1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyễn Việt Hà, nhà văn trẻ đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay với nhan đề thật ấn tượng: "Cơ Hội Của Chúa",

72 706 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Hội Của Chúa
Tác giả Nguyễn Việt Hà
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Thể loại Tiểu thuyết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 191,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng tôi khi đọc xong "Cơ Hội Của Chúa", tôi có cảm tưởng: xã hội, cuộc sống, con người, văn hóa, đạo đức, nhân sinh

Trang 1

DẪN NHẬP

Nguyễn Việt Hà, nhà văn trẻ đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay với nhan đề

thật ấn tượng: " Cơ Hội Của Chúa" , một tác phẩm ăn khách và gây xôn xao dư luận

nhất từ sau giải phóng đến nay Kẻ khen cũng nhiều, người chê cũng không

thiếu Riêng tôi khi đọc xong " Cơ Hội Của Chúa" , tôi có cảm tưởng: xã hội, cuộc

sống, con người, văn hóa, đạo đức, nhân sinh kể cả niềm tin tôn giáo của dân tọc Việt Nam đã và đang bị đảo lộn tất cả Mọi giá trị, mọi lãnh vực cuộc sống đều được tác giả đem ra mổ xẻ một cách thẳng thắn, đôi khi đến trắng trợn, khiến độc giả phải cật vấn chính mình và đặt lại giá trị cho cuộc sống mình trong thời buổi kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa hôm nay Nhất là cuộc sống của giới trẻ, dường như họ bị mất phương hướng, mất hết ý nghĩa cuộc đời, đánh mất tình cảm thiêng liêng, và cả cái nền tảng đạo đức tâm linh thăm thẳm Khi không còn niềm tin tôn giáo sâu xa để bám trụ vào, cuộc sống con người chỉ còn

là những tháng ngày trống rỗng buông trôi, hoặc cuống cuồng chạy theo cái bát nháo xô bồ của một xã hội hưởng thụ và tiêu thụ, của nền văn minh vật chất đổi trao thời mở cửa Một khi vật chất được lên ngôi, thì mọi thứ đều được đem ra trao đổi, ngay cả tình yêu và những giá trị tinh thần cao quý nhất cũng được đánh giá qua nhãn quan vật chất rẻ tiền Mãnh lực của đồng tiền có thể thay trắng đổi đen, và chân lý cũng có thể bị lật ngược, nền văn hóa hưởng thụ có thể

làm đảo lộn mọi thứ, như tác giả nhận định: " Ở thời gọi là kinh tế thị trường, cái xấu cái tốt đều hiện hữu bằng khuôn mặt rất thực" Ngay cả nhân phẩm, đạo đức của một con người cũng được cân đong qua giá trị của đồng tiền: " Muốn biết rõ về

ai nên nhúng người ấy nhiều lần vào tiền, cái dung dịch siêu thượng này làm trôi

đi tất cả những màu mè bọc ngoài Ðạo mạo trở nên hau háu lỗ mãng Dịu dàng trở nên chua ngoa cướp giật Lịch sử nhân loại chứng kiến số người tự tử vì tiền gấp mười tám lần số người tự tử vì tình"[1].

Xã hội Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ hôm nay dường như đã mất đi chỗ dựa tinh thần cao quý nhất Sự lạc hướng này là hậu quả của một "thời mở cửa"

tự do, của một xã hội tiêu thụ xả láng", thông tin "giật gân", quảng cáo "mát mẻ", văn hóa "bạo lực, khiêu dâm" Làm cho giới trẻ bị choáng ngợp và chỉ còn biết đi

tìm "cơ hội" để kiếm tiền, để hưởng thụ, yêu vội, sống cuồng và chạy theo

những cảm giác đam mê Nếu ai đó còn giữ được một chút tình cảm tâm linh tôn giáo nào, thì theo tác giả, người đó là những người ủy mị, nhút nhát, và có vẻ như mang màu sắc mê tín dị đoan Nói đúng hơn, đó là những con người cùng cực, đau khổ và thiếu thốn, họ đã bị thất bại trên đường đời, đã đi đến chỗ bế tắc, cùng đường rồi, nên chỉ còn cách duy nhất là cậy dựa, phó thác hoàn toàn vào một Thiên Chúa quyền năng nào đó để rồi an phận, ngủ quên trong niềm tin

Trang 2

"khập khiễng" của mình, như lời tác giả nhắc đi nhắc lại hai ba lần trong tác

phẩm: "Sự cùng quẫn cuối cùng của con người là cơ hội của Chúa"[2] Theo ý tác giả, những con người giàu có, đầy đủ, sung túc, dư thừa không cần đến Chúa, chỉ những người yếu đuối, đau khổ khốn cùng mới cần đến Chúa mà thôi Ðiều này được tác giả khai thác tối đa qua lối sống và cách diễn tả niềm tin của nhân vật

Hoàng, "một con chiên" trí thức ngoan đạo, một "con người thành thật, trong sáng, không lếu láo",nhưng lại quá nhút nhát, không dám quyết định gì, ngay cả

đến tình yêu và hạnh phúc của mình Ðể rồi cuối cùng tình yêu tan vỡ, hạnh phúc cũng bay xa và tương lai thì mù mịt chỉ còn lại những dằn vặt, khổ đau, nuối tiếc xót xa, ảo tưởng lê lết trong đời Vì thế, tác giả đã đưa ra câu kết luận nghe có vẻ

bi quan và chua xót, nhưng đó lại là một sự thật: "Những gì trong sáng quá thường hay khó tồn tại"[3] Tác giả còn nhận định thêm: "Có phải thế chăng mà đến thời kinh tế thị trường nền văn minh của chúng ta hết sạch những nhà đạo đức thật"[4].

Thế kỷ XX đã khép lại, Năm Thánh cũng qua đi, nhân loại bước vào thiên niên

kỷ mới với dáng đi ngạo nghễ như một anh chàng "rô bô" khổng lồ, trong niềm

tự hào về một nền văn minh kỹ thuật hiện đại, tiện nghi, cực nhanh, cực mạnh, thần kỳ và siêu tốc, nhưng cũng siêu thực dụng, siêu hưởng thụ và siêu vật chất hóa trong mọi lãnh vực Tuy nhiên, những sản phẩm khoa học con người làm ra không thể đáp ứng nhu cầu tâm linh thăm thẳm, không thể thay thế cho những tình cảm và khát vọng sâu xa thầm kín trong nhịp đập của con tim Văn hóa hưởng thụ và khoa học kỹ thuật không thể cứu độ hay giải thoát con người ra khỏi cái vòng luẩn quẩn, cũng không thể đem lại tự do viên mãn và hạnh phúc thường lạc cho con người Có chăng nó chỉ là một tai họa, như Nguyễn Việt Hà

viết: " Con người đi vào thế kỷ XXI bằng tư thế ngã ngửa bởi cái hích bạo tàn của

nề n văn minh kỹ trị được mệnh danh là tiên tiến Phải chăng, sẽ là điều ác khi chúng ta quan niệm: con người là sinh vật cao cấp đã biết sử dụng máy móc"[5] Hẳn

thật, chưa bao giờ nhân loại khôn ngoan lanh lợi, biến hóa thần kỳ như hôm nay Phải chăng khi mọi thứ đều trở nên sôi động, ồn ào, mau lẹ, rực rỡ, hào nhoáng, tiện nghi, siêu vi và siêu tốc, thì con người lại đang rơi vào một thảm họa lan

tràn, phổ biến khắp địa cầu, một sự đổ vỡ sâu xa do chính hậu quả của sự " khôn ngoan" , thông thái của con người làm ra! Chưa bao giờ nhân loại đông đảo, ồn ào,

vui nhộn và tự do xiết chặt tay nhau đến thế, nhưng đồng thời cũng cô đơn trống rỗng biết bao! Chưa bao giờ, nhân loại đầy đủ, tiện nghi, sung sướng đến thế, nhưng cũng hụt hẫng, bơ vơ và đau khổ biết chừng nào! Chưa bao giờ con người khôn ngoan, hiểu biết và nắm bắt mọi sự trên đời đến thế, nhưng cũng bối rối, ngơ ngác và mù mịt về chính mình như thế! Phải chăng là do con người đã lạc

Trang 3

bước trên đường đi, lối về? Phải chăng là do con người hời hợt trước những giá trị tinh thần, thờ ơ trước niềm tin tôn giáo, để rồi từ đó cũng đánh mất luôn sự

an lạc và hạnh phúc chân thật?

Ðứng trước thực trạng của thế giới nói chung và của xã hội Việt Nam nói riêng, đặc biệt là giới trẻ, phải chăng nói đến niềm tin tôn giáo là dư thừa, nói đến đạo đức tâm linh là chuyện của "người thiên cổ" Như vậy, phải chăng ơn Cứu độ phổ quát của Ðức Giêsu và con đường Giải thoát của Ðức Phật là vô nghĩa, không cần thiết cho con người thời đại mới? Phải chăng văn minh vật chất có thể đem lại hạnh phúc đích thực cho con người? Phải chăng con người có thể tự mình giải quyết tất cả mọi bế tắc cuộc đời và mọi khát vọng tâm linh chỉ nhờ vào khoa học kỹ thuật, kinh tế thị trường và văn minh toàn cầu hóa? Phải chăng Thiên Chúa không còn có "cơ hội" để nhảy vào cuộc sống con người? Phải

chăng, giáo lý cao siêu của Ðức Phật không còn khả năng hóa độ chúng sinh? Và phải chăng ơn Cứu Ðộ là hão huyền và "Thượng đế đã chết" như Nitzsche, ông

tổ triết gia hiện sinh vô thần đã tuyên bố cách đây hơn một thế kỷ?

Không ! rất may là sau khi đã phơi trần bộ mặt thật có vẻ bi quan, đổ vỡ của xã hội Việt nam, nhất là về lối sống của giới trẻ, tác giả như muốn lật ngược lại thế

cờ để khơi lên niềm hy vọng mới Ðồng thời, tác giả cũng cho thấy niềm tin tôn giáo và đời sống tâm linh thăm thẳm của con người luôn luôn là một nhu cầu cấp thiết mà nền văn minh kỹ trị và văn hóa vật chất không thể giải quyết hay đáp ứng đủ Cuối cùng, con người vẫn cần đến tôn giáo và không thể không trở về với tôn giáo để hoàn tất cuộc đời mình Nhu cầu tâm linh vẫn còn đó và vai trò của tôn giáo không thể vắng bóng trong cuộc đời con người Mặc dầu, từ những cái cụ thể, thực tế trong cuộc đời được tác giả lột tả phơi trần, khiến ta có cảm tưởng như tác giả có cái nhìn bi quan về tôn giáo và nền đạo đức tâm linh của xã hội Việt Nam Nhưng không! đó chính là nỗi niềm ray rứt của tác giả đang khát khao đi tìm một lối thoát, một ý nghĩa đích thực cho cuộc đời Nói đúng hơn, tác giả muốn tìm lại giá trị cuộc sống, muốn đặt niềm tin tôn giáo trên nền tảng tâm linh vững chắc không bị bóng dáng của vật chất hay đồng tiền bao phủ chứ không phải đặt trên những giá trị vật chất bọt bèo Dẫu biết rằng, trên đường đi tìm chân lý, khi phải đối diện với thực tế, con người có thể bị bầm dập, khốn cùng, nhưng có như vậy giá trị nhân bản tâm linh mới cao quý, niềm tin mới sâu

sắc và trong sáng hơn, như lời tác giả nhận định: " Khi đối diện với bất hạnh, con người ta trở nên gần Chúa Ở người công chính, nỗi bất hạnh càng lớn, đức tin càng sâu sắc"[6] Ðiều đó thật hiển nhiên, vì: " Mỗi người có một đức tin không thể chuyển trao được và Thiên Chúa luôn đến với con người trong những lúc thiếu thốn, đau khổ, cô đơn."[7] Do đó, nếu con người chỉ thật sự là người trong thế giới

loài người, thì con người cũng chỉ thật sự sống sung mãn và hoàn thành bản thân mình trong một tôn giáo Nếu không còn tôn giáo, con người sẽ mất đi cái điểm tựa và mục tiêu tối hậu của cuộc đời, để rồi họ chỉ còn biết loay hoay trong cõi

Trang 4

đời ô trọc, chẳng biết đi về đâu: " Rời bàn tay Chúa, con người ta loay hoay tìm cái hoàn thiện bản thân mình Nói một cách khác, loay hoay đi tìm phần linh thể mà Thiên Chúa đã ban cho ngay từ hồi còn oe oe khóc"[8].

Chỉ có sự thật, chỉ có chân lý mới giải thoát con người (x Ga 8, 32), chỉ trong tôn giáo con người mới được Cứu độ và tự do đích thực Quả vậy, đến với Phật giáo và Kitô giáo, con người sẽ tìm được câu trả lời cho những thắc mắc đã từng làm nhức nhối trái tim mình, sẽ tìm thấy giá trị và ý nghĩa cho cuộc đời, sẽ hóa giải được nhưng nỗi khổ đau ràng buộc vây kín con người trong nghiệp chướng, luân hồi sinh tử, nơi bể khổ và tội lỗi trần gian Mặc dù đây là hai con đường khác nhau nhưng đều đem lại ơn Cứu Ðộ và Giải Thoát cho hàng triệu triệu con người trên thế giới Cũng như đã, đang và sẽ còn làm say mê biết bao trái tim đang khát khao tìm về cõi phúc chân thật Ðiều đó chứng minh rằng chỉ trong tôn giáo con người mới có câu trả lời thỏa mãn cho vận mệnh của mình.

I GIẢI THOÁT THEO PHẬT GIÁO

1/ Giải thoát quan trong Triết học, Tôn giáo Ấn độ

Ðược Giải thoát hay Cứu độ đó là khát vọng căn bản, sâu xa và thiết thực

nhất của con người mọi thời mọi nơi Thật vậy, " tất cả các tôn giáo, bất luận thuộc hình thái nào, đều lấy yêu cầu giải thoát làm bối cảnh"[9] Tuy nhiên, dù cùng chủ trương giải thoát nhưng không phải tất cả các tôn giáo đều đồng quan điểm với nhau về nội dung giải thoát

Nếu như ta đã từng sống hay có dịp tiếp xúc với những người dân quê,

vùng sâu vùng xa, những người suốt ngày phải" đầu tắt mặt tối" , " chân lấm tay bùn" , vật lộn với miếng cơm manh áo trên " đồng chua nước mặn", trên " mảnh đất cày lên sỏi đá" , thì thử hỏi giải thoát đối với họ là gì? Có lẽ họ sẽ trả lời ngay mà

không cần suy nghĩ hay lý luận sâu xa: Giải thoát là bước ra khỏi cảnh đời cơ cực, lầm than, nghèo đói Giải thoát là cơm ăn áo mặc, là không còn áp bức bất công, cũng như không phải sợ hãi phập phồng trước trăm ngàn đe dọa của bệnh, chiến tranh, của những quyền lực thiên nhiên huyền bí, hay những áp lực vô hình trên mạng sống con người Cao hơn một chút, giải thoát là được tự do, ấm

no và hạnh phúc, được học hành, vui chơi giải trí lành mạnh, cũng như được thỏa mãn những nhu cầu cần thiết về sinh hoạt tâm linh, tôn giáo Thật vậy, đối với những người nghèo khổ, bệnh tật; những con người bần cùng trong xã hội, thì ước mơ giải thoát lớn nhất của họ không gì khác hơn là thoát khỏi mọi lo âu, bệnh tật, nghèo đói và áp bức bất công luôn luôn đè nặng trên tâm tư, tình cảm

và đôi vai nhỏ bé của mình Chính những nỗi cơ cực, thống khổ đó đã thôi thúc

Trang 5

con người muốn vươn lên, ước mơ một cuộc sống tự do, an vui và hạnh phúc trường tồn Từ đó hình thành nên những tư tưởng giải thoát trong triết học và tôn giáo khác nhau, ban đầu còn thô sơ thấp kém, thuần tự nhiên, nhưng dần dần nó được hình thành một cách có hệ thống và hướng tới chiều kích tâm linh siêu việt, vượt xa cái quan niệm bình dân thông thường.

