HĐT & ĐT tăng cường năng lực can thiệp vào sử dụng thuốc hợp lý, an toàn thông qua bình đơn thuốc, bình bệnh án, triển khai thực hiện cấp phát thuốc tại khoa lâm sàng, đảm bảo đủ thuốc c
Trang 1NĂM 2012
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2014
Trang 2NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60720412
Người hướng dẫn khoa học: TS.VŨ THỊ TRÂM
Nơi thực hiện: Trường ĐH Dược Hà Nội
Bệnh viện đa khoa huyện Ninh Giang Thời gian thực hiện: Từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014
HÀ NỘI 2014
Trang 3Lời cảm ơn!
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành tới
TS.Vũ Thị Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Hương Những người thầy đã
tạo điều kiện và hướng dẫn tôi hoàn thành công trình tốt nghiệp này
Chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trường ĐH Dược Hà Nội, phòng sau đại học, Bộ môn Quản lý và kinh tế dược cùng toàn thể các thầy cô trong trường ĐH Dược Hà Nội đã tận tình giúp đỡ từ khi tôi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa của Trường đại học Dược Hà Nội Lòng nhiệt tình, tâm huyết của các thầy cô sẽ theo tôi trong suốt quá trình công tác và học tập sau này
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc bệnh viện đa khoa huyện Ninh Giang, khoa Dược, cùng các phòng ban chức năng của bệnh viện đa khoa Ninh Giang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn Sở Y tế tỉnh Hải Dương, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Dược Hải Dương, các phòng ban của nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học
Tôi cũng chân thành cảm ơn các anh, chị đồng nghiệp đã nhiệt tình
hỗ trợ, giúp đỡ tôi hoàn thành công trình!
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã luôn quan tâm, động viên chia sẻ cùng tôi trong cuộc sống và sự nghiệp!
Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2014
Học viên
Đỗ Thế Quang
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình cung thuốc trong giai đoạn hiện nay 3
Ninh Giang
22
1.3.2 Tổ chức và cơ cấu nhân lực của bệnh viện Ninh Giang 24
2.3.1 Phân tích các hoạt động lựa chọn thuốc vào DMTVB năm 2012 29 2.3.2 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng và sử dụng thuốc
trong điều trị ngoại trú đối tượng BHYT tại BVNG năm 2012
29
2.3.3 Phân tích một số chỉ số trong đơn thuốc ngoại trú 30
2.4.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chỉ số kê đơn trong đơn thuốc BHYT
ngoại trú
30
2.5 Nguồn số liệu và phương pháp phân tích số liệu 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 53.1 Phân tích hoạt động lựa chọn vào DMTBV năm 2012 33 3.1.1 Qui trình xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 33 3.1.2 Các hoạt động cụ thể để lựa chọn thuốc vào DMTBV 34
3.2 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng và sử dụng thuốc
ngoại trú BHYT năm 2012
45
3.2.2 Sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú BHYT 52
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN
4.2 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng và sử dụng thuốc trong
điều trị ngoại trú BHYT
55
4.2.2 Sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú BHYT 56
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1: Danh mục BVNG năm 2012
Phụ lục 2: Phân tích DMT sử dụng theo phương pháp ABC
Phụ lục 3: Bảng thu thập số liệu đánh giá chỉ số sử dụng thuốc
BHYT ngoại trú
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
BV : Bệnh viện
BVĐKNG : Bệnh viện đa khoa Ninh Giang
DMTTT : Danh mục thuốc thiết yếu
Trang 71.6 Cơ cấu nhân lực khoa dược BVDDKNG năm 2012 28 3.7 Số lượng phác đồ điều trị năm 2012 tại Bệnh viện Ninh Giang 34 3.8 Số lượng thuốc thuộc các tuyến bệnh viện sử dụng năm 2012 35 3.9 Danh mục thuốc trúng thầu năm 2012 của Sở Y tế HD 35 3.10 Cơ cấu thành phần hội đồng thuốc & điều trị BVNG năm 2012 36 3.11 Số lần họp của Hội đồng thuốc và điều trị năm 2012 38 3.12 Đánh giá các tiêu chí lựa chọn thuốc vào DMT bệnh viện năm 2012 39
3.14 Số lượng danh mục thuốc bệnh viện năm 2012 43
3.16 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 45
3.18 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo tên generic và biệt dược gốc 47 3.19 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần, đa thành phần năm 2012 47 3.20 Cơ cấu thuốc chủ yếu trong DMT sử dụng năm 2012 48 3.21 Tỷ lệ danh mục thuốc sử dụng so với danh mục thuốc xây dựng 48
Trang 83.22 Tỷ lệ phần trăm số lượng và giá trị sử dụng theo phân tích
3.30 Cơ cấu chi phí bệnh nhân đái tháo đường và bệnh nhân khác 55
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1.2 Các yếu tố quyết định và ảnh hưởng tới MHBT bệnh viện 11 1.3 Các yếu tố quyết định đến việc xây dựng DMTBV 12
1.5 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa Ninh Giang 24
3.7 Quy trình lựa chọn và mua thuốc tại BV Đa khoa Ninh Giang
năm 2012
33
3.8 Qui trình lựa chọn thuốc vào DMTBV năm 2012 42
Trang 101
ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người là nguồn lực quí báu nhất của xã hội, quyết định sự phát triển của đất nước Trong đó, sức khỏe là vốn quí nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Vì vậy quan tâm chăm sóc sức khỏe cho mọi người chính là
quan tâm đầu tư cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân của nước ta nêu rõ: Mọi công dân đều
có quyền được bảo vệ và tăng cường sức khỏe Sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân là trách nhiệm cao quý của Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp và toàn thể xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống y tế quốc gia Để hoạt động khám chữa bệnh được tốt có nhiều yếu tố liên quan trong đó thuốc đóng một vai trò rất quan trọng góp phần vào thành công chung của các bệnh viện
