1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội

58 1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn nguyên gây ra bệnh trứng cá rất phức tạp, đến nay hầu hết mọi người đều cho rằng nguyên nhân gây ra bệnh trứng cá là do hiện tượng tăng tiết chất bã kèm theo viêm nhiễm ở hệ thống na

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HUYỀN

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG TẠI BỆNH

VIỆN DA LIỄU HÀ NỘI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I

Mã số : CK 62.73.05

Người hướng dẫn: GS.TS Hoàng Thị Kim Huyền Nơi thực hiện: Trường Đại học Dược Hà nội

Trang 3

4.1 – Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong mẫu NC 22 4.2 – Khảo sát sử dụng thuốc trong mẫu nghiên cứu 22 4.3 - Hiệu quả sử dụng thuốc ở bệnh nhân TCTT nặng 22

1.4 – Phân loại theo mức độ nặng nhẹ của bệnh 26

Trang 4

2 - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh TCTT

2.1 – Các nhóm thuốc đã sử dụng

2.2 – Danh mục nhóm thuốc kháng sinh

2.3 - Danh mục nhóm thuốc vitamin A acid

2.4 - Danh mục nhóm thuốc Hormon

3.2 - Hiệu quả của từng phác đồ sau 3 tháng điều trị 32

3 - Tình hình sử dụng thuốc ở 396 bệnh nhân TCTT nặng

3.1 - Các phác đồ điều trị

41

41 3.2 - Hiệu quả của từng phác đồ sau 3 tháng điều trị

Tài liệu tham khảo

Mẫu phiếu thu thập thông tin

Trang 5

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học,

Bộ môn Dược lâm sàng, Phòng Thí Nghiệm Trung tâm trường Đại học Dược

Hà nội đã hết lòng quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, Phòng khám bệnh, khoa Dược cùng toàn thể cán bộ, tập thể y bác sỹ Bệnh viện Da liễu Hà nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn kính trọng sâu sắc tới GS.TS Hoàng Thị Kim Huyền, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Dược lâm sàng trường Đại học Dược

Hà nội, là cô giáo đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo cho tôi những kiến thức, phương pháp luận quý báu trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn./

Hà nội, ngày 2 tháng 4 năm 2012

Nguyễn Thị Huyền

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trứng cá là bệnh ngoài da tương đối phổ biến Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu niên từ 13 đến 25 [2] Căn nguyên gây ra bệnh trứng cá rất phức tạp, đến nay hầu hết mọi người đều cho rằng nguyên nhân gây ra bệnh trứng cá là do hiện tượng tăng tiết chất

bã kèm theo viêm nhiễm ở hệ thống nang lông tuyến bã với sự hiện diện

của một số vi khuẩn như: Propionibacterium acne, vi khuẩn Staphylococus

blance, Staphylococus albus…, một số chủng nấm như: Pityrosporium ovale, P orbiculare hoặc một số yếu tố như: gia đình, môi trường và vệ

sinh cá nhân cũng ảnh hưởng đến sự phát sinh bệnh trứng cá [2], [7],[8] Mụn trứng cá thường xuất hiện ở những vị trí như: mặt, lưng, ngực tiến triển từng đợt dai dẳng, bệnh không gây biến chứng nguy hiểm nhưng do vị trí tổn thương ở mặt nên gây trở ngại lớn về mặt thẩm mỹ, tâm lý, kém tự tin trong giao tiếp, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và năng suất lao động Chuẩn đoán bệnh trứng cá trên lâm sàng không khó, nhưng việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn do rất nhiều bệnh nhân đã tự điều trị và điều trị không đúng, dẫn đến kết quả bệnh nặng lên Do đó tỷ lệ mắc bệnh trứng cá mức độ nặng tại bệnh viện tăng cao, đòi hỏi người bệnh và thầy thuốc phải kiên trì điều trị lâu dài

Bệnh viện Da liễu Hà nội là cơ sở điều trị bệnh da liễu lớn của Thủ đô

và khu vực Hàng năm số lượng bệnh nhân được chuẩn đoán và điều trị bệnh trứng cá thông thường mức độ nặng chiếm tỷ lệ khá cao so với tổng

số các bệnh nhân vào đây điều trị Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh trứng cá thông thường khác nhau: thuốc điều trị tại chỗ, thuốc điều trị toàn thân, vật lý trị liệu, xoa bóp mát xa Các biện pháp trên đều nhằm mục đích : chống tăng tiết chất bã của da và chống nhiễm khuẩn Việc lựa chọn

Trang 7

thuốc điều trị là vấn đề hết sức quan trọng đối với hiệu quả điều trị Làm thế nào để sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá an toàn, hiệu quả và kinh tế

là một trong những điều mà dược sĩ, bác sĩ cũng như người bệnh quan tâm

Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình sử dụng

thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da liễu Hà nội”

Mục tiêu nghiên cứu :

1 Khảo sát đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá thông thường ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà nội từ tháng 3/2011 đến tháng 3/2012

2 Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da liễu Hà nội

3 Khảo sát hiệu quả sử dụng thuốc trên bệnh nhân trứng cá thông thường thể nặng tại Bệnh viện da liễu Hà nội

Từ đó nêu ra những đề xuất nhằm góp phần vào việc nâng cao tính an toàn hiệu quả trong điều trị bệnh trứng cá thông thường mức độ nặng