Nếu chúng ta muốn tìm đến một quan niệm giải thoát có nền tảng sâu xa, chắc chắn chúng ta phải trở về với đất nước Ấn Ðộ cổ kính, với một nền văn hóa tâm linh lâu đời mà cao vút như dãy Himalaya sừng sững ngất trời quanh năm tuyết trắng Chính nơi đây đã sản sinh ra những quan niệm giải thoát đầu tiên cho nhân loại Chính nơi đây, tư tưởng giải thoát trong triết học và tôn giáo đã đạt đến đỉnh cao tột cùng, đã trở thành lẽ sống và đạo sống cho con người Và

cũng chính nơi đây, triết lý giải thoát: " luôn luôn là nguồn suối mãnh liệt, thôi thúc mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động"[10] của con người, bao trùm và tham dự vào mọi chi tiết, mọi ngóc ngách của cuộc đời Ðồng thời cũng có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần đạo đức, luân lý và xã hội của từng người dân Ấn Ðộ.

Tư tưởng giải thoát đó đã được hình thành rất sớm, ngay từ thời Véda (khoảng 1500-1000 TCN), được coi là đại biểu tối cổ cho tư tưởng giải thoát quan

Ấn độ, dù tư tưởng này chưa có hệ thống mạch lạc, rõ ràng Theo Kinh Véda,

quan niệm giải thoát chủ yếu là " nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là những đe dọa đến sự sinh tồn, sống chết của con người với những lực lượng thiên nhiên mạnh mẽ huyền bí với một bên là ý chí, ước vọng muốn vươn lên để khẳng định sự tồn tại của bản thân con người cầu mong một cuộc sống an lành của những người dân Ấn độ cổ"[11] Không chỉ cầu xin thần linh phù hộ, ban muôn

phúc lộc, bình an mà họ còn cầu xin cho linh hồn mình sẽ được về trong một thế giới trường sinh bất tử Con đường giải thoát đó, theo họ là cầu mong vào sự trợ giúp của thần thánh hơn là vào sức lực, trí tuệ của riêng mình, người dân Ấn độ tin rằng họ sẽ được giải thoát nếu họ chu toàn các nghi thức tế tự thần linh Thần linh ở đây thường là những lực lượng biểu thị cho sức mạnh tự nhiên hay thiên nhiên được con người nhân cách hóa hay thần thánh hóa Có thể nói, tư tưởng giải thoát trong kinh Véda rất gần với quan niệm giải thoát của người bình dân,

vì vào thời kỳ này đời sống xã họi và nhận thức của con người còn thấp kém Phải đợi đến triết lý giải thoát trong Upanishad (khoảng 800-600 TCN) thì ý nghĩa cao cả và đời sống tâm linh con người mới được phát huy mạnh mẽ.

Theo Upanishad, quan niệm giải thoát được xem như là sự xóa bỏ mọi

ràng buộc của thế giới nhục dục, đưa Tiểu ngã (Atman) hay linh hồn cá biệt hòa nhập vào Ðại Ngã (Brahman) hay Tinh thần vũ trụ tối cao Chừng nào chưa giác ngộ, chưa thực hiện được sự đồng nhất giữa Atman với Brahman thì con người còn bị ràng buộc trong thế giới giả tưởng, sinh tử luân hồi bất tận bởi nghiệp báo

Trang 6

chi phối [12] Như vậy, Upanishad đã khám phá ra con đường và cách thức giải thoát mới, dùng lý trí để lý giải những vấn đề nguồn sống của vũ trụ và khám phá

ra bản chất đời sống tinh thần con người Upanishad quan niệm, linh hồn cá biệt (Atman), tồn tại vĩnh viễn, tuyệt đối và bất diệt như Tinh thần vũ trụ tối cao (Brahman) Do đó, giải thoát là làm cho linh hồn bất tử đồng nhất với Ðại ngã tối cao, nhưng muốn giải thoát linh hồn khỏi luân hồi nghiệp báo đạt tới tình trạng đồng nhất với Brahman thì con người phải toàn tâm, toàn ý kiên trì tu luyện đạo đức và tri thức để diệt mọi dục vọng, lo âu, phiền não, xóa bỏ mọi sự ràng buộc bởi thế giới dục vọng biến ảo vô thường này, nhất là phải suy tư, chiêm niệm nội

tâm "thực nghiệm tâm linh bằng nhận thức trực giác để nhận ra chân bản tính của vũ trụ" hầu đạt tới chân lý tối thượng tuyệt đối và hòa nhập vào bản thể

tuyệt đối ấy [13]

Tóm lại, tư tưởng giải thoát trong triết học, tôn giáo Ấn Ðộ được bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên nghiệt ngã của đất nước, từ những nỗi thống khổ, cùng cực của con người và từ sự phân hóa giàu nghèo, phân biệt chủng tộc, giai cấp quá khắt khe trong xã hội Ấn độ cổ thời Ðể rồi cuối cùng, triết lý giải thoát Phật giáo ra đời đã kế thừa, chắt lọc, dung hợp được tất cả những tinh hoa của nền triết lý giải thoát cổ truyền, và phát triển nó một cách sâu rộng, hoàn chỉnh, vi diệu hơn, đồng thời cũng độc sáng hơn Nhờ đó mà, giải thoát quan Phật giáo trở thành đỉnh cao của tư tưởng giải thoát trong triết học và tôn giáo Ấn Ðộ nói riêng cũng như của nhân loại nói chung

Nhưng giải thoát quan Phật giáo là gì? Theo Linh mục Thiện Cẩm: Giải thoát

theo nguyên ngữ tiếng phạn là Moksha, Mukti, cả hai đều bắt nguồn bởi từ gốc

là chữ Muc, có nghĩa là: tự giải thoát, thoát khỏi, tách rời hay từ bỏ cái gì Ở thể thụ động có nghĩa là được giải thoát, bị thiếu thốn hay bị tước đi cái gì "Giải" có nghĩa là gỡ ra, cởi ra, chia tách ra hay giải thích cho rõ "Thoát" có nghĩa là vượt ra khỏi sự trói buộc hay ràng buộc [14] Như vậy, Giải thoát là trạng thái tinh thầ n con người vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới vô thường, là sự diệt hết hay dập tắt mọi ngọn lửa Tham, Sân, Si để đạt tới Niết Bàn với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh, an lạc, không còn vọng động, bất sinh bất diệt, tự do tự tại bằng con đường tu luyện đạo đức, giữ nghiêm giới luật và tu luyện tri thức, thiền định, thực nghiệm tâm linh để đạt tới giác ngộ theo Tam Học: Giới, Ðịnh, Huệ [15]

Chung quy lại, mục đích của Phật giáo là đưa ra những phương tiện để con người thực hành giải thoát ra khỏi cảnh nô lệ đau thương, tương đối của phận

Trang 7

người, nhờ đó mà con người được an vui, hạnh phúc thực sự Vì thế: " Nhiệm vụ, mục đích tối cao của sự giải thoát trong triết lý đạo Phật chính là xóa bỏ sự vô minh, mê lầm của con người, đạt tới sự giác ngộ, với cái tâm sáng tỏ bản nhiên, nhận ra chân bản tính của mình và thực tướng của vạn vật, từ đó, dập tắt được ngọn lửa ái dục, thoát được mọi khổ não của cuộc đời"[16] Ðó là giải thoát, là Niết Bàn Tuy nhiên, đây mới chỉ là một vài khái niệm sơ lược, muốn thấu hiểu sâu xa

về con đường giải thoát trong Phật giáo, chúng ta cần bước sang phần nền tảng đạo lý.

2 Ðạo lý giải thoát trong Phật giáo

Trước hết, chúng ta xác định rằng, giáo lý Ðức Phật chỉ có một, và mục đích tối cao của Phật giáo là đưa chúng sinh đến cuộc sống tự do, an lạc, giải thoát Toàn

bộ giáo lý của Ðức Phật đều nhắm vào mục tiêu tối hậu ấy Có thể nói, xét về bản chất Phật giáo là Ðạo Thấy Biết; xét về pháp hành là Ðạo Tu Tâm; xét về mục đích là Ðạo Giải Thoát Ðạo lý giải thoát ấy được thâu tóm trong giáo lý Tứ Diệu

Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên.

a) Tứ Diệu Ðế

Giáo lý đầu tiên Ðức Phật đem ra giảng dạy là Tứ Diệu Ðế, một chân lý nhiệm mầu, nhưng được trình bày một cánh khoa học và có hệ thống Mục đích của Tứ Diệu Ðế cũng như của Ðạo Phật là nhằm giải thoát chúng sanh khỏi mọi đau khổ, luân hồi sinh tử Ðây là phương pháp tu chứng tiệm tiến từ thấp lên cao Nhờ phương pháp này, Ðức Phật đã độ vô số chúng sinh, chuyển hóa con người

từ vô minh lầm lạc đi đến giác ngộ hoàn toàn Giáo lý Tứ Diệu Ðế được coi là thiện pháp tuyệt hảo nhất, nó thâu tóm toàn bộ giáo lý Phật giáo Tất cả các

pháp môn tu tập khác của Phật giáo đều quy chiếu hay đặt nền trên đó:" Ví như tất cả dấu chân của loài động vật, đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ Thánh Ðế" (Trung bộ kinh I) Tứ Diệu Ðế gồm có: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo Các yếu

tố này liên kết chặt chẽ với nhau không thể tách rời.

- Khổ Ðế: (Dukkha): thực trang đau khổ của cuộc đời.

Hầu hết các dịch giả đều dịch Diệu đế thứ nhất (dukkha) là "chân lý cao cả

về sự khổ" Dukkha là thực trạng, một sự thực về bản chất đau khổ của con

người từ thể xác lẫn tâm hồn, ngược lại với chữ "sukha" là hạnh phúc, tiện nghi,

sung sướng, thoải mái Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, sanh là khổ, già, bệnh, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà không được là khổ, chấp thủ thân ngũ uẩn là khổ" (Tương Ưng V) Dukkha được chia làm mười một loại

Trang 8

khác nhau: Khổ khổ, Hoại khổ, Hành khổ, Sanh Khổ, Lão khổ, Bệnh khổ, Tử khổ,

Aí biệt ly khổ, Cầu bất đắc khổ, Oán tắng hội khổ, Ngũ ấm xí thạnh khổ.

Tuy nhiên, danh từ "dukkha" còn mang một nội dung sâu sắc và phong phú hơn nhiều, nó chứa đựng cả một nền triết lý về nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật giáo Dukkha là một danh từ rất khó phiên dịch, theo nghĩa thông thường

về phương diện cảm giác dukkha là đau khổ hay phiền não Nhưng nếu xét như

là một chân lý trừu tượng thì dukkha hàm xúc ý nghĩa vô thường (du) và trống rỗng (kkha) Nghĩa là, thế gian là một ảo ảnh, không có chi thật (maya), tất cả chỉ

là phù vân Do đó, dukkha là sự biến chuyển bất toàn và hư vô, trống rỗng không đáng để cho ta bám víu vào, cả những cảnh giới thiền định tâm linh cao nhất vẫn còn nằm trong vòng kiềm tỏa của dukkha Vì thế, cái khổ (dukkha) ở đây hiểu cho sâu xa là còn mang thân phận giới hạn, chưa được sống trong vĩnh cửu tuyệt đối, chưa thoát ra khỏi cái thân xác hay thay đổi và vòng biến dịch của cuộc đời Chỉ khi nào con người thoát ra khỏi luân hồi sinh tử, nhập vào tuyệt đối vô biên,

vô tận, không còn biến dời thì mới hết khổ Vì thế, cho dù tôi đang sống trong hạnh phúc về vật chất, và trong tình trạng thánh thiện của tâm hồn, nhưng nếu tôi cứ ngủ quên trong đó thì cái hạnh phúc đó cũng chỉ là trưởng giả, Biệt phái, Pharisiêu giả tạo mà thôi Phải vượt lên trên tất cả để tìm về tuyệt đối, chân không, Niết bàn, đó mới là hạnh phúc và tự do thật sự.

- Tập Ðế: (Samudaya): nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến thực trạng

đau khổ.

Tập Ðế là chân lý lớn thứ hai Ðức Phật đưa ra để lý giải về căn nguyên của bể sầu nhân thế Khổ là Quả, Tập là Nhân và là căn bệnh lưu niên truyền kiếp Tức là nguyên nhân đưa tới sự kéo lê thân phận con người trong sự giới hạn, bất an, tương đối và vô thường Tại sao con người lại phải gánh chịu những nỗi thống khổ trong đời? Con người Khổ là vì cứ bám viu vào những tương đối của cuộc đời, kết hợp hết cái phù du mây nổi này đến cái thay đổi chóng qua khác để vun đắp cho cái tôi của mình, cho cái giả tạo là thật, lấy cái phù du tôn lên làm vĩnh cửu, từ đó mà sinh ra khổ.

Nguyên nhân chính đưa đến mọi khổ đau, bất hạnh của con người chính

là vô minh Vì vô minh nên mới tham Ái, do ái dục mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái, càng khao khát dục lạc bao nhiêu, con người càng khổ đau bấy nhiêu Ái dục là một năng lực tinh thần hết sức hùng mạnh, luôn luôn ngủ ngầm bên trong tất cả mọi chúng sanh và là nguồn cội của biết bao điều bất hạnh trong đời Chính ái dục làm ta đeo níu sự sống dưới mọi hình thức, và lôi dẫn ta mãi phiêu bạt trong vòng luân hồi sinh tử Kinh Chuyển Pháp Luân

nói: " Này hỡi các Tỳ kheo, đây là chân lý cao thượng về nguồn gốc của sự khổ: chính ái dục là nguyên nhân của mọi tái sinh Ái hợp với tâm tha thiết, khao khát,

Trang 9

bám víu vào cái này, cái kia, chính ái đeo níu lấy nhục dục ngũ trần, ái đeo níu theo sự sinh tồn và ái đeo níu theo lý tưởng không sinh tồn"

Tóm lại, nếu không bị vô minh che lấp, không bị dục vọng, đam mê khuấy động, ngự trị thì con người sẽ đầy an lạc, giải thoát Bao lâu còn "khao khát" hiện hữu và trở thành, còn Tham, Sân, Si thì còn dukkha và vòng luân hồi vẫn tiếp tục Chỉ khi nào ngừng "khao khát", dập tắt đam mê, đoạn tuyệt ước muốn và diệt trừ vô minh nhờ sức mạnh của Trí Huệ, thấy biết rõ thực tại thì khi

đó mới chứng ngộ được chân lý, và hạnh phúc Niết bàn.

- Diệt Ðế (Nirodha): chấm dứt đau khổ (dukkha), chứng nghiệm Niết bàn.

Khổ đau là một thực trạng con người có thể cảm nhận ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay Vì thế, trong thâm tâm sâu thẳm lòng mình, con người luôn có xu hướng muốn vượt thoát khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì không hiểu rõ nguyên nhân và bản chất của đau khổ nên không tìm được lối thoát thật sự cho mình; đôi khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh phúc, con người lại càng vướng vào đau khổ nhiều hơn Do đó, Ðức Phật đưa ra chân

lý cao thượng thứ ba là Diệt Ðế để giúp ta dập tắt tất cả mọi hình thức đau khổ cuộc đời Diệt là chấm dứt phiền não, hay dập tắt những nguyên nhân đưa đến đau khổ và chấm dứt dukkha; chấm dứt dukkha cũng có nghĩa là đạt đến hạnh phúc Niết bàn Như vậy, Diệt đế là tịnh diệt, vắng lặng cái tôi của mình để đi vào tuyệt đối Không còn bám víu vào cái gì nữa, không lưu giữ trong tâm mình bất

cứ cái gì Sống thì cứ sống, sống hết mình, nhưng không bám chấp bất cứ cái gì,

dù là lời khen hay chê, vui hay buồn, tốt hay xấu, giầu hay nghèo, thánh hay phàm cũng đều vượt qua hết Ngay cả Phật, cả Chúa, nếu ngăn cản ta đi về tuyệt đối, tự do, an lạc, hạnh phúc thì cũng phá chấp luôn.

Như vậy, mặc dù Ðạo Phật xác nhận rằng cuộc đời đầy dẫy đau khổ, nhưng đồng thời cũng xác định có một tình trạng hoàn toàn tĩnh lặng, thường lạc, hạnh phúc vượt khỏi những tình cảm chủ quan của con người, vượt qua cả vòng sống chết của nhân sinh đó là Niết bàn: nơi thanh tịnh và hạnh phúc tuyệt đối khi tâm ý đã hoàn toàn vắng lặng tham, sân, si Ðây chính là mục đích của người hành trì tu tập theo Phật giáo muốn đạt đến

- Ðạo Ðế: (Magga) con đường hay phương pháp thực hành chấm dứt đau

khổ.

Ðạo đế chính là con đường chấm dứt dukkha, con đường này gọi là Trung Ðạo Bởi vì nó giúp ta tránh khỏi hai cực đoan mà con người thường mắc phải: cực đoan thứ nhất là chạy theo hạnh phúc khoái lạc giác quan tầm thường (chủ nghĩa khoái lạc); còn cực đoan kia là tìm kiếm hạnh phúc qua sự hãm mình ép xác, dưới nhiều hình thức khổ hạnh khác nhau (chủ nghĩa khắc kỷ) Rớt vào hai

Trang 10

cực đoan này đều không đem lại tự do và giải thoát đích thực cho con người Với kinh nghiệm của mình, Ðức Phật đã tìm ra con đường Trung đạo, chính con đường Trung Ðạo này mới đem lại kiến giải và tri thức đích thực, đưa đến an tĩnh trí huệ, giác ngộ, Niết bàn, con đường đó là Bát Chánh Ðạo Giáo sư Rhys

Davis nhận định: " Dầu là Phật tử hay không, tôi nghiên cứu từng hệ thống tôn giáo lớn trên thế giới, và trong tất cả, tôi không tìm thấy trong tôn giáo nào có cái gì cao đẹp và toàn vẹn hơn Bát Chánh Ðạo của Ðức Phật Tôi chỉ còn có một việc làm là thu xếp nếp sống của tôi cho phù hợp với con đường ấy"

Bát chánh đạo hay con đường Trung đạo, gồm có: Chánh Kiến (Sammã

ditthi); Chánh Tư Duy (Sammã sankappa); Chánh Ngữ (Sammã vãca); Chánh Nghiệp (Sammã kammanta); Chánh Mạng (Sammã ãjiva); Chánh Tinh Tiến (Sammã vãyãma); Chánh Niệm (Sammã satti); Chánh Ðịnh (Sammã samãdhi).

Hầu hết, giáo lý Ðức Phật giảng dạy suốt 45 năm trường đều đề cập cách này hay cách khác đến con đường này Tất cả những gì tinh túy nhất của giáo lý, kinh điển Phật giáo đều tìm thấy trong Bát Chánh Ðạo Tám phạm trù này không cần phải thực hành theo thứ tự trước sau, nhưng cần được phát triển gần như đồng thời với nhau, vì nó liên kết chặt chẽ và bổ túc cho nhau, cái này giúp cho cái kia phát triển, hầu làm hoàn thiện ba khía cạnh cốt yếu trong việc tu tập và kỷ luật tâm linh Phật giáo, cũng gọi là Tam học: Giới (Sila), Ðịnh (Samãdhi), Huệ (Panna) Người ta thường giải thích và phân loại Bát Chánh Ðạo theo ba đề mục này [17]

1% Giới (Hạnh kiểm đạo đức): Ðược xây dựng căn bản trên tình yêu phổ

quát và lòng từ bi thương xót đối với mọi chúng sinh, do đó, giới bao gồm ba yếu

tố : Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng.

Như vậy, ba yếu tố này của Bát Chánh Ðạo lập thành hành vi đạo đức cho con người, đưa con người đến một cuộc sống hoàn thiện, hay trở thành những bậc hiền nhân quân tử Nhưng cần nhận chân rằng hành vi đạo đức hay luân lý trong Phật học cốt nhằm mục đích làm cho đời sống cá nhân và xã hội đều được hạnh phúc, an hòa [18]

2% Ðịnh: hay kỹ thuật tâm linh, cũng gồm ba yếu tố trong Bát Chánh Ðạo là:

Chánh Tinh Tiến, Chánh Niệm và Chánh Ðịnh.

Trang 11

Ba yếu tố này của Bát Chánh Ðạo, nhằm để phát triển và thăng tiến đời sống tâm linh, giúp cho con người tập trung thống nhất toàn thể con người mình qua việc đào luyện tâm ý và an trụ Tâm vào thiện Pháp Nói khác đi, Tâm của mỗi người được huấn luyện, khép vào kỷ luật và phát triển là nhờ vào Chánh Tinh Tiến, Chánh Niệm và Chánh Ðịnh Ðây cũng là những điều cốt yếu làm nên những pháp môn Thiền trong Ðạo Phật Người tu Thiền là nhiệt tâm, kiên trì và bền bỉ trụ tâm vào một điều duy nhất để tập trung, thống nhất con người mình một cách sâu xa, nhờ đó mà Giác ngộ, hay Thấy Biết hoàn toàn mới.

3% Huệ (Khôn ngoan): Gồm hai yếu tố còn lại của Bát Chánh Ðạo: Chánh Kiến

và Chánh Tư Duy.

Ðây là hai yếu tố quan trọng trong Bát Chánh Ðạo, Ðặc biệt là Chánh Kiến, vì

nó là khởi đầu và kết thúc mọi hành trình tu tập Chánh kiến là Thấy Biết mọi sự đúng như thật và nhận thức đúng về bản chất cuộc sống Thấy Biết rõ bản chất của sự vật là vô thường, vô ngã, duyên sinh và nhận thức rõ về bản chất, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đoạn tuyệt khổ đau Ðồng thời cũng Thấy Biết đúng sự thật rằng mỗi người có một khả năng thấy Biết siêu việt, tròn đầy (Chân Tâm, Phật tánh), giống như linh minh trực giác, giống như Thức chứa chan trong toàn thể vũ trụ Nhưng, muốn Thấy Biết đúng sự thật, phải nhìn sự vật, giải thích sự vật theo Tứ Diệu Ðế Như vậy, tựu trung Chánh Kiến chính là thấy biết Tứ Diệu Ðế, sự hiểu biết này là trí huệ cao cả nhất [19]

Có thể nói, vấn đề: "Tam học" trong triết lý giải thoát của Phật giáo là cách thức tu luyện có tính chất toàn diện và tổng hợp nhằm nhằm làm cho: tính thiện, tâm định, tuệ phát, giác ngộ đạt tới cõi Niết bàn Vì vậy, trong Kinh Pháp

Cú Ðức phật dạy: " Con đường cao thượng là Bát Chánh Ðạo Chân lý cao thượng

là Tứ Ðế Không luyến ái là trạng thái cao thượng nhất"[20] Thật vậy, Bát Chánh Ðạo là một lối sống, một con đường thực tiễn, đòi hỏi mỗi người phải thực hành

và phát triển chứ không chỉ hiểu biết suông, vì: " Nó là một con đường dẫn đến thực chứng chân lý tối hậu, dẫn đến tự do hoàn toàn, hạnh phúc và bình an nhờ

sự hoàn thiện và đạo đức, tâm linh và tri thức" [21]

Vì thế, bất cứ ai thực hành, tu tập theo Tứ thánh đế một cánh kiên trì, miên mật thì sẽ đạt được giải thoát ngay trong kiếp sống này chứ không phải đợi đến kiếp sau Nói khác đi bất cứ ở thời khắc nào, miễn là ta cắt đứt mọi luyến ái

và mọi ràng buộc để cho tâm hồn thanh tịnh, an lạc, tự tại tức là ta đã được giải

thoát Kinh Pháp Cú dạy: hãy " hành động đúng đạo pháp, diệt tham, sân, si; tri kiến chân tính; tâm thanh tịnh, không luyến ái; tại đây và về sau, người ấy sẽ chứng nghiệm thành quả của phẩm hạnh thiêng liêng"

b Thập Nhị Nhân Duyên

Trang 12

Thập nhị nhân duyên là một kiến giải rất sâu sắc của Ðức Phật về số phận con người, về một sự kiện hay sự vật Những điều ta tưởng chừng như cứng ngắc, đóng khung, bất di, bất dịch và chắc chắn phải xảy ra như thế, không thể khác được thì Phật giáo lại cho rằng đó chỉ là tương đối, duyên sinh vô thường, vô ngã

mà thôi Ðây chính là cái nhìn mới mẻ và độc đáo của Ðức Phật Có thể nói: " Cái

gì độc sáng nhất và là khám phá mới mẻ của Ðức Thế tôn chính là luật Thập Nhị Nhân Duyên, theo đó, vạn sự trong trần gian này đều do mười hai nhân duyên mà có".[22] Ðức Phật định nghĩa về Duyên khởi như sau: " Cái này có thì cái kia có, vật này sinh thì vật kia sinh, cái này không thì cái kia không, vật này diệt thì vật kia diệt" (Majjhimani Nikaya, III.63).

Mười hai Nhân duyên đó là: Vô Minh (avidyâ), Hành (samskâra), Thức

(vijnâna), Danh sắc (nâma-ru pa), Lục Nhập (sad-âyatana), Xúc (sparsa), Thọ hay Thụ (vedanâ), Ái (trsnâ), Thủ (upâdâna), Hữu (bhava), Sanh (jâti), Lão Tử (jarâ-marana) Thực ra, Thập nhị nhân duyên là một cách giải thích khác của

Tứ Diệu Ðế Như ta thấy, Vô minh, Hành, Ái, Thủ, Hữu là năm chi hợp lại thành Tập Ðế; Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thụ, Sinh, Lão Tử là bảy chi mở ra thành Khổ Ðế Trí huệ xem thấu cái lẽ sinh diệt của nhân duyên gọi là Ðạo Ðế Dứt hết mười hai nhân duyên là Diệt Ðế.

Theo thuyết Thập Nhị Nhân Duyên thì cuộc đời là trùng trùng duyên khởi, tất cả chúng sinh không có gì hiện hữu cô độc hay tự mình mà có Bất cứ sự vật gì phát động hay thành toàn đều do luật nhân quả mà ra Cái gì phát động ra gọi là nhân, cái gì kết hợp thành toàn do nhân gọi là quả Nhân và quả cũng sinh ra lẫn nhau nhờ cái duyên Không có duyên thì nhân không thể thành quả Tất cả sự vật sinh sinh, hóa hóa trong trời đất này đều do luật Thập Nhị Nhân Duyên mà ra [23] Mười hai Nhân Duyên này: theo nhau liên tiếp như nước sông chảy, cho nên các sách nhà Phật gọi là Duyên-hà Các nhân duyên tụ tập mà sinh ra mãi, gọi là Duyên-hà-mãn, nghĩa là sông duyên đầy tràn Trái lại, nếu cứ lần lượt dứt hết nhân duyên nọ đến nhân duyên kia thì gọi là Duyên-hà-khuynh, nghĩa là sông Duyên nghiêng cạn [24] Nếu cứ để cho mười hai nhân duyên này luân chuyển theo nhau không ngừng, quay tròn như chiếc bánh xe thì càng làm cho bể sầu nhân thế không ngừng dâng cao lên mãi Muốn làm cạn bể sầu này thì phải giải thoát ra ngoài vòng bánh xe luân hồi kia, diệt trừ không còn bánh xe nữa; nghĩa là không tạo ra nghiệp quả nhân duyên nữa Tịch diệt nhân duyên đi là giải thoát [25]

Chúng ta hiện hữu là hiện hữu giữa mọi người, giữa trời đất muôn vật, trăng sao, sông núi Trong sự hiện hữu đó là một bể pháp giới trùng trùng không có cái nào tách biệt Nếu ta thấy có sự khác biệt là do cái tâm của ta nhỏ hẹp và do cặp

Trang 13

mắt giới hạn của mình bị vô minh che lấp, chứ thực ra dầu người đen hay trắng, người cao hay thấp, ốm hay mập, sang hay hèn cũng đều do Tứ Ðại kết hợp mà thành Bản thân con người chính là do Nhân Duyên kết hợp Cụ thể, nó được cấu tạo bởi hai thành phần: thể xác và tinh thần Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan, tan hợp của ngũ uẩn gồm: cái tôi sinh lý và cái tôi tâm lý Cái tôi sinh lý tức

là Sắc (rupa), do "tứ đại" giả hợp mà thành: địa, thủy, hỏa, phong, cái tôi này có thể cảm giác được Còn cái tôi tâm lý, tinh thần hay cái tâm của con người, gọi là Danh (nâma), cũng gồm bốn yếu tố sau giả hợp mà thành: thụ, tưởng, hành, thức Như vậy, Thân, Tâm hay Danh, Sắc con người được tạo nên từ ngũ uẩn, ngũ uẩn lại do nhân duyên hòa hợp mà thành Duyên hợp ngũ uẩn lại thì là ta, có ta; duyên tan ngũ uẩn ra thì là diệt, không có ta Ðó chính là sự vô thường của kiếp sống [26] Nếu có sai biệt là sai biệt về phương diện hình tướng bên ngoài, còn trên bình diện tương quan mọi người đều bình đẳng như nhau.

Ðầu mối của Lý duyên khởi là Vô minh Duyên vô minh có mặt nên hành thức có mặt, do đó, khổ đau cũng hiện diện Muốn diệt trừ khổ đau thì phải tận diệt Vô minh Vô minh diệt thì Hành, Thức cũng diệt; Hành, Thức diệt thì Ái, Thủ cũng tan, do đó, khổ đau cũng không còn hiện hữu Không còn Vô minh thì cũng không có Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử nên cũng không còn dính mắc vào vòng quay luân hồi, sinh tử Diệt trừ được vô minh thì cũng dứt khổ đau sinh tử Tuy

nhiên, dù Vô-minh vẫn được coi là: " Cái gốc rễ của con đường quá khứ vị lai và hiện tại"[27] Nhưng ta không được quan niệm Vô minh như là cái nhân hay cái duyên đầu hết hiểu theo nghĩa tuyệt đối, vì theo Ðức Phật, Ngài không hề nhận một nguyên lý tuyệt đối nào Trái lại, Ngài coi tất cả chỉ là tương đối và lệ thuộc lẫn nhau Mười hai nhân duyên, liên kết với nhau, không cái nào riêng lẻ một mình Cái nào cũng đủ duyên khởi và duyên khởi pháp, cái nào cũng vừa là nhân vừa là quả Luật Nhân Quả này không bị giới hạn bởi thời gian, có khi Nhân của

kiếp này nhưng mãi kiếp sau mới thành Quả Do đó, " khi chúng ta nói tới quá khứ, hiện tại, đời này hay đời sau, chúng ta nên hiểu rằng thực ra trong Phật giáo nguyên thủy, luật Thập-nhị-nhân-duyên có thể áp dụng vào bất cứ một lúc hay một giai đoạn nào của hiện hữu bởi vì, theo tư tưởng của Ðức Thế tôn, trong cuộc đời của chúng ta, thực ra mỗi lúc chúng ta chết đi và (tái) sinh".[28]

Giáo lý duyên khởi rất thâm sâu, tưởng chừng như dễ hiểu, nhưng hiểu

không dễ Ðức Phật khẳng định: "Ðạo Ta là cái đạo đi ngược dòng", là một chân

lý vi diệu, khó nhận và khó hiểu, nhất là đối với những hạng người tầm thường, những kẻ bị chìm đắm trong dục vọng, và Vô minh che lấp Chính vì không hiểu rõ, không giác ngộ, không chứng nhận pháp này mà chúng sanh bị rối ren như cuộn chỉ không thoát khỏi luân hồi Tại sao lại nói như vậy? Bởi vì không hiểu được lý duyên khởi, tức là không hiểu được mình, không hiểu được vạn pháp, nên chấp

Trang 14

ngã, đề cao cái tôi của mình trên tất cả, từ đó sinh ra ảo tưởng, ảo giác, đó cũng chính là nguồn gốc của vô minh [29] Vì thế, qua thuyết Thập Nhị Nhân Duyên Ðức Phật lôi kéo chúng sinh ra khỏi ngã chấp, khỏi vòng sinh tử luân hồi, khỏi tham sân si đoạn trừ mê muội, u minh trong quá khứ, hiện tại và tương lai mà Ðức

Phật gọi đó là diệt trừ "Tam Tế Ngu" Ðồng thời, Ðức Phật cũng chỉ cho thấy: con

người đau khổ không phải là do số mệnh an bài hay ý trời đã định mà chính là do

Vô minh lôi dẫn Chỉ khi nào diệt trừ hết Vô minh con người mới được an lạc, giải thoát, Niết bàn [30]

Tóm lại, thuyết Thập nhị nhân duyên " cốt là để đả phá những tri kiến sai lầm của

an vui, tự tại giữa cuộc đời bao la, bát ngát không còn gì ngăn ngại hay vướng mắc.