Hoạt động cung ứng thuốc là một trong những hoạt động thường xuyên của bệnh viện Cung ứng thuốc không kịp thời, đầy đủ và chất lượng không đảm bảo không những gây lãng phí tiền của, mà còn gây nên những tác hại đến sức khỏe, thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện
Trong những năm qua, ngành Dược Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận Đặc biệt đã đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng cho phòng bệnh và chữa bệnh, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, công tác cung ứng thuốc còn nhiều mặt hạn chế, việc kê đơn không đúng quy chế đang có nguy cơ phát triển và rất khó quản lý tại các cơ sở y tế Mặt khác, theo báo cáo của Cục Quản lý khám chữa bệnh, phần lớn các bệnh viện của tỉnh, thành phố trong cung ứng thuốc còn lúng túng về việc triển khai đấu thầu mua thuốc
Trang 112
Bệnh viện đa khoa huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương là bệnh viện hạng III trực thuộc Sở Y tế Hải Dương Trong công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bệnh viện luôn tiếp nhận lưu lượng bệnh nhân đến khám, điều trị ngày càng tăng với mô hình bệnh tật rất đa dạng nên nhu cầu thuốc của bệnh viện rất lớn Vì vậy, việc nghiên cứu nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng thuốc, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện là hết sức cần thiết
Với ý nghĩa đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích một số
hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện đa khoa huyện Ninh Giang năm
2012” với hai mục tiêu sau:
1 Phân tích hoạt động lựa chọn thuốc tại bệnh viện đa khoa Ninh Giang năm 2012
2 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng và sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú cho đối tượng BHYT tại Bệnh viện đa khoa Ninh Giang năm 2012
Từ các kết quả nghiên cứu, sẽ đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện đa khoa huyện
Ninh Giang trong thời gian tới
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình cung ứng thuốc trong giai đoạn hiện nay
1.1.1 Tình hình cung ứng thuốc trên thế giới
Trong vài thập kỷ trở lại đây cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học tiên tiến được áp dụng đã tác động đến mọi mặt của nền kinh tế trong đó có ngành dược Giá trị thuốc sử dụng trên thế giới ngày càng tăng với tỷ lệ tăng hàng năm trung bình 9 -10% [3]
Bảng 1.1 Thị trường và tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp dược thế giới
giai đoạn 2000- 2009
tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm, %
(Nguồn: IMS Health 2007)
Thị trường dược phẩm thế giới ngày càng mở rộng và phát triển Thuốc sản xuất đa dạng về số lượng, chủng loại, phong phú về mẫu mã và chất lượng ngày càng được cải thiện Bên cạnh đó hệ thống cung cấp thuốc cũng đa dạng
và phát triển không ngừng Mô hình cung ứng thuốc ở từng quốc gia, từng
Trang 13Bảng 1.2 Doanh số bán thuốc trên thế giới từ năm 2000 - 2008 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
đó, TTBQĐN hàng năm ở Thái Lan là 9 USD; Indonesia là 3 USD, thậm chí
ở một số vùng Châu Phi là 1 USD [3]
Trang 14mô hình bệnh tật của các nước đó [3]
1.1.2 Tình hình cung ứng thuốc ở Việt Nam
Hệ thống cung ứng thuốc trong thời kỳ kinh tế hoạt động theo cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, thuốc được cung ứng theo kế hoạch với giá bao cấp của Nhà nước Một bộ phận không nhỏ trong nhân dân được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về thuốc, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống quản lý Nhà nước và quản lý chất lượng thuốc Mặc dù trong thời kỳ bao cấp TTBQĐN mỗi năm chỉ là 0,3 USD nhưng đã đảm bảo được nhu cầu tối thiểu trong công tác phòng, chữa bệnh và chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy vậy tình trạng khan hiếm thuốc vẫn là một vấn đề cần quan tâm [3]
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang hoạt động theo cơ chế mới, nhà nước đã xoá bỏ bao cấp trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cung ứng thuốc
và xóa bỏ chế độ bù lỗ, giá cả đã phản ánh đúng giá trị của thuốc Thuộc tính hàng hóa của thuốc đã được công nhận, nhưng đặc biệt vẫn phải nhấn mạnh thuốc cần được sử dụng an toàn, hợp lý, có hiệu quả và luôn luôn phải đảm bảo chất lượng cao [3], [28], [29]
Sau hơn 10 năm vận hành theo cơ chế thị trường, ngành Dược nước ta cũng như các ngành kinh tế khác đã có những bước phát triển mạnh Hệ thống phân phối thuốc được tổ chức sắp xếp lại, mạng lưới bán lẻ thuốc được mở rộng đến tận miền núi, vùng sâu, vùng xa Thuốc được cung cấp đủ cả về số lượng, chủng loại và đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, chấm dứt tình trạng thiếu thuốc trong những năm trước đây
Trang 156
Bảng 1.3 Số liệu về sản xuất, nhập khẩu và sử dụng thuốc qua các năm
Năm Tổng trị giá tiền thuốc sử dụng
(1.000USD)
Trị giá sản xuất trong nước (1.000USD)
Trị giá thuốc nhập khẩu (1.000USD)
Bình quân tiền thuốc đầu người (USD)
Nguồn: Cục Quản lý dược 2010
Theo báo cáo của Cục quản lý dược Việt Nam tính đến hết năm 2009,
có 22.619 loại thuốc lưu hành trên cả nước, trong đó có 10.692 thuốc sản xuất trong nước dựa trên 503 hoạt chất và 11.923 thuốc nước ngoài với 927hoạt chất Ngành dược không chỉ đảm bảo về số lượng mà chất lượng thuốc luôn được giám sát chặt chẽ với hệ thống kiểm tra chất lượng thường xuyên được củng cố ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước [28], [29]