Trang 8

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN

1 – BỆNH TRỨNG CÁ

Bệnh trứng cá là một bệnh của nang lông tuyến bã, sự sừng hóa ở cổ nang lông làm hẹp đường thoát chất bã lên mặt da, làm chất bã bị ứ đọng tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển gây viêm, hình thành trứng cá sẩn, mụn mủ, cục và nang

Quá trình sừng hóa cổ nang lông chịu tác động của một số yếu tố như hormon androgen, tăng acid béo tự do ở tuyến bã, thiếu hụt acid linoleic …

- Androgen có tác dụng tạo ra đặc tính chung sau: tăng đồng hóa, tác động nam hóa, rậm lông, mụn trứng cá Trong đó gây mụn trứng cá do nội tiết tố này tác động trên tế bào sừng cổ nang lông làm tăng quá trình sừng hóa Mặt khác, androgen gây tăng kích thước và chức năng tuyến bã, từ đó tăng tiết chất bã ở nang lông Androgen có ở cả nam và nữ, trong đó ở nữ có một lượng nhỏ, nhưng có thể tăng trong một số trường hợp do tác động của yếu tố ngoại cảnh, chế độ sinh hoạt làm việc gây mụn trứng cá Nếu tăng nhiều hơn nữa sẽ gây chứng nam hóa ở nữ [6]

- Chất bã tiết ra thông thường là các acid béo dưới dạng este hỗn hợp,

không có acid béo tự do vì chất bã được este hóa ngay từ trong tế bào trước khi bài xuất ra ngoài Khi bị bệnh trứng cá, acid béo tự do ở chất bã tăng vì nhiều yếu tố Acid béo tự do tăng càng cao thì nguy cơ bị trứng cá càng lớn

- Lượng acid linoleic trong chất bã của bệnh nhân trứng cá giảm đáng

kể có thể gây hiện tượng sừng hóa dẫn đến tắc nghẽn chất bã trong cổ nang lông và lượng acid linoleic trở về mức bình thường sau khi được điều trị bằng Isotretinoin

Một nguyên nhân nữa gây bệnh trứng cá là do tăng tiết chất bã, bình thường chất bã được tiết ra để giữ độ ẩm cho da và làm lông tóc mền mại,

Trang 9

trong bệnh trứng cá, chất bã được bài tiết quá nhiều Hoạt động bài tiết của tuyến bã có liên quan chặt chẽ với các hormon, trong đó quan trọng nhất là hormon sinh dục nam, đặc biệt là testosteron Các hormon này làm phát triển, giãn rộng, tăng thể tích tuyến bã, kích thích tế bào tuyến bã hoạt động mạnh, dẫn đến sự bài tiết chất bã tăng lên rất nhiều so với bình thường Bên cạnh đó

sự bài tiết chất bã còn chịu tác động của một số yếu tố : di truyền, các stress, thời tiết …Người ta đã nghiên cứu tính chỉ số chất bã, trung bình ở người bình thường tiết ra 1mg chất bã/10cm2/3h, trứng cá nhẹ: 2,2mg/10cm2/3h; trứng cá vừa: 3mg/10cm2/3h, vùng trứng cá nặng: 3,28mg/10cm2/3h Hoạt động của tuyến bã theo nhịp ngày đêm, tuyến bã hoạt động mạnh và bài tiết nhiều chất

bã nhất là cuối giờ sáng và đầu giờ chiều, giảm tiết chất bã vào cuối giờ chiều

và tối [3],[12]

1.1 – Cơ chế bệnh sinh

Căn sinh bệnh học của bệnh trứng cá được xác định liên quan đến 3 yếu tố chính sau: đó là dày sừng hóa cổ nang lông, tăng sản xuất chất bã và vi

khuẩn Propionibacterium acnes trên da

Nang lông nằm rải rác trên toàn bộ da của cơ thể trừ lòng bàn tay, bàn chân Nang lông bao gồm nang lông tơ và nang lông dài, nang lông tơ có kích thước nhỏ, nhưng tế bào tuyến bã ở nang lông tơ có thể tích lớn hơn tế bào tuyến bã ở nang lông dài, do đó tuyến bã ở mặt phát triển gấp nhiều lần so với những nơi khác do ở mặt có nhiều lông tơ và đó là lý do tại sao trứng cá hay

có ở mặt

Trang 10

Hình 1.1: Cấu trúc của nang lông tuyến bã ở da bình thường

Hoạt động của tuyến bã chịu tác động rất lớn của các hormon (nhất là hormon sinh dục nam), ngoài ra còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như di truyền, kích thích Tuyến bã hoạt động mạnh lúc mới sinh do angdrogen của mẹ truyền qua rau thai hoạt hóa, sau đó gần như bất hoạt ở trẻ

từ 2 đến 6 tuổi Tuyến bã hoạt động trở lại từ 9-10 tuổi, phát triển mạnh ở tuổi dậy thì, giảm tiết ở tuổi 45 đối với nữ và 55 đối với nam

Trên cơ sở hoạt động của các yếu tố tạo ra khối sừng ở cổ nang lông làm hẹp đường thoát chất bã lên bề mặt da Chất bã bị ứ đọng làm tuyến bã bị giãn rộng để chứa chất bã dẫn tới tạo thành nhân trứng cá [3], [13]

Trong nang lông của bệnh nhân bị bệnh trứng cá có Propionibacterium

acnes (P.acnes) một loại trực khuẩn kị khí Bằng xét nghiệm sinh hóa ta thấy

Trang 11

ở người bị trứng cá trung bình có khoảng 114.800 p.acne/cm2, người không

bị trứng cá không tìm thấy p.acne [2]