Với Tứ Diệu Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên, Phật giáo coi thế giới khách quan và tâm thức con người đều là vô thường, vô ngã Coi tất cả vạn vật trong thế giới đều do nhân duyên hòa hợp mà: thành, trụ, hoại, không Phật giáo đã chọn con đường giải thoát là con đường Trung Ðạo, với sự tu luyện theo Bát Chánh Ðạo để cắt đứt mọi duyên sinh, diệt hết mọi dục vọng, phá vỡ màn vô minh để tiến tới giác ngộ, trí huệ và hòa nhập vào Niết bàn tuyệt đối [32] Vì thế,

con đường tu luyện giải thoát của Phật Giáo mang tính toàn diện, từ "đời sống đạo đức, luân lý đến tâm linh trí tuệ".

Xét cho cùng, Phật giáo là Ðạo Giải Thoát, là ÐI TÌM GIẢI THOÁT Ðức Phật

đã đẩy con người lên đường để tự giải thoát chính mình Phả đổ tất cả mọi hàng rào, mọi vướng bận ngăn cản con người đi đến tự do Lên đường tìm tự do và giải thoát là đi tìm chân lý, nghĩa là hòa nhập vào chân lý Ðức Phật khẳng

định: "Nước trong bốn bể chỉ có một vị là vị mặn, cũng thế, giáo pháp của Ta chỉ

có một vị là vị giải thoát" Lời xác quyết này cho thấy, mục đích tối cao của Ðạo

Phật là đưa chúng sanh đến cuộc sống an lạc giải thoát, đó cũng là nhu cầu tất

Trang 15

yếu và là khát vọng thâm sâu của nhân lọai, mọi thời, mọi nơi Triết lý giải thoát của Phật giáo là một bước phát triển đầy sinh khí có ảnh hưởng tích cực vào đời sống xã hội và tôn giáo Ấn Ðộ đương thời, cũng như cho thế giới, hôm qua, hôm nay và mãi mãi Nó là tiếng nói đại diện cho khát vọng đòi tự do, bình đẳng, xóa

bỏ mọi tầng lớp và giai cấp trong xã hội con người Do đó, nó luôn mang tính hiện sinh cho cuộc sống con người.

3/ Giải thoát theo chiều hướng hiện sinh

Tôn giáo nào cũng vậy, đều vì con người và vì hạnh phúc nhân sinh Nếu tôn giáo làm hủy hoại sự sống, ngăn cản tự do của con người thì tôn giáo đó không có lý

do để tồn tại Tôn giáo cũng giống như " không gian của bầu trời hay khí quyển, phải vô vi, phải vô ngã, hoàn toàn " trống rỗng" , hoàn toàn dứt bỏ danh lợi, từ bỏ chính mình, không hiện hữu cho mình, nhưng hiện hữu cho nhân loại Một tôn giáo chỉ hiện hữu cho mình, phô trương thế lực, tham lam tìm kiếm danh lợi"[33] thì không phải là một tôn giáo đích thực Theo Ðức Giêsu, tôn giáo cũng giống

như " men trong bột" (x Mt 13,33), hay như " muối ướp" cho mặn đời (x Mt 5,13), và như " đèn soi" cho thế giới (x Mt 5,14-16) Có như vậy, tôn giáo mới có lý do để

đồng hành cùng nhân loại, để phục vụ sự sống con người, cho lẽ phải và cho lòng nhân Ðó chính là chiều kích hiện sinh của tôn giáo.

Trong chiều hướng hiện sinh đó, ta có thể xem giải thoát như là một sự "phá chấp" tất cả, xa lìa "các tướng, các pháp"; giải thoát là "hàng phục vọng tâm",

"an trụ chân tâm", tu tâm để Phát tâm "Bồ Tát" và cuối cùng, giải thoát là nhập thể vào đời đem công lý, hòa bình, tự do, an vui và hạnh phúc cho con người.

a Giải thoát là "Phá chấp" tất cả.

Cuộc sống con người không bám chấp vào cái này thì cũng dính dấp vào cái kia Nguyên nhân của mọi khổ đau, tranh chấp, thù hằn, nghèo đói, chiến tranh, chia rẽ trong đời sống con người đều do căn bệnh Chấp Ngã Chấp tức là quy về mình, thu tích, phòng giữ mọi thứ cho mình Trong thân tâm sâu thẳm con người

là cả một sức mạnh dữ dội, một cái thấy biết mù lòa tăm tối hay một lý trí mù quáng, khiến con người luôn quy hướng về cái Tôi, cái bản Ngã của mình Ðể rồi

từ đó bộc lộ ra trong cách ứng xử, thái độ, hành vi, tư tưởng và cả trong từng khởi niệm thầm lặng nhất của mình Ðiều đó giải thích tại sao thế giới này lại có

sự phân hóa giàu nghèo, phân biệt chủng tộc, giai cấp, và ý thức hệ khác nhau? Con người ai cũng muốn đề cao cái Tôi của mình, muốn thống trị thiên hạ, muốn cho mình là nhất, là đúng, nên mới sinh lòng ích kỷ, tìm cách bảo vệ và chiếm hữu cho mình càng nhiều càng tốt Ngay cả khi bám chấp vào lý tưởng, niềm tin,

Trang 16

tôn giáo và những sự thánh thiện của mình để loại trừ người khác hay tôn giáo khác cũng là một điều nguy hiểm.

Thông thường, cái mà con người hay bám chấp nhiều nhất là tình cảm, tiền của và danh lợi Ca dao Việt Nam thường nói:

"Con đường danh lợi cong cong,

Người mong thoát khỏi kẻ mong bước vào".

Còn nhà thơ Tú Xương thì lại bám chấp vào ba cái lăng nhăng sau:

"Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng cứ phá ta".

Cuộc sống tự nhiên con người là thế, luôn bị chi phối bởi tình, tiền, tài; nói khác đi là bởi dục vọng và đam mê Muốn thoát khổ, con người cần phải phá chấp tất cả, phá chấp luôn cả những gì là thánh thiện nhất, không bám trụ vào bất

cứ cái gì, kể cả bám trụ vào Chúa, vào Phật, vào thần thánh mà ta tự tạo nên để rồi giam hãm mình trong đó, không còn tự do, tự tại Chính vì bám chấp vào không gian và thời gian, vào ngôn từ và tư tưởng mà con người đã làm méo mó

tôn giáo và khuôn mặt của thần thánh, như Pascal đã nói: "Thiên Chúa của các triết gia không phải là Thiên Chúa của Tổ Phụ Abraham, Isaac và Giacop" Ðức phật dạy: "Chấp trước vào một điều gì (quan điểm) và khinh miệt những điều khác xem là thua kém - đấy trí giả gọi là một xiềng xích"[34] Ðức Giêsu cũng dạy: Các con đừng gọi ai dưới đất là Thầy, là Cha vì các con chỉ một Thầy một Cha duy nhất ở trên trời (x Mt 23,8-9).

Một trong những căn bệnh và cũng là nguy cơ lớn của con người thời đại hôm nay đó là chấp vào tri thức khoa học kỹ thuật máy móc, vào cơ cấu và ý thức

hệ Nền văn minh mới: bạo lực và súng đạn đang thống trị địa cầu Chính sự

"khôn ngoan" vượt bực của con người và những cơ cấu xã hội, kể cả tôn giáo đã bóp chết con người trong những cái cứng ngắc, đóng khung, khiến tâm hồn con người trở nên trống rỗng, tê liệt, hay máy móc hóa như những chàng rô bô, không còn sự hồn nhiên, mở rộng thênh thang mà vui sống trong sự tự do, chân

Trang 17

lý và sự thật Nếu có dịp xem vở kịch "Chuyện Tình Năm."[35] chúng ta sẽ thấy tác

giả phản ánh đúng thực trạng ấy Vì thế, sứ điệp của vở kịch là muốn kêu gọi con

người: "hãy cứu lấy trái tim Nó đang đập theo nhịp được chương trình hóa Hãy cứu lấy tâm hồn Nó không còn không gian cho những rung động lãng mạn Hãy cứu lấy con người, các rô bô đang tiếm đoạt vị trí của họ Người chồng không còn đưa vợ dạo chơi trên phố Anh ta nhờ rô bô làm thay Máy móc đang thừa kế con người Tưởng đâu như thế con người được giải phóng, ai ngờ lại thành nô

lệ Con người lệ thuộc vào máy móc Họ phó thác tự do, năng lực tưởng tượng, những rung động bay bổng của mình cho rô bô Rô bô là đứa con cầu tự của con người Con người vô sinh Không còn sản sinh ý tưởng, cảm hứng Chúng đã được trao phó cho rô bô, cậy nhờ những trương trình của máy tính".[36]

Khi con người không có trái tim rung nhịp, không có "trái tim thịt" (x Ed 36,26) thì người ta sẽ đối xử với nhau như máy móc, hay những quy ước lạnh lùng, đóng khung, và vô cảm Người ta sẽ nhìn nhau như những hằng số toán học

vô hồn Khi đó, thế giới sẽ trở thành bãi chiến trường để người ta giành giật Và như vậy, nếu họ có sát hại lẫn nhau thì cũng chỉ là giết chết những con số vô cảm

vô danh Rồi cuối cùng, thảm họa diệt vong của cõi người sẽ không tránh khỏi Chính vì chấp vào nhãn hiệu, lý tưởng, đảng phái hay tôn giáo mà thế giới này mới có chiến tranh, hận thù, chia rẽ, để rồi đưa đến hậu quả là sự nghèo đói, bệnh tật và tệ nạn xã hội cũng phát sinh Lịch sử đã chứng minh không biết bao lần người ta nhân danh đảng phái hay tôn giáo mình để sát hại lẫn nhau Ðã có những con người được mang danh là "lính Chúa Kitô", những cuộc chiến được mệnh danh là "Ðạo binh thánh giá" Mới đây, báo chí và đài BBC đưa tin, những người Hồi giáo nhân danh đạo mình theo lệnh giáo chủ độc nhãn Omar đốt phá

tượng Phật, bất chấp "sự lên án mạnh mẽ của dư luận thế giới" Những bức tượng này đã có trên 1500 năm, nó là "biểu hiện cho một nền văn minh rực rỡ của khu vực Trung Nam Á", và đã được UNESCO công nhận là "di sản văn hoá nhân loại có một không hai trên thế giới"[37] Báo Công An, số 921, ra ngày

6.3.2001 cũng đăng tin, cuộc chiến tranh giáo phái của những phần tử Hồi giáo quá khích ở Pakistan lại có thêm 12 người chết Báo An Ninh Thế Giới, số 214, ngày 17.2.2001 cho biết, phe Taliban đang cầm quyền ở Afghanistan đã sát hại 300 thường dân vô tội Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh dai dẳng vừa mang tính chính

Trang 18

trị vừa nhân danh tôn giáo ở Trung đông giữa Israel và Palestine làm cho biết bao người bị thương và thiệt mạng.

Người ta đã chấp vào chủng tộc, màu da, vào thần thánh hay Chúa của mình để loại trừ, thanh toán kẻ khác Nhưng người ta có biết đâu, đã là Chúa là Phật thì không có phân biệt đối xử, không loại trừ nhau Ðã là Chúa là Phật thì vượt qua mọi ranh giới, ích kỷ, hẹp hòi, tranh chấp và thù nghịch Ðã là Chúa là Phật thì luôn luôn thể hiện tấm lòng từ, bi, hỷ xả và bác ái yêu thương Do đó, trong mọi trường hợp người ta không thể đưa Chúa, Phật hay thần thánh để biện minh cho những hành động đen tối của mình Chúa, Phật không bao giờ muốn chia rẽ hay gây tang tóc đau thương cho con người Cũng vậy, lòng từ bi, bác ái thì không có phân biệt, cũng chẳng có bè phái, không là Chúa, là Phật, là Ấn,

là Hồi Giáo hay bất cứ tôn giáo nào Do đó, nếu những người có đạo lại nhân danh niềm tin hay Chúa của mình để loại trừ, sát hại đồng loại thì đức tin của họ

là "cuồng tín", đạo của họ là "đạo vô nhân" chứ không phải là niềm tin và Ðạo chân chính.

Muốn lập lại trật tự hòa bình, nhân nghĩa và tình thương, con người ngày nay cần phải phá chấp tất cả, xóa bỏ mọi cơ cấu, ý thức hệ, không nhân danh đảng phải chính trị hay tôn giáo để giết hại nhau Trái lại hãy mở rộng cõi lòng, hãy trao cho nhau trái tim đầy tràn sức sống, với tấm lòng đồng cảm, trỉ kỷ, tri

âm, tinh tế, dịu dàng, đôn hậu và thật thà Cần có một lần nào đó, Ðức Phật và

Ðức Giêsu đi ngang qua đời, "chân lý chiếu qua tim", để con người bừng tỉnh và

bật dậy, phá tung tất cả, bỏ đi tất cả để hòa nhập vào dòng sống tự do Hãy vét rỗng tâm hồn mình, để cho ánh sáng Thần Khí tràn vào Nếu còn bám chấp vào không gian, thời gian, già trẻ, cũ mới thì không bao giờ ta được một lần tự do, giải thoát Do đó, dưới cái nhìn hiện sinh, giải thoát là ly, lìa tất cả các tướng các pháp, không để cho bất cứ cái gì ngăn cản hay chi phối cuộc sống của ta Chính vì muốn lật đổ, phá tung tất cả mà Phật giáo coi cuộc sống con người chỉ là Duyên

sinh, Vô thường và Vô ngã: "Chư hành vô thường", "chư pháp vô tướng".

Khi tuyên bố: mọi pháp đều vô ngã, và mọi sự đều là duyên sinh, duyên khởi, Ðức Phật chỉ muốn làm sao cho con người sống đúng với sự thật, sống chánh niệm miêm mật trong lòng mình hầu đạt đến thực tại giải thoát Tức là trở

về với cái Biết thường hằng, bất biến Mặc dù mọi sự đều biến đổi vô thường,

Trang 19

nhưng có một thực tại không thay đổi đó là sự Thấy Biết về Sự Thật Nơi mỗi người đều có khả năng Thấy Biết không bao giờ hư hoại, đó chính là Chân tâm, Phật tính hay Bản lại diện mục trong mình.