Thuốc sản xuất trong nước ngày càng đa dạng về số lượng, chủng loại, mẫu mã đẹp, công nghệ bào chế và chất lượng ngày một nâng cao Giá trị thuốc sản xuất trong nước liên tục tăng Thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được khoảng 49% nhu cầu trong nước Nhưng trên thực tế, trình độ sản xuất thuốc trong nước còn thấp, tình trạng thiếu vốn, kỹ thuật, công nghệ cũng như năng lực quản lý làm hạn chế khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến và trình độ Quốc tế Trong khi đó, thuốc sản xuất trong nước chủ yếu chỉ là thuốc
Trang 16*Thực trạng tình hình cung ứng thuốc trong bệnh viện:
Trong sự tiến bộ của công tác dược nói chung, có sự đóng góp quan trọng của công tác dược bệnh viện Các bệnh viện tiếp tục tăng cường và duy trì thực hiện tốt chỉ thị số 05/2004/CT-BYT ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ
y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện [9] HĐT & ĐT tăng cường năng lực can thiệp vào sử dụng thuốc hợp lý, an toàn thông qua bình đơn thuốc, bình bệnh án, triển khai thực hiện cấp phát thuốc tại khoa lâm sàng, đảm bảo đủ thuốc có chất lượng và sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn cho người bệnh
Theo báo cáo của 721 bệnh viện (27 bệnh viện trực thuộc Bộ, 171 bệnh viện tỉnh, 491 bệnh viện huyện, 18 bệnh viện ngành) cho thấy: 94% HĐT &
ĐT hoạt động và duy trì tốt kết quả thực hiện chỉ thị số 05/2004/CT-BYT ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ y tế, 97% HĐT & ĐT xây dựng DMTBV; 76% bệnh viện tổ chức đấu thầu mua thuốc, vận chuyển, kiểm nhập, cấp phát thuốc theo quy định; 98% bệnh viện cung ứng đủ thuốc cho người bệnh nội trú, không để người bệnh nội trú tự mua thuốc; 81% bệnh viện thực hành bảo quản thuốc tốt; 79% nhà thuốc bệnh viện hoặc nhà thuốc của Công ty dược đặt tại bệnh viện hoạt động theo đúng quy chế hiện hành; 93% bệnh viện có theo dõi ADR; 79% bệnh viện có hoạt động thông tin thuốc trong bệnh viện [43] Tuy nhiên, hoạt động thông tin thuốc còn yếu, là do các dược sĩ còn hạn chế về tiếng Anh và nghiệp vụ thông tin; 62% HĐT & ĐT bệnh viện bình đơn thuốc, bình bệnh án tại các khoa lâm sàng Trong khối bệnh viện, thuốc sử dụng có xu hướng dùng thuốc ngoại đắt tiền, thuốc trong nước chỉ chiếm 15% thị phần (theo giá trị) và chiếm 61% về số lượng; lượng thuốc ngoại chiếm 86% về giá trị và 60% về số lượng [43]
Trang 178
1.2 Chu trình cung ứng thuốc trong bệnh viện
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chu trình cung ứng thuốc gồm 4 hoạt động: Lựa chọn thuốc vào danh mục
Mua sắm thuốc
Tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc
Hướng dẫn, sử dụng thuốc
Đây là một chu trình khép kín, đưa thuốc từ nơi sản xuất đến người sử dụng,
và kết quả sử dụng trên người bệnh sẽ là cơ sở cho quá trình cung ứng tiếp theo Cung ứng thuốc đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu điều trị, hợp lý,
an toàn hiệu quả là nhiệm vụ hàng đầu của khoa Dược trong các bệnh viện
Chu trình cung ứng thuốc được thể hiện qua sơ đồ 1.1
Hình 1.1 Chu trình cung ứng thuốc trong bệnh viện
1.2.1 Lựa chọn thuốc
Để có DMTBV hợp lý, bệnh viện cần căn cứ vào một số nội dung sau:
- Danh mục thuốc sử dụng năm trước
- Mô hình bệnh tật tại bệnh viện
- Phác đồ điều trị được bệnh viện xây dựng
Trang 189
- Danh mục thuốc trúng thầu của Sở Y tế
- Danh mục thuốc chủ yếu của Bộ Y tế
- Xây dựng các tiêu chí lựa chọn thuốc vào danh mục
- Kinh phí của đơn vị
Đây là công việc quan trọng trong chu trình cung ứng thuốc của bệnh viện Xác định mô hình bệnh tật (MHBT) và lựa chọn một danh mục thuốc hợp lý là cơ sở để đảm bảo cho việc chủ động cung ứng thuốc Hơn nữa, việc lựa chọn DMTBV phù hợp còn là cơ sở cho việc điều trị an toàn, hiệu quả, tiết kiệm chi phí và sử dụng hợp lý nguồn tài chính trong bệnh viện
Yêu cầu của các thuốc được lựa chọn là hiệu quả, an toàn, có chất lượng và giá cả hợp lý Lựa chọn thuốc trong bệnh viện phải bám sát với danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB do Bộ Y tế ban hành
và danh mục thuốc trúng thầu của Sở Y tế Hải Dương năm 2012
Đây cũng chính là hai cơ sở pháp lý để các cơ sở KCB lựa chọn xây dựng danh mục thuốc cụ thể cho đơn vị mình, đồng thời cũng là cơ sở để BHYT thanh toán tiền thuốc cho người bệnh có thẻ BHYT
* Mô hình bệnh tật bệnh viện
MHBT là căn cứ khoa học quan trọng để xác định nhu cầu thuốc, vì nó xuất phát từ thực trạng của những yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định sử dụng thuốc [36]
MHBT ở bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong một khoảng thời gian nhất định (thường là theo từng năm) về số bệnh nhân đến khám và điều trị Hồ sơ bệnh án là tài liệu duy nhất để xác định chẩn đoán bệnh tật, do
đó hồ sơ bệnh án cần phải ghi chép đầy đủ các thông tin chủ yếu, những chẩn đoán cụ thể và chi tiết để có thể chọn được mã số thích hợp [36]
Bệnh tật là một trong những yếu tố mà con người luôn phải đấu tranh
để sinh tồn và phát triển Nó phụ thuộc vào cơ thể sống của mỗi cá thể, điều kiện sống: thời tiết, khí hậu, môi trường cũng như các yếu tố kinh tế, văn hoá
xã hội, đời sống tinh thần của cá thể và cộng đồng Như vậy, tình trạng bệnh
Trang 19Nhưng cũng khác với MHBT ở cộng đồng, bệnh viện là nơi khám và chữa bệnh cho người mắc bệnh trong cộng đồng, mỗi bệnh viện được tổ chức khác nhau, đặt trên các địa bàn khác nhau với đặc điểm dân cư địa lý khác nhau, đặc biệt là sự phân công chức năng nhiệm vụ trong tuyến y tế khác nhau, từ đó dẫn đến MHBT của mỗi bệnh viện cũng khác nhau ở Việt Nam cũng như thế giới có 2 loại MHBT bệnh viện: một là MHBT của bệnh viện đa khoa và một là MHBT của bệnh viện chuyên khoa [36]
MHBT của bệnh viện cũng như MHBT của cộng đồng, chúng đều bị chi phối bởi một số yếu tố như: điều kiện kinh tế - xã hội, tôn giáo, khí hậu địa lý, tổ chức màng lưới dịch vụ y tế, sinh thái, trình độ khoa học kỹ thuật