Qua thực nghiệm và thực tế lâm sàng, người ta thấy khi chất bã bị ứ

đọng tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn như P.acne, P.grannulosum,

S.blancs, S.albus phát triển ở phần dưới cổ nang lông tuyến bã Và các vi

khuẩn này tiết ra men hyaluronidase , protease, lipase lecitinase có khả năng phân hủy lipid, giải phóng acid béo tự do gây viêm thành tuyến bã và lan tràn

ra xung quanh tạo nên trứng cá sẩn, mụn mủ, cục và nang [2],[15]

Hình 1.2: Cấu trúc của nang lông tuyến bã ở da bị bệnh trứng cá

Trang 12

1.2 – Các thể trứng cá

Bệnh trứng cá được biểu hiện với nhiều hình thái tổn thương nhân, sẩn, mụn mủ, cục, nang trứng cá Bệnh có thể để lại hậu quả sẹo lồi, sẹo lõm Bệnh xuất hiện nhiều ở độ tuổi dậy thì Một số trường hợp bệnh giảm dần theo thời gian, nhưng nhiều bệnh nhân bệnh tiến triển dai dẳng, từng đợt phát triển Dựa vào đặc điểm tiến triển của bệnh và các hình thái tổn thương người

ta chia thành nhiều thể lâm sàng khác nhau [3], [5], [9]

1 Trứng cá thông thường: Phổ biến ở lứa tuổi thanh thiếu niên ở cả hai

giới Các tổn thương khu trú ở vùng da mỡ như ở mặt, lưng, ngực, vai Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, có thể là nhân trứng cá, sẩn đỏ, sẩn mụn mủ, mụn mủ, cục, nang viêm tấy đỏ [2], [5]

2 Trứng cá kê hoại tử: do tụ cầu vàng gây nên, bệnh gặp chủ yếu ở nam

giới, vị trí ở trán, thái dương, rìa chân tóc Các tổn thương nhanh chóng hóa mủ màu ngà vàng, lõm ở giữa, khi khỏi để lại sẹo vĩnh viễn [3], [7]

3 Trứng cá đỏ: thường gặp ở người da trắng, chủ yếu là nữ, độ tuổi 30-50

tuổi Tổn thương trên nền da đỏ xuất hiện từng đợt sẩn mủ, đôi khi cộm giống như u hạt, không có nhân, tổn thương xuất hiện hết đợt này đến đợt khác Sau nhiều đợt tiến triển bệnh thường có phản ứng xơ, da mặt trở lên sần sùi, nhất là ở vùng mũi thành mũi sư tử, cà chua Căn sinh bệnh học của bệnh trứng cá đỏ rất phức tạp có thể từ chế độ ăn uống, yếu tố thần kinh, nhiễm khuẩn đặc biệt là vai trò của vi khuẩn

Propionibacterium và Demodex folliculorum [8]

4 Trứng cá sẹo lồi: Chủ yếu gặp ở đàn ông, hay khu trú ở gáy, vùng rìa

chân tóc Tổn thương viêm nang lông, sau đó tiến triển thành củ xơ hoặc dải xơ phì đại trông như sẹo lồi Bệnh tiến triển lâu dài, cuối cùng

sẽ xẹp, sẹo phẳng, vĩnh viễn trụi lông tóc [8]

Trang 13

5 Trứng cá mạch lươn: thường bắt đầu sau tuổi dậy thì Bệnh chủ yếu gặp

ở nam giới Hay gặp tổn thương ở gáy , da đầu, mặt, lưng, ngực, mông, quanh hậu môn Khởi đầu là các mụn mủ ở nang lông, to dần và loét thành hang hốc với nhiều lỗ dò, tổn thương có dịch vàng nhày lẫn máu Bệnh thường kéo dài dai dẳng, điều trị rất khó khăn [9]

6 Trứng cá nghề nghiệp: Do bệnh nghề nghiệp gây nên, bệnh nhân tiếp

xúc với dầu mỡ, hắc ín liên tục nhiều năm như công nhân sửa chữa máy móc, hầm lò Bệnh biểu hiện là các nhân, sẩn, mụn mủ và nang như trứng cá thông thường [3]

7 Trứng cá do thuốc: Có rất nhiều thuốc gây phát sinh phát triển bệnh

trứng cá, các hormon androgen làm tăng hoạt động và phì đại tuyến bã, các steroid gây sừng hóa nang lông, các halogen (muối iod và brom) có trong các muối điều trị bệnh tuyến giáp, thuốc long đờm, thuốc điều trị hen, thuốc cản quang, phenobacbital, cimetidin … có thể gây bệnh trứng cá Tuy nhiên khi ngưng thuốc 1 thời gian các tổn thương trứng

cá sẽ hết [7],[15]

8 Bệnh trứng cá và Demodex : viêm da do Demodex là bệnh gây nên bởi

1 loại con trùng chân khớp ký sinh ở nang lông tuyến bã người Vị trí thường gặp nhất của viêm da Demodex là ở mặt với các triệu chứng ngứa, rát, đỏ da bong vẩy Bôi thuốc corticoid lan tràn có thể góp phần làm gia tăng số lượng Demodex tại tổn thương [14]

9 Trứng cá trẻ sơ sinh: xuất hiện trong 4 tuần đầu sau đẻ, bé trai hay bị

hơn bé gái do nội tiết tố progesteron ở mẹ truyền sang Tổn thương có thế tồn tại trong vài tuần rồi tự khỏi không để lại dấu vết gì

