Hầu hết các bệnh viện đã thành lập Hội đồng thuốc và điều trị, 96% khoa dược bệnh viện cung cấp đầy đủ thuốc cho nhu cầu điều trị, 99% bệnh viện đảm bảo đúng thuốc trong danh mục của bện
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG DẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGYỄN THỪA TIẾN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH
PHỐ VINH NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI – 2013
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG DẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỪA TIẾN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH
PHỐ VINH NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
Chuyên ngành: Tổ chức quản lý dược
Mã số: CK60732001 Người hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Thị Song Hà
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tôi đã nhận được sự dạy dỗ, hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, các cán bộ công tác tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh, gia đình và bạn bè Đến nay luận văn đã hoàn thành
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:PGS TS
Nguyễn Thị Song Hà, Trưởng Phòng Sau đại học Trường Đại học Dược Hà
Nội - đã giúp đỡ, chỉ bảo và đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Các thầy, các cô Trường Đại học Dược Hà Nội đặc biệt là Bộ môn Tổ chức quản lý Dược đã trang bị cho tôi đầy đủ kiến thức và động viên giúp đỡ tôi trong suốt những năm học tập và nghiên cứu
Ban giám đốc, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các anh chị, các bạn lớp Chuyên khoa I khóa 13 đã chia sẻ, động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Vinh, ngày 20 tháng 6 năm 2013
Nguyễn Thừa Tiến
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
TỔNG QUAN 3
1.1 QUẢN LÝ CUNG ỨNG THUỐC BỆNH VIỆN 3
1.1.1 Lựa chọn thuốc 3
1.1.2 Mua thuốc: 7
1.1.3 Cấp phát, tồn trữ thuốc 10
1.1.4 Quản lý sử dụng thuốc: 12
1.2 TÌNH HÌNH CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: 14
1.3 MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TP VINH: 19
1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện đa khoa TP Vinh : 19
1.3.2 Cơ cấu nhân lực của bệnh viện: 20
1.3.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của khoa dược bệnh viện 20
1.3.4 Tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa TP Vinh 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU24 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.2.1 Phương pháp mô tả hồi cứu 24
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 24
2.2.5 Trình bày và xử lý số liệu 25
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG LỰA CHỌN THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TP VINH 27
3.1.1 Về quy trình lựa chọn thuốc 27
3.1.2 Danh mục thuốc bệnh viện 28
3.1.3 Phân tích tính thích ứng của danh mục thuốc: 30
3 2 KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG MUA THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TP VINH NĂM 2012 36
3.2.1 Quy trình đấu thầu 36
3.2.2 Hình thức lựa chọn nhà thầu 38
3.2.3 Kinh phí mua thuốc 39
3.2.4 Nguồn mua thuốc 41
3.2.5 Phương thức giao nhận 42
3.2.6 Thủ tục thanh toán: 43
3.3 Khảo sát hoạt động cấp phát, tồn trữ thuốc tại khoa Dược bệnh viện đa khoa TP Vinh : 43
Trang 63.3.1 Phân tích công tác tồn trữ thuốc tại bệnh viện: 43
3.3.l Hoạt động cấp phát thuốc: 49
3.4 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TP VINH 2012 53
3.4.1 Hoạt động giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện 53
3.4.2 Hoạt động của tổ dược lâm sàng: 57
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 59
4.1 VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH 59
4.1.1 Lựa chọn thuốc 59
4.1.2 Mua sắm thuốc 60
4.1.3 Cấp phát và tồn trữ thuốc 60
4.1.4 Giám sát sử dụng thuốc 62
4.2 VỀ MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 62
KẾT LUẬN VÀĐỀ XUẤT 64
KẾT LUẬN 64
ĐỀ XUẤT 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8M ỤC LỤC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực của bệnh viện đa khoa TP Vinh 20
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân lực khoa dược bệnh viện 22
Bảng 1.3 Số lượng bệnh nhân đến KCB tại bệnh viên đa khoa TP Vinh trong năm 2011 23
Bảng 3.1 Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện theo nhóm tác dụng dược lý năm 2011 29
Bảng 3.2 Mô hình bệnh tật của bệnh viện 31
Bảng 3.3 So sánh cơ cấu danh mục thuốc bệnh viên với danh mục 33
Bảng 3.4: So sánh tỷ lệ thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu trong danh mục thuốc bệnh viện 35
Bảng 3.5 Mức độ phục vụ thuốc của danh mục Bệnh viện đa khoa TP Vinh năm 2012 36
Bảng 3.6 Kinh phí mua thuốc của khoa Dược trong năm 2011 39
Bảng 3.7 Kinh phí một số nhóm thuốc của khoa Dược bệnh viện 40
Bảng 3.8: Các doanh nghiệp trúng thầu năm 2011 42
Bảng 3.9 Số lượng các trang thiết bị bảo quản thuốc của bệnh viện 45
Bảng 3.10 Giá trị tiền thuốc xuất, nhập, tồn kho của khoa Dược BV đa khoa TP Vinh năm 2011 48
Bảng 3.11 Giá trị tiền thuốc dự trữ của BVDKTPV các năm 2011 49
Hình 1.1 Chu trình cung ứng thuốc bệnh viện [11] 3
Hình 1.2 Các yếu tố quyết định đến việc xây dựng DMTBV [33] 4
Hình 1.3 Chu trình mua thuốc [37] 8
Hình 1.4 Quy trình cấp phát thuốc trong bệnh viện 11
Hình 1.5 Chu trình quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện [36] 13
Hình 1.6 Sơ đồ tổ chức khoa dược 21
Trang 9Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu của đề tài 26
Hình 3.1 Quy trình xây dựng danh mục thuốc tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh 27
Hình 3.10 Quy trình bình bệnh án tại bệnh viện đa khoa TP Vinh 58
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện một số bệnh có tỷ lệ tăng cao trong năm 2012 32
Hình 3.3 Quy trình đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Nghệ An 37
Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện kinh phí mua một số nhóm thuốc trong năm 201241 Hình 3.5 Quy trình cấp phát thuốc tại khoa Dược bệnh viện đa khoa TP Vinh50 Hình 3.6 Quy trình cấp phát thuốc cho bệnh nhân nội trú 51
Hình 3.7 Sơ đồ hệ thống kho Dược BV TP Vinh : 44
Hình 3.8 Sơ đồ mô tả quy trình thực hiện nghiệp vụ kho 47
Hình 3.9 Quy trình giám sát thực hiện danh mục thuốc 54
Hình 3.10 Quy trình bình bệnh án tại bệnh viện đa khoa TP Vinh 58
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viện là cơ sở khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng công tác khám chữa bệnh là vấn đề cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng,
an toàn, hiệu quả và hợp lý Hiện nay, công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện
đã đạt được những thành tựu nhất định Hầu hết các bệnh viện đã thành lập Hội đồng thuốc và điều trị, 96% khoa dược bệnh viện cung cấp đầy đủ thuốc cho nhu cầu điều trị, 99% bệnh viện đảm bảo đúng thuốc trong danh mục của bệnh viện và ở 94% bệnh viện bảo đảm chất lượng, số lượng và nguồn gốc thuốc Việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý tiết kiệm đã có tiến bộ Hệ thống bệnh viện đang sử dụng 65% thuốc sản xuất trong nước về chủng loại, phần còn lại là thuốc nhập từ nước ngoài Tuy nhiên về giá trị, thuốc trong nước chỉ chiếm 50%
do giá rẻ hơn, và đa số là thuốc mang tên gốc Công tác theo dõi tác dụng phụ của thuốc được tăng cường Các khoa dược bệnh viện từng bước vươn lên đảm nhiệm chức năng thông tin, tư vấn sử dụng thuốc, bước đầu thiết lập mỗi quan
hệ giữa bác sỹ, dược sỹ và y tá nhằm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, có hiệu quả cho người bệnh Tuy nhiên công tác cung ứng thuốccòn có nhiều bất cập Có quá nhiều nguồn cung ứng thuốc cho bệnh viện Ảnh hưởng của các hoạt động Marketing đối với việc kê đơn của bác sỹ ngày càng nghiêm trọng Hiện tượng
kê quá nhiều thuốc trong một đơn, kê thuốc với tên biệt dượcgây tình trạng lạm dụng thuốc và sử dụng không hợp lý Nhiều bệnh viện chưa đảm bảo cung ứng
đủ thuốc chủ yếu, người bệnh nội trú phải tự mua thuốc Có một số bệnh viện giá thuốc cao hơn so với thị trường
Thuốc = sản phẩm + thông tin Như vậy thông tin thuốc là chìa khoá cho mọi hoạt động của HĐT & ĐT, là yếu tố đầu tiên quyết định sử dụng thuốc hợp
lý, an toàn hiệu quả
1
Trang 12Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh là bệnh viện đa khoa hạng II trực thuộc Sở Y tế Nghệ an
Với nhiệm vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân thành phố Vinh và vùng phụ cận, hiện nay bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh có 220 giường bệnh và hơn 200 cán bộ nhân viên Với sự lớn mạnh nhanh chóng của bệnh viện, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngay càng tăng cao, công tác cung ứng thuốc của bệnh viện càng cần được quan tâm và chú trọng Nhằm góp
phần nhận thức rõ thực trạng hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, góp phần nâng cao chất lượng cung ứng thuốc, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: " Phân tích hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh năm 2012 " nhằm mục tiêu:
- Phân tích hoạt động lựa chọn và mua sắm thuốc tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2012
- Phân tích hoạt động tồn trữ, cấp phát và sử dụng thuốc tại bệnh viện năm
2012
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ đưa ra những ý kiến đề xuất kiến nghị, góp phần nâng cao hiệu quả cung ứng thuốc của Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
2
Trang 13CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1 QUẢN LÝ CUNG ỨNG THUỐC BỆNH VIỆN
Quản lý cung ứng thuốc bệnh viện là một chu trình khép kín gồm các bước thể hiện theo sơ đồ sau:
Hình 1.1 Chu trình cung ứng thuốc bệnh viện [11]
1.1.1 Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là việc xác định chủng loại thuốc để cung ứng Chủng loại thuốc cung ứng được thể hiện qua danh mục thuốc bệnh viện Xây dựng DMTBV là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hội đồng thuốc và điều trị, là khâu quan trọng của chu trình cung ứng thuốc DMTBV là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch điều trị hợp lý, an toàn và hiệu quả [2], [4], [38]
Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện:
LỰA CHỌN
(Selection)
Mô hình bệnh tật Phác đồ điều trị Ngân sách
Khoa học
Thông tin
Công nghệ
Trang 14Hình 1.2 Các yếu tố quyết định đến việc xây dựng DMTBV [33]
* Mô hình bệnh tật của bệnh viện
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng thời gian nhất định (thường là theo từng năm) về số bệnh nhân đến khám
và điều trị, hồ sơ bệnh án là tài liệu duy nhất để xác định chẩn đoán bệnh tật, do
đó hồ sơ bệnh án cần phải được ghi chép đầy đủ thông tin chủ yếu, những chẩn đoán cụ thể và chi tiết để có thể chọn được mã số Tổ chức y tế thế giới (WHO) ban hành danh mục phân loại quốc tế về bệnh tật ICD (International Classification Diseases), phân loại này đã được bổ sung sửa đổi 10 lần
Bảng phân loại bệnh tật lần thứ 10 (ICD-10) là sự tiếp nối hoàn thiện hơn
về cấu trúc phân nhóm và mã hoá của các bản ICD trước Gồm 21 chương bệnh, mỗi chương có một hay nhiều nhóm bệnh, mỗi nhóm bệnh có nhiều loại bệnh, mỗi loại bệnh có nhiều chi tiết bệnh theo nguyên nhân hay tính chất đặc thù của bệnh đó Với hệ thống mã 3 và 4 ký tự, kết hợp giữa ký tự chữ và ký tự số ký tự
Thuốc đã sử dụng, dự đoán trong tương lai
Danh mục thuốc bệnh viện
4
Trang 15đầu tiên là ký tự bắt đầu từ A đến Z ( trừ chữ cái U không sử dụng) và 2 đến 3
ký tự tiếp theo [21]
MHBT bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện không chỉ lựa chọn xây dựng danh mục thuốc phù hợp mà còn là cơ sở để bệnh viện hoạch định phát triển toàn diện trong tương lai MHBT luôn thay đổi theo thời gian, vì vậy các nhà quản lý cần phải nắm được để có những can thiệp và dự phòng phù hợp Việt Nam là quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới, Việt Nam có một MHBT đặc trưng của quốc gia nhiệt đới đang phát triển MHBT đang biến đổi phức tạp, chiếm tỷ lệ cao là các bệnh nhiễm khuẩn, những các bệnh không do nhiễm khuẩn cũng càng ngày càng tăng Theo WHO, giống như các nước đang phát triển khác Việt Nam phải chịu gánh nặng bệnh tật gấp đôi bởi vì trong khi những bệnh truyền nhiễm còn chưa kiểm soát được thì những bệnh không nhiễm khuẩn như đái tháo đường, cao huyết áp tăng mạnh, thêm vào đó là đại dịch HIV/AIDS và dịch lao hoành hành [18], [19]
* Phác đồ điều trị (hướng dẫn thực hành điều trị): là căn cứ quan trọng không thể thiếu trong việc lựa chọn và xây dựng DMTBV Pháp đồ điều trị là văn bản chuyên môn có tính chất pháp lý Nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị học mỗi loại bệnh Một hướng dẫn thực hành điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau
Các tiêu chí của hướng dẫn thực hành điều trị về thuốc gồm:
- Hợp lý: Đúng thuốc, đúng chủng loại, phối hợp đúng, còn hạn dùng
- An toàn: Không gây tai biến, không có tương tác thuốc
- Hiệu quả: Dễ dùng, khỏi bệnh, không để lại hậu quả xấu
- Kinh tế: Chi phí điều trị thấp nhất [11]
Ở Việt Nam, nhận thấy ý nghĩa sát thực của hướng dẫn thực hành điều trị, rất nhiều bệnh viện đã tiến hành xây dựng phác đồ điều trị cho bệnh viện mình, dựa trên hướng dẫn thực hành điều trị của Bộ Y tế
5
Trang 16* Chủ trương, chính sách của nhà nước: Ưu tiên thuốc thiết yếu, thuốc có trong danh mục thuốc chủ yếu, thuốc sản xuất trong nước có chất lượng đảm bảo [6]
* Danh mục thuốc thiết yếu: là căn cứ lựa chọn thuốc quan trọng trong bệnh viện Danh mục TTY là danh mục những loại thuốc thỏa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân Những loại thuốc luôn luôn sẵn có bất kì lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp
lý Danh mục TTY có đầy đủ các chủng loại thuốc để đáp ứng điều trị các bệnh thông thường, tên thuốc đơn giản, dễ sử dụng, dễ bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin và xác định được nhu cầu thuốc một cách hợp lý [11]
Ngày 01 tháng 07 năm 2005, Bộ trởng Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 17/2005/QĐ-BYT về việc ban hành danh mục TTY lần thứ V gồm 355 thuốc tân dược của 314 hoạt chất, 94 thuốc Y học cổ truyền, 126 cây thuốc nam và
215 vị thuốc để thay thế danh mục TTY lần thứ IV ban hành ngày 28/07/1999 [9] Nếu như trong danh mục cũ, chế độ sử dụng thuốc được phân thành nhiều bậc dựa theo xếp hạng bệnh viện thì hiện nay điều này đã được cải thiện: bệnh viện hạng 1 và hạng 2 được sử dụng thuốc với cùng một chế độ; tương tự là bệnh viện hạng 3 và không hạng [9]
* Danh mục thuốc chủ yếu: Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc chủ yếutại các cơ sở khám chữa bệnh nhằm mục tiêu đảm bảo sử dụng thuốc an toàn,hợp
lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu điều trị cho người bệnh và phù hợp với khảnăng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế Danhmục thuốc chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc thiết yếu củaViệt Nam
và của Tổ chức Y tế thế giới hiện hành, có hiệu quả tốt trong điềutrị Danh mục thuốc mới nhất được ban hành kèm theo quyết định số 31/2011/QĐ - BYT ngày 11/07/2011 với 1143 thuốc tân dược (các thuốc trong danh mục này không ghi hàm lượng, nồng độ, thể tích và khối lượng đóng gói), 57 tên thuốc phóng xạ và
6
Trang 17hợp chất đánh dấu, 91 thuốc chế phẩm YHCT xếp theo 1 1 nhóm tác dụng, 210
vị thuốc YHCT xếp theo 25 nhóm tác dụng [8]
DMTCY là cơ sở pháp lý để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc cụ thể cho đơn vị mình Căn cứ vào danh mục này, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện để lựa chọn tên cụ thể tên thành phẩm của thuốc (bao gồm cả nồng độ, hàm lượng, dạng dùng) để phục vụ cho công tác khám chữa bệnh Với các thuốc tân dược, được sử dụng các thuốc phối hợp nếu thuốc độ được phép lưu hành và các thành phần đơn chất của thuốc đó đều có trong danh mục Ưu tiên lựa chọn thuốc gốc, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước, khuyến khích sử dụng thuốc của doanh nghiệp đạt GMP [8]
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật: việc lựa chọn thuốc còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của các y bác sĩ, trang thiết bị kỹ thuật của bệnh viện
* Khả năng kinh phí của bệnh viện: kinh phí của bệnh viện là một trong những yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn và quyết định danh mục thuốc của bệnh viện Kinh phí của bệnh viện phụ thuộc vào sự đầu tư của nhà nước, chất lượng khám chữa bệnh, nguồn kinh phí từ BHYT, sự tài trợ của các cơ quan tổ chức trong và ngoài nước
Như vậy, lập DMTBV phải trải qua quá trình nghiên cứu, phân tích, dự đoán nhu cầu, điều kiện cung ứng thuận lợi, có hiệu quả điều trị cao nhất, ít tác hại nhất, ưu tiên thuốc nội cùng loại, hoặc thuốc của những hãng đã được chứng minh hiệu quả lâm sàng Mặt khác DMTBV phải phù hợp với khả năng tài chính của bệnh viện, phù hợp với điều kiện, trình độ kê đơn, khả năng kinh tế của bệnh nhân và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế [7] [12]
1.1.2 Mua thuốc:
Hoạt động mua thuốc tại bệnh viện được bắt đầu sau khi đã có bản dự trùthuốc của năm, dựa theo kế hoạch mua thuốc (theo 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng
7