Mặt khác, MHBT của bệnh viện còn phụ thuộc vào sự lựa chọn của người bệnh và phụ thuộc vào chính bệnh viện
- Yếu tố về người bệnh: tuổi, giới, dân tộc, gia đình, nghề nghiệp, tài
sản, tính cách, bạn bè, văn hoá, tính chất nhận thức của người bệnh về bệnh và những lợi ích mong đợi của quá trình trị liệu bệnh
- Yếu tố về chính bệnh viện: sự dễ tiếp cận, sự hấp dẫn, thái độ phục vụ,
chất lượng kỹ thuật chẩn đoán và điều trị, giá cả
Các yếu tố này luôn đan xen với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau [36] Có thể khái quát những yếu tố quyết định ảnh hưởng tới MHBT của bệnh viện theo hình 1.2
Trang 2011
Hình 1.2 Các yếu tố quyết định và ảnh hưởng tới MHBT bệnh viện
* Danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc bệnh viện
- Danh mục thuốc chủ yếu (DMTCY)
Danh mục thuốc chủ yếu được xây dựng trên cơ sở Danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam và của WHO hiện hành [12], [26], [30], [31]
Danh mục thuốc chủ yếu là cơ sở pháp lý để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc cụ thể cho đơn vị mình Căn cứ vào danh mục này, đồng thời căn cứ vào MHBT, khả năng kinh phí của bệnh viện để lựa chọn cụ thể từng loại thuốc có trong danh mục, đưa vào xây dựng DMTBV phục vụ công tác khám, chữa bệnh đáp ứng các mục tiêu:
- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
- Đáp ứng nhu cầu điều trị cho người bệnh
- Trình độ chuyên môn của thầy thuốc, thái độ đạo đức của cán bộ y tế
- Lãnh đạo
- Kỹ thuật điều trị và chẩn đoán , chất lượng, giá cả, tài chính…
Người bệnh
- Tuổi, giới, dân tộc, văn
hoá…
- Điều kiện sinh sống
- Điều kiện lao động
- Điều kiện kinh tế
Trang 21- Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV)
DMTBV là danh mục mang tính chất đặc thù riêng cho mỗi bệnh viện,
danh mục này được xem xét và điều chỉnh, bổ sung theo yêu cầu điều trị DMTBV là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch cho nhu cầu điều trị hợp lý an toàn và hiệu quả, phù hợp với khả năng khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm - trình độ chuyên môn của thầy thuốc và kinh phí của bệnh viện, xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện là nhiệm vụ đầu tiên của HĐT & ĐT
Xây dựng DMTBV phải dựa trên các yếu tố: MHBT, phác đồ điều trị, các thống kê chi phí về thuốc, các số liệu lịch sử về sử dụng thuốc, danh mục thuốc chủ yếu dùng cho các cơ sở khám chữa bệnh.[12], [18], [23]
Các yếu tố quyết định đến việc xây dựng DMTBV hình 1.3
Hình 1.3 Các yếu tố quyết định đến việc xây dựng DMTBV
Hội đồng thuốc và điều trị
Kế hoạch tổng hợp
Xây dựng
mô hình bệnh tật
Tài vụ
Kinh phí từ ngân sách, viện phí,
BHYT
Khoa phòng
Nhu cầu thuốc
Danh mục thuốc bệnh viện
Trang 2213
1.2.2 Mua thuốc
Hoạt động mua thuốc có liên quan đáng kể tới chất lượng thuốc, thuốc được mua phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả điều trị Hoạt động này bắt đầu khi có bản dự trù thuốc của năm, dựa theo kế hoạch mua thuốc (1tháng, 3 tháng, 6 tháng) và kết thúc khi thuốc đã được kiểm nhập vào kho thuốc của khoa dược bệnh viện [13], [14]
Công việc mua thuốc là công việc thứ hai trong chu trình cung ứng thuốc Đây cũng là một công việc rất quan trọng và đóng vai trò lớn trong công việc tăng cường quản lý, sử dụng kinh phí của các bệnh viện Sau khi xem xét và lựa chọn thuốc, bệnh viện tiến hành mua thuốc Việc mua thuốc được thực hiện qua các bước sau:
Hoạt động mua thuốc được thể hiện bởi sơ đồ sau [32]
Chọn nhà cung ứng
Đặt hàng và theo dõi
Trang 2314
* Lựa chọn phương thức mua thuốc
Năm 1997, Bộ Y tế ban hành chỉ thị số 03/BYT-CT ngày 25/02/1997
về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý và dựng thuốc tại bệnh viện đó ghi rõ “việc mua bán thuốc phải thực hiện qua thể thức đấu thầu, chọn thầu, chỉ định thầu công khai theo quy định của nhà nước”
Đấu thầu: Là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên
mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án theo qui định của nhà nước trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế
*Phương thức đấu thầu bao gồm:
- Đấu thầu một túi hồ sơ: Được áp dụng với hình thức đấu thầu rộng rãi
và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC
- Đấu thầu hai túi hồ sơ: Được áp dụng với hình thức đấu thầu rộng rãi
và đấu thầu hạn chế trong đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn
- Đấu thầu hai giai đoạn: Được áp dụng với hình thức đấu thầu rộng rãi
và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC có
kỹ thuật công nghệ mới, phức tạp, đa dạng
* Các hình thức lựa chọn nhà thầu [10]:
- Đấu thầu rộng rãi: Không hạn chế số lượng tham gia của nhà thầu;
Trong HSMT không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của các nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một số nhà thầu dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh
- Đấu thầu hạn chế: được áp dụng cho các trường hợp:
+ Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài
+ Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ một số nhà thầu có khả năng đáp ứng
+ Gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm
- Chỉ định thầu: áp dụng cho các trường hợp:
+ Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay + Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài
Trang 2415
+ Gói thầu thuốc dự án bí mật quốc gia, dự án cấp bách
+ Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục vụ, duy tu, mở rộng công suất thiết bị
+ Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới 500 triệu đồng, gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp có giá trị gói thầu dưới 1 tỷ đồng thuộc dự án đầu