Trang 14

10 Các loại hình trứng cá khác:

- Trứng cá trước chu kỳ kinh nguyệt : thường xuất hiện trước khi có kinh 1 tuần Dùng thuốc tránh thai có estrogen sẽ làm giảm trứng cá loại này [7]

- Trứng cá do mỹ phẩm : thường gặp ở phụ nữ từ 25-30 tuổi, do dùng mỹ phẩm không thích hợp hoặc thói quen sử dụng quá nhiều kem bôi mặt, dầu làm ẩm da, kem chống nắng [7], [8]

- Trứng cá do yếu tố cơ học : thường gặp ở những cô gái trẻ, do bệnh nhân

có yếu tố tâm lý lo lắng hay nặn bóp tổn thương làm cho trứng cá nặng thêm, kết quả để lại sẹo thâm và sẹo teo da [10]

- Trứng cá nhân loạn sừng gia đình : là do rối loạn di truyền trội, với đặc điểm có nhiều nhân ở mặt, thân mình, các chi có thể có sẩn đỏ, mụn nước, sau khi khỏi và thành sẹo sâu [2]

- Trứng cá vùng nhiệt đới: bệnh thường xuất hiện ở vùng nhiệt đới vào mùa hè khi thời tiết nóng ẩm Tổn thương nang lớn, đa dạng ở ngực, lưng, mông [2]

2 – ĐIỀU TRỊ

2.1 - Nguyên tắc :

Bệnh trứng cá là bệnh liên quan đến nhiều yếu tố gây bệnh nên điều trị rất phức tạp Việc điều trị phải dựa trên từng thể bệnh mức độ trầm trọng của bệnh, nguyên nhân gây bệnh, từng bệnh nhân và các yếu tố liên quan như gia đình, nghề nghiệp … mà có thể dùng thuốc tại chỗ hay toàn thân hoặc kết hợp

cả tại chỗ và toàn thân

Mục đích của việc dùng thuốc trong điều trị trứng cá là nhằm : giảm tiết và ứ đọng chất bã, giảm sừng hóa cổ nang lông tuyến bã, chống viêm và diệt khuẩn [7], [9]

Trang 15

Có nhiều nhóm thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh trứng cá Tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh mà có các phác đồ điều trị khác nhau Thuốc điều trị trứng cá chủ yếu được chia ra theo các dạng thuốc điều trị tại chỗ và điều trị toàn thân Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc bôi hay thuốc uống phải phù hợp với từng bệnh nhân, từng thể bệnh và bệnh nhân phải tuân thủ theo chế độ điều trị của thầy thuốc, điều trị kiên trì mới đạt được kết quả mong muốn

2.2 – Phác đồ:

Hiện nay trong các phác đồ điều trị bệnh trứng cá thường có mặt các chế phẩm bôi ngoài da tác dụng tại chỗ với mục đích chống viêm nhiễm, giảm sừng hoá da, tạo sự thông thoáng cho lỗ chân lông Trường hợp trứng cá nặng, bội nhiễm các bác sỹ thường chỉ định kháng sinh hoặc vitamin A acid hoặc hormon nội tiết tố kháng androgen đường uống

Phác đồ chung điều trị bệnh trứng cá hiện nay là :

- Rửa sạch mặt, giúp lỗ chân lông thông thoáng bằng các chế phẩm làm sạch phù hợp với da

- Giảm lượng chất nhờn bài tiết trên da bằng các chế phẩm giảm tiết

- Trường hợp mụn mủ, nên bôi chế phẩm chứa kháng sinh, kháng khuẩn vào

vị trí mụn, ngày bôi hai lần Trường hợp nặng các bác sỹ có thể chỉ định uống thêm kháng sinh hoặc vitamin A acid hoặc các hormon nội tiết tố tùy theo mức độ của bệnh và nguyên nhân gây bệnh

- Kết hợp uống các thảo dược có tác dụng hỗ trợ điều trị mụn trứng cá, giảm mụn mọc thêm, ngăn mụn tái phát

- Đảm bảo chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, hợp lý tránh stress [8]

Trang 16

3 - THUỐC

3.1 – Kháng sinh và các chất kháng khuẩn

3.1.1 - Nhóm macrolid (Erythromyci, Azithromycin)

- Erythromycin là kháng sinh nhóm macrolid được sử dụng dưới dạng base có phổ tác dụng rộng, chủ yếu là kìm khuẩn đối với vi khuẩn gram dương và gram âm bằng cách gắn thuận nghịch với tiểu đơn vị 50S của ribosom vi khuẩn nhạy cảm và ức chế tổng hợp protein Ngày nay nhiều loại vi khuẩn, nấm, virus đã kháng erythromycine do sự lạm dụng các macrolid nhưng

erythromycin vẫn còn tác dụng với Propionibacterium acnes [1] Sử dụng

điều trị bệnh trứng cá tại chỗ có dạng kem erythromycin, biệt dược: Erylick

(Pháp), Purecare-S (Hàn Quốc), Efasol (Hàn quốc) Điều trị toàn thân có viên nén (250mg, 500mg)