Trang 18hoặc một năm) Hoạt động mua thuốc chấm dứt khi thuốc đã được kiểm nhận vào kho thuốc của khoa Dược
Quản lý mua sắm thuốc thể hiện trong sơ đồ sau:
Hình 1.3 Chu t rình mua thuốc [37]
* Xác định nhu cầu thuốc
- Để chuẩn bị cho quá trình mua thuốc được chủ động và để cho hoạt động cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời cần phải xác định được nhu cầu thuốc Xác định nhu cầu thuốc chính là xác định số lượng thuốc
- Có 3 phương pháp ước tính nhu cầu thuốc:
+ Phương pháp thống kê dựa trên sử dụng thuốc thực tế
+ Phương pháp dựa trên cơ sở quản lý các dịch vụ y tế
Xác định nhu cầu,
số lượng
Thu thập thông tin về
sử dụng, đánh giá Cân đối kinh phí và nhu cầu
Trang 19+ Phương pháp dựa trên MHBT và phác đồ điều trị
* Chọn phương thức mua: Theo chỉ thị 03/BYT-CT ngày 25/02/1997 của
Bộ Y tế đã chỉ rõ: "Việc mua bán thuốc phải thực hiện qua thể thức đấu thầu, chọn thầu, chỉ định thầu công khai theo quy định của nhà nước" vàthông tư số 10/TTLT/BYT-BTC ngày 10/08/2007 của Bộ Y tế và Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc bệnh cho nên việc lựa chọn hình thứcđấu
thầu rộng rãi là phương thức mua thuốc chủ yếu, các hình thức chào hàng cạnh tranh và chỉđịnh thầu thường chỉ sử dụng cho các nhu cầuđặc biệt hoặc phát sinh trong quá trình cung ứng thuốc[13], [14]
* Chọn nhà cung ứng: Sau khi kết quả trúng thầu được Sở Y Tế phê duyệt, bệnh viện tiến hànhký kết hợpđồng với các nhà thầu trúng Việc đặt hàng sẽtiến hành theo dự trù nhưng cũng cần phải xác định lượng đặt hàng và lượng
dựtrữ để phù hợp với nhu cầu sử dụng thực tế, tránh tồn đọng hay thiếu thuốc
- Lượng dự trữ thường xuyên: theo khuyến cáo thì số lượng dự trữthường xuyên cho kho thuốc bệnh viện bằng 1,5 - 2 lần số lượng cấp pháthàng tháng
-Lượng dự trữ bảo hiểm: đề phòng các biến động như giá USD tăng,mốc thời điểm điều chỉnh thuế nhập khẩu, dự phòng trong thời gian hết hợpđồng cũ
nhưng chưa kịp tổ chức đấu thầu
- Khoảng cách đặt hàng: theo nguyên tắc trong kho luôn phải lưu khomức
dự trữ tối thiểu cần thiết để đảm bảo quá trình KCB diễn ra liên tục trongmọi điều kiện cung ứng bình thường và không bình thường
* Nhận thuốc và kiểm tra: Nhận thuốc và ghi chép sổ sách rõ ràng sốlượng, qui cách, đối chiếu với các hoá đơn, phiếu báo lô
* Thanh toán: Thanh toán theo phương thức cụ thể tuỳ bệnh viện, có thểbằng tiến mặt, chuyển khoản Thanh toán theo số lượng đã mua và đúng giáđã ghi trong bản hợp đồng mua bán
* Thu thập thông tin về sử dụng, tiêu thụ: Cập nhật thông tin về tình hình tiêu thụ để có kế hoạch cho các kỳ mua hàng sau hợp lý hiệu quả hơn
9
Trang 201.1.3 Tồn trữ và cấp phát thuốc
Sau khi thuốc đã nhập vào kho, khoa Dược tồn trữ bảo quản, cấp phátthuốc, hóa chất, hàng tiêu hao đến các khoa lâm sàng và cận lâm sàng phục vụbệnh nhân
* Quản lý về tồn trữ, bảo quản:
Tồn trữ bảo quản bao gồm cả quá trình xuất nhập kho, quá trình kiểm tra, kiểm kê, dự trữ và các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hoá Thực hiện nghiêm túc quy chế dược về quản lý, bảo quản, kiểm nhập thuốc, theo dõi hạn dùng của thuốc Tất cả các khoa trong bệnh viện có sử dụng thuốc đều phải thực hiện các quy chế dược Trách nhiệm của khoa dược là hướng dẫn bác sĩ, y tá thực hiện nghiêm túc các quy chế này và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy chế dược tại bệnh viện
Để đảm bảo chất lượng thuốc trong quy trình tồn trữ đòi hỏi các khoa Dược phải có cơ sở vật chất đáp ứng các yêu cầu về bảo quản thuốc điều trị có quy trình thực hành bảo quản thuốc tốt trong khoa Dược
Kho thuốc phải được thiết kế đúng quy định
Đảm bảo thực hiện 5 chống
Đảm bảo thực hiện các quy chế quản lý đối với thuốc gây nghiện, hướng tâm thần, thuốc độc A - B theo đúng quy chế do Bộ Y Tế ban hành[3], [22] Các loại thuốc đều phải đảm bảo được quản lý giám sát đầy đủ về nguồn gốc xuất xứ, số đăng ký lưu hành, lô, hạn dùng, phiếu kiểm nghiệm, chất lượng cảm quan
* Quản lý cấp phát thuốc
Thông thường khoa Dược các bệnh viện cấp phát thuốc theo sơ đồ sau:
10
Trang 21Thuốc Y cụ Hóa chất
Hình 1.4 Quy trình cấp phát thuốc trong bệnh viện
Quy trình cấp phát thuốc từ khoa Dược đến khoa lâm sàng và đến bệnh nhân được xây dựng cụ thể dựa trên tính chất, đặc điểm của từng bệnh viện, trên nguyên tắc cấp phát kịp thời, thuận tiện [37] Ngày 16/4/2004 chỉ thị 05/2004/CT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng,
sử dụng thuốc trong bệnh viện đã nêu rõ: khoa Dược phải cung cấp các dịch vụ (thuốc, hóa chất) đến tận khoa lâm sàng Để đảm bảo công tác cấp phát thuốc theo quy chế bệnh viện, khoa Dược phải:
- Có kho chính, kho lẻ :
+ Kho chính: trưởng kho là dược sĩ, giúp trưởng khoa làm dự trù mua thuốc, hóa chất, vật dụng y tế tiêu hao, phải nắm vững tình hình tồn kho, cấp phát thuốc cho các kho lẻ và phòng pha chế
+ Kho lẻ: cấp phát cho các khoa điều trị, khoa cận lâm sàng, khoa khám bệnh Thuốc pha chế trong bệnh viện phải được bàn giao cho kho cấp phát lẻ Trường hợp hai cơ sở xa nhau sẽ cấp phát ngay tại phòng pha chế
- Thuốc thuốc gây nghiện, hướng tâm thần phải thực hiện cấp phátthuốc đúng quy chế
Khoa cận lâm sàng
Kho chính
Tổ pha chế Khoa lâm
sàng Kho lẻ
Ng ười bệnh
11
Trang 22- Phiếu lĩnh thuốc ghi sai hoặc phải thay thuốc sau khi có ý kiến củadược
sĩ khoa dược, bác sĩ điều trị sửa lại và ký xác nhận vào phiếu
- Phiếu lĩnh thuốc phải được trưởng khoa dược hoặc dược sĩ ủy nhiệmký tên
- Trước khi giao thuốc dược sĩ phải thực hiện 3 kiểm tra, 3 đối chiếutheo đúng quy chế sử dụng thuốc
* Hoạt động cấp phát được đánh giá là có hiệu quả khi:
- Luôn dự trữ trong kho một lượng thuốc hợp lý, không để xảy ra tìnhtrạng thiếu hoặc thừa thuốc
- Thuốc được bảo quản trong điều kiện tốt, không bị quá hạn sử dụng
- Hạn chế tối đa tình trạng hao hụt thuốc vì các nguyên nhân khác nhau
- Thuốc được cấp cho các viện, kho, phòng đúng, đủ và kịp thời
-Có đủ phương tiện vận chuyển thuốc nhanh chóng
- Theo dõi và hướng dẫn quản lý tốt tủ thuốc trực tại các khoa, phòngtrong bệnh viện
- Xử lý kịp thời và hợp lý những khó khăn ngoài dự kiến
- Lưu trữ các hồ sơ và dữ liệu đầy đủ, trung thực, chính xác và minh bạch [38]
1.1.4 Quản lý sử dụng thuốc:
Việc sử dụng thuốc không hợp lý đã và đang là vấn đề được quan tâm Sử
dụng thuốc không hợp lý sẽ gây nên hậu quả về kinh tế - xã hội rất nghiêmtrọng
Nó làm tăng chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khoẻ và làm giảm chấtlượng điều trị, đồng thời nó làm tăng nguy cơ xảy ra phản ứng có hại và làmcho bệnh nhân lệ thuộc thuốc
Sử dụng thuốc hợp lý là cải thiện hiệu quả sử dụng, nâng cao độ an toànvà đảm bảo tính kinh tế khi dùng thuốc cho từng cá thể bệnh nhân Tính hợplý phải cân nhắc sao cho chỉ số Hiệu quả/rủi ro và Hiệu quả/kinh tế đạt caonhất[10] Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra khái niệm "yêu cầu về sử dụngthuốc hợp lý là bệnh nhân nhận được thuốc thích hợp với bệnh cảnh, với liềudùng thích hợp với từng
12
Trang 23cá nhân, trong thời gian thích hợp với giá cả thấp nhấtvới người đó và cộng đồng" [39]
Chu trình quản lý sử dụng thuốc mô tả theo sơ đồ sau:
Hình 1.5 Chu trình quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện [36]
* Kê đơn: Việc kê đơn thuốc phải thực hiện đúng quy chế kê đơn và bán
thuốc theo đơn Tên thuốc trong đơn phải ghi theo tên quốc tế Phải chính xác đường dùng, liều dùng mỗi lần, số lần dùng thuốc một ngày, thời khắc dùng thuốc, thời gian cả đợt điều trị Việc kê đơn phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
+ Khi thấy thật cần thiết phải dùng tới thuốc
+ Những thuốc tối cần thiết, có đầy đủ thông tin
+ Chọn thuốc trị đúng bệnh cho từng người bệnh cụ thể
+ Liều thuốc hợp lý
+ Chỉ định dùng đúng lúc
+ Chú ý thận trọng với từng cơ địa, trạng thái người bệnh
+ Hạn chế, thận trọng trong các điều trị phối hợp với nhiều thuốc hoặc thuốc hỗn hợp nhiều thành phần
+ Thận trọng đối với các phản ứng phụ, không mong muốn của thuốc + Chọn thuốc hiệu quả cao, tốn ít chi phí [3], [22]
Kê đơn đúng quy định
Giao phát
Hướng dẫn, theo
13
Trang 24* Đóng gói và dán nhãn thuốc: theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thuốc
được ghi nhãn đúng là mỗi thuốc phải có bao gói riêng, có đầy đủ các thông tin: tên bệnh nhân, tên thuốc, hàm lượng, thời gian và cách sử dụng Nếu bệnh nhân được hướng dẫn tỉ mỉ cách dùng thuốc từ bác sĩ, người bán, người cấp phát thuốc thì khả năng tuân thủ chỉ định cao Nếu người bệnh không nhớ cách dùng thì khả năng họ sẽ tự sử dụng theo ý mình, gây ra những sai sót trong sử dụng thuốc Vì vậy, việc ghi nhãn thuốc là rất quan trọng trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
* Giao phát: thuốc sau khi được dán nhãn và đóng gói đầy đủ sẽ được cấp phát cho bệnh nhân
* Hướng dẫn, theo dõi sử dụng:
+ Thông tin về thuốc cho bệnh nhân và hướng dẫn bệnh nhân cách sử dụng thuốc hợp lý an toàn
+ Theo dõi giám sát việc sử dụng thuốc của người bệnh trong quá trình điều trị
+ Theo dõi phản ứng có hại, những tương tác bất lợi của thuốc
+ Cảnh giác với những thuốc chưa biết phản ứng có hại
1.2 TÌNH HÌNH CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
Nền kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới với phạm vi ngày càng sâu rộng, đời sống của đại bộ phận dân chúng được nâng cao Nhu cầu sử dụng thuốc trong nước đang ngày càng tăng Bình quân tiền thuốc/ người năm 2011 là 27,6 USD tăng 24,1% so với năm 2010 (22,25 USD/ người)
14
Trang 25Bảng 1.1: Chi phí của các bệnh viện năm 2008– 2009
Đơn vị: tỷ đồng
lệ2009/2008(%)
Ngân sách nhà nước cấp 25.269,00 32.012,50 126,7
Tổng tiền viện phí thu được 17.257,18 22.525,60 130,5
Tổng tiền mua thuốc trong bệnh
viện
7.955,00 10.791,30 135,7
Tiền thuốc BHYT 4.572,30 6.574,00 143,8
Tiền thuốc viện phí 2.674,20 3.351,80 125,3
T ỷ lệ tiền thuốc/tổng tiền viện phí (%) 46,1% 47,9%
(Nguồn: Cục quản lý chữa bệnh)[28]
Tổng kinh phí hoạt động của các bệnh viện tăng qua các năm Tiền mua thuốc các bệnh viện tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với tổng kinh phí các bệnh viện qua các năm Thuốc nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng cao, theo số liệu không chính thức năm 2011 thuốc ngoại chiếm hơn 60% (11.131/18.500 tỷ đồng) tiền mua thuốc của các bệnh viện Đâylà một thách thức cho công tác dược khi phải quản lí một lượng lớn kinh phí đúng các quy định, đảm bảo cung ứng đầy đủ và kịp thời cho điều trị
Thực trạng nguồn ngân sách cấp cho các bệnh viện rất hạn chế trong khi nguồn kinh phí từ BHYT tăng theo mức đóng của người tham gia nhưng cũng rất khó khăn trong khi các dịch vụ và kỹ thuật mới y tế liên tục phát triển, danh mục thuốc ngày càng mở rộng , các khoa dược luôn phải cân đối giữa nhu cầu thuốc và khả năng kinh phí của bệnh viện
Việc thiếu hụt ngân sách dành cho mua thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng thuốc Yếu tố đầu tiên quyết định đến việc chọn lựa thuốc khi chấm thầu là chất lượng, hiệu quả điều trị, nhưng yếu tố quyết định cuối
15
Trang 26cùng trong một số trường hợp là giá cả Do đó kinh phí dành cho mua thuốc là một vấn đề cần được xem xét, cân nhắc và điều chỉnh
Có nhiều phương thức mua thuốc nhưng hiện nay tất cả các cơ sở y tế đang thực hiện mua thuốc thông qua đấu thầu theo Luật Đấu thầu và hướng dẫnthông tư liên tịch số 10/2007/TTL-BYT-BTC ngày 10/08/2007 hướng dẫn thực hiệnđấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế công lập theo một trong
ba hình thức:
- Đấu thầu tập trung tại Sở Y tế
- Áp dụng kết quả thầu của bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố
- Tự đơn vị tổ chức đấu thầu
Tuy nhiên công tác đấu thầu mua sắm thuốc vẫn còn một số tồn tại thách thức:
- Hạn chế về mặt năng lực quản lý của cán bộ, các văn bản pháp lí trong công tác xây dựng kế hoạch thầu, hồ sơ mời thầu, giá kế hoạch, cũng như tổ chức chấm thầu thể hiện qua kết quả trúng thầu: giá thuốc trúng thầu vẫn có nhiều biến động, thời gian hoàn thiện công tác đấu thầu kéo dài, gây thiếu thuốc
- Hạn chế về mặt chuyên môn: Các hoạt động đấu thầu, hồ sơ mời thầu chuẩn, tiêu chí lựa chọn thuốc trong xét thầu vẫn chưa có các tài liệu hướng dẫn
cụ thể, việc thống nhất lựa chọn thuốc vẫn mang tính cảm tính, đôi khi thiếu chính xác và dễ phát sinh tiêu cực
- Danh mục thuốc đấu thầu theo tên biệt dược và kết quả chấm thầu chịu nhiều tác động xấu của thị trường chi phối
- Đôi khi, giá thuốc của cùng một một mặt hàng thuốc trúng thầu lại chênh
lệch rất nhiều giữa các bệnh viện và giữa các khu vực, các miền trong cả nước
- Giá thuốc trúng thầu của một số loại thuốc cao hơn giá thuốc cùng loại trên thị trường cùng thời điểm Giá thuốc trúng thầu cao một phần do nguyên nhân như hiện tượng thông thầu vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ…
- Chưa có mặt bằng chung về giá dược liệu, vacxin nên khó khăn trong công tác quản lý giá thuốc đấu thầu các mặt hàng đó
- Các bệnh viện có xu hướng chọn thuốc ngoại nhập với chi phí ngày càng cao dù thuốc trong nước đã sản xuất được với cùng hoạt chất, chất lượng tốt, giá
16
Trang 27thành hợp lí Một phần do các công ty sản xuất thuốc trong nước chưa quan tâm
và đầu tư đúng mức tới hoạt động marketing, xây dựng chiến lược sản phẩm nhằm nâng cao uy tín, thương hiệu thuốc của mình làm giảm lợi thế cạnh tranh khi tham gia đấu thầu
- Đánh giá tiêu chuẩn kỹ thuật chưa thống nhất, tương đương điều trị gần
như chưa thực hiện được dẫn tới vẫn phải lựa chọn những thuốc đã có uy tín trên
thế giới dù giá thành rất cao
Về cấp phát thuốc: theo chỉ thị 05/2004/CT-BYT của bộ trưởng BYT vềviệc chấn chỉnh công tác cung ứng thuốc, sử dụng thuốc trong bệnh viện, khoaDược một số bệnh viện đã tổ chức cung ứng thuốc đến tận khoa lâm sàng [16].Theo báo cáo năm 2005 của Vụ điều trị, 78% khoa Dược đưa thuốc tới khoalâm sàng, trong đó 64% khoa Dược cấp phát thuốc tại 100% khoa lâm sàng[27] Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số bệnh viện thực hiện nghiệpvụ kho chưa tốt để thuốc quá hạn sử dụng Nhiều bệnh viện chưa áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý nên công tác cấp thuốc phát còn chậm trễ, tốncông, mất thời gian, tốn nhân lực
Về công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc: công tác dược lâm sàngkhông phải là mới Tuy nhiên cho đến nay trừ một số bệnh viện trung ương
và một số bệnh viện tuyến tỉnh, khoa Dược đã triểnkhai công tác dược lâm sàng, phát huy nhiệm vụ hướng dẫn sử dụng thuốc,còn lại hầu hết các nơi chức năng này còn khá mờ nhạt, công việc chủ yếu vẫnlà xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện và tham mưu cho lãnh đạo bệnh viện trong công tác đấu thầu thuốc Các bệnh viện tuyến huyện thì công tác dược lâm sàng chưa phát huy được vai trò vàđáp ứng được yêu cầu Nguyên nhân chính của tình trạng trên một hiện nay chúng ta chưa có chương trình đào tạo dược sĩ lâm sàng nên chưa có đội ngũ dược sĩ lâm sàng theo đúng nghĩa, bên cạnh đó còn do tình trạng thiếu dược sĩ tại các bệnh viện tuyến huyện Để đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả thìhoạt động thông tin thuốc đóng vai trò rất quan
17
Trang 28trọng Các bệnh viện đã bướcđầu thành lập đơn vị thông tin thuốc của mình, việc
áp dụng thông tin để quảnlý và cấp phát thuốc tại một số khoa Dược bệnh viện
là một tiến bộ đáng kểcủa khối Dược bệnh viện Ngoài các bệnh viện lớn trực thuộc trung ương, mộtsố bệnh viện tỉnh cũng đã quản lý và cấp phát thuốc thông qua phần mềm nốimạng vi tính toàn bệnh viện Hoạt động của HĐT &ĐT tại các bệnh viện, cácthông tin về dược lâm sàng, thông tin về thuốc và các hoạt động về ADR lànhững nội dung góp phần quan trọng trong công tác đảm bảo sử
dụng thuốcan toàn, hợp lý và hiệu quả Tuy nhiên sau nhiều năm được thành lập, nhìnchung các HĐT &ĐTở các bệnh viện chưa phát huy được hết vai trò
củamình [12]
Có quá nhiều tên thuốc gây lúng túng cho bác sĩ khi kê đơn, gây khókhăn cho cả người bán và người mua thuốc Bên cạnh đó còn một số bác sĩ có "thói quen" kê đơn thuốc biệt dược đắt tiền Theo báo cáo của 155 bệnh việncó 64,3% bệnh viện bình bệnh án 1 lần/ tháng Có 82,9 bệnh viện kê đơnthuốc theo tên gốc cho bệnh nhân ngoại trú [22]
Nguyên nhân của những tình trạng trên là:
+ Hệ thống văn bản pháp quy chưa hoàn thiện, còn nhiều thiếu sót, sơ hở
và chưa thống nhất, một số văn bản đang trong tình trạng thử nghiệm
+Sự quản lý nhà nước và các cấp lãnh đạo chưa đồng bộ, còn lơ là thiếusót, trình độ các cán bộ còn non nớt yếu kém Một số bộ phận nhỏ các cán
bộ bị suy thoái chạy theo lợi nhuận, chưa thực sự quan tâm đến sức khỏe người dân
+ Nguyên nhân khách quan: kinh tế lạc hậu, đặc biệt nền công nghiệp
yếukém , cuộc sống vật chất thiếu thốn [31]
Về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, trong những năm gần đây, đã có nhiều
đề tài nghiên cứu về hoạt động cung ứng thuốc bệnh viện thực hiện tại trường Đại học Dược Hà Nội dưới cấp độ khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ…Các
đề tài đã tập trung nghiên cứu về 4 nội dung của chu trình cung ứng thuốc trong
18
Trang 29các bệnh viện như: bệnh viện Hữu Nghị, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Hà Tây, bệnh viện E, bệnh viện Châm Cứu… Các đề tài đã sơ bộ cho thấy trong những năm gần đây, lĩnh vực cung ứng thuốc bệnh viện đã được quản lý và chấn chỉnh ngày một tốt hơn Một số đề tài tiến hành can thiệp một phần hoạt động
cung ứng thuốc của bệnh viện như luận văn thạc sĩ của Hoàng Hồng Hải bước đầu nghiên cứu can thiệp về công tác ghi bệnh án theo quy chế tại bệnh viện Châm Cứu Trung ương [32], luận văn thạc sĩ của Thân Thị Hải Hà nghiên cứu can thiệp việc thực hiện quy chế kê đơn thuốc ngoại trú và ghi chỉ định thuốc trong bệnh án tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương [31]…Tuy nhiên, còn nhiều vấn
đề bất cập cần được các cơ quan chức năng và các bệnh viện cải tiến và hoàn thiện trong những năm tiếp theo
Tóm lại, trước những thực trạng này, các bệnh viện cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc thắt chặt quản lý để đạt mục tiêu cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, an toàn, kinh tế và hiệu quả
1.3 MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TP VINH:
1.3.1 Chức năng, nhiệm vụcủa bệnh viện đa khoa TP Vinh:
Nhiệm vụ chinh của bệnh viện là thực hiện công tác Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh:
- Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc các bệnhviện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú
- Tổchứckhámsứckhoẻvàchứngnhậnsứckhoẻtheoquyđịnhcủanhànước
- Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong địa bàn thành phố
- Tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự cùng Thành đội Vinh
- Tổ chức chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng củabệnh viện [22]
19
Trang 30Bên cạnh đó bệnh viện còn phối hợp với Trung tâm Y tế thành phố thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch và là cơ sở thực hành của trường đại học
Y Vinh [22]
1.3.2 C ơ cấu nhân lực của bệnh viện:
Cơ cấu nhân lực của bệnh viện đa khoa TP Vinh được thể hiện ở bảng 1.2.Năm 2012, lượng bác sĩ sau đạihọc tăng, như vậy trình độcủa các bác sĩ ngày càng được nâng cao Tỷ lệ bác sĩ/ y tá điều dưỡng năm 2012 là khoảng 1:2,5 bằng tỷ lệ được các bệnh viện ở Việt Nam áp dụng bố trí trongnhững năm gần đây Nhưng tỷ lệ dược sĩ đại học của khoa Dược so với bác sĩnăm 2012 là 1/25 là tỷ lệ rất thấp so với thế giới ( l/3,3) và Việt Nam (1/7)
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân lực của bệnh viện đa khoa TP Vinh
Năm Trình độ
1.3.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của khoa dược bệnh viện
Khoa Dược bệnh viện đa khoa TP Vinh cũng như các khoa dược khác đều
có vị trí chức năng và nhiệm vụ chung được quy định trong quy chế bệnh viện như sau:
* Vị trí:
20
Trang 31- Là một chuyên khoa thuộc sự quản lý điều hành trực tiếp của Giám đốc bệnh viện
- Là một tổ chức chuyên môn, kỹ thuật, kinh tế tham gia vào quá trình điều trị, có phần trách nhiệm với bệnh viện về hiệu quả điều trị
- Nằm ở tuyến điều trị, là nơi thực thi chính sách quốc gia về thuốc
- Bảo đảm công tác quản lý và thực thi các quy chế Dược tại bệnh viện[22]
Sơ đồ tổ chức khoa dược
Hình 1.6 Sơ đồ tổ chức khoa dược
Khoa Dược được đặt trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Giám đốc bệnh viện với sự cố vấn của HĐT&ĐT về hoạt động chuyên môn
BAN GIÁM ĐỐC
TRƯỞNG KHOA DƯỢC
Đơn vị thông tin
HĐT&ĐT
21
Trang 32- HĐT&ĐT đã xây dựng quy trình giao phát thuốc phù hợp với điều kiện thực tế của bệnh viện, xây dựng danh mục thuốc phù hợp với đặc thù về bệnh tật
và chi phí về thuốc, vật tư tiêu hao của bệnh viện
- Trưởng khoa Dược có nhiệm vụ chỉ đạo điều hành mọi hoạt động của khoa Dược
- Các tổ có nhiệm vụ như sau:
+ Đơn vị thông tin thuốc và dược lâm sàng phụ trách các vấn đề về cập nhật thông tin thuốc trong khoa, đặc biệt là thông tin về tác dụng không mong muốn của thuốc Về công tác dược chính: kiểm tra theo dõi việc thực hiện quy chế dược tại các khoa phòng và khoa Dược, quản lý chất lượng thuốc trong bệnhviện, thu hồi thuốc kém chất lượng, quá hạn, duyệt sổ lĩnh thuốc hàng ngày cho các khoa phòng
+ Tổ kho: quản lý việc dự trù, cấp phát và bảo quản thuốc theo đúng quy chế + Tổ thống kê: tập hợp số liệu về số lượng thuốc, tiền thuốc xuất nhập hàng tháng và báo cáo thường xuyên định kỳ cho phòng tài chính kế toán
+ Tổ cấp phát: làm nhiệm vụ cấp phát thuốc từ kho trực tiếp cho người bệnh và cấp phát thuốc cho các khoa phòng
• Cơ cấu nhân lực của khoa dược bệnh viện đa khoa TP Vinh:
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực khoa dược bệnh viện
Năm Trình độ
Trang 33Trong cơ cấu nhân lực của khoa dược bệnh viện, chiếm tỷ lệ lớn nhất ược sĩ trung học Số lượng dược sĩ trung học tăng đều qua các năm Tỷ lệ DSĐH/DSTH và dược tá là 1/7 thấphơn so với tỷ lệ chung của các bệnh viện Việt Nam hiện nay là 1/3 Điều nàygây ảnh hướng đến công tác cung ứng thuốc của khoa Dược, các nhân viêncủa khoa phải kiêm nhiệm nhiều công việc Vấn
làD-đề đặt ra là nâng cao trình độchuyên môn cho đội ngũ DSTH và dược tá, đồng thời tuyển dụng thêm Dượcsĩ đại học về công tác tại khoa
1.3 4 Tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa TP Vinh
Số lượng bệnh nhân đến tham gia KCB tại bệnh việnđa khoa TP Vinh
trong các năm vừa qua thể hiện theo bảng sau:
Bảng 1.4 Số lượng bệnh nhân đến KCB tại bệnh viện đa khoa TP Vinh
trong năm 2012
Bệnh nhân điều trị nội trú 13.832 13,6
Số lượng bệnh nhân thể hiện quy mô KCB của bệnh viện, giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quát về nhu cầu sử dụng thuốc của bệnh viện Số lượng bệnh nhân đến KCB tại bệnh viện đa khoa TP Vinh năm 2012 khá lớn so với các bệnh viện tuyến huyện, điều đó chứng tỏ bệnh viện đã đáp ứng được phần nào nhu cầu khám và chữa bệnh của nhân dân khu vực thành phố Vinh, hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân của một bệnh viện đa khoa hạng II, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên
23
Trang 34CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNGNGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu các hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện đa khoa
TP Vinh như lựa chọn thuốc, mua thuốc, bảo quản và cấp phát thuốc,giám sát sử dụng thuốc thông qua:
- Danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện năm 2012
- Hồ sơ lưu trữ bệnh tật hàng năm, hồ sơ bệnh án năm 2012
- Đơn thuốc lưu tại khoa Dược năm 2012
- Sổ sách xuất nhập, thống kê sử dụng thuốc hàng năm lưu tại khoa Dược năm 2012
- Chứng từ, hoá đơn lưu tại bệnh viện năm 2012
- Các văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề cung ứng thuốc tại bệnh viện
đa khoa TP Vinh
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Ph ương pháp mô tả hồi cứu
- Hồi cứu mô hình bệnh tật , mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực…tạiBệnh viện đa khoa TP Vinhnăm 2012
- Hồi cứu các hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện đa khoa TP Vinh- bao gồm: hoạt động lựa chọn xây dựng danh mục thuốc, hoạt động muathuốc, hoạt động cấp phát bảo quản tồn trữ thuốc, hoạt động giám sát sử dụngthuốc trong năm 2012
- Hồi cứu các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động cung ứng thuốcbệnh viện đa khoa TP Vinh
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp tính tỷ trọng số lượng thuốc, nhân lực, kinh phí,bệnh tật…
- Phương pháp so sánh giữa các đối tượng…
24
Trang 35- Phương pháp mô hình hóa, biểu đồ, đồ thị: minh họa cơ cấu thuốctrong
danh mục, kinh phí, các quy trình cung ứng thuốc…
2.2.3 Trình bày và xử lý số liệu
Số liệu được trình bày và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel forWindows và Microsoft Word for Windows
25
Trang 362.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu của đề tài được tóm tắt trong sơ đồ sau ( hình 2.1)
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu của đề tài
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TP VINH NĂM 2012
Lựa chọn thuốc:
- Quy trình lựa chọn thuốc
- Danh mục thuốc bệnh viện
- Phân tích tính thích ứng của danh mục thuốc bệnh viện
Mua t huốc:
- Nguồn mua thuốc
- Kinh phí mua thuốc
- Bảo quản tồn trữ thuốc: Hệ thống kho, quản
lý nghiệp vụ kho, quản lý hàng tồn kho
- Hoạt động cấp phát thuốc: quy trình cấp phát thuốc
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
KHOA TP VINH
3.1.1 Về quy trình lựa chọn thuốc
Để xây dựng danh mục thuốc hợp lý cho toàn bệnh viện cần dựa trên mô hình bệnh tật cụ thể của bệnh viện, nguồn kinh phí hiện có của bệnh viện, danh mục thuốc thiết yếu và danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y Tế ban hành Tại bệnh viện đa khoa TP Vinh, việc lựa chọn thuốc cho danh mục thường tiến hành vào tháng 1 hàng năm
Hình 3.1 Quy trình xây dựng danh mục thuốc tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Danh mục bệnh viện
Các khoa lâm sàng xem xét dự thảo
để đề xuất bổ sung hoặc loại bỏ
Hội đồng thuốc và điều trị xem xét và
thông qua danh mục
Giám đốc bệnh viện phê duyệt
Khoa Dược lập dự thảo danh mục dựa
trên danh mục sử dụng năm 2011 và
dự kiến phát sinh năm 2012
27
Trang 38Nhận xét:Với qui trình lựa chọn danhmục thuốcnhư trên, danh mục thuốc
bệnh viện chưa tính đến sự thay đổi của mô hình bệnh tật nhưng nhìn chung đã đảm bảo thuốc vừa đúng theo danh mục Bộ Y tế và BHXH yêu cầu, vừađáp ứng được nhu cầu điều trị tại các khoa phòng
3.1.2 Danh mục thuốc bệnh viện
Hàng năm theo trên bệnh viện tổ chức lựa chọn danh mục thuốc theo quy trình trên, danh mục thuốc theo hoạt chất của bệnh viện đa khoa TP Vinhnhìn chung khá ổn định qua cácnăm
Dưới đây ta nghiên cứu danh mục thuốc của bệnh viện nhóm tác dụng
dược lý
28
Trang 39Bảng 3.1 Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện theo nhóm tác dụng dược lý
năm 2012
1 Thuốc điều trị KST, chống nhiễm khuẩn 51 16,8
2 Hormon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết tố 42 13,8
5 Thuốc giảm đau hạ sốt chống viêm không sreroid và điều trị gout 24 7,9
8 Dung dịch điều chỉnh nước điện giải, cân bằng acid – base và các
9 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng 10 3,3
13 Thuốc chống dị ứng và dùng trong những trường hợp quá mẫn 5 1,6
15 Thuốc giãn cơ và ức chế cholinesterase 4 1,3
17 Thuốc điều trị đau nửa đầu,chóng mặt 3 1,0
19 Thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu 2 0,7
22 Thuốc có tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ và chống đẻ non 2 0,7
23 Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc 2 0,6
24 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch 0 -
Trang 40Năm 2012 danh mục thuốc bệnh viện có 303 hoạt chất Chiếm tỷ lệ lớn nhất trong danh mục là nhóm thuốc điều trị KST và chống nhiễm khuẩn Tiếp theo là nhóm hormon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết và nhóm thuốc tim mạch So với danh mục thuốc chủ yếu của Bộ Y tế, danh mục bệnh viện có hoạt chất ở hầu hết các nhóm thuốc, trừ một số nhóm: ung thư, thẩm phân phúc mạc, thuốc chống Parkinson là những nhóm bệnh mà bệnh viện chưa triển khai điều trị Như vậy danh mục thuốc của bệnh viện nhìn chung có thể đáp ứng nhu cầu điều trị của nhiều loại bệnh nhưng chủng loại hoạt chất chưa phong phú
3.1.3 Phân tích tính thích ứng của danh mục thuốc:
Tính thích ứng của danh mục thuốc với mô hình bệnh tật của bệnh viện
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là số liệu thống kê về các loại bệnh tật và
tần suất xuất hiện của chúng trong một khoảng thời gian nhất định, thường là
theo từng năm Mô hình bệnh tật của bệnh viện đa khoa TP Vinh trong năm
2012 theo bảng phân loại bệnh tật quốc tế ICD 10 được thể hiện qua bảng 3.2
30