Vì cuộc sống là vô thường, vô ngã nên cần phải buông lơi tất cả, không thiết tha, bám chấp vào cái gì, không thiết tha với diện mạo của mình, không quyến luyến với tiền bạc, lợi danh hay tình cảm, không tự hào với kiến thức của mình, cũng không tìm cách tích trữ thật nhiều và không bám víu vào những buồn vui của cuộc sống, không nuối tiếc, nhớ thương cái gì dù đó là những kỷ niệm đẹp Trái lại, sống theo định luật vô thường là sống hoàn toàn tự do, không bị nô lệ vào quá khứ, cũng không sợ hãi khi tương lai chưa đến, không để cho bất cứ cái gì ngăn cản ta mở toang cánh cửa tâm hồn với từng giây phút hiện tại tràn đầy chân lý Sống đúng định luật vô thường không phải là sống tạm bợ, buông xuôi, nhưng là sống hết mình, hòa nhập tất cả hữu thể vào trong chân lý, sự thật.

Tóm lại, Phật giáo chủ trương "vô thường", "vô ngã" là để "phá chấp" tất cả,

Ly, Lìa tất cả: " Lìa các tướng ấy là chư Phật", có như vậy, con người mới thực hiện

được giải thoát cho mình và cho người Nghĩa là giải thoát khỏi mọi chi phối của cuộc đời, khỏi sự kềm chế của Tham, Sân, Si, đặc biệt là lòng ham muốn Ðức Giêsu cũng đòi hỏi những ai muốn theo Ngài phải từ bỏ tất cả, nhất là từ bỏ chính mình (x Mc, 8, 34; Mt 16, 24) Phải làm sao cho tinh thần "vô thường",

"vô ngã" và "vô vi" đưa người Phật tử đến chỗ "quên mình" vì dân vì nước và

vì tất cả chúng sinh Người Phật tử phải làm sao nuôi dưỡng và thể hiện tinh thần ấy trong suốt cả cuộc đời, đó mới là điều quan trọng Nói theo Lão Tử

là " Ðồng kỳ trần" (ÐÐK ch IV), nghĩa là cùng chung bụi bặm, cùng chia sẻ vận

mệnh đau thương, tội lỗi của con người và dân tộc Về điểm này, ta thấy các tôn giáo lớn đều gặp nhau Ðức Giêsu thì dạy các môn đệ mình phải sống "nghèo", phải "hủy mình" đi; Ðức Phật thì đòi hỏi các Tỳ Kheo phải thực hiện "vô ngã"; Lão Tử thì chủ trương "vô vi"; Khổng Tử thì đòi hỏi người quân tử phải có "tiết trực tâm hư"; còn với thi hào Tagore thì ta lại tìm thấy trong hình ảnh chiếc ống sáo bằng sậy, nó vừa "thẳng" lại vừa "rỗng" có như vậy nó mới vang lên nhưng điệu nhạc du dương khi có hơi thở chạm vào Có thể nói, những bậc thánh nhân,

quân tử, không hiện hữu cho mình mà sống cho tha nhân Cũng vậy, " lý tưởng tôn giáo chính là thực hiện vô vi, vô ngã, thực hiện " tiết trực tâm hư" , hay chấp nhận từ

bỏ chính mình, như Ðức Giêsu hóa mình ra không"[38] , để cứu độ toàn thể nhân loại.

b Giải thoát là Tu Tâm: " hàng phục vọng tâm, an trụ chân tâm"

Tâm (citta) là thức, là Lời, là cái nhìn, là mắt là quan điểm hay cảm nghĩ, cảm quan Tâm cũng có thể hiểu là lòng, tấm lòng, tâm hồn, trái tim, tình cảm, tình yêu, tư tưởng, lý trí của con người Tâm tức Phật tánh Phật tánh tức tánh

Trang 20

không Tánh không tức Như lai Như lai tức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh Thường, Lạc, Ngã, Tịnh tức là cảnh giới mầu nhiệm giải thoát chẳng thể nghĩ bàn [39]

Vậy tâm là cái mầu nhiệm tối quan trọng, phiền não hay an vui hạnh phúc cũng

do tâm, địa ngục hay Niết bàn cũng do tâm Không có cái tâm thì không có suy

tư cảm nghiệm, không có văn hóa, tôn giáo cũng không có con người Nhưng cũng chính cái tâm đó quay lại tác động, chi phối trên con người và làm cho con người hạnh phúc hay khổ đau Tâm làm cho con người dơ bẩn hay trong sạch Tâm xây đắp bản tánh và gầy dựng số mạng con người Tư tưởng thấp hèn làm cho ta nên bần tiện Trái lại tư tưởng trong sạch đưa con người đến chỗ thanh cao, siêu thoát Lắm khi chỉ một tư tưởng, một niệm cũng đủ tiêu diệt cả thế gian hay nâng trần gian lên [40]

Do đó, đối với Phật Giáo, vô chấp hay giải thoát là Tu Tâm, trở về với mình xoay tâm mình lại Làm sao an trụ được dòng tâm để Thấy Biết đúng sự thật, tự do, đầy sáng tạo, nghĩa là sống tận kỳ tính của mình, sống thật con người mình một cách đơn sơ chân chất giữa cuộc đời Mỗi người phải trở về xoay tâm mình lại cho hồn nhiên, tự tại, để đi đến vô tâm, vô niệm Ðó chính là ý nghĩa câu hỏi của

ông Tu Bồ Ðề trong Kinh Kim Cang: " Vân hà ưng trụ" , " Vân hà hàng phục kỳ tâm" , " Làm sao hàng phục vọng tâm" , " Làm sao an trụ chân tâm" ?

- " Hàng phục Vọng Tâm"

Cuộc sống ồn ào, sôi động lôi kéo chúng ta đi Tâm chúng ta luôn vun vút phóng ngoại, băng mình chạy theo những nhịp độ chớp nhoáng hay những ngoại cảnh bên ngoài Ðến độ, ta ăn mà không biết mình ăn, tụng kinh, làm việc mà không biết mình đang làm gì, muốn nghỉ ngơi tĩnh lặng nhưng đủ mọi thứ công việc và mọi hình ảnh trong đời cứ khuấy động bắt ta phải suy nghĩ, và lo âu Chúng sanh tất cả đều ở trong trạng thái biến đổi, trôi chảy không ngừng như dòng sông không bao giờ cạn Cái tâm của chúng sinh thường bị vô minh che lấp

và bị Tham, Sân, Si lôi kéo, nên lầm tưởng rằng có sự khác biệt với tha nhân, với ngoại cảnh, từ đó phát sinh ra cái tâm sai biệt, chấp ngã và mê loạn Vì chấp ngã,

mê lầm nên đau khổ, luân hồi bất tận Do đó, Phật giáo đặc biệt coi trọng việc khảo sát Tâm để làm chủ nó Xoay chuyển cái tâm ô nhiễm, vọng động, trở về chân tâm, Phật tính.

Thật ra, mỗi người có một lối nhìn căn bản tự nó là thanh tịnh: "Chân không diệu hữu" Nhưng vì bị màn vô minh che phủ, nói theo Kitô giáo là bị "tội nguyên tổ" chi phối, khống chế, nên nhìn cái gì cũng sai lạc, không thanh tịnh, không đúng sự thật Do tham, sân, si nảy sinh đủ loại danh mục của trạng thái tâm lý khác nhau, gọi là Tâm sở, Thiện tâm sở, bất thiện tâm sở Theo tư tưởng

Kinh Hoa Nghiêm, mọi sự đều do tâm phát sinh: "vạn pháp duy tâm tạo" Tất cả

Trang 21

mọi cái trên đời đều do tâm, hay do cách nhìn của mình mà ra Tâm ta phóng chiếu vào đủ mọi thứ và nó lại quy chiếu về mình để quậy phá ta, làm cho cái nhìn của ta bị méo mó Nắng hay mưa, hạnh phúc hay đau khổ, buồn hay vui, thánh

hay tội, đẹp hay xấu đều do cách nhìn, do tâm của ta Kinh Hoa Nghiêm nói: "Mọi thứ trong Tam giới đều do ở tâm"

Do đó, phá chấp không phải là phủ nhận cuộc đời, phủ nhận hiện hữu của mình nhưng là dám nhìn thẳng cuộc đời bằng cái nhìn hoàn toàn tự do Vô chấp không phải là khinh chê tất cả nhưng là có cái nhìn mới về cuộc đời Nói khác đi là nhìn thẳng vào nội tâm mình điều chỉnh và chế ngự tâm mình khỏi mọi vọng động, tà kiến, hay biên kiến Ðưa vọng tâm trở về chân tâm Trong kinh Lăng nghiêm, Ðức Phật cũng chỉ muốn dạy chúng sinh điều đó: làm sao Ngộ được Chân tâm, bằng ngược lại, nếu còn vọng tâm thì phải trầm luân trong biển luân hồi, khổ đau sinh tử.

Như vậy, vấn đề chính yếu là làm sao để đưa tâm trở về bản tịnh Tâm bản tịnh thì ta sẽ thấy rõ mọi sự rất kỳ diệu và sâu xa Ðó là một cái nhìn không thành kiến, không bị che chắn bởi dục vọng, đam mê, cái nhìn đó rất thật và rất yêu cuộc đời, gắn bó với cuộc đời, nhưng lại vượt lên trên tất cả

- " An trụ Chân Tâm" :

Cái đích của Phật giáo là gì? Phật giáo đi tìm cái gì? Phật giáo đi tìm con người đích thực của mình, sống con người thật của mình, tức là tìm về chân tâm, bản tính, Phật tính nơi mình Do đó, Phật chính là tất cả con người chiều sâu đích thực của mình, Phật cũng chính là hơi thở sáng tạo, là hình ảnh Thiên Chúa nơi mình Một con người tự do, tràn đầy hạnh phúc, yêu thương rộng lớn vĩnh cửu

đó chính là Phật.

Vì thế, đối với Phật giáo, vấn đề chủ yếu là Tâm (Lời) Tâm là cái nhìn, cái thấy,

là tinh thần hay Lời trong trong lòng mỗi người Tâm là khả năng Thấy Biết hay khả năng trở thành Lời Mỗi người đều có khả năng thấy biết, khả năng nên Lời liên tục Nói đúng ra, con người khi sinh ra đã ở trong sự Thấy Biết, đã ở trong Lời (Thiên Chúa) Cả vũ trụ này đều ở trong Lời và đang trở nên Lời Chân tâm chính là Lời Lời như là hạt sương, là mầm sống, đang vùi mình trong trần gian điên dại này để cho thế giới trở nên sinh động, vui tươi, tràn đầy sức sống Vì thế, đối với Ðại thừa là sống làm sao để thể hiện Chân tâm, Phật tánh Trở về với chân tâm là sống tự do Làm sao cho vọng tưởng cũng nhập vào chân tâm, vào trong Lời tràn ngập trong vũ trụ nàỵ.

Trang 22

Vì thế, Vấn đề giải thoát ở đây là đưa tâm hay Lời vào trong vắng lặng, tịnh diệt, nghĩa là đạt đến chân tâm, tuyệt đối không còn biên kiến hay tà kiến, không còn phân biệt trắng đen, tốt xấu, hay dở Giải thoát theo Ðại thừa là đi từ

"vọng tâm" đến "chân tâm", để nhìn mọi sự đúng như thật, không còn nhiễm nhơ gì nữa Tuy nhiên vẫn còn có nhị nguyên, còn "vọng" còn "chân", dù vấn đề biên kiến hay tà kiến hầu như không còn Phải đạt đến "Tánh không", "Bất nhị", hay "Trung quán luận" của Phật Thừa hay tối Thượng thừa thì mới gọi là Lìa hay giải thoát thật sự.

Bất nhị hay Trung luận là bất sinh bất diẹt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất

giảm Trung luận là vượt lên cái nhị biên, cái tương đối, đi vào giữa, xuyên qua giữa hai biên bờ để đi thẳng vào chân lý Mọi cái trên đời không đi bên này thì chạy theo bên kia, nghĩa là thiên lệch không đúng đường Ðó cũng là cái óc nhị biên, phân biệt của con người Càng sống thấp kém bao nhiêu thì càng thiên lệch, càng sống tâm linh bao nhiêu thì càng siêu thoát khỏi cái tâm hẹp hòi, biến kiến, phân biệt bấy nhiêu

Cũng vậy, Tánh không: là vượt lên trên tất cả mọi thứ trần gian Càng ngày càng dẹp bớt đi cái suy tư ý tưởng của con người để nhận ra cái vô cùng vô tận, cái sống động làm ra cuộc đời này Cái mà mọi sự đều đặt nền trên cái bản chất duy nhất, bất sinh, bất diệt mà tư tưởng con người không thể đạt thấu được, tức là tuyệt đối, Chân như.

Do đó, Lìa theo Ðại thừa là xoay chuyển dòng tâm, nói khác đi là thay đổi cái nhìn của mình, để Thấy Biết sự vật đúng sự thật, đúng bản chất , "bản lai diện mục" Vì tất cả vấn đề nhơ hay sạch không do bên ngoài tạo nên nhưng là do tâm của mình Nhiễm hay không nhiễm cũng đều do tâm mà ra: "vạn pháp duy tâm tạo" Do đó, đối với Ðại thừa, câu hỏi: tôi như thế nào trong cuộc đời này, không quan trọng cho bằng câu hỏi: cái nhìn của tôi về cuộc đời như thế nào? Mỗi người có cái nhìn khác nhau Bản thân ta, cũng như toàn hể vũ trụ này đều không

có thật, tất cả đều tùy thuộc vào cái nhìn của mỗi người Tất cả chỉ là "hoa đốm mưa không", do đó mà "ngã pháp giai không".

Cao hơn nữa, Lìa hay giải thoát theo Phật thừa (tối thượng thừa) là Giải thoát

mà không còn đặt vấn đề giải thoát, nói khác đi là không còn có cõi nhơ hay cõi sạch, cũng chẳng còn vọng tâm hay chân tâm nữa mà chỉ còn là thái độ như trẻ

Trang 23

thơ, như nước chảy, mây trôi, sống tự nhiên y như thật, không còn gì để phân biệt, hay nhiễm nhơ nữa, tức là trở về với cái tự nhiên, bình thường như trẻ thơ của tinh thần Lão Tử Càng hồn nhiên bao nhiêu càng trở về với tuyệt đối bấy nhiêu Càng trở về với trẻ thơ bao nhiêu, càng giải thoát bấy nhiêu Ðó cũng

chính là lời mời gọi của Ðức Giêsu: " Nếu các con không trở nên như trẻ nhỏ, các con không thể vào được Nước Trời" (Mt 18, 3).

Nếu Tiểu Thừa là đi từ cái này đến cái kia: từ nhơ đến sạch, nô lệ đến tự do, chấp đến vô chấp, ta bà đến tịnh độ, Niết bàn, thì vẫn còn là tương đối Còn có phận biệt là còn thấp, còn có cái phàm tục, giới hạn Ðại thừa bỏ hết bên này bên kia Không chấp vào có, vào không, vào thánh thiêng hay phàm tục Ðại thừa nhận ra ngay trong cõi ta bà, tục lụy này vẫn có Chúa, vẫn có Phật, vẫn có thánh thiêng ngay trong phàm tục Nghĩa là Chúa Phật, Chân như, Phật tánh đã có sẵn nơi tâm mình rồi, chỉ cần buông mình đi, ly lìa tất cả để cho Chúa, Phật lộ diện

và tỏ hiện trong mình.

Nói một cách đơn giản thì mê hay ngộ, hữu hay vô, thánh hay phàm đều là hiện tượng của cái tâm sai biệt của ta Vì thế, điểm cốt lõi của tư tưởng Bát nhã (Ðại thừa) là nhằm phủ định tất cả, tất cả đều là không Ngay cả cái tâm của ta cũng chỉ là hiện tượng Vì muốn phủ định tất cả những quan niệm sai biệt nên Kinh Bát Nhã đã nêu lên "thập nhị không" (12 cái không) để phủ định tất cả Tất cả

chỉ là Không và ngay cả cái không cuối cùng ấy cũng phải phủ định nốt: " Nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, không đại, thắng nghĩa

không, hữu vi không, vô vi không, tất kính không, vô tế không, tánh không, vô biến

dị không, bản tính không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tính không, tự tính không, vô tính tự tính

không" Cũng vậy, trong Trung quán Luận, Long Thọ Bồ Tát đã đưa ra bài kệ

"Bát Bất" (tám phủ định) để nói lên chân lý Ðệ Nhất Nghĩa như sau:

Phật nói pháp Nhân duyên ấy,

Nhằm chấm dứt mọi tranh luận.

Con cúi đầu lễ Phật, Ngài là Bậc Ðệ Nhất trong những người thuyết pháp" [41]

Trang 24

Tóm lại, mục tiêu chính của Bát nhã và Trung quán luận là muốn thuyết minh

tư tưởng không nhiễm trước, không sai biệt Phủ định tất cả các tướng sai biệt của vạn pháp để đi đến Không Nhưng cái Không này không phải là cái không trống rỗng, hư vô, chỉ toàn là phủ định, mà là cái không linh động, cái không

"Diệu hữu", Chân như, siêu việt, không thể luận bàn Tất cả mọi hiện tướng đều

là biểu tượng của tâm, ngoài tâm ra, tất cả đều là không Không chấp trước vào bất cứ cái gì để phát huy cái tinh thần hoạt động tự do, tự tại, vô ngại, diệu dụng

vô biên Như kinh Kim cang nói: " Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm", đó là cực điểm của tinh thần Bát Nhã " Lấy tâm kính trọng tu tập hạnh không; tu tập hạnh không nên xa lìa mọi chỗ thấy, xa lìa mọi kiến hoặc, nên tu hành chính đạo nên thấy được pháp giới" (Kinh Ðại Bát Nhã, quyển 567).

Một khi đã hàng phục dòng tâm, xoay chuyển dòng tâm, xa lìa vọng tâm trở về với chân tâm rồi, hành giả sẽ phát triển tâm thức của mình, phát triển nội lực để cứu độ chúng sinh Ðó là phát triển "tứ vô lượng tâm", hành đạo Bồ tát thị hiện vào đời hóa độ chúng sinh Bồ tát theo Ðại thừa lẽ ra đã nhập Niết bàn, nhưng vì chúng sanh đau khổ, Bồ tát thề nguyện không nhập Niết bàn để hóa thân vào tất

cả mọi thứ và làm mọi cách để cứu độ chúng sinh Ðó là ý nghĩa của lời thệ

nguyện trong kinh Pháp Hoa "Chúng sinh vô biên thề nguyện độ" Ðối với Ðại thừa, ai cũng có thể thành Bồ tát và hành đạo Bồ tát Bất cứ bậc chân tu nào theo Ðại thừa cũng vậy, không tu vì mình mà vì chúng sinh, bao lâu còn một con người, một con kiến hay con chim đau khổ, run rẩy thì Bồ tát thề nguyện chưa nhập Niết bàn Nếu tu theo Tiểu thừa là "tự độ tự giác", nghĩa là để đạt đến thanh tịnh, hỷ lạc (Alahán) cho riêng mình, dường như thế Thì tu theo Ðại thừa

là để phát tâm Bồ tát Và giải thoát là giải thoát trong tuyệt đối, giải thoát toàn thể chứ không chỉ giải thoát riêng mình.

c Giai thoát là phát Tâm Bồ Tát: Từ, Bi, Hỷ, Xả

Khi đã làm chủ được dòng tâm, an trụ chân tâm, sống trong tự do và sự thật, hành giả sẽ mở tâm Bồ tát hay phát huy nội lực của mình để cứu độ chúng sinh

Theo Phật Giáo, " mỗi người đều có cái tâm thường trụ, bất biến và bao trùm vũ trụ, đồng với bản thể của vũ trụ đó là cái tâm đại bình đẳng mà nhà Phật gọi là cái Tâm Bát Nhã hay là Tâm Chân Như, Phật Tánh"[42]

Con người là một huyền nhiệm có năng lực phi thường Tiềm năng ấy trái ngược nhau, một hướng về cao thượng chân chính, đó là đặc tính của bậc thánh hiền

Và một hướng về những điều xấu xa, tội lỗi, đó là đặc tính của kẻ tiểu nhân Cả hai tiềm lực này đều có thể phát sinh bất ngờ với một sức mạnh vô cùng hùng

hậu Cũng vậy, cái tâm của con người vô cùng dũng mạnh:" Nó chứa đựng một kho tàng đức hạnh và một hầm tật xấu Người biết vun trồng đức hạnh là một phước lành cho nhân loại, kẻ bị tật xấu chi phối là một đại họa"[43] Bậc thánh nhân

Trang 25

là người luôn luôn vượt lên trên đám đông quần chúng để phục vụ nhân loại bằng cách nêu cao đức hạnh, không ngừng gia công loại trừ tật xấu và phát triển phẩm hạnh đang ngủ quên trong tâm để đi đến một lối sống cao thượng, một trạng thái cao siêu mà nhà Phật gọi là Tứ vô lượng tâm Tứ vô lượng tâm giúp cho con người trở nên hoàn thiện, nên thánh ngay trong kiếp nhân sinh này Ðồng thời cũng giúp cho tha nhân và xã hội ngày thêm thịnh vượng, an vui, hạnh phúc Nếu mỗi người cố gắng thực hành Tứ vô lượng tâm thì thế giới này sẽ trở thành một vương quốc hòa bình, an lạc, Tịnh Ðộ, trong đó, tất cả mọi người đều

là anh em với nhau: " Tứ hải giai huynh đệ"[44]

Tứ vô lượng tâm là những đức tính rộng lớn bao la, không bến bờ không ranh

giới hay hạn định Bao trùm tất cả mọi chúng sinh, không phân biệt tôn giáo hay chủng tộc, cũng không loại trừ một chúng sinh nhỏ bé nào Do đó, Giải thoát theo chiều kích hiện sinh là phát triển tối đa những đức tính này: Từ, Bi, Hỷ, Xả

là vô lượng vô biên Nhờ phát triển những đức tính này mà Phật giáo trở nên gần gũi với con người, thiết tha với cuộc đời, lăn lộn giữa dòng đời ô trọc để hóa độ chúng sinh.

- Tâm Từ (Metta): là lòng từ ái, hảo tâm, thiện ý, nói theo ngôn ngữ nhà đạo là "động lòng trắc ẩn" Tâm từ không chỉ là tình thương có liên quan đến xác thịt, hay lòng trìu mến đối với một người Trái lại, tâm từ rải khắp mọi chúng sinh, bao trùm tất cả vạn vật, sâu rộng, đậm đà, không loại bỏ và không phân biệt chúng sanh nào Mức tột cùng của tâm từ là tự đồng hóa với tất cả chúng sanh, tự mình chan hòa trong toàn thể, thấy vạn vật là một, hằng ước mong cho tất cả chúng sinh được an lành, hạnh phúc, vui tươi.

Người có tâm Từ không thể sân hận, thù oán, không nghĩ đến chuyện làm hại người hay làm giảm giá trị một ai Trái lại, xem tất cả chúng sinh là bạn, trời đất

là nhà, luôn cố ý làm cho người khác được an vui, hỷ lạc Người có tâm từ cũng giống như một từ mẫu, hằng sẵn sàng nâng đỡ, che chở cho con mình, dầu có phải hy sinh tính mạng cũng cam lòng Người thực hành tâm từ, tự mình đồng hóa với tất cả chúng sinh đau khổ, rải tâm từ đến tất cả, không còn thấy một chút khác biệt nào giữa mình và chúng sinh Chính nhờ có tâm Từ vô lượng vô biên mà Ðức Phật đã tạo an lành hạnh phúc cho chúng sinh, cả người yêu kính

lẫn kẻ thù nghịch hay oán ghét ngài Ngài dạy: " Không thể lấy thù oán để diệt sân

hâ n, chỉ có tâm từ mới dập tắt lòng sân"[45]

- Tâm bi (Karunã): Bi là sức mạnh làm cho tâm ta rung động trước đau khổ của người khác và làm thoa dịu lòng người Ðặc tính của tâm Bi là ý muốn giúp người khác thoát khỏi khổ đau và tiêu trừ mọi hành động độc ác, tàn bạo cũng như sự ươn hèn, suy nhược, ưu sầu và phiền muộn, không ngần ngại hy sinh Nhờ tâm Bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong phục vụ tha nhân,

Trang 26

không sống cho mình mà sống cho người, cũng như Ðức Kitô: hiến thân mình làm giá chuộc muôn người, làm ơn không mong đáp trả [46]

Ðối tượng của tâm Bi là những chúng sinh bần cùng đói khổ, dốt nát, "khố rách

áo ôm" Cụ thể là phần đông dân chúng Á châu và Phi châu được xem như là những nước nghèo đói, chậm phát triển (thế giới thứ III), đang cần đến tấm lòng

từ bi trắc ẩn của toàn thế giới, đặc biệt là các đoàn thể tôn giáo Theo gương Ðức Phật và đức Giêsu, hết lòng thương xót, giải thoát chúng sinh khỏi cảnh nghèo đói khổ đau bằng những hàng động cụ thể.

- Tâm Hỷ (Mudita): Tâm hỷ hay vui, không chỉ là trạng thái thỏa thích suông hay có cảm tình riêng tư đối với một người nào đó mà là lòng hoan hỷ thực

sự, vui với hạnh phúc của người khác: "vui với ai đang mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu" Ðặc điểm chính của tâm hỷ là hoan lạc trước sự thịnh vượng của người Tâm hỷ bao trùm chúng sinh hữu hạnh, loại trừ mọi hình thức bất mãn, hay lòng ganh tỵ trước hạnh phúc và thành công của tha nhân [47]

Ðiều khó khăn của tâm Từ cũng như tâm Hỷ là khó bộc lộ ra trước những ai thù nghịch với mình Do đó, ta cần theo gương Ðức Phật và đặc biệt là Ðức Kitô trên thập giá, sẵn sàng tha thứ tất cả Mặc dù bị người đời thù nghịch và hãm hại, nhưng Tâm các Ngài vẫn bình an, hỷ lạc, không oán ghét kẻ đã giết hại mình,

trái lại còn yêu thương và cầu xin cho họ: " Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23, 34).

- Tâm Xả (Upekkhã): Là đức tính cuối cùng trong Tứ Vô Lượng Tâm, khó thực hành nhất nhưng cũng cần thiết nhất Theo sát nghĩa tâm Xả là thấy đúng và nhận định chính xác, suy nghĩ vô tư, không luyến ái, không ghét bỏ, cũng không thiên vị Xả không phải là lạnh lùng, lãnh đạm mà

là sự thanh thản, quân bình, chí công vô tư trước mọi thay đổi thăng trầm của cuộc sống Như vậy, tâm xả bao hàm ý nghĩa của một phẩm hạnh [48]

Người có tâm Xả luôn an vui, tự tại trước những thành công hay thất bại, trước những lời khen chê, trước hạnh phúc khổ đau và những biến đổi vô

thường của cuộc sống Ðức Phật và Ðức Giêsu là mẫu gương tuyệt vời cho những ai muốn thực hành tâm Xả Bị người đời chỉ trích, chống đối, lăng mạ, sỉ nhục nhưng các Ngài vẫn an nhiên và mở rộng tâm lòng ra với hết mọi người

Có khổ nhục nào bằng khổ hình thập giá, vậy mà Ðức Giêsu vẫn vui lòng đón nhận, và coi đó như là một "Hiến Lễ" cứu độ

Tóm lại, Bốn đức tính trên (Từ, Bi, Hỷ, Xả) luôn luôn tiềm ẩn trong mỗi người, nếu ai chú tâm, kiên trì trao dồi và phát triển mỗi ngày, người ấy sẽ trở

thành thánh nhân ngay trong kiếp sống này Như Kinh Phật dạy: "Khi mình chưa được độ mà muốn độ người, đó là tâm bồ tát Khi mình giác ngộ rồi đem ra khai

Trang 27

sáng cho người tức là tánh Như lai"[49] Hẳn thật, "Ðức từ bi, hay lòng cảm thương phổ quát, không cho phép người Phật tử chỉ đi tìm giải thoát cho riêng mình"[50] Do đó, người Phật tử phải hướng tất cả hoạt động của mình vào mục đích thanh tịnh thế giới, mở rộng lý tưởng giải thoát ra tới bản vị xã hội chứ

không chỉ giới hạn trong việc giải thoát cá nhân "Nếu chỉ hoàn thành sự giải thoát của chính mình vốn là một bộ phận nhỏ bé trong một tập thể cộng đồng,

mà không hoàn thành sự giải thoát cho những người khác thì chưa có thể nói là Niết bàn chân chính"[51]

Vì thế, Phật giáo Ðại Thừa, lấy hạnh nguyện của Bồ Tát mà hoạt động, nhất quyết không xa rời thực tế, trái lại ở ngay trong cõi đời ô trọc này để Chân, Thiện, Mỹ hóa cuộc đời Nỗ lực xây dựng một thế giới Như Lai, Tịnh Ðộ Tu Tịnh

Ðộ là phải làm sao dung hòa được hai sứ mạng lớn của mình: vừa thực hiện giải

thoát, vừa kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn Bởi đó, Bồ tát: "Tuy ở trong thế giới luân hồi, nhưng điều đó không phải là kết quả của nghiệp lực trói buộc, mà trái lại, hoạt động một cách tự do, tự tại và tích cực cứu độ chúng sinh"[52] Vì thế,

Bồ tát "tuy an trụ ở giải thoát, nhưng đồng thời cũng lấy việc thanh tịnh hóa xã hội làm lý tưởng"[53] Thực hiện bản nguyện: "trên cầu đạo bồ đề, dưới hóa độ chúng sinh", giúp cho tất cả chúng sinh đều thành Phật, biến thế giới thành một

vương quốc lý tưởng, một xã hội tự do, an lạc và giải thoát

d Giải thoát là Tự do, Công lý và Hòa bình

Không thể có giải thoát nếu không có tự do, ấm no và hạnh phúc Ðó là điều thực

tế, không cần chứng minh, đặc biệt với Á Châu, một vùng đất mênh mông là nơi

cư ngụ của hơn nửa dân số trên thế giới Nhưng lại là vùng đất của sự bất công, phân hóa giàu nghèo, phân biệt đối xử, trọng nam khinh nữ Bên cạnh đó kinh

tế và khoa học lại chậm phát triển, chiến tranh, kỳ thị chủng tộc xảy ra liên tiếp nhiều nơi trên lục địa này Á đông cũng là nơi xảy ra nhiều tệ nạn xã hội nhất: xì-ke, ma túy, bệnh tật hiểm nghèo, buôn bán nô lệ, mại dâm Nạn khai thác lao động và tình dục trẻ em dưới vị thành niên đang hoành hành khắp nơi Vì thế, vai trò của tôn giáo là gì, nếu không phải là đồng hành cùng với con người Giá trị của các tôn giáo là gì, nếu không phải là vang lên lời kêu gọi hòa bình, nhân nghĩa và tình thương Cứu độ và giải thoát là gì, nếu không phải là đem lại công

lý, hòa bình, tự do, ấm no và hạnh phúc cho con người, giải phóng con người khỏi cảnh nô lệ, nghèo đói, bất công, kiến tạo một thế giới an khang thịnh vượng.

Trang 28

Ðó chính là con đường giải thoát hiện sinh mà Phật giáo đã và đang cố gắng đóng góp cho con người qua dòng thời gian.

Với cái nhìn hiện sinh này, Giải thoát không còn giới hạn nơi cá nhân hay một nhóm người nhỏ bé, mà cho hết mọi người, mở rộng ra toàn thể vũ trụ vạn vật Ðối với con người hôm nay, giải thoát là gì, nếu không phải là hòa mình vào trong dòng chảy của xã hội, ngụp lặn vào trong bể sầu nhân thế để cảm thông, chia sẻ với con người, hầu thắp lên ánh sáng, niềm vui và hy vọng cho đời Ðó chính là lý tưởng mà Phật Giáo Việt Nam từ xưa đến nay đã và đang cống hiến

cho con người và xã hội:" Sống cho tha nhân và sống với tha nhân để tiếp xúc trực tiếp với quần chúng khổ đau, đau niềm đau của họ, thấy cái thực trạng sinh hoạt tâm lý của họ Nếp sống tăng sĩ trước hết là nếp sống nuôi dưỡng ý thức khổ đau, phải tự nguyện tiếp xúc với đau thương của cuộc đời và đồng lao cộng khổ với quần chúng"[54] Nói cho cùng là: " Thực hành đạo phật bằng cách sống giữa những người khác để giúp đỡ và phụng sự họ, hẳn đó là điều đáng ca tụng và là điều đòi hỏi nhiều can đảm hơn là vào rừng thanh vắng ẩn tu giải thoát"[55]

Người ta có thể sống trong thinh lặng, ẩn tu (xuất thế) một thời gian để hoàn thiện mình Nhưng sau khi đã đạt đạo và mạnh mẽ rồi thì phải "nhập thế" vào đời, đồng lao cộng khổ với chúng sinh, mưu cầu hạnh phúc cho đời, chứ không chỉ mai danh ẩn tích để tìm cứu độ, giải thoát cho riêng mình, đó là điều ích

kỷ không đúng với tinh thần của Ðức phật và Ðức Giêsu Làm sao để gặp Chúa nhưng vẫn liên kết với tha nhân, giải thoát nhưng vẫn lăn lộn giữa đời cứu độ chúng sinh thoát cảnh khổ đau, luân hồi sinh tử Làm sao đời sống Phật tử phải luôn luôn gắn bó, liên kết thiết thân với toàn thể hiện hữu của nhân loại, như Mẹ Tê-rê-xa Calcutta hay như Thánh Gandhi hay Thiền sư Suzuki chẳng hạn, sống hết

mình vì những con người bần cùng đau khổ: "Vui với người vui, khóc với ai đang khổ sầu" (Phanxicô Assisi; x Rm 12,15) Hãy mở rộng nhãn giới, mở rộng tâm hồn

ra hòa cùng nhịp đập của thế giới, sống nỗi đau của con người hôm nay, có như vậy người Phật tử và Kitô hữu mới thực hiện được sự "vô ngã" và sự "hủy mình

- kénosis", nhưng lại không mất ngã và không hủy diệt; trái lại, càng sống dồi dào

và chìm sâu vào huyền nhiệm hơn Nghĩa là càng đi vào chiều sâu nội tâm, càng kín múc được sức sống mãnh liệt và sự giải thoát bao nhiêu, người Phật tử và Kitô hữu càng mở rộng tâm lòng, gắn bó với con người và xã hội bấy nhiêu

Mặc dù ngày nay thế giới đã văn minh vượt bực, nhưng thảm họa chiến tranh và nghèo đói vẫn còn đó Con người vẫn hành hạ và bóc lột nhau hơn bao giờ hết Cảnh buôn bán, đổi trao người nô lệ vẫn xảy ra khắp nơi trên thế giới,

Trang 29

dù đạo luật này đã bị xóa bỏ cánh nay gần 100 năm Báo An ninh thế giới cho biết,

từ 15 năm qua, người dân Sudan bị chìm ngập trong bạo lực và chiến tranh Ðói nghèo khủng kiếp lan tràn khắp nơi, nạn bạo hành và buôn bán nô lệ ngày càng

phát triển phồn thịnh hơn bao giờ hết "ở Sudan phụ nữ và trẻ em đã trở thành chiến lợi phẩm của chiến tranh" Hàng triệu người dân ở miền Nam Sudan

(Afghanistan) đang cận kề với cái chết do đói và khát, bên cạnh đó là mối đe đọa của dịch tả và bệnh tật đang đưa họ tới bờ vực thẳm [56] Vì thế, khát vọng giải thoát hiện sinh lớn nhất của người dân Sudan hiện nay là có đủ cơm no, áo mặc

để sinh tồn, cao hơn một chút là được tự do, công lý, hòa bình.

Không chỉ ở Sudan mà khắp nơi trên thế giới, những người nô lệ, bị áp bức bất công hằng khao khát một cuộc đổi đời, một cuộc giải phóng và tự do đích thực Bởi vì, những vụ bắt cóc, đánh bom, nổi loạn và nguy cơ chiến tranh luôn luôn đe dọa mạng sống con người Mặc dù thủ tướng Israel, Ariel Sharon đã chính thức lên cầm quyền, nhưng tiến trình hòa bình ở Trung đông vẫn chưa có

hy vọng lóe sáng [57] Chiến tranh và bạo lực ở Kosovo, Albania và Serbia vẫn "leo

thang" không ngừng, và "nguy cơ một cuộc khủng hoảng người tỵ nạn mới lại bắt đầu"[58] Ðó đây trên thế giới, người dân vô tội vẫn phải sống trong nỗi thấp thỏm kinh hoàng trước cái chết của chiến tranh xung đột chính trị, tôn giáo hay sắc tộc Bên cạnh đó, tệ nạn lạm dụng tình dục và bệnh Aids đang là nỗi kinh của

thế giới, đặc biệt là của các nữ sinh Nam Phi: "nhiều vụ tấn công tình dục đã xảy

ra ngay tại sân trường", điều tệ hại là trong số những vụ cưỡng hiếp đó thì có

tới 37% số vụ là do giáo viên hay hiệu trưởng gây án Thế nhưng, ở một số trường vẫn làm ngơ trước tình trạng bạo lực này Ngay cả chính phủ Nam Phi cũng chưa có kế hoạch hành động cụ thể nào để ngăn cản, khiến cho nhiều nữ sinh "phải chấp nhận nạn quấy rối" này như là điều không thể tránh khỏi, nếu muốn tiếp tục đến trường [59] Một nền giáo dục và một xã hội đồi bại đến thế, thì không thể có công lý, hòa bình, tự do, ấm no và hạnh phúc, cũng không thể có cứu

độ và giải thoát cho con người.

Nhìn vào thực trạng của xã hội Việt Nam, ta càng thấy rõ hơn điều đó Sau hai mươi lăm năm đất nước hoàn toàn giải phóng, xã hội Việt Nam đã từng bước phát triển và đi lên, cuộc sống dân Việt có phần tự do, an vui và hạnh phúc Nền kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa cũng thăng hoa theo nhịp tiến toàn cầu

Trang 30

và cũng đã phần nào hội nhập vào "ngôi làng" của thế giới Tuy nhiên, xã hội việt nam vẫn còn đó những cảnh nghèo đói, bất công, kỳ thị chủng tộc và đủ mọi hình thức tệ nạn xã hội khác đang hoành hành khắp mọi miền đất nước Liên Hiệp

Quốc đã nhận định về tình trạng Việt Nam như sau: "Tình trạng đói nghèo và cận đói nghèo phổ biến hiện nay vẫn là thách thức cấp bách nhất về phát triển con người tại Việt nam, đặc biệt là vùng nông thôn, nơi chiếm 80% dân số và có 90% người nghèo nhất sinh sống Theo báo cáo thu nhập bình quân đầu người Việt nam còn quá thấp khoảng 310 USD/năm trên toàn quốc và chưa đến 200 USD/năm ở nông thôn"[60] Càng đói nghèo bao nhiêu, tệ nạn xã hội càng nhiều bấy nhiêu Báo Công an nhận định: Hiện nay, trong xã hội Việt Nam, các tội phạm như tham nhũng, lừa đảo, buôn lậu, cướp của giết người, chiếm đoạt tài sản, xâm phạm tình dục trẻ em đang bùng nổ khắp nới Tuy nhiên, loại tội phạm chiếm tỷ lệ cao nhất và có tính nghiêm trọng, phức tạp nhất vẫn là các tọi phạm liên quan đến ma túy [61] Ðó đây nhan nhản trên đường phố, trong công viên và cả những nhà vệ sinh công cộng đều có thể trở thành nơi tụ tập công khai của "con nghiện" đến chích choác và buôn bán héroin Những tụ điểm buôn bán ma túy rầm rộ, công khai chẳng khác nào "hội chợ" như ở : Cầu Kho, Cầu Muối, Phạm Ngũ Lão , Ðông Lân, Bà Ðiểm và ở đầu cầu Calmette là nơi quy tụ đủ mọi thứ

thành phần ra vào tấp nập Trong đó, "rất nhiều nữ sinh áo dài trắng trên ngực còn đeo bảng tên trường, đi cùng bạn trai ghé mua Héroin rồi phóng vù đi, khói xe

"cào cào" Su-sport xịt vào mặt những người bán hàng gần đó"[62] Ma túy đã xâm

nhập khắp nơi, trong nhà, ngoài phố, chốn học đường và ngay cả trong các xứ đạo cũng không còn được bình yên, ma túy đã xâm nhập vào trong khuôn viên đền Thánh [63] Với tình trạng đất nước như vậy, giải thoát là gì, nếu không phải là lập lại trật tự xã hội, đem lại bầu khí trong lành để mọi người được bình an vui sống.

Cũng vì muốn thoát khỏi cảnh đời cơ cực, nghèo đói, lầm than mà "cơn sốt" lấy chồng Ðài loan đã "bùng nổ" mau lẹ từ 5 năm nay ở các xứ lúa đồng bằng sông Cửu Long Có người đã cho con nghỉ học, thậm chí từ hôn với người chồng Việt nam để lấy chồng ngoại quốc Ða phần các cô gái lấy chồng ngoại quốc là vì động

cơ kinh tế, với hy vọng được đổi đời, được thoát khỏi cuộc sống cơ cực nơi thôn quê, không phải "cày sâu cuốc bẫm", nuôi heo, làm thuê làm mướn Nhưng có ngờ đâu vì muốn thoát cái khổ đau cơ cực này, người ta lại tự nguyện bước vào vòng nô lệ khác có khi còn khắc nghiệt và cay đắng hơn trước bội phần

Lespinasse có lý khi nói rằng: " không có nô lệ nào khổ đau bằng nô lệ ái tình"

Trang 31

Thực tế phũ phàng đã chứng minh điều đó, biết bao cô gái Việt sau khi lên xe hoa về nhà chồng nơi xứ lạ, đã phải làm dâu cho cả họ hàng nhà chồng, hoặc được "xài chung" một thời gian rồi bị thải vào "nhà chứa" Thật đau xót thay, chỉ với 2000-3000 ngàn USD, người ta dám bán đứt cuộc đời mình, để rồi sau đó

bị những kẻ mua chà đạp nhân phẩm, hủy hoại quyền sống của mình Báo tuổi trẻ ngày 16.1.1999 đăng tin, một cô dâu Việt nam may mắn trốn khỏi Ðài Loan vì phải "làm vợ" 9 anh em Qua báo chí gần đây cho thấy, việc lấy chồng ngoại quốc chẳng khác gì chơi một canh bạc mà phần rủi ro, bất hạnh thường là

nghiêng về phía các cô gái và gia đình họ [64] Không chỉ có các cô gái xấu số của Việt nam mà còn có biết bao phụ nữ Trung quốc khác cũng bị bán cho các cuộc hôn nhân cưỡng bức đầy nước mắt Hàng ngàn phụ nữ Trung quốc được mua về làm vợ cho đến chết mà không hề có tình yêu Và khi may mắn được giải thoát, các cô gái này cũng không còn đủ can đảm để quay trở về với gia đình mình nữa [65] Ðối với những người bất hạnh này, giải thoát là gì, nếu không phải được công lý bảo vệ và được tự do để sống đúng với nhân phẩm của một con người.

Bên cạnh những tệ nạn xã hội đó, cộng thêm với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiên tai, lụt lội, mất mùa liên tiếp xảy ra khắp nơi trên lãnh thổ hình chữ S này, khiến cho nhiều nơi và nhiều người phải rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thiếu mọi phương tiện cần thiết để sinh tồn Chính trong bối cảnh đó, vai trò tôn giáo thật là thiết thực đối với mỗi người dân Việt Cụ thể là qua những cơn bão lụt liên tiếp tại miềm Trung năm 1999 mà

báo chí đã gọi là lụt "Hồng Thủy của thế kỷ", và cơn lũ kéo dài ở miềm Tây tháng

9 năm 2000 vừa qua, chính là lúc thể hiện rõ nhất tính hiện sinh của ơn cứu độ và giải thoát trong các tôn giáo Chính các tôn giáo lớn, cụ thể là Phật giáo và Kitô giáo đã là những người đầu tiên cùng chia sẻ những khổ đau, bất hạnh và lo âu với anh chị em mình để đem lại một tia hy vọng, một chút ánh sáng, niềm vui và

sự sống cho đồng bào mình Chính các thầy, các ma-xơ và ni-cô là những người tiên phong đi cứu trợ, trước cả những tổ chức xã hội, nhà nước Nếu theo dõi báo chí, chúng ta sẽ thấy biết bao tấm lòng đồng thương, cộng khổ với đồng bào mình trong cơn nguy khốn Những nghĩa cử cao đẹp ấy không chỉ xuất phát từ tinh thần nhân bản tự nhiên của con người, mà còn được thấm nhuần và bắt nguồn từ trong tình cảm và tâm thức sâu xa của niềm tin tôn giáo, bất kể là Phật, Lão, Khổng hay Kitô giáo Chính trong nỗi khổ đau tột cùng ấy, nhà Chùa, nhà Chúa

đã trở thành nơi trú ngụ của mọi người không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, giai cấp đó chẳng phải là một sự giải thoát và cứu độ cho con người sao! mặc dù trước mắt, đây mới chỉ là giải thoát về phương diện đau khổ, nghèo đói vật chất,

Trang 32

nhưng đó lại là sự cần thiết hơn bao giờ hết để đưa con người đến một cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no và hạnh phúc.

Thật vậy, với một nước nghèo và chậm phát triển như Việt Nam, một nước mà dân cư đại đa số thuộc về tầng lớp nông dân lao động nghèo, thì ước

mơ giải thoát hiện sinh và thiết thực nhất của họ là làm sao cho cuộc đời bớt cơ cực lầm than, có đủ cơm ăn áo mặc và những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống hàng ngày, sau đó mới dám mơ tưởng đến lý tưởng giải thoát cao siêu trong Niết bàn thanh tịnh, an lạc hay hạnh phúc Thiên đàng bất diệt

II CỨU ÐỘ TRONG KITÔ GIÁO

1/ Cứu độ quan Cựu ước

Cứu độ là một quan niệm phức biệt và dị nghĩa, nhưng hiện diện hầu như trong tất cả mọi tôn giáo Nếu đơn giản hóa, ta có thể thu gọn vào một kinh nghiệm nền tảng: được cứu độ là được giải thoát khỏi một nguy hiểm có thể gây đau thương và cả cái chết Tùy theo mức độ của nguy hiểm mà hành vi cứu độ được hiểu như là sự bảo vệ, chở che, cứu chữa, cứu chuộc hay giải phóng Cũng tùy theo mỗi truyền thống tôn giáo mà cứu độ có thể được hiểu như là sự giác ngộ, giải thoát hay là sự cảm nhận về một cuộc sống sung mãn, đạt tới mức độ viên mãn, hạnh phúc Thiên đàng vĩnh cửu, Niết bàn thanh tịnh hay kết hợp với Thực tại tối hậu [66]

Theo ngữ nghĩa, từ "Cứu Ðộ" có liên quan đến nhiều từ khác như: cứu chuộc, cứu rỗi, phần rỗi hay giải phóng

Cứu độ: dịch nghĩa từ chữ "salvation" của La ngữ, tiếng Hy lạp là

"soter" chỉ người chữa bệnh hay người cứu giúp." Cứu độ bao hàm ý nghĩa một tình trạng suy đồi, nay được sửa lại nguyên vẹn như xưa, nhờ sự giúp đỡ, cứu vớt của một vị Cứu Tinh, ra tay cứu nhân độ thế".[67] Theo từ điển Hán Việt, Khai trí, Sàigòn 1960, Cứu độ là "Cứu nhân độ thế", hay "cứu giúp người đời thoát thế giới khổ" Từ này có lẽ mang âm hưởng của Phật Giáo, vì chữ "độ" có nghĩa là

"qua sông", đưa người qua sông thoát khỏi "bến mê" về "bờ giải thoát" Vì thế, trước đây "nhà đạo" ít dùng từ này mà dùng từ "cứu chuộc" hay "cứu rỗi" nhiều hơn [68]

Cứu chuộc: Cựu Ước thường dùng danh từ Padah và Gaal với ý nghĩa:

"chuộc lại", "trả tiền chuộc", tức là cứu mạng một người hay cứu ai khỏi cảnh

nô lệ lầm than, hoặc giải phóng cho một người nào đó Ý niệm này được thể hiện

rõ nét qua biến cố "xuất hành" của dân tộc Israel: Thiên Chúa giải phóng Israel

Trang 33

khỏi ách nô lệ Ai cập, đưa họ về miền "đất hứa" đầy sữa và mật Trong Tân Ước, chính Ðức Kitô thực hiện ơn Cứu chuộc cho toàn thể nhân loại qua cái chết

và sự phục sinh của Ngài [69] Người Kitô hữu được "mua" hoặc "chuộc" có nghĩa

là người Kitô hữu thuộc về Thiên Chúa và được cứu thoát khỏi ách nô lệ cũng như cảnh lưu đày, tội lỗi và chết chóc.

Cứu rỗi: từ này tương ứng với từ Yacha của Hípri và từ Sozein của

Hylạp Cứu rỗi nghĩa là được cứu khỏi một tai họa, một cơn nguy khốn, chẳng hạn như : lưu đày, chiến tranh, bệnh tật, chết chóc Thiên Chúa Cứu có nghĩa là đưa con người thoát ra khỏi cảnh nô lệ, khổ đau và cái chết, đem con người đến một cuộc sống tự do, an vui và hạnh phúc [70]

Theo Kinh Thánh Cựu ước, Gia-vê Thiên Chúa chính là Ðấng cứu độ, Ðấng giải phóng, vì Ngài đã giải thoát dân Israel ra khỏi cảnh nô lệ Ai cập (Xh 12-14; Lc 24,21), bảo vệ họ khỏi quân thù xung quanh, và đưa họ về miền đất tự

do an vui, hạnh phúc

Theo Mặc khải Kitô giáo, ơn cứu độ được trình bày như là một chương trình, một kế độ Thiên Chúa thực hiện cho loài người Lịch sử Cứu Ðộ ấy được khởi đi từ lời hứa "Tiền Tin Mừng" trong sách Sáng Thế 3,15: Giavê Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện trong dòng dõi Evà một người, và người ấy sẽ "đạp nát đầu con rắn".

Từ lời "hứa tiên khởi" ấy, Thiên Chúa thực hiện chương trình cứu độ một cách tiệm tiến qua việc thiết lập giao ước với các tổ Phụ Trước hết, Thiên Chúa ký kết giao ước với Ông Nô-ê, người đại diện cho toàn thể nhân loại (St 8,21; 9,9-10); qua giao ước này, Thiên Chúa không bao giờ hủy diệt nhân loại nữa Rồi giao ước với tổ Phụ Abraham, người đại diện cho những kẻ tin; qua giao ước này, Thiên Chúa hứa ban một dòng dõi, một vùng đất chảy sữa và mật, kèm theo lời chúc phúc cho muôn dân (x Xh 12,2-3,7) Tiếp theo là giao ước với Môsê, vị thủ lãnh dân tộc Israel; qua giao ước này, Thiên Chúa đích thân thành lập một quốc gia, tuyển chọn một Dân riêng và ban truyền lề luật cho Dân Ngài tuyển chọn (x Xh 19, 5tt.).

Sau khi đã thiết lập giao ước với dân riêng, Thiên Chúa không ngừng thực hiện các lời giao ướ c ấy qua dòng lịch sử thăng trầm, bằng việc tuyển chọn các thủ lãnh và các ngôn sứ để các ngài nhắc lại "lời hứa" cho dân và hướng dẫn dân trung thành với lời giao ước Ðặc biệt, Thiên Chúa đã thiết lập một vương triều vĩnh viễn với Nhà Israel qua việc xức dầu tấn phong David làm vua, với lời hứa: "vương trượng sẽ không rời khỏi nhà David" (x 2Sm 1,14-15) Qua ngôn

sứ Isaia, Thiên Chúa hứa ban "Ðấng cứu độ" là Emmanuel cho mọi dân nước (x.

Is 7,14).

Trang 34

Như vậy, theo Cựu Ước, được cứu độ hay giải thoát là: cứu khỏi ách nô lệ

Ai cập (Ðnl 7,8; 15,15); khỏi cảnh lưu đày ở Babylon (Is 41,14; 43,1); được thoát khỏi tình trạng nguy hiểm nào đó, chẳng hạn như chiến tranh, bệnh tật, đau khổ, nghèo đói; và sâu xa nhất là cứu khỏi tội lỗi (Tv 130,8) Tuy nhiên, Cựu Ước chỉ

là giai đoạn chuẩn bị và dọn đường cho Ðấng cứu độ đến Phải đợi đến Tân Ước, khi Ðức Kitô, Ngôi Lời nhập thể làm người và ở giữa chúng ta (x Ga 1, 1-18), thì

ơn cứu độ mới được thực hiện một cách thành toàn và viên mãn (x 1Cr 1,30; Cl 1,14) Vâng! Ðức Kitô đã đến trần gian, thiết lập một giao ước mới, giao ước vĩnh cửu muôn đời bằng chính máu thịt Ngài Nhờ cái chết và sự phục sinh vinh hiển của Ngài mà muôn người được ơn tha tội (x Mt 26,26-29), được hưởng ơn cứu

độ và bình an Nhờ mầu nhiệm vượt qua, Ðức Giêsu đã giải thoát con người ra khỏi cảnh tối tăm, nô lệ của tội lỗi và tử thần, khôi phục lại tình trạng công chính nguyên thủy cho con người, hướng lịch sử nhân loại đến cùng đích, đem Nước Chúa hiển ngự giữa trần gian, để con người được sống tự do trong Thần Khí và

sự thật (x Ga 4,24).

Trong Tân ước, Ðức Kitô không chỉ là Ðấng Cứu Ðộ mà còn là Tin Mừng Cứu độ cho con người Không những Ngài cứu độ thân xác mà Ngài còn "cứu chữa tâm linh" con người Do đó, được cứu độ cũng có nghĩa là được "phần rỗi đời đời" hay hạnh phúc Thiên đàng mai sau Với Ðức Kitô, ơn cứu độ trở nên phổ quát cho mọi người, và được ban một lần cho toàn thể nhân loại, không trừ một ai Ngài đã hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa và làm trọn lời hứa trong Cựu ước xưa kia Do đó, ơn cứu độ chính là món quà Thiên Chúa ban cho nhân loại nhờ Ðức Kitô.

2/ Cứu Ðộ theo truyền thống Kitô giáo

Tiếp nối Cựu Ước, truyền thống Kitô giáo cũng trình bày ơn "Cứu Ðộ" như là "một lịch sử ", một "chương trình", một "kế độ" của Thiên Chúa Trương trình ấy được thực hiện qua mầu nhiệm Nhập thể, Tử nạn và Phục sinh của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người.

Nhập thể, Thập giá và Phục sinh là những mầu nhiệm trung tâm và chính yếu của Kitô giáo Nếu không có những mầu nhiệm này thì cũng không có Kitô giáo Nói khác đi, không có Nhập thể và Phục sinh thì cũng không có ơn cứu độ Ðức Kitô nhập thể vào đời, chia sẻ thân phận làm người, chịu chết ô nhục trên cây Thập tự, chính là vì yêu thương con người và để cứu độ con người Chính nhờ cái chết và sự Phục sinh vinh hiển của Ngài mà nhân loại được chia sẻ vinh quang danh dự với Ngài bên hữu Chúa Cha Ðây là điểm khác biệt, đồng thời cũng là nét tinh hoa và độc đáo của Kitô giáo so với các tôn giáo khác.

Cứu độ ở đây không chỉ là cứu vớt linh hồn, mà còn cứu cả thân xác Không chỉ xóa sạch tội lỗi mà còn thông ban sự sống cho con người Ðức Kitô

Trang 35

đến cứu độ trần gian qua việc khử thiêng thế giới vật chất, xếp đặt lại trật tự tự nhiên, đem lại giá trị cho thế giới vật chất này, đồng thời làm cho toàn thể tạo thành được thông phần vinh quang với Thiên Chúa trong "trời mới đất mới" Ðặc biệt là hướng lịch sử thế giới này đi vào trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Theo thần học Thánh Phao lô, đặc biệt là qua hai thư Rôma và Galata, con người được cứu độ hay được "công chính hóa" là nhờ đức tin, chứ không do chế độ lề luật (Rm 1, 16-17; 3,27-31; 4,1), được cứu độ là được giải thoát khỏi tội lỗi, sự chết và ách nô lệ của lề luật, được biến đổi thành tạo vật mới, được giao hòa với Thiên Chúa, được làm con Chúa, và được hưởng ân sủng và bình an (x.

Rm 5,12-21).

Thánh Kinh, truyền thống Giáo Phụ và Thần học của Giáo hội đều khẳng định ơn Cứu Ðộ là do Ðức Giêsu Kitô thực hiện, Ngài là "Ðấng Cứu Ðộ duy nhất", là "Ðấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài ngươi" (x 1Tim 2,5) Trong kinh Tin Kính, Giáo hội tuyên xưng, Ðức Kitô nhập thể làm người

là " vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta" Sách Công Vụ tuyên bố: " Dưới gầm trời này không có ơn cứu độ nào khác ngoài Danh Ðức Giêsu Kitô" (Cv 4,12), Tin Mừng Gioan xác quyết: " Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (Ga

14,6) Vì thế, muốn được cứu độ, con người phải tin vào Ðức Kitô và lãnh nhận Phép rửa: ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ, ai không tin sẽ bị kết án (x, Mc 16,16; Ga 3,5) Dựa vào một số bản văn Kinh thánh, Thánh truyền này, truyền thống Giáo Phụ và thần học Công giáo đã đi đến một kết luận hiển nhiên là: ngoài Giáo hội không có ơn Cứu độ - "Extra Ecclesiam nulla salus" Ðây là mô hình thần học chính thức chung của thế giới Kitô giáo suốt hai mươi thế kỷ qua, mãi cho đến công Ðồng Vat II.

Tuy nhiên, mô hình thần học "loại trừ" này có lẽ không thích hợp với

lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa, " Ðấng muốn cho mọi người được cứu độ" (1Tim 2,4) Vì nếu hiểu như vậy thì số phận của biết bao người cả đời công chính, ăn ngay ở lành bên ngoài Giáo hội sẽ ra sao? Chẳng lẽ hơn 2/3 dân số trên thế giới này sẽ không được lãnh nhận hồng ân cứu độ? Chẳng lẽ Thiên Chúa giàu lòng thương xót, Ðấng hằng muốn cứu độ mọi người, lại đối xử bất công với người ngoài Giáo hội như vậy sao? Do đó, tư tưởng "truyền thống" này không còn mấy thu hút hay hấp dẫn con người thời đại, đôi khi nó còn ngăn cản tiến trình đối thoại liên tôn và hội nhập Tin Mừng vào lòng văn hóa các dân tộc Chẳng hạn như Tông huấn gởi các Giáo hội Á châu [71] và mới đây là Tuyên ngôn

"Dominus Jesus" [72] Hai văn kiện này đều lập lại những tư tưởng truyền thống

qua kiểu nói: Ðức Giêsu là " Ðấng Cứu Thế duy nhất" của nhân loại (x EA., số

19-20); Tuyên ngôn Dominus Jesus thì khẳng định lập trường của Giáo hội qua

những kiểu nói như: " Ngoài Ðức Giêsu, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm

Trang 36

trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta nhờ vào đó mà được cứu độ" (DJ số, 13,2), vì " chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, chỉ có một Ðấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người, đó là một con người, Ðức Giêsu Kitô, Ðấng tự hiến và làm giá cứu chuộc mọi người" (DJ số 13, 3).

Mặc dù chúng ta không hiểu từ "duy nhất" này theo nghĩa loại trừ

"những con đường cứu độ" và giải thoát trong các tôn giáo khác Những kiểu nói này cũng không sai, xét về khía cạnh thần học (nên khẳng định trong nội bộ Giáo hội thì tốt hơn là công bố cho toàn thế giới) Nhưng xét theo khía cạnh đối thoại, hiệp thông và truyền bá Tin Mừng thì kiểu nói này hơi "cứng rắn", có thể đưa đến những đụng chạm, rất khó được người ngoài Giáo hội đón nhận, nếu không muốn nói là gặp phải sự chống đối Mà thật sự là thế, tuyên ngôn Dominus Jesus

ra đời đã làm phát sinh nhiều phán ứng và chống đối cả trong và ngoài Giáo hội,

thậm chí có thể đưa đến " những nguy cơ rạn nứt" về tiến trình đại kết các tôn giáo.

Nhiều người cho rằng Tuyên ngôn này đã đi ngược lại đường hướng của Cồng

đồng Vat II Theo Công Giáo thế giới, Tuyên ngôn này đã " giáng một đòn nặng vào các nỗ lực đại kết"[73] Nhà thần học giải phóng Leonardo Boff đã thẳng thắn

phê bình tuyên ngôn Dominus Jesus, vì tuyên ngôn này " không hề đề cập đến tình yêu và người nghèo" , đó là hai chủ đề quan trọng trong toàn bộ Tân Ước Ðức

Giêsu coi tình yêu là tất cả (x Mt 22, 38-39), vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8.16), chỉ có tình yêu mới có thể cứu độ chúng ta (x Mt 25,34-47) Cũng vậy, người nghèo trong Tin Mừng là tiêu chí tối hậu để xem xét ai được cứu rỗi, ai bị

luận phạt Thế nhưng, " cả hai khía cạnh này đều hoàn toàn vắng bóng" trong tài liệu quan trọng này, nên nó " sẽ phá hủy mọi niềm tin của người khác"[74] Vì thế, không thể hiểu vai trò "Trung Gian" của Ðức Giêsu theo nghĩa "Duy Nhất", độc nhất, tuyệt đối khép kín và loại trừ mọi hình thức trung gian khác Trái lại, nên nhìn ơn Cứu độ phổ quát của Ðức Giêsu theo chiều hướng nhân bản và hiện sinh hơn Ðó cũng là cái nhìn rất tích cực và đổi mới của Công đồng Vat II khi nhìn nhận "những con đường cứu độ", sự hiện diện của "hạt giống Ngôi lời" và "tia sáng chân lý chiếu soi mọi người" trong các tôn giáo khác Ðó cũng là niềm hy

vọng cho các Giáo hội Á châu: " Cùng với Giáo hội hoàn cầu, Giáo hội Á châu sẽ bước qua ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba Kitô giáo, với sự ngạc nhiên Thiên Chúa

đã thực hiện từ thủa ban đầu cho tới ngày nay và biết rõ rằng, cũng như trong ngàn năm thứ nhất, Thánh giá được cắm trên đất Âu châu, rồi trong ngàn năm thứ hai được cắm trên đất Mỹ châu và Phi châu thì chúng ta có thể xác tín trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo, một mùa gặt đức tin sẽ được bội thu nơi lục địa rộng lớn và quan trọng này".[75]

Vì thế, ở đây chúng ta không dừng lại nơi tư tưởng truyền thống mà hướng mở ơn cứu độ theo chiều hướng nhân bản và hiện sinh Theo chiều kích hiện sinh, ơn Cứu Ðộ sẽ là sự giải phóng hoàn toàn; cứu độ là chữa lành thân xác

và tâm linh; cứu độ là làm cho sống và sống dồi dào; cứu độ là sự hòa giải toàn

Ngày đăng: 12/04/2013, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w