- Azithromycin là kháng sinh mới có hoạt phổ rộng cũng thuộc nhóm macrolid, thuốc có tác dụng diệt khuẩn mạnh bằng cách gắn với ribosom của

vi khuẩn gây bệnh, ngăn cản quá trình tổng hợp protein của chúng Azithromycin có tác dụng tốt trên 1 số vi khuẩn gram dương và gram âm nhưng cần cân nhắc cẩn thận khi sử dụng Azithromycin do đã lan rộng vi khuẩn kháng macrolid ở Việt nam [1] Sử dụng điều trị bệnh trứng cá toàn

thân có viên nang (250mg, 500mg), bột pha hỗn dịch uống (200mg

Azithromycin/5ml)

Chỉ định: Điều trị mụn trứng cá, đặc biệt các dạng trứng cá có mụn mủ viêm

nhiễm

Tác dụng không mong muốn:

+ Có thể gây phản ứng da và dị ứng: khó chịu, mẩn ngứa, hồng ban + Có thể có cảm giác khô da khi bắt đầu điều trị [11]

Chống chỉ định: dị ứng với Erythromycin, Azithromycin, các kháng sinh

nhóm macrolid hay với một thành phần nào đó của thuốc [1]

Trang 17

3.1.2 - Clindamycin hydroclorid :

- Clindamycin là kháng sinh thuộc nhóm Lincosamid có tác dụng ức chế tổng hợp protein của vi khuẩn, có tác dụng kìm khuẩn ở nồng độ thấp và có tác dụng diệt khuẩn ở nồng độ cao Clindamycin có thể uống vì bền vững ở môi trường acid Sử dụng điều trị bệnh trứng cá tại chỗ có dạng gel, biệt dược Duac (Pháp) Sử dụng điều trị toàn thân có dạng viên nang (75, 150, 300mg), dạng dung dịch uống 1%

Chỉ định : Trứng cá mụn mủ mà vi khuẩn đã kháng lại các kháng sinh khác Chống chỉ định : mẫn cảm với Clindamycin hoặc với một thành phần nào đó

của thuốc.[1]

Tác dụng không mong muốn:

- Buồn nôn, nôn, ỉa chảy

- Nổi mày đay

Thận trọng : khi người bệnh mang thai hoặc đang cho con bú (ngừng cho

con bú khi điều trị) [1]

3.1.3 – Doxycyclin (dẫn chất tetracyclin):

+ Là kháng sinh phổ rộng sử dụng điều trị toàn thân bệnh trứng cá, có tác dụng kìm khuẩn

+ Thuốc ức chế vi khuẩn tổng hợp protein do gắn vào tiểu đơn vị 30s

và 50s của Ribosom và cũng có thể gây thay đổi ở màng bào tương

+ Thuốc có phạm vi kháng khuẩn rộng với vi khuẩn kị khí và ưa khí Gram dương và Gram âm

+ Hấp thu tốt qua đường tiêu hóa (95% liều uống), đạt nồng độ tối đa sau 2 giờ, phân bố rộng trong cơ thể vào các mô và dịch tiết Thuốc tích lũy trong các tế bào lưới nội mô của gan, lách, tủy xương và trong xương, ngà răng, men răng Doxycyclin phần lớn được thải trừ qua phân mà không thải

Trang 18

trừ qua thận như các tetracyclin khác nên là thuốc an toàn điều trị nhiễm khuẩn ở người suy thận [1] Sử dụng trong điều trị bệnh trứng cá toàn thân có dạng viên nang (50, 100mg), viên bao phim (100mg)

Chỉ định : điều trị nhiễm khuẩn, trị bệnh trứng cá mụn mủ [3]

- Dùng thuốc trong thời gian dài có thể gây bội nhiễm

- Tránh phơi nắng kéo dài khi dùng thuốc vì có thể gây mẫn cảm

- Phải uống viên nén với 1 cốc nước đầy ở tư thế đứng để tránh loét thực quản, để giảm kích ứng đường tiêu hóa

- Không dùng thuốc khi ở nửa cuối thai kỳ, cho con bú [1], [9]

Liều lượng: Người lớn 100mg ngày 2 lần

3.1.4 - Metronidazol

- Metronidazol là một dẫn chất 5-nitro-imidazol, có phổ hoạt tính rộng trên

động vật nguyên sinh như amip, Giardia và trên vi khuẩn kị khí Sử dụng

điều trị bệnh trứng cá tại chỗ dạng kem metranidazol (Việt nam)

Chỉ định : Điều trị bệnh trứng cá mụn mủ có Demodex, chống đỏ da [12] Chống Chỉ định : Có tiền sử quá mẫn cảm với metranidazol hoặc các dẫn chất

nitro-imidazol khác [1]

Trang 19

3.1.5 – Các peroxid (Benzoyl peroxid )

- Là thuốc kháng khuẩn có tác dụng trên vi khuẩn Propionibacterium acnes

và làm tróc vẩy da , bong lớp sừng thuốc được hấp thu qua da khoảng 45% liều dùng trong khoảng 24h Lượng Benzoyl peroxid được hấp thu sẽ chuyển hoàn toàn thành acid benzoic ở da [1] Sử dụng điều trị bệnh trứng cá tại chỗ dạng kem, biệt dược Acnol 10 (Pháp), Duac (Pháp)

Chỉ định :

- Benzoyl peroxid được dùng tại chỗ để điều trị trứng cá nhẹ hoặc vừa

- Là thuốc bổ trợ trong điều trị mụn trứng cá thể nặng và mụn trứng

cá có mủ [1], [3]

Chống chỉ định :

- Người dị ứng với Benzoyl peroxid hoặc 1 trong các thành phần của thuốc [1]

Tác dụng không mong muốn:

- Hay gặp kích ứng da, viêm da tiếp xúc, khô da

- Hiếm khi gặp hiện tượng ngứa dữ dội, tấy đỏ, nóng rát, sưng phù [1], [3]

-Dùng đồng thời với thuốc chống nắng có chứa acid paraaminobenzoic

sẽ làm biến đổi màu da một thời gian [1]

Trang 20

3.2 - Dẫn chất của vitamin A acid (tretinoin, isotretinoin)

Là một alcol vòng, nguồn cung cấp chủ yếu trong thức ăn như gan, bơ, trứng và tiền chất vitamin A là  - caroten có trong rau, quả, củ

Thiếu vitamin A gây: khô mắt, dày sừng nang lông, khô da toàn thân, lão hóa sớm, trẻ chậm lớn

Thừa Vitamin A gây: da khô ngứa, thô giáp, có vẩy, môi khô, dày sừng nang lông, xuất huyết, ngủ lịm, chán ăn, sút cân, rụng lông tóc lan tỏa… Trước đây vitamin A được coi là một yếu tố dinh dưỡng thuần túy Ngày nay

được sử dụng như 1 yếu tố trị liệu đối với bệnh trứng cá [4] Điều trị toàn thân : có viên Isotretinoin 10mg - Hàn Quốc

Tác dụng: chống viêm, giảm bài tiết, điều hòa miễn dịch

Chỉ định : Trị bệnh trứng cá, viêm nang lông, viêm da dầu [4]

Liều: từ 0,1 – 1,0mg/kg/ngày (tối đa 2mg/kg/ngày) Thời gian điều trị cho

đến khi tình trạng bệnh khỏi hoặc trên lâm sàng bệnh được cải thiện

Chống chỉ định : tuyệt đối không dùng đường uống cho phụ nữ mang thai,

phụ nữ cho con bú, viêm gan trầm trọng, suy thận, rối loạn chức năng thần kinh trung ương Thận trọng trong sử dụng nếu bệnh nhân có tăng lipit máu, tiểu đường, đau xương [1]

Tác dụng phụ thường gặp trong điều trị bằng vitamin A acid:

- Biến dạng thai và độc phôi

- Biến đổi gen

- Ảnh hưởng chức năng gan

- Chứng đau cơ và mỏi khớp: hay gặp khi dùng Retinoid liều cao

- Thay đổi về xương: làm giảm canxi xương khi quá liều vitamin A mãn tính

Trang 21

- Khô môi, bong vảy, khô mũi Ngoài ra có thể gây viêm da mặt, sẩn đỏ gan bàn tay, bàn chân, cảm giác nóng rát trên da, đỏ da bong vẩy phấn, sẩn ngứa

Điều trị tại chỗ: có dạng kem, gel, dung dịch để bôi của Tretinoin,

Isotretinoin là hai dẫn xuất của vitamin A,

Biệt dược: Locacid (Pháp), Tretinoine 0,05% (Pháp), Isotina (Hàn quốc)… Tác dụng : kích thích phân bào và thúc đẩy đổi mới tế bào biểu bì, kìm hãm

tạo thành keratin, kích thích tái tạo mô liên kết, làm giảm sản xuất chất bã, giảm sừng hóa nang lông tuyến bã

Tác dụng không mong muốn:

- Khô da, ban đỏ, nhói đau, cảm giác châm chích, bỏng rát, mụn nước, phù [3]

Liều lượng:

- Bôi trước khi đi ngủ, lúc đầu bôi ngày 1 lần trong 2-3 ngày dùng loại có nồng độ thuốc thấp Nếu dung nạp thuốc tốt sau đó có thể dùng chế phẩm có nồng độ cao hơn Đáp ứng điển hình là trong vòng 7 – 10 ngày da đỏ lên và

Trang 22

bong vẩy Tác dụng điều trị thường xuất hiện sau 2-3 tuần Có thể hơn 6 tuần mới thấy tác dụng tối ưu của thuốc Điều trị cho đến khi tình trạng bệnh khỏi

hoặc trên lâm sàng bệnh được cải thiện [9]

3.3 - Hormon:

3.3.1 - Hormon sinh dục

Người ta dùng hormon với mục đích làm giảm hàm lượng androgen từ

đó giảm tác động của nội tiết tố này trên tuyến bã nhờn và trên tế bào sừng cổ nang lông.Androgen gây mụn trứng cá do nội tiết tố này tác động trên tế bào sừng cổ nang lông làm tăng quá trình sừng hóa Mặt khác androgen gây tăng kích thước và chức năng tuyến bã, từ đó tăng tiết chất bã ở nang lông Androgen có ở cả nam và nữ Ở trẻ sơ sinh hàm lượng DHEAS cao cho nên

có thể gặp trứng cá trẻ sơ sinh Sau đó hàm lượng DHEAS giảm dần và thấp nhất từ 2 đến 4 tuổi Trong đó ở nữ có một lượng nhỏ, nhưng có thể tăng trong một số trường hợp do tác động của yếu tố ngoại cảnh, chế độ sinh hoạt làm việc gây mụn trứng cá Nếu tăng nhiều hơn nữa sẽ gây chứng nam hóa ở

- Khi các liệu pháp thông thường không kết quả

- Trong lúc gián đoạn cuả liệu pháp isotretionin, tăng tiết bã nhờn, hội chứng SAHA (da dầu, trứng cá, rậm lông, rụng tóc), trứng cá liên quan kỳ

kinh, tránh thai…[6]