tư phát triển, gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu dưới 100 triệu đồng thuộc dự án hoặc dự toán mua sắm thường xuyên
- Mua sắm trực tiếp: được áp dụng khi hợp đồng đối với gói thầu
có nội dung tương tự được ký trước đó không quá 6 tháng
- Chào hàng cạnh tranh: áp dụng cho các trường hợp:
+ Gói thầu có giá gói thầu dưới 2 tỷ đồng
+ Đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về chất lượng
- Tự thực hiện: áp dụng cho các trường hợp:
+ Chủ đầu tư là nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu do mình quản lý và sử dụng
+ Đơn vị giám sát và thực hiện gói thầu phải độc lập với chủ đầu tư về tổ chức và tài chính
- Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt: áp dụng cho các trường
hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo qui định
Thực trạng trên toàn quốc về cung ứng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh cho thấy tùy theo tình hình của từng địa phương mà công tác tổ chức đấu thầu cung ứng thuốc có khác nhau, mỗi địa phương lựa chọn hình thức khác nhau, có địa phương sử dụng hình thức phối hợp
Theo báo cáo khảo sát của hơn 350 bệnh viện năm 2009 cho thấy 92% bệnh viện thực hiện cung ứng thuốc thông qua đấu thầu theo Sở Y tế, hoặc tự
tổ chức đấu thầu, một tỷ lệ nhỏ 5,3% (tuyến tỉnh) và 1,7% (tuyến huyện) áp dụng phương thức chào hàng cạnh tranh hoặc áp giá kết quả thầu của các bệnh viện cùng tuyến trên cùng địa bàn [19]
Trang 2516
Sau khi có kết quả đấu thầu, bệnh viện sẽ ký kết các hợp đồng nguyên tắc
và thực hiện mua thuốc dựa trên các hợp đồng đã ký Khoa Dược bệnh viện đặt hàng theo dự trù hàng tháng
* Lựa chọn nhà cung ứng
Việc lựa chọn nhà cung ứng, chính là tổ chức đấu thầu để chọn ra nhà thầu, có năng lực đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của bên mời thầu Quá trình tổ chức đấu thầu phải được thực hiện theo đúng các thông tư, nghị định của Chính phủ về việc đấu thầu, mua sắm hàng hoá [5], [13], [14], [25]
1.2.2.1 Đặt hàng và theo dõi đơn hàng
Sau khi đặt hàng, bên đặt hàng phải giám sát chặt chẽ đơn đặt hàng về
số lượng thuốc, chủng loại thuốc, chất lượng thuốc cũng như giá và tiến độ giao hàng được quy định trong hợp đồng đã ký
Với mỗi loại thuốc khác nhau yêu cầu điều kiện bảo quản cũng khác nhau, vì vậy phải đóng gói thuốc đúng quy cách, lưu ý các thuốc dễ bị hỏng
vỡ, đặc biệt là các loại thuốc tiêm, thuốc nước, thuốc đựng trong các chai lọ thuỷ tinh Các loại thuốc kháng sinh, vitamin, thuốc mỡ, cồn thuốc rất dể bị hỏng, bị chảy nước, bay hơi trong điều kiện nắng nóng [34] Chính vì vậy, ngoài việc giám sát đơn đặt hàng còn phải giám sát và chú ý tới điều kiện nhiệt độ khi vận chuyển các thuốc
Công việc vận chuyển thuốc thường do bên bán đảm nhận, đặc biệt bên bán phải có các biện pháp phòng tránh các yếu tố làm hỏng thuốc, theo đúng như hợp đồng mua bán thuốc đã ký kết
Thực tế tại các bệnh viện hiện nay một số bệnh viện khoa Dược dự trù thuốc theo tháng sau khi có kết quả kiểm kê Trên cơ sở số lượng thuốc tồn kho khoa Dược làm dự trù và gửi cho nhà cung ứng, chậm nhất 5 ngày đơn vị cung ứng phải giao hàng, trong trường hợp đặc biệt thuốc cấp cứu hoặc do thiên tai, dịch bệnh cung cấp sau 24h Một số bệnh viện làm dự trù theo quí và chậm nhất sau 5 ngày phải giao hàng
Trang 26Sau khi kiểm nhận đầy đủ sẽ chuyển hoá đơn lên phòng Tài chính kế toán để làm phiếu nhập kho và làm thủ tục thanh toán
1.2.2.3 Các phương thức thanh toán
Thanh toán tiền mua thuốc theo đúng số lượng đã mua và đúng giá trong bản hợp đồng mua bán Bệnh viện thường toán cho nhà các nhà cung ứng bằng hình thức chuyển khoản trong vòng 90 ngày
1.2.3 Tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc
1.2.3.1 Tồn trữ, bảo quản thuốc
Chất lượng thuốc có thể bị ảnh hưởng do quá trình tồn trữ và bảo quản Chính vì vậy kho thuốc phải có điều kiện phù hợp để bảo quản thuốc, tránh các yếu tố gây hỏng hay làm giảm chất lượng thuốc Kho phải thoáng mát, cao ráo, sạch sẽ, có kho hoá chất, kho thuốc tân dược, kho dược liệu bảo quản riêng Kho phải đủ ánh sáng và được trang bị các phương tiện bảo quản: tủ lạnh, điều hoà nhiệt độ, máy hút ẩm, quạt thông gió, ẩm kế, nhiệt kế, phòng chống cháy nổ [34]
Các thuốc khi được nhập vào kho cần phải tuân theo điều kiện bảo quản của nhà sản xuất, nếu không có yêu cầu bảo quản đặc biệt thì áp dụng điều kiện bảo quản thông thường (15 - 30oC) Các thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần bảo quản theo đúng quy định [34]
Hạn dùng của thuốc cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thuốc Cần lưu giữ thuốc theo quy định hạn gần xuất trước (First-
Trang 2718
expiry, First-out) và cần có cơ chế loại bỏ thuốc hết hạn Đối với các thuốc có cùng hạn sử dụng, tuân theo quy định nhập trước xuất trước (First-in, First-out) [34]
Kho thuốc cần xây dựng các quy trình quản lý, kiểm soát việc kiểm kê
và tồn trữ bảo quản thuốc theo đúng quy định Việc bảo quản thuốc tốt không những là việc cất giữ an toàn các thuốc, mà còn bao gồm cả việc thực hiện đầy đủ các hệ thống hồ sơ, sổ sách, tài liệu kể cả giấy biên nhận, phiếu xuất và các quy trình thao tác đặc biệt cho quá trình bảo quản, kiểm soát theo dõi xuất nhập thuốc và chất lượng thuốc [34]
1.2.3.2 Cấp phát thuốc
Quy trình cấp phát thuốc từ khoa Dược đến các khoa lâm sàng, cận lâm sàng và người bệnh, được xây dựng cụ thể dựa trên tình hình nhân lực của khoa Dược và căn cứ nhu cầu điều trị của mỗi bệnh viện, trên nguyên tắc đảm bảo phục vụ thuốc kịp thời, thuận tiện nhất cho điều trị Bệnh viện nên tổ chức riêng việc cấp phát thuốc nội trú và cấp phát thuốc ngoại trú
