Lao và bệnh phổi Bắc Ninh tiền thân là Trạm phòng chống lao Bắc Ninh, được tách ra từ trạm phòng chống lao Hà Bắc năm 1997, đến năm

2001 được đổi tên thành Bệnh viện Lao và bệnh phổi Bắc Ninh Là một đơn vị y

tế công lập trực thuộc Sở Y tế Bắc Ninh Bệnh viện có nhiệm vụ khám, chữa bệnh , chỉ đạo tuyến và thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc gia về phòng chống bệnh lao

Bệnh viện có 4 khoa 2 phòng với hơn 60 cán bộ Cơ sở vật chất là các hạng mục tiếp nhận của Bệnh viện Đa khoa tỉnh cũ, hiện tại Bệnh viện đang trong giai đoạn xây mới với qui mô 150 giường bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân [1]

Bệnh viện hoạt động bằng nguồn ngân sách nhà nước cấp, nguồn thu từ dịch

vụ khám chữa bệnh ít do đặc thù chuyên ngành lao với đa số bệnh nhân là người nghèo

Trang thiết bị thiếu nhất là các thiết bị hồi sức cấp cứu và cận lâm sàng như nuôi cấy làm kháng sinh đồ…

Mô hình bệnh tật phức tạp cũng là đặc điểm chính của chuyên ngành Lao

Trang 12

Ho ra máu Suy hô hấp Tràn khí màng phổi

Sơ gan Ung thư phổi & màng phổi Lao phổi

Tràn dịch + lao màng phổi Lao kê phổi

Lao xương khớp +cột sống Lao màng não

Lao/Đái tháo đường Lao/HIV

Lao hạch Khác

Hình 1.1: Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Lao & Bệnh phổi Bắc Ninh

Năm 2010

Hiện tại Bệnh viện có 4 khoa, mỗi khoa với 36 giường bệnh, với tổng chi phí tiền thuốc vật tư tiêu hao 1 năm trên 1 tỷ đồng [1] Riêng thuốc điều trị lao được cấp phát miễn phí

Với hơn 10 năm xây dựng và phát triển, còn rất nhiều khó khăn về nguồn nhân lực và cơ sở vật chất nhưng với sự đầu tư có hiệu quả của bộ y tế, UBND tỉnh, Sở Y tế và DAPCLQG cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ viên chức trong Bệnh viện, phát huy những mặt tích cực, khắc phục, sửa chữa những thiếu sót tồn tại nhắm thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, đóng góp một phần trong công tác CSBVSKND

1.2 Sơ lược về kháng sinh

1.2.1 Nguyên tắc sử dụng kháng sinh

 Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn

Trước khi sử dụng kháng sinh thầy thuốc cần phải có căn cứ tối thiểu để xác định có nhiễm khuẩn hay không thông qua thăm khám lâm sàng, một số xét nghiệm cận lâm sàng thường quy, xét nghiệm vi khuẩn học [3,9,10]

Trang 13

 Lựa chọn kháng sinh hợp lý

Lựa chọn kháng sinh phụ thuộc vào 3 yếu tố:

+ Vi khuẩn gây bệnh: vi khuẩn gây bệnh phải nằm trong phổ tác dụng của kháng sinh và còn nhạy cảm với kháng sinh lựa chọn

+ Vị trí nhiễm khuẩn: kháng sinh phải được thấm vào vị trí nhiễm khuẩn với nồng độ đủ lớn để tiêu diệt hoặc ức chế vi khuẩn

+ Đặc điểm bệnh nhân: muốn dùng kháng sinh nào cần xem bệnh nhân đó

có dung nạp được thuốc không Cần lưu ý đến đối tượng đặc biệt như người cao tuổi, suy thận

 Sử dụng kháng sinh đúng liều, đúng cách và đủ thời gian

+ Để chọn liều phù hợp cần phải dựa vào mức độ nhiễm khuẩn, tuổi tác, thể trạng bệnh nhân Cần lưu ý với các bệnh nhân suy thận để điều chỉnh liều cho phù hợp

+ Thời gian sử dụng kháng sinh: thông thường là sau khi hết vi khuẩn 2-3 ngày ở bệnh nhân không suy giảm miễn dịch và 5-7 ngày ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch Thực tế ít có điều kiện xét nghiệm vi khuẩn nên coi là hết vi khuẩn khi hết các dấu hiệu nhiễm khuẩn như sốt, tình trạng cơ thể cải thiện Với những nhiễm khuẩn nhẹ đợt điều trị thường kéo dài 7-10 ngày, chỉ có nhiễm khuẩn nặng hay nhiễm khuẩn ở các tổ chức khó xâm nhập thì đợt điều trị kéo dài hơn

 Phối hợp kháng sinh hợp lý

Mục đích của việc phối hợp kháng sinh [3]: tăng tác dụng trên các chủng

đề kháng mãnh, giảm khả năng kháng thuốc hoặc tránh tạo những chủng vi khuẩn đề kháng, nới rộng phổ tác dụng của kháng sinh

Tuy nhiên, để phối hợp thuốc đúng đắn cần phải hiểu rõ hiệu quả của sự tương tác thuốc giữa các kháng sinh Các kháng sinh có cơ chế tác động khác nhau có thể tăng cường hay hạn chế tác động của nhau, có khi lại làm tăng độc tính

Trang 14

Khi dùng phối hợp 2 kháng sinh, có 3 khả năng xảy ra về mặt lý luận [14]: cộng hợp đơn thuần, cộng lực và đối kháng

Những kết quả thực nghiệm đã xác nhận định luật Jawetz như sau [17]: + Sự kết hợp hai kháng sinh kìm khuẩn thường chỉ là cộng hợp

+ Sự kết hợp một kháng sinh diệt khuẩn với một kháng sinh hãm khuẩn

có thể đi đến kết quả đối kháng

+ Sự kết hợp hai kháng sinh diệt khuẩn có thể cộng lực

 Dự phòng kháng sinh hợp lý

Dự phòng kháng sinh là dùng kháng sinh để phòng ngừa nhiễm khuẩn hoặc ngăn ngừa nhiễm khuẩn tái phát Trong điều trị nội khoa chỉ nên sử dụng kháng sinh dự phòng khi có các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn và dấu hiệu nhiễm khuẩn