Trang 23

Thuốc điều trị toàn thân : Diana 35 - Pháp

Bào chế: dạng viên nén bao đường chứa ethinylestradiol và cyproterone

acetate Mỗi viên uống có chứa ethinylestradiol (0,035 mg) và cyproterone acetate (2mg)

Chỉ định: được dùng để điều trị bệnh trứng cá có kèm tăng tiết bã nhờn, viêm

tạo thành các cục mụn mủ do androgen [6], [15]

Tác dụng không mong muốn :

- Đau đầu, buồn nôn, hoa mắt

- Tăng cân, giữ nước kèm theo phù

- Rối loạn kinh nguyệt, ra huyết ở âm đạo

- Căng tức ngực, vú to và nắn đau

- Gây phản ứng về da như đồi mồi, phát ban và mày đay

- Nghiêm trọng nhất là có nguy cơ gây ung thư nội mạc tử cung [1]

Chống chỉ định: - Đang mắc hay có tiền sử mắc chứng nghẽn mạch huyết

khối ở động mạch hoặc tĩnh mạch, hoặc tai biến mạch máu não

- Đau nửa đầu với các triệu chứng liên quan đến thần kinh trung ương

- Bệnh tiểu đường có liên quan đến mạch máu

- Đã và đang bị viêm tụy có tăng lượng mỡ trong máu

- Đã và đang mắc bệnh gan nặng các thông số đánh giá chức năng gan chưa trở lại mức bình thường

- Đã và đang có khối u ở gan (lành tính hoặc ác tính)

- Mắc bệnh ung thư có liên quan đến hormone sinh dục (ung thư vú hoặc cơ quan sinh dục khác)

- Có thai hoặc nghi ngờ có thai, phụ nữ cho con bú

- Mẫn cảm với ethinylestradiol , cyproterone acetate hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc [1]

Trang 24

Liều lượng và cách dùng: Uống với một ít nước theo hướng dẫn trên vỉ thuốc

vào 1 giờ nhất định, ngày uống 1 viên trong 21 ngày liên tục, thời gian sử dụng phụ thuộc vào mức độ của bệnh và đáp ứng điều trị của bệnh nhân Thông thường nên điều trị nhiều tháng (ít nhất 3-4 chu kỳ sau khi các triệu chứng đã giảm xuống) Bệnh mụn trứng cá và tăng tiết bã nhờn thường đáp ứng với thuốc sớm hơn so với chứng rậm lông hay bệnh rụng tóc [15], [17]

3.4 - Thuốc phối hợp

- Thuốc trị sẹo : Mỡ Epitheliale AH - Pháp

- Thuốc trị nám: Unitone – Pháp, Secalia AHA – Pháp, Secalia DS – Pháp

- Thuốc tăng miễn dịch : Thymonodulin – Hàn Quốc

- Các vitamin : Biolamin – Hàn Quốc, Coenzym Q10 – Đức, Beecom C – Hàn Quốc

- Thuốc bổ gan: Boganic - Việt nam, Helorni - Ấn, Silgoma – Hàn Quốc, Hepalucky – Hàn quốc

Đây là các nhóm thuốc thường được dùng bổ trợ điều trị bệnh trứng cá

Trang 25

CHƯƠNG II – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 – ĐỐI TƯỢNG :

- Là bệnh án của toàn bộ bệnh nhân được chuẩn đoán xác định là mắc bệnh trứng cá thông thường, đến khám và điều trị tại bệnh viện Da liễu Hà nội

từ tháng 3/2011 đến tháng 3/2012: Có tất cả 608 bệnh án trong đó lọc riêng

ra 396 bệnh án của bệnh nhân mắc bệnh trứng cá thông thường mức độ nặng

Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Tất cả bệnh án của bệnh nhân được chuẩn đoán mắc bệnh trứng cá thông thường đến khám tại bệnh viện da liễu Hà nội từ tháng 3/2011 đến

tháng 3/2012

+ Được kê đơn điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Da liễu Hà nội

+ Đợt điều trị tối thiểu 3 tháng

Tiêu chuẩn loại trừ :

+ Bỏ hẹn khám

+ Có thai, cho con bú

+ Suy gan - thận

+ Mắc bệnh thần kinh

2 – ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.1 - Địa điểm nghiên cứu :

Đề tài tiến hành nghiên cứu tại Bệnh viện da liễu Hà nội

2.2 - Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu bắt đầu từ tháng 3/2011 đến tháng 3/2012

Trang 26

3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Chúng tôi lấy dữ liệu trên máy tính chủ tại khoa Khám bệnh, phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện da liễu Hà nội

3.2 - Tiêu chuẩn đánh giá

3.2.1 - Tiêu chuẩn chẩn đoán mắc bệnh trứng cá thông thường

+ Mụn trứng cá khu trú tại các vùng mặt, ngực, lưng …

+ Tổn thương cơ bản là nhân trứng cá, sẩn, mụn mủ, cục, nang

+ Tập trung ở lứa tuổi thanh thiếu niên cả hai giới

3.2.2 - Phân loại mức độ nặng nhẹ của bệnh

+ Phân loại mức độ bệnh theo kết luận của bác sĩ điều trị

- Bệnh nhẹ: có dưới 20 comedon hoặc dưới 15 tổn thương viêm, tổng tổn thương dưới 30

- Bệnh vừa: có từ 20-100 comedon hoặc 15-50 tổn thương viêm, tổng tổn thương 30-125