Kho cấp phát nội trú, cấp phát thuốc theo phiếu lĩnh thuốc của các khoa phòng hàng ngày [23] Kho ngoại trú cấp phát theo đơn của thầy thuốc trong bệnh viện theo đúng chế độ kê đơn và cấp phát theo đơn của Bộ Y tế [17] Các kho phải có thẻ kho riêng cho từng loại thuốc Kho ngoại trú cuối ngày phải kiểm kê, đối chiếu các thuốc quý hiếm có đơn giá cao Đối với các thuốc pha chế trong bệnh viện, phải bàn giao cho các kho cấp phát lẻ; thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần bảo quản theo đúng quy chế [23] Các phiếu lĩnh thuốc yêu cầu phải có bác sĩ và dược sĩ ký duyệt trước khi lĩnh thuốc, khi lĩnh thuốc phải có ký nhận của người lĩnh thuốc và của thủ kho cấp phát thuốc Trước khi cấp phát thuốc, yêu cầu dược sĩ phải thực hiện 3 kiểm tra - 3 đối chiếu theo quy chế sử dụng thuốc, khoa Dược phải chịu trách nhiệm về toàn bộ chất lượng thuốc do khoa Dược phát ra [24]
Việc cấp phát thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều trị bệnh HĐT&ĐT xây dựng quy trình cấp phát càng khoa học bao nhiêu, thì các khoa
Trang 281.2.4 Giám sát sử dụng thuốc
1.2.4.1 Giám sát thực hiện danh mục thuốc
Việc giám sát thực hiện danh mục thuốc, là giám sát việc tuân thủ theo DMTBV Chỉ thị 05/2004/CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử
dụng thuốc trong bệnh viện đã ghi rõ: “Đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo
danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh, không để người bệnh nội trú phải tự mua thuốc trong danh mục thuốc chủ yếu” [9]
Để đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo DMTBV, HĐT & ĐT của bệnh viện ngoài việc thường xuyên rà soát DMTBV còn phải đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện vấn đề tuân thủ danh mục thuốc: Xem xét và đưa ra các quyết định đối với việc sử dụng thuốc không có trong danh mục; quyết định có thể bao gồm cả việc đồng ý bổ sung thuốc vào trong danh mục; xây dựng quy trình và danh sách các sản phẩm thuốc, được thông qua trong các trường hợp thay thế điều trị; thông báo và phổ biến kịp thời những thay đổi trong danh mục thuốc bệnh viện [24]
1.2.4.2 Giám sát kê đơn, chỉ định dùng thuốc
Kê đơn và chỉ định dùng thuốc do các bác sĩ thực hiện, các nguyên nhân gây sai sót ở khâu kê đơn, chỉ định dùng thuốc rất đa dạng và phức tạp
Có thể do trình độ chẩn đoán bệnh, hiểu biết về thuốc, do ý thức trách nhiệm,
y đức, do tác động của cơ chế thị trường chi phối, do sức ép xã hội Vì vậy,
Trang 2920
muốn quản lý việc kê đơn, chỉ định dùng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm, cần yêu cầu các bác sĩ thực hiện đúng các quy định của bệnh viện và của Nhà nước: Kê đơn trong danh mục thuốc đã được bệnh viện xây dựng, thực hiện tốt theo quy chế kê đơn, quy trình kê đơn và sử dụng thuốc của bệnh viện Kê đơn theo phác đồ điều trị và luôn đúc rút kinh nghiệm, với nhiều biện pháp như: bình đơn thuốc, sinh hoạt về thông tin thuốc, các tiến bộ về thuốc định kỳ trong bệnh viện Để đảm bảo kê đơn, chỉ định dùng thuốc thực hiện 5 đúng: đúng thuốc, đúng người bệnh, đúng liều dùng, đúng đường dùng, đúng thời gian dùng [17], [23]
Để tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả trong bệnh viện cần rất nhiều hoạt động đồng bộ, trong đó trước tiên là HĐT&ĐT cần giám sát kê đơn thường xuyên thông qua bình đơn thuốc, bình bệnh án [17], [32] Công văn số 3483/YT-ĐTr ngày 19/5/2004 của Vụ điều trị - Bộ y tế, hướng dẫn thực hiện chỉ thị 05/2004/CT-BYT ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ y
tế, quy định bác sĩ phải kê đơn trong DMTBV Trong đơn phải ghi chính xác liều dùng mỗi lần, số lần dùng thuốc và thời gian dùng thuốc trong ngày, thời gian cho cả đợt điều trị Thuốc trong đơn ghi theo tên gốc với thuốc đơn chất, chỉ kê đơn thuốc khi thật cần thiết và chỉ kê những thuốc tối thiểu cần, đồng thời phải có đủ thông tin về thuốc đó Hạn chế và thận trọng trong phối hợp nhiều thuốc hoặc dùng thuốc hỗn hợp nhiều thành phần, thận trọng với các phản ứng phụ và phản ứng có hại của thuốc [10]
Đối với các đơn thuốc ngoại trú cần kiểm tra một số các chỉ số:
- Số thuốc trung bình cho 1 đơn thuốc
- Tỷ lệ % đơn có kháng sinh
- Tỷ lệ % đơn có vitamin
- Tỷ lệ % đơn có một thuốc tiêm
Việc kiểm tra các chỉ số trên nhằm mục đích giám sát việc kê đơn và tuân thủ DMTBV [17]
Trang 30và phát hiện các tương tác thuốc (nếu có) [10] Thông qua đó HĐT & ĐT của bệnh viện họp rút kinh nghiệm, nhằm tăng cường công tác sử dụng thuốc hợp
lý, an toàn, hiệu quả, tiết kiệm và nâng cao chất lượng điều trị của bệnh viện
1.2.4.3 Quản lý thông tin thuốc trong bệnh viện
Với một nền khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì vấn đề thông tin càng trở lên cần thiết, đặc biệt là thông tin về thuốc trong hoạt động khám chữa bệnh tại các bệnh viện Công văn số 10776/YT-ĐTr ngày 13/11/2003 của Vụ điều trị - Bộ y tế về việc hướng dẫn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện như sau: Có nhân lực đặc trách, có kinh phí hoạt động để quản lý thông tin về thuốc trong bệnh viện; liên hệ với trung tâm thông tin quốc gia, trung tâm quốc gia theo dõi ADR để các bệnh viện bổ sung, cập nhật thông tin thuốc từ những nguồn xác định, tin cậy, chính xác và khách quan
Đơn vị thông tin thuốc bệnh viện không chỉ làm nhiệm vụ cung cấp thông tin, mà còn thu thập các thông tin về sử dụng thuốc tại các khoa lâm sàng và hướng dẫn sử dụng thuốc cho người bệnh
Hiện nay, nguồn thông tin ngày càng phong phú và tiếp cận cũng dễ dàng hơn Vì vậy, đơn vị thông tin thuốc bệnh viện cũng phải hướng dẫn các bác sĩ, dược sĩ tiếp cận các nguồn thông tin chính xác và đáng tin cậy Ngoài các nguồn thông tin từ sách báo, tạp chí còn một nguồn thông tin từ Internet [8] Theo WHO, nguồn thông tin này được chia làm các cấp bậc với độ tin cậy khác nhau Do đó đơn vị thông tin thuốc bệnh viện cũng phải tiếp cận và xử lý các nguồn thông tin này, đồng thời phải liên hệ với các đơn vị thông tin thuốc của các bệnh viện khác để trao đổi và chia sẻ thông tin [20]
Trang 3122
1.2.4.4 Giám sát, theo dõi các phản ứng có hại của thuốc
Để tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả trong điều trị cho người bệnh, việc giám sát và theo dõi các phản ứng có hại của thuốc là hết sức cần thiết Các phản ứng có hại của thuốc thực chất là tác dụng không mong muốn và đôi khi rất nghiêm trọng, cũng có khi còn gây cho người bệnh những bệnh mới có thể rất nặng, gây tàn tật kéo dài thậm chí tử vong Do đó điều quan trọng là phải tìm cách hạn chế càng nhiều càng tốt nguy cơ gặp phải những phản ứng này Vì vậy, vai trò của người thầy thuốc là phải giám sát và theo dõi các phản ứng có hại của thuốc, đồng thời chẩn đoán đúng, kê đơn phù hợp và sử dụng thuốc đúng liều cho từng người bệnh căn cứ vào những hướng dẫn điều trị hợp lý an toàn [20]
1.3 Một vài nét về bệnh viện đa khoa huyện Ninh Giang
1.3.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của BVĐK huyện Ninh Giang
Huyện Ninh Giang nằm ở phía đông của tỉnh Hải Dương, cách trung tâm tỉnh 30km, tiếp giáp với hai huyện thuộc hai tỉnh là Vĩnh Bảo- Hải Phòng
và Quỳnh Phụ- Thái Bình
Bệnh viện Ninh Giang được thành lập từ thời Pháp thuộc có tên là Nhà Thương Khum, sau hòa bình lập lại năm 1954 được đổi tên là bệnh viện Ninh Giang có địa chỉ thuộc khu 6 thị trấn Ninh Giang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Trải qua nhiều năm xây dựng và trưởng thành đến nay cơ sở vật chất trang thiết bị của bệnh viện đã được đầu tư mua sắm, xây dựng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trong huyện, bệnh viện được trang bị nhiều máy móc hiện đại như máy chụp X quang kỹ thuật số, máy siêu âm màu 4D, máy xét nghiệm huyết học, sinh hóa tự động, máy theo dõi chức năng sống Bệnh viện thực hiện được nhiều kỹ thuật chuyên môn cao trong ngoại sản, nội soi tai mũi họng, dạ dày đặc biệt đã cấp cứu thành công nhiều ca bệnh nặng, hiểm ngèo
Bệnh viện đa khoa Ninh Giang là bệnh viện hạng III, trực thuộc sở Y tế Hải Dương Năm 2012 được biên chế 150 giường bệnh với 180 cán bộ nhân viên, thực hiện 07 nhiệm vụ chính là:
Trang 327- Quản lý kinh tế trong bệnh viện
Năm 2012 bệnh viện Ninh Giang đạt được một số chỉ tiêu kế hoạch như sau:
Bảng 1.4 Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch năm 2012 của BVĐK Ninh Giang
tính
Năm 2012 Thực
hiện
%
KH
Trong đó - BV đa khoa Giường 135 100
- PKĐK khu vực Giường 15 100
II Chỉ tiêu chuyên môn
1 Tổng số lần khám bệnh Lần 93.527 129,9
2 Tổng sổ Bệnh nhân điều trị nội trú B.N 12.240 122,4
3 Tổng số ngày điều trị nội trú Ngày 67.610 123,49
4 Ngày ĐT trung bệnh của BN nội trỳ Ngày 5,52 90,52
5 Tổng sổ Bệnh nhân điều trị ngoại trú BN 348 34,8
6 Công xuất sử dụng giường bệnh % 123,49 123,49
Trang 3324
tính
Năm 2012 Thực
hiện KH %
13 Nội soi Tai-Mũi-Họng Ca
4.435 443,5
14 Nội soi Thực quản-Dạ dày Ca
15 Nghiên cứu khoa học Đề tài 2 33,3
1.3.2 Tổ chức và cơ cấu nhân lực của BVĐK huyện Ninh Giang
1.3.2.1 Tổ chức BVĐK huyện Ninh Giang
Sơ đồ tổ chức BVĐK huyện Ninh Giang được trình bày tại hình 3.1
Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức BVĐK huyện Ninh Giang
Khoa hồi sức cấp cứu
Khoa truyền nhiễm
Các phòng chức năng
Khoa dược - vật tư y tế
Khoa xét nghiệm, chẩn đoán
Phòng
Y tá điều dưỡng
Trang 3425
Tổ chức BVĐK huyện Ninh Giang gồm: 7 khoa lâm sàng, 4 khoa cận
lâm sàng, 4 phòng chức năng va 1 phòng khám khu vực, ban lãnh đạo bệnh viện gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc phụ trách các khu vực chuyên môn được phân công
1.3.2.2 Cơ cấu nhân lực của BVĐK huyện Ninh Giang
Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất liên quan trực tiếp đến chất lượng khám bệnh, điều trị bệnh và sử dụng thuốc của bệnh viện
Bảng 1.5 Cơ cấu nhân lực BVĐK huyện Ninh Giang năm 2012
Trang 3526
Kết quả cho thấy số lượng cán bộ công nhân viên của BVĐK huyện Ninh Giang năm 2012 đã biên chế đủ theo TT 08/2007/ BYT-BNV Tuy nhiên cán bộ chuyên môn Dược có trình độ đại học còn thiếu rất nhiều so với tổng
số bác sĩ và trung học Dược theo qui định của thông tư làm ảnh hưởng đến
động chuyên môn dược của bệnh viện
1.4 Tổ chức và cơ cấu nhân lực của khoa dược:
1.4.1 Tổ chức khoa dược
Khoa dược là bộ phận chính đảm nhận công tác về dược của bệnh viện, nên nó vừa mang tính chất của một khoa chuyên môn, vừa mang tính chất của một bộ phận quản lý và tham mưu về toàn bộ công tác dược trong cơ sở điều trị, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn trong khám chữa
- Phát thuốc đến tận các khoa
- Tập hợp, theo dõi về thuốc và tiền thuốc
- Báo cáo định kỳ
Tổ dược chính Dược lâm sàng
- Kiểm tra dược chính
- Quản lý chất lượng
- Duyệt thuốc
- Theo dõi ADR
- Thông tin thuốc
Bộ phận
quầy thuốc bệnh viện
Trưởng khoa dược
Trang 3627
Khoa dược BVĐK huyện Ninh Giang gồm có: Trưởng khoa, phó khoa
và các bộ phận giúp việc được chia thành 4 tổ
- Trưởng khoa: Là dược sĩ đại học, chịu trách nhiệm trước Ban giám
đốc bệnh viện về các hoạt động của khoa và tham gia các hoạt động khác của bệnh viện
- Phó khoa: Là dược sĩ trung học, có trách nhiệm điều hành mọi hoạt
động của khoa khi trưởng khoa vắng mặt, chịu sự phân công của trưởng khoa
Các bộ phận của khoa dược:
- Tổ kho và cấp phát: Gồm 4 DSTH có nhiệm vụ tổ chức quản lý, cấp
phát và tồn trữ bảo quản thuốc theo đúng quy chế, tham gia lập dự trù thuốc
- Tổ thống kê, kế hoạch, cung ứng: Gồm 2 DSTH có nhiệm vụ cấp phát
thuốc đến tận các khoa lâm sàng, tập hợp và theo dõi xuất, nhập, tồn, tiền thuốc hàng tháng Báo cáo định kỳ hàng tháng, quý, năm theo quy định, lập kế hoạch hoạt động của khoa về sản xuất, cung ứng, dự trù thuốc và chuẩn bị các điều kiện cung ứng
- Tổ dược chính, dược lâm sàng: do trưởng khoa và phó khoa cùng với
3 DSTH khác kiêm nhiệm, có nhiệm vụ kiểm tra, theo dõi việc thực hiện quy chế chuyên môn về dược tại các khoa, phòng và khoa dược, giám sát việc sử dụng và quản lý chất lượng thuốc trong bệnh viện, phát hiện và thu hồi thuốc kém chất lượng, thuốc quá hạn sử dụng, duyệt sổ lĩnh thuốc hàng ngày cho các khoa phòng, thông tin thuốc và theo dõi ADR
- Tổ phụ trách quầy thuốc: Do 2 DSTH phụ trách, trức tiếp tham gia
hoạt động và quản lý quầy thuốc
Tuy nhiên việc sắp xếp nhân lực vào các tổ chỉ mang tính chất tương đối Trên thực tế nhân viên của tổ này nhiều khi vẫn phải làm nhiệm vụ của nhân viên tổ khác khi cần thiết, dưới sự chỉ đạo của trưởng khoa dược Với việc sắp xếp bố trí nhân lực như trên, trong những năm qua khoa dược đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất Đảm bảo cung ứng đầy đủ thuốc - vật
Trang 3728
tư tiêu hao - hóa chất, cho công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, làm tốt công tác tham mưu, giám sát thực hiện quy chế dược trong toàn viện
1.4.2 Cơ cấu nhân lực của khoa dược năm 2012
Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của khoa dược, yếu tố nhân lực với trình độ chuyên môn phù hợp có thể nói là đóng vai trò quyết định Cơ cấu nhân lực khoa Dược BVĐK huyện Ninh Giang được thể hiện ở bảng 1.6
Bảng 1.6 Cơ cấu nhân lực khoa dược BVĐK huyện Ninh Giang
31 - 40 tuổi
41 -50 tuổi
51-60 tuổi
hưởng đến bố trí công việc
Trang 3829
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hội đồng thuốc và điều trị
- Khoa Dược bệnh viện
- Hội đồng kiểm nhận thuốc
- Bác sĩ khoa khám bệnh, bác sĩ khoa lâm sàng
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Bệnh viện đa khoa huyện Ninh Giang
2.2.2 Thời gian nghiên cứu:
- Từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014
2.3 Nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Phân tích các hoạt động lựa chọn thuốc vào DMTBV năm 2012
- Biên bản họp Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện
- Đánh giá thuốc trong danh mục theo các tiêu chí lựa chọn thuốc
- Đánh giá lại DMTBV năm 2011
- Thông tin thu thập ý kiến đóng góp của các khoa phòng lưu tại khoa Dược
- Danh mục thuốc năm 2012
2.3.2 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng và sử dụng thuốc trong điều
trị ngoại trú đối tượng BHYT tại Bệnh viện đa khoa Ninh Giang năm 2012
2.3.2.1 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nguồn gốc
2.3.2.2 Cơ cấu DM theo tên generic và biệt dược gốc
2.3.2.3 Cơ cấu tiêu thụ thuốc đơn thành phần và đa thành phần
2.3.2.4 Tỷ lệ thuốc chủ yếu trong DMTSDcủa bệnh viện
2.3.2.5 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
2.3.2.6 Cơ cấu sử dụng DMT theo phân tích ABC
Trang 3930
2.3.3 Phân tích một số chỉ số trong đơn thuốc ngoại trú
2.3.3.1 Số thuốc được kê trong đơn ngoại trú
2.3.3.2 Tỷ lệ đơn thuốc ngoại trú có kê thuốc kháng sinh
2.3.3.3 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc Vitamin
2.3.3.4 Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc chế phẩm Y học cổ truyền
2.3.3.5 Tỷ lệ tiền thuốc và cận lâm sàng trong đơn ngoại trú
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Hồi cứu dựa trên báo cáo sử dụng thuốc được lưu tại phòng kế toán
tài chính, tại khoa dược Danh mục thuốc bệnh viện năm 2011, năm 2012 Biên bản họp hội đồng thuốc và điều trị năm 2012
- Hồi cứu đơn thuốc cấp phát thuốc bảo hiểm y tế ngoại trú để đánh giá chỉ số sử dụng thuốc ngoại trú
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu và cách lấy mẫu
Số đơn thuốc ngoại trú dùng để nghiên cứu được lấy như sau: Trong thời gian từ 01/10/2012 đến 31/10/2012 (không tính ngày thứ 7 và chủ nhật) mỗi ngày lấy 20 đơn thuốc BHYT ngoại trú bất kỳ
Công thức được tính như sau:
22 ngày * 20 đơn = 440 đơn
2.4.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chỉ số kê đơn trong đơn bảo hiểm Y tế ngoaị trú
* Số lượng thuốc trung bình trong một đơn ( N tb )
n ks: số đơn thuốc có kê kháng sinh
* Tỷ lệ % đơn thuốc có kê Vitamin (T t %)
Trang 4031
T t(%) = nt/440 100 (2.3)
Trong đó:
nt là số đơn thuốc có kê thuốc Vitamin
* Tỷ lệ % đơn thuốc có thuốc chế phẩm y học cổ truyền
M(%) = nm/440.100 (2.4)
Trong đó:
n m: số đơn có thuốc chế phẩm y học cổ truyền
2.5 Nguồn số liệu và phương pháp phân tích, xử lý số liệu:
2.5.1 Nguồn số liệu
- Biên bản họp của DTC về lựa chọn và xây dựng DMTBV
- Danh mục thuốc bệnh viện năm 2011, 2012 đã được giám đốc bệnh viện phê duyệt
- Danh mục thuốc trúng thầu năm 2012 của Sở Y tế Hải Dương
- Số liệu về thuốc đã sử dụng ở một số khoa lâm sàng
- Số liệu báo cáo chỉ tiêu kế hoạch của phòng kế hoạch tổng hợp
- Số liệu báo cáo của phòng kế toán tài chính
- Biên bản kiểm kê thuốc trong năm 2012
- Biên bản kiểm nhập thuốc, dự trù thuốc năm 2012
2.5.2 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu
- Phương pháp so sánh, tính tỷ lệ % khi đánh giá về lựa chọn thuốc
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel
- Số liệu được bày bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word trong Windows
- Phân tích ABC:
Phương pháp phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa
số liệu tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Các bước tiến hành phân tích ABC
Bước 1: Kết xuất báo cáo sử dụng thuốc từ phần mềm quản lý thuốc ra bảng Excel