1.2.2 Đại cương về các nhóm kháng sinh sử dụng tại bệnh viện

1.2.2.1 Các nhóm kháng sinh

 Nhóm các Betalactam

Gồm các Penicilin, các Cephalosporin, các Carbapenem, các monabactam

Amoxicilin, Ampicilin có tác dụng với cả vi khuẩn Gram(+) và Gram(-)

Tác dụng trên vi khuẩn Gram (+) như Staphylococcus, Streptococcus,

Pneumococcus…và bị mất hoạt tính bởi betalactamase Có tác dụng trên vi

khuẩn ưa khí Gram (-): E.coli, Enterococci…Ticarcilin, Pipercilin có phổ giống

Amoxicilin và Ampicilin nhưng rộng hơn Chúng có tác dụng trên cả

P.aeruginosa đã kháng aminopenicilin, Enterobacter, Klebsiella (Piperacilin)

[4,9]

Cephalosporin III, IV có tác dụng tốt trên vi khuẩn Gram (-), bền vững

với betalactamase, tác dụng với cả P.aeruginosa (tốt nhất là ceftazidim,

cefoperazon)

Trang 15

Carbapenem là kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng nhất hiện nay, có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn Gram (+) và Gram (-), vi khuẩn kị khí và ưa khí, các vi khuẩn tiết ra betalactamase kể cả chủng kháng methicilin [4]

Về cấu trúc đều có vòng betalatam

Về cơ chế đều gắn với transpeptidase (hay PBP: Penicilin Binding Protein), enzym xúc tác cho sự nối peptidoglycan để tạo vách vi khuẩn Vách vi khuẩn là bộ phận rất quan trọng để đảm bảo sự tồn tại và phát triển Thành phần đảm bảo cho tính bền vững cơ học của vách là mãng lưới peptidoglycan, gồm các chuỗi glycan nối chéo với nhau bằng chuỗi peptid Khoảng 30 enzym của vi khuẩn tham gia thổng hợp peptidoglycan, trong đó có transpeptidase (hay PBP)

Các betalactam và kháng sinh loại glycopeptid (như vancomycin) tạo phức bền vững với transpeptidase, ức chế tạo vách vi khuẩn, làm ly giải hoặc biến dạng vi khuẩn Vách vi khuẩn Gram (+) có mãng lưới peptidoglycan dày từ 50-100 phân tử, lại có ngay bề mặt tế bào nên dễ bị tấn công Còn ở vi khuẩn Gram (-) vách chỉ dày 1-2 phân tử nhưng lại được che phủ ở lớp ngoài cùng một

vỏ bọc lipopolysaccharid như một hàng rào không thấm kháng sinh, muốn có tác dụng, kháng sinh phải khuếch tán được qua ống dẫn (pores) của màng ngoài như amoxicilin, một số cephalosporin

Do vách tế bào của động vật đa bào có cấu trúc khác vách vi khuẩn nên không chịu tác động của betalactam (thuốc hầu như không độc) Tuy nhiên, vòng betalactam rất dễ gây dị ứng

 Các cephalosporin

Tuỳ theo tác dụng kháng khuẩn, chia thành 4 "thế hệ" cephalosporin Được chiết xuất từ nấm cephalosporin hoặc bán tổng hợp, đều là dẫn xuất của acid amino - 7-cephalosporanic, có mang vòng

+ Cephalosporin thế hệ 1

Có phổ kháng khuẩn gần với meticilin và penicilin A Tác dụng tốt trên cầu khuẩn và trực khuẩn Gram (+), kháng được penicilinase của tụ cầu Có phổ kháng khuẩn gần với meticilin và penicilin A Tác dụng tốt trên cầu khuẩn và

Trang 16

trực khuẩn Gram (+), kháng được penicilinase của tụ cầu Bị cephalosporinase (β lactamase) phá huỷ

Chỉ định chính: sốc nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu, nhiễm khuẩn kháng penicilin [20]

Các chế phẩm dùng theo đường tiêm (bắp hoặc tĩnh mạch) có: cefalotin, cefazolin liều 2- 8g/ ngày

Theo đường uống có cefalexin (Keforal), cefaclor (Alfatil), liều 2g/ngày

Để khắc phục 2 nhược điểm: ít tác dụng trên vi khuẩn Gram (-) và vẫn còn bị cephalosporinase phá, các thế hệ cephalosporin tiếp theo đã và đang được nghiên cứu sản xuất

Trang 17

Cefadroxil là kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 1, có tác dụng diệt khuẩn, ngăn cản sự phát triển và phân chia của vi khuẩn bằng cách ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn [20]

Cefadroxil là dẫn chất para - hydroxy của cefalexin và là kháng sinh dùng theo đường uống có phổ kháng khuẩn tương tự cefalexin

Thử nghiệm in vitro, cefadroxil có tác dụng diệt khuẩn trên nhiều loại vi khuẩn Gram (+) và Gram (-) Các vi khuẩn Gram (+) nhạy cảm bao gồm các

chủng Staphylococcus có tiết và không tiết penicilinase, các chủng

Streptococcus tan huyết beta, Streptococcus pneumoniae và Streptococcus pyogenes Các vi khuẩn Gram (-) nhạy cảm bao gồm Escherichia coli, Kleb- siella pneumoniae, Proteus mirabilis và Moraxella catarrhalis Haemophilus influenzae thường giảm nhạy cảm

Theo các số liệu ASTS 1997, những chủng còn nhạy cảm tốt với các

kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 1 là Staphylococcus aureus, Staph

epidermidis, các chủng Streptococcus tan huyết nhóm A, Streptococcus pneumoniae, và H influenzae [20]

Một số chủng đang tăng mức kháng với các kháng sinh nhóm

cephalosporin thế hệ 1 với tỷ lệ như sau: Tỷ lệ kháng của E coli với cefalexin là khoảng 50%, tỷ lệ kháng của Proteus với cefalexin là khoảng 25% và với cephalotin là 66%, tỷ lệ kháng của Klebsiella pneumoniae với cephalotin là 66%

các mẫu phân lập[20]

Phần lớn các chủng Enterococcus faecalis (trước đây là Streptococcus

faecalis) và Enterococcus faecium đều kháng cefadroxil Về mặt lâm sàng, đây

là những gợi ý quan trọng cho việc lựa chọn thuốc để điều trị các nhiễm khuẩn sau phẫu thuật Cefadroxil cũng không có tác dụng trên phần lớn các chủng

Enterobacter spp., Morganella morganii (trước đây là Proteus morganii) và Proteus vulgaris Cefadroxil không có hoạt tính đáng tin cậy trên các loài Pseudomonas và Acinetobacter calcoaceticus (trước đây là các loài Mima và Herellea)

Trang 18

Các chủng Staphylococcus kháng methicilin hoặc Streptococcus

pneumoniae kháng penicilin đều kháng các kháng sinh nhóm cephalosporin

Dược động học

Cefadroxil bền vững trong acid và được hấp thụ rất tốt ở đường tiêu hóa Với liều uống 500 mg hoặc 1 g, nồng độ đỉnh trong huyết tương tương ứng với khoảng 16 và 30 microgam/ml, đạt được sau 1 giờ 30 phút đến 2 giờ Mặc dầu

có nồng độ đỉnh tương tự với nồng độ đỉnh của cefalexin, nồng độ của cefadroxil trong huyết tương được duy trì lâu hơn Thức ăn không làm thay đổi

sự hấp thụ thuốc Khoảng 20% cefadroxil gắn kết với protein huyết tương Nửa đời của thuốc trong huyết tương là khoảng 1 giờ 30 phút ở người chức năng thận bình thường , thời gian này kéo dài trong khoảng từ 14 đến 20 giờ ở người suy

thận

Cefadroxil phân bố rộng khắp các mô và dịch cơ thể Thể tích phân bố trung bình là 18 lít/1,73 m2, hoặc 0,31 lít/kg Cefadroxil đi qua nhau thai và bài

tiết trong sữa mẹ

Thuốc không bị chuyển hóa Hơn 90% liều sử dụng thải trừ trong nước tiểu ở dạng không đổi trong vòng 24 giờ qua lọc cầu thận và bài tiết ở ống thận

Do đó, với liều uống 500 mg, nồng độ đỉnh của cefadroxil trong nước tiểu lớn hơn 1 mg/ml Sau khi dùng liều 1 g, nồng độ kháng sinh trong nước tiểu giữ được 20 - 22 giờ trên mức nồng độ ức chế tối thiểu cho những vi khuẩn gây bệnh đường niệu nhạy cảm Cefadroxil được đào thải nhiều qua thẩm tách thận

nhân tạo

Chỉ định

Cefadroxil được chỉ định trong điều trị các nhiễm khuẩn thể nhẹ và trung

bình do các vi khuẩn nhạy cảm

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: Viêm thận - bể thận cấp và mãn tính, viêm

bàng quang, viêm niệu đạo, nhiễm khuẩn phụ khoa

Trang 19

Nhiễm khuẩn đường hô hấp: Viêm amidan, viêm họng, viêm phế quản - phổi và viêm phổi thùy, viêm phế quản cấp và mãn tính, áp xe phổi, viêm mủ

màng phổi, viêm màng phổi, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm tai giữa

Nhiễm khuẩn da và mô mềm: Viêm hạch bạch huyết, áp xe, viêm tế bào,

loét do nằm lâu, viêm vú, bệnh nhọt, viêm quầng

Các nhiễm khuẩn khác: Viêm xương tủy, viêm khớp nhiễm khuẩn

Với những trường hợp nhiễm khuẩn do vi khuẩn Gram (+), penicilin vẫn

là thuốc ưu tiên được chọn, các kháng sinh cephalosporin thế hệ 1 chỉ là thuốc

Cefadroxil được dùng theo đường uống Có thể giảm bớt tác dụng phụ

đường tiêu hóa nếu uống thuốc cùng với thức ăn

Người lớn và trẻ em (> 40 kg): 500 mg - 1 g, 2 lần mỗi ngày tùy theo mức

độ nhiễm khuẩn

Hoặc là 1 g một lần/ngày trong các nhiễm khuẩn da và mô mềm và nhiễm

khuẩn đường tiết niệu không biến chứng

Trẻ em (< 40 kg):

Dưới 1 tuổi: 25 - 50 mg/kg thể trọng/24 giờ, chia làm 2 - 3 lần Thí dụ: Dùng 125 mg mỗi ngày, chia làm 2 lần cho trẻ 6 tháng tuổi cân nặng 5 kg, hoặc

dùng 500 mg mỗi ngày chia làm hai lần, cho trẻ 1 năm tuổi cân nặng 10 kg

Từ 1 - 6 tuổi: 250 mg, 2 lần mỗi ngày

Trên 6 tuổi: 500 mg, 2 lần mỗi ngày

Người cao tuổi: Cefadroxil đào thải qua đường thận, cần kiểm tra chức

năng thận và điều chỉnh liều dùng như ở người bệnh suy thận

Trang 20

Người bệnh suy thận: Ðối với người bệnh suy thận, có thể điều trị với liều khởi đầu 500 mg đến 1000 mg cefadroxil Những liều tiếp theo có thể điều chỉnh theo bảng sau

Chú ý: Thời gian điều trị phải duy trì tối thiểu từ 5 - 10 ngày

 Fortacef 1g (Cefotaxim 1g)

Dược lý và cơ chế tác dụng

Cefotaxim là kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 3, có phổ kháng khuẩn rộng Các kháng sinh trong nhóm đều có phổ kháng khuẩn tương tự nhau, tuy nhiên mỗi thuốc lại khác nhau về tác dụng riêng lên một số vi khuẩn nhất định So với các cephalosporin thuộc thế hệ 1 và 2, thì cefotaxim có tác dụng lên

vi khuẩn Gram (-) mãnh hơn, bền hơn đối với tác dụng thủy phân của phần lớn các beta lactamase, nhưng tác dụng lên các vi khuẩn Gram (+) lại yếu hơn các cephalosporin thuộc thế hệ 1 [20]

Cefotaxim dạng muối natri được dùng tiêm bắp Thuốc hấp thu rất nhanh sau khi tiêm Nửa đời của cefotaxim trong huyết tương khoảng 1 giờ và của chất chuyển hóa hoạt tính desacetylcefotaxim khoảng 1,5 giờ Khoảng 40% thuốc được gắn vào protein huyết tương Nửa đời của thuốc, nhất là của desacetylcefotaxim kéo dài hơn ở trẻ sơ sinh và ở người bệnh bị suy thận nặng Bởi vậy cần phải giảm liều lượng thuốc ở những đối tượng này Không cần điều chỉnh liều ở người bệnh bị bệnh gan Cefotaxim và desacetylcefotaxim phân bố rộng khắp ở các mô và dịch Nồng độ thuốc trong dịch não tủy đạt mức có tác dụng điều trị, nhất là khi viêm màng não Cefotaxim đi qua nhau thai và có trong sữa mẹ

Ở gan, cefotaxim chuyển hóa một phần thành desacetylcefotaxim và các chất chuyển hóa không hoạt tính khác Thuốc đào thải chủ yếu qua thận (trong vòng 24 giờ, khoảng 40 - 60% dạng không biến đổi được thấy trong nước tiểu) Probenecid làm chậm quá trình đào thải, nên nồng độ của cefotaxim và

Trang 21

desacetylcefotaxim trong máu cao hơn và kéo dài hơn Có thể làm giảm nồng độ thuốc bằng lọc máu Cefotaxim và desacetylcefotaxim cũng còn có ở mật và phân với nồng độ tương đối cao [20]

Các vi khuẩn thường nhạy cảm với thuốc: Enterobacter, E coli, Serratia,

Salmonella, Shigella, P mirabilis, P vulgaris, Providencia, Citrobacter diversus, Klebsiella pneumonia, K oxytoca, Morganella morganii, các chủng Streptococcus, các chủng Staphylococcus, Haemophilus influenzae, Haemophilus spp, Neisseria (bao gồm cả N meningitidis, N gonorrhoeae), Branhamella catarrhalis, Peptostreptococcus, Clostridium perfringens, Borrellia burgdorferi, Pasteurella multocida, Aeromonas hydrophilia, Corynebacterium diphteriae

Các loài vi khuẩn kháng cefotaxim: Enterococcus, Listeria,

Staphylococcus kháng methicilin, Pseudomonas cepiacia, Xanthomonas maltophilia, Acinetobacter baumanii, Clostridium difficile, các vi khuẩn kỵ khí

Gram (-)

Theo thông báo năm 1997 và thông tin số 3 của Chương trình giám sát quốc gia về tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp thì các kháng

sinh cephalosporin còn tác dụng tốt với Salmonella trong khi các kháng sinh

thường dùng khác như cloramphenicol, cotrimoxazol, ampicilin đã bị mất tác

dụng Có 46,2% Enterobacter aerogenes là nhạy cảm, 38,4% kháng lại cefotaxim; 94,5% Salmonella typhi nhạy cảm, 0,7% kháng cefotaxim; 9,1% các chủng khác của Salmonella kháng cefotaxim; 6,9% H influenzae kháng cefotaxim; và 31,1% Klebsiella spp kháng cefotaxim Cần sử dụng cefotaxim

một cách thận trọng và hạn chế để ngăn ngừa xu hướng kháng thuốc của các vi khuẩn đối với cefotaxim, cũng như với các kháng sinh khác đang tăng lên

Trang 22

bệnh thương hàn, điều trị tập trung, nhiễm khuẩn nặng trong ổ bụng (phối hợp với metronidazol) và dự phòng nhiễm khuẩn sau mổ tuyến tiền liệt kể cả mổ nội

soi, mổ lấy thai

lần Liều thường dùng đối với nhiễm khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) là

trên 6 g mỗi ngày (chú ý là ceftazidim có tác dụng chống trực khuẩn mủ xanh

mãnh hơn)

Liều cho trẻ em: Mỗi ngày dùng 100 - 150 mg/kg thể trọng (với trẻ sơ sinh là 50 mg/kg thể trọng) chia làm 2 đến 4 lần Nếu cần thiết thì có thể tăng

liều lên tới 200 mg/kg (từ 100 đến 150 mg/kg đối với trẻ sơ sinh)

Cần phải giảm liều cefotaxim ở người bệnh bị suy thận nặng (độ thanh thải creatinin dưới 10 ml/phút): Sau liều tấn công ban đầu thì giảm liều đi một nửa nhưng vẫn giữ nguyên số lần dùng thuốc trong một ngày; liều tối đa cho một ngày

là 2 g

Thời gian điều trị: Nói chung, sau khi thân nhiệt đã trở về bình thường hoặc khi chắc chắn là đã triệt hết vi khuẩn, thì dùng thuốc thêm từ 3 đến 4 ngày nữa Ðể điều trị nhiễm khuẩn do các liên cầu khuẩn tan máu beta nhóm A thì phải điều trị ít nhất là 10 ngày Nhiễm khuẩn dai dẳng có khi phải điều trị trong

nhiều tuần

Ðiều trị bệnh lậu: Dùng liều duy nhất 1 g

Trang 23

Phòng nhiễm khuẩn sau mổ: Tiêm 1 g trước khi làm phẫu thuật từ 30 đến

90 phút Mổ đẻ thì tiêm 1 g vào tĩnh mạch cho người mẹ ngay sau khi kẹp cuống

rau và sau đó 6 và 12 giờ thì tiêm thêm hai liều nữa vào bắp thịt hoặc tĩnh mạch

 Cefozim 1g (Ceftazidim 1g)

Ceftazidim có tác dụng diệt khuẩn do ức chế các enzym tổng hợp vách tế bào vi khuẩn Thuốc bền vững với hầu hết các beta - lactamase của vi khuẩn trừ

enzym của Bacteroides Thuốc nhạy cảm với nhiều vi khuẩn Gram (-) đã kháng

aminoglycosid và các vi khuẩn Gram (+) đã kháng ampicilin và các cephalosporin khác [20]

Phổ kháng khuẩn:

Tác dụng tốt: Vi khuẩn Gram (-) ưa khí bao gồm Pseudomonas (P

aeruginosa), E coli, Proteus (cả dòng indol dương tính và âm tính), Klebsiella, Enterobacter, Acinetobacter, Citrobacter, Serratia, Salmonella, Shigella, Hemophilus influenzae, Neisseria gonorrhoea và Neisseria meningitidis Một số

chủng Pneumococcus, Moraxella catarrhalis, và Streptococcus tan máu beta, (nhóm A, B, C và G lancefield) và Streptococcus viridans Nhiều chủng Gram (+) kỵ khí cũng nhạy cảm, Staphylococcus aureus nhạy cảm vừa phải với

ceftazidim

Kháng thuốc:

Kháng thuốc có thể xuất hiện trong quá trình điều trị do mất tác dụng ức chế các beta - lactamase qua trung gian nhiễm sắc thể (đặc biệt đối với

Pseudomonas spp., Enterobacter và Klebsiella)

Ceftazidim không có tác dụng với Staphylococcus aureus kháng methicilin, Enterococcus, Listeria monocytogenes, Bacteriodes fragilis,

Campylobacter spp., Clostridium difficile

Ở Việt Nam: Theo số liệu ASTS năm 1999, các vi khuẩn vẫn còn nhạy

cảm tốt với ceftazidim, có tỷ lệ đề kháng ở mức thấp S pyogenes kháng ceftazidim 3,2%, S.typhi kháng ceftazidim 4,3%, và S pneumoniae kháng ceftazidim 5,7%

Trang 24

Các vi khuẩn tăng đề kháng ceftazidim với tỷ lệ cao là Escherichia coli kháng ceftazidim 18,7%, Enterobacter kháng ceftazidim 37,3%, S aureus kháng ceftazidim 46,2%, P aeruginosa kháng ceftazidim 47,6%

Dược động học

Ceftazidim không hấp thu qua đường tiêu hóa, do vậy thường dùng dạng

tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp

Nồng độ huyết thanh đạt được: Nửa đời của ceftazidim trong huyết tương

ở người bệnh có chức năng thận bình thường xấp xỉ 2,2 giờ, nhưng kéo dài hơn

ở người bệnh suy thận hoặc trẻ sơ sinh Ceftazidim không chuyển hóa, bài tiết qua lọc cầu thận Khoảng 80 - 90% liều dùng bài tiết qua nước tiểu sau 24 giờ Sau khi tiêm tĩnh mạch 1 liều độc nhất 500 mg hay 1 g, khoảng 50% liều xuất hiện trong nước tiểu sau 2 giờ đầu, 2 - 4 giờ sau khi tiêm bài tiết thêm 20% liều vào nước tiểu và sau 4 - 8 giờ sau lại thêm 12% liều bài tiết vào nước tiểu Hệ số thanh thải ceftazidim trung bình của thận là 100 ml/phút Bài tiết qua mật dưới 1% Chỉ khoảng 10% thuốc gắn với protein huyết tương Ceftazidim thấm vào các mô ở sâu và cả dịch màng bụng; Thuốc đạt nồng độ điều trị trong dịch não

tủy khi màng não bị viêm Ceftazidim đi qua nhau thai và bài tiết vào sữa mẹ

Ceftazidim hấp thu sau liều tiêm qua màng bụng cho người bệnh điều trị

bằng thẩm tách màng bụng

Chỉ định

Chỉ dùng ceftazidim trong những nhiễm khuẩn rất nặng, đã điều trị bằng

kháng sinh thông thường không đỡ để hạn chế hiện tượng kháng thuốc

Những trường hợp nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn Gram (-) như:

Nhiễm khuẩn huyết

Viêm màng não

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có biến chứng

Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, nhiễm khuẩn trong bệnh nhày nhớt Nhiễm khuẩn xương và khớp

Trang 25

Nhiễm khuẩn phụ khoa

Nhiễm khuẩn trong ổ bụng

Nhiễm khuẩn da và mô mềm bao gồm nhiễm khuẩn bỏng và vết thương

Những trường hợp nhiễm khuẩn kể trên đã xác định hoặc nghi ngờ do Pseudomonas hoặc Staphylococcus như viêm màng não do Pseudomonas, nhiễm khuẩn ở người bị giảm bạch cầu trung tính, cần phải phối hợp ceftazidim với

kháng sinh khác

Chống chỉ định

Mẫn cảm với cephalosporin

Liều lượng và cách dùng

Ceftazidim dùng theo cách tiêm bắp sâu, tiêm tĩnh mạch chậm trong 3 - 5

phút, hoặc tiêm truyền tĩnh mạch

Người lớn: Trung bình 1 g tiêm bắp sâu hoặc tĩnh mạch (tùy mức độ nặng

của bệnh) cách nhau 8 - 12 giờ một lần Liều dùng tăng lên 2 g/8 giờ trong viêm màng não do vi khuẩn Gram (-) và các bệnh bị suy giảm miễn dịch Nhiễm

khuẩn đường tiết niệu 500 mg/12 giờ

Người cao tuổi trên 70 tuổi: Liều 24 giờ cần giảm xuống còn 1/2 liều của người bình thường, tối đa 3 g/ngày

Trẻ nhỏ và trẻ em:

Trẻ em trên 2 tháng tuổi, liều thường dùng 30 - 100 mg/kg/ngày chia làm 2-3lần, (cách nhau 8 hoặc 12 h) Có thể tăng liều tới 150 mg/kg/ngày (tối đa tới

6 g/ngày) chia 3 lần cho các bệnh rất nặng

Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 2 tháng tuổi, liều thường dùng là 25 - 60 mg/kg/ngày chia làm 2 lần, cách nhau 12 giờ (ở trẻ sơ sinh, nửa đời của

ceftazidim có thể gấp 3 - 4 lần so với người lớn)

Trong trường hợp viêm màng não ở trẻ nhỏ trên 8 ngày tuổi, liều thường

dùng là 50 mg/kg cứ 12 giờ một lần

Trang 26

Người bệnh suy giảm chức năng thận (có liên quan đến tuổi): Dựa vào độ thanh thải creatinin (khi độ thanh thải creatinin dưới 50 ml/phút, nên giảm liều

do sự thải trừ thuốc chậm hơn)

Với người bệnh nghi là có suy thận, có thể cho liều đầu tiên thường là 1 g

sau đó thay đổi liều tùy thuộc vào độ thanh thải creatinin như sau:

Liều gợi ý ở trên có thể tăng 50%, nếu lâm sàng yêu cầu như ở bệnh nhày nhớt

Người bệnh đang thẩm tách máu, có thể cho thêm 1 g vào cuối mỗi lần

thẩm tách

Người bệnh đang lọc máu động tĩnh mạch liên tục, dùng liều 1 g/ngày,

dùng 1lần hoặc chia nhiều lần

Người bệnh đang thẩm tách màng bụng, dùng liều bắt đầu 1 g, sau đó liều

500 mg cách nhau 24 giờ

Chú ý: Nên dùng ceftazidim ít nhất 2 ngày sau khi hết các triệu chứng

nhiễm khuẩn, nhưng cần kéo dài hơn khi nhiễm khuẩn có biến chứng

Pha dung dịch tiêm và truyền:

Dung dịch tiêm bắp: Pha thuốc trong nước cất tiêm, hoặc dung dịch tiêm

lidocain hydroclorid 0,5% hay 1%, với nồng độ khoảng 250 mg/ml

Dung dịch tiêm tĩnh mạch: Pha thuốc trong nước cất tiêm, dung dịch natri

clorid 0,9%, hoặc dextrose 5%, với nồng độ khoảng 100 mg/ml

Dung dịch tiêm truyền: Pha thuốc trong các dung dịch như trong tiêm tĩnh

mạch nhưng với nồng độ 10 - 20 mg/ml (1 - 2 g thuốc trong 100 ml dung dịch)

 Các Macrolid và đồng loại

Các Macrolid có phổ tác dụng trên một số cầu khuẩn Gram (+), trực

khuẩn Gram (+) như Streptococcus, Staphylococcus,…và chỉ có tác dụng trên

một số ít cầu khuẩn Gram (-) như lậu cầu, màng não cầu, ngoài ra có tác dụng trên một số vi khuẩn kỵ khí Ưu điểm của nhóm Macrolid là có tác dụng với các

vi khuẩn nội bào

Trang 27

Macrolid là nhóm kháng sinh kìm khuẩn, ức chế tổng hợp protein của tế bào do gắn vào tiểu đơn vị 50S của ribosom, ngăn ngừa sự chuyển vị peptidyl-ARNt từ vị trí tiếp nhận sang vị trí cho, nên các aminoacyl-ARNt mới không thể vào vị trí tiếp nhận, làm cho các acid amin không gắn vào chuỗi peptid đang thành lập

hơn erythromycin một chút đối với Moraxella (Branhamella) catarrhalis và

Legionella spp Tác dụng rất mãnh đối với Chlamydia spp, Ureaplasma urealyticum và hơn hẳn các macrolid khác đối với Mycobacterium avium nội

bào (MAI = Mycobacterium avium intracellulaire) Nó cũng có tác dụng với M

leprae Trong một vài tài liệu có nói đến tác dụng in vitro với Toxoplasma gondii và có một vài tác dụng với Cryptosporidis Chất chuyển hóa 14 - hydroxy

clarithromycin có hoạt tính và có thể hiệp đồng in vitro với thuốc mẹ để làm

tăng đáng kể hoạt tính của clarithromycin trên lâm sàng đối với Haemophilus

influenzae Chất chuyển hóa có nửa đời từ 4 - 9 giờ Clarithromycin được dung

nạp ở dạ dày - ruột tốt hơn erythromycin Clarithromycin có ái lực với CYP 3A -

4 thấp hơn erythromycin và vì vậy tương tác thuốc ít quan trọng hơn trên lâm sàng Tuy vậy clarithromycin chống chỉ định dùng chung với astemizol, cisaprid

và terfenadin [20]

Clarithromycin khi uống được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa và chịu

sự chuyển hóa đầu tiên ở mức độ cao làm cho khả dụng sinh học của thuốc mẹ

Trang 28

giảm xuống còn khoảng 55% Mức hấp thụ gần như không bị ảnh hưởng bởi thức ăn Nồng độ đỉnh của clarithromycin và chất chuyển hóa chính 14 - hydroxy clarithromycin khoảng 0,6 - 0,7 microgam/ml, sau khi uống một liều duy nhất 250 mg Ở trạng thái cân bằng động ở cùng mức liều trên cho nồng độ

đỉnh khoảng 1 microgam /ml

Dược động học của clarithromycin không tuyến tính và phụ thuộc liều Các liều lớn có thể tạo nên các nồng độ đỉnh tăng không theo tỷ lệ thuận do

chuyển hóa thuốc bị bão hòa

Clarithromycin và chất chuyển hóa chính được phân phối rộng rãi và nồng độ trong mô vượt nồng độ trong huyết thanh do một phần thuốc được thu nạp vào trong tế bào Thuốc chuyển hóa nhiều ở gan và thải ra phân qua đường mật Một phần đáng kể được thải qua nước tiểu Khoảng 20 và 30% theo thứ tự ứng với liều 250 mg và 500 mg được thải qua nước tiểu dưới dạng không bị chuyển hóa 14 - hydroxy clarithromycin cũng như các chất chuyển hóa khác cũng được thải qua nước tiểu Nửa đời của clarithromycin khoảng 3 - 4 giờ khi người bệnh uống 250 mg clarithromycin, 2 lần/ngày, và khoảng 5 - 7 giờ khi người bệnh uống liều 500 mg, 2 lần/ngày Nửa đời bị kéo dài ở người bệnh suy

thận [20]

Tình hình vi khuẩn kháng đối với macrolid ở Việt Nam có chiều hướng tăng nhanh Các vi khuẩn kháng với erythromycin thường cũng kháng với các

macrolid khác bao gồm clarithromycin

Mức kháng erythromycin của Staphylococcus và Streptococcus là 44%

(ASTS, 1997) và của S.pneumoniae là khoảng 25% (ASTS,1996)

Chỉ định

Clarithromycin được chỉ định thay thế cho penicilin ở người bị dị ứng với penicilin khi bị nhiễm vi khuẩn nhạy cảm như viêm amidan, viêm tai giữa, viêm xoang cấp, viêm phế quản mãn có đợt cấp, viêm phổi, da và các mô mềm Ðiều này khó thực hiện ở Việt Nam vì hiện nay đa số vi khuẩn đều kháng với các loại

macrolid

Trang 29

Clarithromycin chỉ nên dành để điều trị viêm phổi do Mycoplasma

pneumoniae và Legionella, bệnh bạch hầu và giai đoạn đầu của ho gà và nhiễm

khuẩn cơ hội do Mycobacterium (bệnh phổi do phức hợp MAC: Mycobacterium

nhiễm khuẩn và mức độ nặng nhẹ của bệnh và thường kéo dài 7 - 14 ngày

Người lớn: nhiễm khuẩn đường hô hấp và da: 250 - 500 mg, 2 lần/ngày Ðối với người bệnh suy thận nặng, liều giảm xuống một nửa còn 250 mg, 1

lần/ngày hoặc 250 mg, 2 lần/ngày trong những nhiễm khuẩn nặng

Với Mycobacterium avium nội bào (MAI): 500 mg, 2 lần/ngày Giảm liều

xuống 50% nếu độ thanh thải dưới 30 ml/phút

Trẻ em: Liều thông thường: 7,5 mg/kg thể trọng, 2 lần/ngày đến tối đa

500 mg, 2 lần ngày Viêm phổi cộng đồng: 15 mg/kg thể trọng, 12 giờ một lần

Clarithromycin cũng dùng phối hợp với chất ức chế bơm proton và các

thuốc khác với liều 500 mg, 3 lần/ngày để diệt tận gốc nhiễm Helicobacter

pylori

 Nhóm Quinolon

Nhóm Quinolon được chia làm 2 thế hệ Thế hệ I là những dẫn chất không

gắn Flour (trừ flumequin) có tác dụng trên vi khuẩn Gram (-) như E.coli,

Trang 30

Klebsiella, Enterobacter, trừ P.aeruginosa, và chủ yếu được dùng trong các

nhiễm khuẩn đường niệu không biến chứng Thế hệ II là những dẫn chất quinolon có hoạt phổ tác dụng trên các vi khuẩn Gram (-) như thế hệ I, ngoài ra,

fluoro-có tác dụng trên một số cầu khuẩn Gram (+) (chủ yếu là Streptococcus,

Staphylococus) Tác dụng nhanh, mãnh hơn dẫn chất thế hệ I và được sử dụng

trong nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn đường hô hấp, nhiễm khuẩn máu,

nhiễm khuẩn xương khớp,…

Các Quinolon có tác dụng diệt khuẩn do ức chế enzym DNA-gyrase (một trong nhưng enzym tham gia vào quá trình tổng hợp acid nhân vi khuẩn) Ngoài

ra do có cấu trúc beta-centonic nên các Quinolon có thế tạo phức hợp kiểu chelat với các ion hóa trị II Vì vậy các protein có chứa kim loại trở thành đích thu hút của các Quinolon Sự kết hợp giữa Quinolon với các ion kim loại tạo ra phức hợp đảng phân tử điện dương có tính diệt khuẩn

Tác dụng không mong muốn: Rối loạn tiêu hóa, nhức đầu chóng mặt, ngủ

vi khuẩn không sinh sản được nhanh chóng Ciprofloxacin có tác dụng tốt với các vi khuẩn kháng lại kháng sinh thuộc các nhóm khác (aminoglycosid, cephalosporin, tetracyclin, penicilin ) và được coi là một trong những thuốc có tác dụng mãnh nhất trong nhóm fluoroquinolon [20]

Ciprofloxacin hấp thu nhanh và dễ dàng ở ống tiêu hóa Khi có thức ăn và các thuốc chống toan, hấp thu thuốc bị chậm lại nhưng không bị ảnh hưởng một cách đáng kể Sau khi uống, nồng độ tối đa của ciprofloxacin trong máu xuất hiện sau 1 - 2 giờ với khả dụng sinh học tuyệt đối là 70 - 80% Với liều 250 mg

Trang 31

(cho người bệnh nặng 70 kg), nồng độ tối đa trung bình trong huyết thanh là vào khoảng 1,2 mg/lít Nồng độ tối đa trung bình trong huyết thanh ứng với các liều

Thể tích phân bố của ciprofloxacin rất lớn (2 - 3 lít/kg thể trọng) và do đó, lọc máu hay thẩm tách màng bụng chỉ rút đi được một lượng nhỏ thuốc Thuốc được phân bố rộng khắp và có nồng độ cao ở những nơi bị nhiễm khuẩn (các dịch cơ thể, các mô), nói chung thuốc dễ ngấm vào mô Nồng độ trong mô thường cao hơn nồng độ trong huyết thanh, đặc biệt là ở các nhu mô, cơ, mật và tuyến tiền liệt Nồng độ trong dịch bạch huyết và dịch ngoại bào cũng gần bằng nồng độ trong huyết thanh Nồng độ thuốc trong nước bọt, nước mũi, đờm, dịch

ổ bụng, da, sụn và xương tuy có thấp hơn, nhưng vẫn ở mức độ thích hợp Nếu màng não bình thường, thì nồng độ thuốc trong dịch não tủy chỉ bằng 10% nồng

độ trong huyết tương; nhưng khi màng não bị viêm, thì thuốc ngấm qua nhiều hơn Ciprofloxacin đi qua nhau thai và bài tiết qua sữa mẹ Trong mật cũng có nồng độ thuốc cao [20]

Khoảng 40 - 50% liều uống đào thải dưới dạng không đổi qua nước tiểu nhờ lọc ở cầu thận và bài tiết ở ống thận Khoảng 75% liều tiêm tĩnh mạch đào thải dưới dạng không đổi qua nước tiểu và 15% theo phân Hai giờ đầu tiên sau khi uống liều 250 mg, nồng độ ciprofloxacin trong nước tiểu có thể đạt tới trên

200 mg/lít và sau 8 - 12 giờ là 30 mg/lít Các đường đào thải khác là chuyển hóa

ở gan, bài xuất qua mật, và thải qua niêm mạc vào trong lòng ruột (đây là cơ chế đào thải bù trừ ở người bệnh bị suy thận nặng) Thuốc được đào thải hết trong vòng 24 giờ

Trang 32

Phổ kháng khuẩn: Ciprofloxacin có phổ kháng khuẩn rất rộng, bao gồm phần lớn các mầm bệnh quan trọng Phần lớn các vi khuẩn Gram (-), kể cả

Pseudomonas và Enterobacter đều nhạy cảm với thuốc Các vi khuẩn gây bệnh

đường ruột như Salmonella, Shigella, Yersina và Vibrio cholerae thường nhạy

cảm cao Tuy nhiên, với việc sử dụng ngày càng nhiều và lạm dụng thuốc, đã có

báo cáo về tăng tỷ lệ kháng thuốc của Salmonella Các vi khuẩn gây bệnh đường

hô hấp như Haemophilus và Legionella thường nhạy cảm, Mycoplasma và

Chlamydia chỉ nhạy cảm vừa phải với thuốc Neisseria thường rất nhạy cảm với

thuốc

Nói chung, các vi khuẩn Gram (+) (các chủng Enterococcus,

Staphylococcus, Streptococcus, Listeria monocytogenes ) kém nhạy cảm hơn

Ciprofloxacin không có tác dụng trên phần lớn các vi khuẩn kỵ khí

Do cơ chế tác dụng đặc biệt của thuốc nên ciprofloxacin không có tác dụng chéo với các thuốc kháng sinh khác như aminoglycosid, cephalosporin, tetracyclin, penicilin

Theo báo cáo của Chương trình giám sát quốc gia của Việt Nam về tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp (1997) và thông tin số 4 năm

1999, thì ciprofloxacin vẫn có tác dụng cao đối với Salmonella typhi (100%),

Shigella flexneri (100%) Các vi khuẩn đang tăng kháng ciprofloxacin gồm có Staphylococcus aureus kháng ciprofloxacin với tỉ lệ 20,6%, Escherichia coli

kháng ciprofloxacin với tỉ lệ 27,8% và S pneumoniae kháng ciprofloxacin với tỉ

lệ 30% Tình hình kháng kháng sinh ở các tỉnh phía nam có cao hơn các tỉnh phía bắc Việc sử dụng ciprofloxacin cần phải thận trọng, có chỉ định đúng, vì kháng ciprofloxacin cũng giống như kháng các thuốc kháng sinh khác là một vấn đề ngày càng thường gặp (xem phần Liều lượng)

Chỉ định

Ciprofloxacin chỉ được chỉ định cho các nhiễm khuẩn nặng mà các thuốc kháng sinh thông thường không tác dụng để tránh phát triển các vi khuẩn kháng cipofloxacin: Viêm đường tiết niệu trên và dưới; viêm tuyến tiền liệt; viêm

Ngày đăng: 25/07/2015, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Lao &amp; Bệnh phổi Bắc Ninh - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Hình 1.1 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Lao &amp; Bệnh phổi Bắc Ninh (Trang 12)
Hình 3.1: Đặc điểm về tuổi và giới tính của bệnh nhân - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Hình 3.1 Đặc điểm về tuổi và giới tính của bệnh nhân (Trang 37)
Bảng 3.2: Tình trạng tuyến nhập viện và BHYT của bệnh nhân - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Bảng 3.2 Tình trạng tuyến nhập viện và BHYT của bệnh nhân (Trang 38)
Bảng 3.3: Phân loại đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Bảng 3.3 Phân loại đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân (Trang 39)
Hình 3.2: Phân loại đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Hình 3.2 Phân loại đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân (Trang 40)
Bảng 3.5: Các kháng sinh đã sử dụng tại bệnh viện - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Bảng 3.5 Các kháng sinh đã sử dụng tại bệnh viện (Trang 41)
Hình 3.3: Tỷ lệ các lý do chỉ định dùng kháng sinh - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Hình 3.3 Tỷ lệ các lý do chỉ định dùng kháng sinh (Trang 41)
Bảng 3.6: Phác đồ đơn và phối hợp chỉ định ban đầu - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Bảng 3.6 Phác đồ đơn và phối hợp chỉ định ban đầu (Trang 42)
Hình 3.4: Tỷ lệ phác đồ đơn và phác đồ phối hợp - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Hình 3.4 Tỷ lệ phác đồ đơn và phác đồ phối hợp (Trang 43)
Hình 3.5: Tỷ lệ phác đồ đơn được chỉ định trong quá trình điều trị - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Hình 3.5 Tỷ lệ phác đồ đơn được chỉ định trong quá trình điều trị (Trang 44)
Bảng 3.8: Tỷ lệ các phác đồ phối hợp kháng sinh - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Bảng 3.8 Tỷ lệ các phác đồ phối hợp kháng sinh (Trang 44)
Hình 3.6: Tỷ lệ phác đồ phối hợp được chỉ định trong quá trình điều trị - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Hình 3.6 Tỷ lệ phác đồ phối hợp được chỉ định trong quá trình điều trị (Trang 45)
Bảng 3.10: Liều dùng của các kháng sinh đã sử dụng trong điều trị - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Bảng 3.10 Liều dùng của các kháng sinh đã sử dụng trong điều trị (Trang 47)
Bảng 3.11: Thời gian sử dụng kháng sinh tại bệnh viện - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Bảng 3.11 Thời gian sử dụng kháng sinh tại bệnh viện (Trang 48)
Hình 3.7: Kết quả điều trị của bệnh nhân lúc ra viện - Khảo sát việc sử dụng kháng sinh ngoài lao tại bệnh viện lao và bệnh phổi bắc ninh năm 2010
Hình 3.7 Kết quả điều trị của bệnh nhân lúc ra viện (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w