Bệnh nặng: có từ 5 bọc hoặc tổn thương viêm trên 50, tổng tổn thương trên

125

3.2.3 - Đánh giá chức năng gan - thận

+ Suy gan nặng khi transaminase tăng hơn 2 lần so với chỉ số bình thường

+ Suy thận với ClCR ≤ 30ml/phút

Trang 27

3.2.4 - Đánh giá hiệu quả điều trị

Tốt Hết mụn mủ, hết sẩn viêm, hết bóng nhờn

Khá Hết mụn mủ, giảm sẩn viêm, giảm nhờn

Trung bình Giảm mụn mủ, giảm viêm, giảm nhờn

Kém Thương tổn không giảm hoặc giảm ít

3.2.5– Phương pháp xử lý số liệu :

- Tính tỷ lệ phần trăm (%)

- Các phép so sánh thống kê y học với phần mền Excel

4 - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

4.1 - Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

- Tuổi, giới

- Các vị trí tổn thương

- Các loại tổn thương

- Phân loại theo mức độ nặng, nhẹ

4.2 - Khảo sát sử dụng thuốc trong mẫu nghiên cứu

- Các nhóm thuốc được sử dụng trong điều trị

Trang 28

CHƯƠNG III – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 – ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU

1.1 – Đặc điểm về tuổi và giới

Bệnh trứng cá thông thường là bệnh có liên quan đến giới tính rất rõ rệt, tỷ lệ nữ mắc nhiều hơn nam và chủ yếu tập trung ở lứa tuổi thanh thiếu niên Kết quả đánh giá tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ, tuổi của bệnh nhân mắc bệnh trứng cá thông thường được trình bày trong bảng 1:

Bảng 1: Tỷ lệ phân bố về giới và tuổi của bệnh nhân mắc bệnh trứng cá

thông thường (n = 608)

Nhóm tuổi

Số lượng

Nhận xét : Nghiên cứu 608 bệnh án của bệnh nhân mắc bệnh trứng cá thông

thường thì tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 66,4% nhiều hơn gấp đôi bệnh nhân nam (33,6%) Số bệnh nhân vào điều trị bệnh bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu Hà nội tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ 15 – 24 chiếm tỷ lệ (67,6%) Trong đó lứa tuổi từ 20 – 24 chiếm tỷ lệ cao nhât 40%, còn lại trước tuổi 15 chiếm 5,3% và sau tuổi 24 chiếm 27,1%

Trang 29

Bảng 2 : Các vị trí tổn thương của bệnh nhân mắc bệnh

Ngày đăng: 25/07/2015, 09:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ phân bố về giới và tuổi của bệnh nhân mắc bệnh trứng cá - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 1 Tỷ lệ phân bố về giới và tuổi của bệnh nhân mắc bệnh trứng cá (Trang 28)
Bảng 2 : Các vị trí tổn thương của bệnh nhân mắc bệnh - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 2 Các vị trí tổn thương của bệnh nhân mắc bệnh (Trang 29)
Bảng 3 : Tỷ lệ các loại tổn thương  của bệnh nhân TCTT  (n = 608)  Các triệu chứng lâm sàng  Số lượng  Tỷ lệ % - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 3 Tỷ lệ các loại tổn thương của bệnh nhân TCTT (n = 608) Các triệu chứng lâm sàng Số lượng Tỷ lệ % (Trang 31)
Bảng 5 : Tỷ lệ các nhóm thuốc đã sử dụng trong điều trị (n = 608) - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 5 Tỷ lệ các nhóm thuốc đã sử dụng trong điều trị (n = 608) (Trang 32)
Bảng 6 - Danh mục kháng sinh dùng điều trị bệnh TCTT (n = 354) - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 6 Danh mục kháng sinh dùng điều trị bệnh TCTT (n = 354) (Trang 33)
Bảng 7 - Danh mục vitamin A acid dùng điều trị bệnh TCTT (n = 222) - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 7 Danh mục vitamin A acid dùng điều trị bệnh TCTT (n = 222) (Trang 35)
Bảng 9 : Các phác đồ điều trị bệnh trứng cá thông thường mức độ nặng tại - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 9 Các phác đồ điều trị bệnh trứng cá thông thường mức độ nặng tại (Trang 36)
Bảng 10 : Kết quả điều trị bằng kháng sinh toàn thân qua 3 tháng - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 10 Kết quả điều trị bằng kháng sinh toàn thân qua 3 tháng (Trang 37)
Bảng  11 : Kết quả điều trị bằng vitamin A acid qua 3 tháng (n = 127) - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
ng 11 : Kết quả điều trị bằng vitamin A acid qua 3 tháng (n = 127) (Trang 38)
Bảng  12 : Kết quả điều trị bằng hormon qua 3 tháng (n =32) - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
ng 12 : Kết quả điều trị bằng hormon qua 3 tháng (n =32) (Trang 38)
Bảng  13: Kết quả điều trị bằng thuốc điều trị tại chỗ qua 3 tháng (n =43) - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
ng 13: Kết quả điều trị bằng thuốc điều trị tại chỗ qua 3 tháng (n =43) (Trang 39)
Bảng 15 : ADR khi điều trị bệnh TCTT nặng bằng vitamin A acid - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 15 ADR khi điều trị bệnh TCTT nặng bằng vitamin A acid (Trang 40)
Bảng 17: ADR khi điều trị bệnh TCTT mức độ nặng bằng kháng sinh và - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh trứng cá thông thường tại bệnh viện da liễu hà nội
Bảng 17 ADR khi điều trị bệnh TCTT mức độ nặng bằng kháng sinh và (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm