Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc nghiên cứu và sản xuất kháng sinh đã có những tiến bộ vượt bậc cung cấp ngày càng nhiều loại kháng sinh có tác dụng đặc trị ho
Trang 1LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
Chuyên ngành Dược lâm sàng
Mã số: CK 62.73.05.05
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Liên Hương
Nơi thực hiện: Trường Đại học Dược Hà Nội Thời gian thực hiện: 8/2011 - 12/2011
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô TS Nguyễn
Thị Liên Hương - Trưởng bộ môn Dược Lâm Sàng, Trường đại học Dược Hà
Nội
Là người thầy đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Ban G iám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, bộ môn Dược Lâm Sàng
và các thầy cô Trường đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong suốt những năm tháng học tập và thực hiện luận văn
- Ban giám đốc, cán bộ, và nhân viên các khoa phòng: phòng Kế hoạch tổng hợp, khoa Dược, phòng Mổ, khoa Đẻ, khoa Sản I, khoa Xét nghiệm của
B ệnh viện Sản Nhi Bắc Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn những người thân trong gia đình tôi cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2011
Vương Thị Việt Hồng
Trang 4CÁC BẢNG BIỂU TRONG ĐỀ TÀI
1 Bảng 1.1 Một số ví dụ về lựa chọn kháng sinh dự
phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật 6
2 Bảng 3.1 Phân nhóm bệnh nhân theo nhóm tuổi 24
3 Bảng 3.2 Phân nhóm theo số lần sinh con trong mẫu
4 Bảng 3.3 Phân nhóm bệnh nhân theo tuổi thai 25
5 Bảng 3.4 Các chỉ định phẫu thuật lấy thai 25
6 Bảng 3.5 Phân nhóm theo thời gian vỡ ối và chuyển dạ
7 Bảng 3.6 Phân nhóm bệnh nhân trước PT theo mức độ
8 Bảng 3.7 Độ dài cuộc phẫu thuật trong nghiên cứu 28
9 Bảng 3.8 Thời gian điều trị sau phẫu thuật của bệnh
10 Bảng 3.9 Lựa chọn KS sử dụng trước phẫu thuật 30
11 Bảng 3.10 Thời gian điều trị KS trước phẫu thuật 30
12 Bảng 3.11 Lựa chọn KS sử dụng trong phẫu thuật 31
13 Bảng 3.12 Thời điểm sử dụng kháng sinh trong phẫu
14 Bảng 3.13 Lựa chọn kháng sinh sử dụng sau phẫu thuật 34
15 Bảng 3.14 Tỷ lệ đổi phác đồ kháng sinh điều trị sau phẫu
16 Bảng 3.15 Các kiểu đổi phác đồ kháng sinh điều trị sau
Trang 517 Bảng 3.16 Thời gian sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật 37
18 Bảng 3.17 Theo dõi nhiệt độ của các bệnh nhân sau phẫu
19 Bảng 3.18 Tình trạng vết mổ sau phẫu thuật 39
20 Bảng 3.19 Tỉ lệ nhiễm khuẩn sau PT ở nhóm BN không
21 Bảng 3.20 Tỉ lệ nhiễm khuẩn sau PT ở nhóm BN có
22 Bảng 3.21 Tác dụng không mong muốn và các tai biến
Trang 6CÁC BIỂU ĐỒ TRONG ĐỀ TÀI
1 Biểu đồ 3.1 Biểu diễn các chỉ định phẫu thuật lấy thai 26
2 Biểu đồ 3.2 Biểu diễn thời gian chuyển dạ và thời gian
3 Biểu đồ 3.3 Biểu diễn sự lựa chọn kháng sinh sử dụng
4 Biểu đồ 3.4 Biểu đồ tỷ lệ đổi phác đồ kháng sinh điều
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hậu phẫu là một vấn đề lớn cần được quan tâm trong phẫu thuật nói chung và phẫu thuật lấy thai nói riêng Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc nghiên cứu và sản xuất kháng sinh đã
có những tiến bộ vượt bậc cung cấp ngày càng nhiều loại kháng sinh có tác dụng đặc trị hoặc phổ rộng tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn.Việc cải tiến các qui trình vô khuẩn và phương pháp khống chế nhiễm khuẩn được tuân thủ nghiêm ngặt ở các trung tâm phẫu thuật, đã làm giảm đáng kể các hình thái nhiễm khuẩn sau mổ, cải thiện nguy cơ đe dọa tính mạng bệnh nhân sau phẫu thuật
Kháng sinh là một trong những loại thuốc hay dùng và bị lạm dụng nhiều nhất Hậu quả không thể tránh khỏi của việc lạm dụng này là sự lan tràn
vi khuẩn kháng thuốc, vì vậy càng ngày con người lại càng cần phải có nhiều loại kháng sinh mới hơn, thế nhưng việc tìm ra các loại thuốc kháng sinh mới lại không dễ dàng và chi phí tốn kém Chính vì thế, dùng kháng sinh một cách hợp lý được xem như là một giải pháp tốt nhất để kiểm soát đề kháng và kéo dài tuổi thọ của thuốc
Tuy nhiên, sự nhận thức có giới hạn về cách sử dụng kháng sinh đã không phát huy hết tác dụng của kháng sinh trong việc đề phòng nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật Đồng thời nó còn dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh làm hạn chế tác dụng của kháng sinh trong điều trị Tình trạng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn tăng nhanh có liên quan đến việc lạm dụng kháng sinh ở qui mô rộng lớn, sử dụng không đúng chỉ dẫn, tùy tiện, do vi khuẩn tự bảo vệ đã khiến cho việc điều trị ngày càng trở nên khó khăn hơn cho thầy thuốc, tốn kém hơn cho xã hội và bản thân người bệnh cũng gặp phải những tác dụng không mong muốn hơn
Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang là bệnh viện đầu ngành sản phụ khoa và nhi khoa của tỉnh Bắc Giang với qui mô 350 giường bệnh, tỉ lệ khám và điều
Trang 8trị so với chỉ tiêu thường vượt từ 80 - 90% Hàng năm tỉ lệ phẫu thuật lấy thai thường vượt trên 75% Điều này làm kéo theo sự tăng chi phí sử dụng thuốc trong đó chi phí sử dụng kháng sinh chiếm 62 - 65 % Phấn đấu làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật là một chỉ tiêu quan trọng trong công tác nâng cao chất lượng điều trị Hội đồng khoa học bệnh viện đang từng bước xây dựng các phác đồ sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật lấy thai để đưa vào phác đồ điều trị chuẩn của Bệnh viện, nhằm giải quyết vấn đề sử dụng kháng sinh theo phương châm “hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế”
Vì vậy để góp phần tìm hiểu đánh giá thực trạng sử dụng kháng sinh trong và sau phẫu thuật lấy thai, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang’’
Với mục tiêu:
1 Khảo sát đặc điểm các trường hợp bệnh nhân phẫu thuật lấy thai có
sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang
2 Mô tả thực trạng sử dụng kháng sinh trên người bệnh trong mẫu nghiên cứu
Từ đó đưa ra những đề xuất nhằm hạn chế những vấn đề còn tồn tại của việc sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật lấy thai, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị tại bệnh viện
Trang 9Chương I TỔNG QUAN 1.1 Phân loại phẫu thuật
1.1.1 Phân loại phẫu thuật theo Altemeier
Dựa trên các nguy cơ có thể gây nhiễm khuẩn trong và sau phẫu thuật, năm 1955 Altemeier đã phân thành 04 loại phẫu thuật: [21], [22], [30]
- Loại I: phẫu thuật sạch
Bao gồm những phẫu thuật da còn nguyên vẹn, không viêm, không sang chấn, không liên quan đến miệng hầu, ống tiêu hóa, hệ hô hấp hệ tiết niệu, sinh dục, không có lỗi về vô khuẩn, khâu vết mổ ngay và không dẫn lưu, điều kiện vô khuẩn tốt Tỉ lệ nhiễm khuẩn thông thường loại phẫu thuật này
<5% và khi có kháng sinh dự phòng giảm ≤ 1%
- Loại II: phẫu thuật sạch - nhiễm
Bao gồm các phẫu thuật da còn nguyên vẹn có liên quan đến ống tiêu hóa, hệ hô hấp tiết niệu, sinh dục nhưng chưa có nhiễm khuẩn, điều kiện vô khuẩn tương đối Tỉ lệ nhiễm khuẩn thông thường < 15% và khi
có dự phòng giảm <7%
- Loại III: phẫu thuật bị nhiễm
Bao gồm các phẫu thuật vết thương chấn thương không nhiễm bẩn, phẫu thuật liên quan đến tiết niệu, đường mật, tiêu hóa có nhiễm khuẩn, điều kiện vô khuẩn kém Tỉ lệ nhiểm khuẩn thông thường >15%, nếu có kháng sinh giảm < 7%
- Loại IV: phẫu thuật bẩn
Bao gồm các phẫu thuật vết thương do chấn thương trên 04 giờ, phủ tạng rỗng, vết thương có dị vật, mô hoại tử Tỉ lệ nhiễm khuẩn 30%, nếu có
kháng sinh tỉ lệ nhiễm khuẩn sẽ giảm
Việc phân loại các phẫu thuật có ý nghĩa quan trọng trong điều trị, giúp
Trang 10cho việc lựa chọn phác đồ điều trị hợp lý và có thể tiên lượng được kết quả trên lâm sàng
1.1.2 Các ph ẫu thuật lấy thai
Phẫu thuật lấy thai: là những phẫu thuật phải can thiệp khi thai không
đẻ được theo đường âm đạo hoặc có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của người
mẹ hay thai nhi [21]
Các phẫu thuật lấy thai phần lớn thuộc phẫu thuật loại II (phẫu thuật sạch - nhiễm) và phẫu thuật loại IV (phẫu thuật bẩn)
Phẫu thuật loại II (phẫu thuật sạch - nhiễm): bao gồm các chỉ định phẫu thuật lấy thai chưa vỡ ối (ngôi ngược, ngôi ngang, rau tiền đạo…), ối vỡ < 6 giờ, vết mổ đẻ cũ và mẹ không có dấu hiệu viêm nhiễm các cơ quan khác
Phẫu thuật loại IV (phẫu thuật bẩn): bao gồm các chỉ định phẫu thuật lấy thai ối đã vỡ > 6 giờ, ối bẩn phân su, các trường hợp phẫu thuật lấy thai khác có nguy cơ nhiễm khuẩn, mẹ có dấu hiệu viêm nhiễm các cơ quan khác…
- Các chỉ định phẫu thuật lấy thai bao gồm:
+ Bất cân xứng giữa thai nhi và khung chậu mẹ
+ Đẻ chỉ huy tĩnh mạch thất bại, thai suy
+ Ngôi thai bất thường, thai to
Trang 11sự phát triển của vi khuẩn, và khi các yếu tố nhiễm khuẩn lấn át được hệ thống bảo vệ của cơ thể thì nhiễm khuẩn vết mổ tất yếu xảy ra
Mặt khác khi đóng vết mổ, vi khuẩn cư trú tại chỗ do sự đông máu cục
bộ trong lòng mạch và cơ chế viêm sớm, nhờ vậy vi khuẩn tránh được sự tấn công của hệ miễn dịch và các tác nhân kháng khuẩn, chính điều này làm giảm hiệu lực của kháng sinh điều trị sau phẫu thuật và để đạt được hiệu quả cần phải có một lượng kháng sinh đủ lớn cùng thời gian điều trị kéo dài hơn
Nhận thức được rằng giai đoạn thực hiện phẫu thuật chính là giai đoạn
dễ nhiễm khuẩn nhất và để hạn chế nhiễm khuẩn sau phẫu thuật thì phải đưa kháng sinh vào cơ thể trước phẫu thuật ở thời điểm thích hợp chứ không phải khi đã bắt đầu phẫu thuật và kéo dài nhiều ngày sau đó
Do vậy, năm 1967 Miles và Kruke đã nghiên cứu và đưa ra phương pháp
sử dụng “kháng sinh dự phòng” bằng cách đưa kháng sinh vào thời điểm thích hợp trước phẫu thuật để kháng sinh có đủ thời gian thẩm thấu tới tổ chức với nồng độ có hiệu lực kháng khuẩn trong suốt thời gian phẫu thuật, bảo vệ vết
mổ khỏi bị nhiễm khuẩn trong thời gian cơ thể chưa kịp đáp ứng có hiệu quả Phương pháp này đã góp phần làm giảm chi phí và nâng cao chất lượng điều trị Tuy nhiên ngoài yếu tố “kháng sinh dự phòng” cần đảm bảo các biện pháp đồng bộ khác như tăng cường vệ sinh vô khuẩn: vệ sinh môi trường, nguồn nước cho phòng phẫu thuật, vô trùng dụng cụ phẫu thuật, phòng mổ, phẫu thuật viên, vệ sinh hậu phẫu thì mới giảm tới mức tối thiểu tỉ lệ nhiễm
khuẩn sau phẫu thuật [16], [20], [32], [34]
1.1.4 Các nguyên tắc chung lựa chọn kháng sinh dự phòng nhiễm khuẫn sau phẫu thuật
Lựa chọn kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật phụ thuộc
các yếu tố sau: [2], [20], [45]
- Phổ kháng khuẩn của thuốc
Trang 12Thường chọn các loại kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng, nhạy cảm đối với các vi khuẩn gây bệnh hay gặp nhất trong loại phẫu thuật đó Tùy loại phẫu thuật và vi khuẩn gây bệnh để lựa chọn kháng sinh có phổ kháng khuẩn
Túi mật S.aureus, E.coli và các vi
Sản - phụ khoa
E.coli và các vi khuẩn Gram (-), tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn Kị khí đặc biệt là
B.fragilis
C1G hoặc C2G hoặc C3G hoặc/và Metronidazol 0,5g liều duy nhất
- Dược động học:
Trang 13Thuốc có khả năng khuyếch tán tốt tới tổ chức mong muốn, có khả năng dung nạp tốt và có thời gian bán thải không quá ngắn để giảm số lần đưa thuốc
- T hời điểm đưa thuốc và đường đưa thuốc:
Theo Martin và cộng sự: thời điểm đưa thuốc vào cơ thể ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật
+ Chọn đường đưa thuốc vào cơ thể theo nguyên tắc chung là phải đảm bảo kháng sinh nồng độ cao nhất khi rạch dao, khi đó hiệu quả kháng khuẩn
sẽ phát huy tối đa vào đúng thời điểm khả năng vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể
là cao nhất, kịp thời ngăn chặn không cho vi khuẩn đến được tổ chức xa vết
mổ Nếu đưa thuốc vào cơ thể bằng đường tiêm tĩnh mạch lúc tiền mê thì tỉ
lệ nhiễm khuẩn thấp nhất, nếu đưa thuốc kháng sinh trước phẫu thuật 02 giờ
hay sau phẫu thuật 03 giờ thì hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn không còn nữa,
vì vậy đưa kháng sinh trước phẫu thuật là bắt buộc Phải đưa kháng sinh trước lúc rạch dao và không sớm hơn 02 giờ trước phẫu thuật (thông thường trong vòng 30 - 60 phút đối với kháng sinh TB hoặc TM) Trong phẫu thuật lấy thai thì thời điểm đưa thuốc lần đầu là ngay sau khi kẹp dây rau
+ Tùy theo đặc điểm từng loại phẫu thuật ta có thể đưa thuốc theo đường tiêm, đường uống hoặc đặt trực tràng nhưng tiêm TM là vẫn được khuyến khích hơn cả do nhanh đạt đến nồng độ tối đa và sử dụng thuận lợi trong phẫu thuật
- T hời gian điều trị
Chỉ sử dụng kháng sinh đến khi hết nguy cơ thâm nhập của vi khuẩn, không kéo dài quá 24 giờ sau phẫu thuật Số lần dùng thuốc phụ thuộc vào loại phẫu thuật, thời gian phẫu thuật, thời gian bán thải của kháng sinh, vì liều đầu tiên dùng khi tiền mê nên sau phẫu thuật chỉ cần từ dùng 1 đến 2 liều là đủ
Thời gian điều trị còn phụ thuộc vào thực trạng của vùng phẫu thuật, tình trạng bệnh nhân, tay nghề của phẫu thuật viên, điều kiện vệ sinh vô khuẩn phục vụ cho phẫu thuật, chăm sóc hậu phẫu
Trang 14- Tính kinh tế
Chọn thuốc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trên có giá thành thấp nhất
1.1.5 Tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang
Trong tình hình thực tế tại bệnh viện còn khó khăn, chưa có đủ điều kiện để thành lập khoa vi sinh, do vậy chưa làm được kháng sinh đồ, việc cấy khuẩn phòng mổ cũng chưa được thực hiện thường xuyên mà chỉ cấy khuẩn định kỳ 6 tháng một lần Mặt khác việc theo dõi sau hậu phẫu chưa được sát sao do thiếu nhân lực và số lượng bệnh nhân đông nên việc sử dụng kháng sinh dự phòng sau phẫu thuật nói chung và phẫu thuật lấy thai nói riêng đang
là một vấn đề đặt ra đối với bệnh viện
Hiện nay bệnh viện chưa có phác đồ chuẩn sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân sau phẫu thuật lấy thai, thường dùng theo kinh nghiệm của bác sỹ trên từng đối tượng bệnh nhân và nguồn cung ứng thuốc (đấu thầu tập trung theo thông tư 01/2012/TTLT-BYT-BTC), bệnh viện mua theo kết quả trúng thầu của Sở Y tế hàng năm), mặt khác còn phải cân đối với nguồn quĩ bảo hiểm để không bị vượt trần (thông tư 09/2009/TTLT- BYT - BTC ngày 14/8/2009 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính)
Tổng chi phí tiền thuốc tại bệnh viện khoảng 13 tỉ đồng/năm, trong đó tiền kháng sinh sử dụng cho phẫu thuật lấy thai tương đối lớn, khoảng trên 3,5
tỉ đồng chiếm trên 30% tổng tiền thuốc Việc sử dụng kháng sinh dự phòng sau phẫu thuật theo khuyến cáo chưa được thực hiện, dẫn đến bất cập trong việc dùng kháng sinh dài ngày như một đợt điều trị làm tăng chi phí sử dụng kháng sinh trong điều trị, gây bất lợi và tốn kém cho người bệnh
Trang 151.2 Kháng sinh
1.2.1 Phân loại và cơ chế tác động của kháng sinh
Kháng sinh được phân loại dựa trên cấu trúc hóa học và cơ chế tác động của chúng Hiện nay kháng sinh được chia thành các nhóm sau: [31], [37]
- Kháng sinh ức chế tổng hợp vách tế bào như các β - lactam, Fosfomycin, Vancomycin và Bacitracin
- Kháng sinh tác động trực tiếp lên màng tế bào vi khuẩn làm tăng tính thấm, gây thoát các chất nội bào như Polymyxin
- Kháng sinh gây rối loạn chức năng các đơn vị tiểu 30S và 50S của ribosom vi khuẩn, loại này thường có tính kìm khuẩn (các nhóm phenicol, cyclin, macrolid, lincosamid và aminoglycosid)
- Kháng sinh ức chế quá trình tổng hợp acid nucleic của vi khuẩn như rifamycin (ức chế RNA Polymerase), quinolon
- Kháng sinh có tính kháng chuyển hóa như trimethoprim và sulfonamid ức chế các enzym chuyển hóa folat
Phân loại như trên là một trong những cách phổ biến và được công nhận nhiều nhất
1.2.2 Một số thuốc kháng sinh sử dụng trong nghiên cứu [23]
1.2.2.1 Cefaclor
Tên biệt dược: Doroclor Hãng sản xuất: Domesco - Đồng Tháp
Dạng bào chế: viên bao phim 500mg
D ược lý và cơ chế tác dụng:
Cefaclor là một kháng sinh C2G bán tổng hợp, có tác dụng diệt vi khuẩn đang phát triển và phân chia bằng cách ức chế tổng hợp thành tế bào vi khuẩn Cefaclor có tác dụng in vitro đối với cầu khuẩn Gram (+) tương tự
Cephalotin, nhưng có tác dụng mạnh hơn đối với các vi khuẩn Gram (-)
Dược động học:
Cefaclor được hấp thu tốt sau khi uống lúc đói
Trang 16Nửa đời của Cefaclor trong huyết tương từ 30 đến 60 phút
Khoảng 25% Cefaclor gắn kết với protein huyết tương, Cefaclor phân
bố rộng khắp cơ thể, đi qua nhau thai và bài tiết trong sữa mẹ ở nồng độ thấp Cefaclor thải trừ nhanh chóng qua thận
C hỉ định:
Cefaclor được chỉ định để điều trị các nhiễm khuẩn đường hô hấp do các vi khuẩn nhạy cảm, viêm tai giữa cấp, viêm xoang cấp, viêm họng, viêm amidan tái phát nhiều lần
Viêm phổi, viêm phế quản mạn trong đợt diễn biến
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới không biến chứng (viêm bàng quang)
Nhiễm khuẩn da và phần mềm do Staphylococcus aureus nhạy cảm và
Streptococcus pyogenes
Liều lượng và cách dùng:
Cefaclor dùng theo đường uống, vào lúc đói
Người lớn: liều thường dùng 250mg, cứ 8 giờ một lần
Đối với các nhiễm khuẩn nặng hơn, dùng liều 500mg, ngày 3 lần Liều giới hạn thường kê đơn cho người lớn: tối đa 4g/ngày
1.2.2.2 Cefuroxim
Biệt dược: Zyroxim Hãng sản xuất: Astral - Ấn Độ
Dạng bào chế: lọ tiêm Cefuroxim sodium 750mg
D ược lực và cơ chế tác dụng:
Cefuroxim là kháng sinh nhóm Cephalosporin thế hệ II có tác động diệt khuẩn, đề kháng với hầu hết các β - lactamase và các vi khuẩn Gram (+), Gram (-) Cefuroxim đặc biệt rất bền với nhiều enzym β - lactamase của vi khuẩn Gram (-)
D ược động học:
Trang 17Hấp thu nhanh sau khi tiêm bắp dạng muối natri, đạt nồng độ tối đa trong huyết tương sau 30 - 45 phút Nếu tiêm TM với liều 750mg, nồng độ tối
đa trong huyết tương đạt 73 microgam/ml sau 5 phút
Có khả năng khuyếch tán tốt đến mô, tổ chức
Thời gian bán huỷ sau khi TB hay TM khoảng 70 phút
Cefuroxim được thu hồi gần như hoàn toàn dưới dạng đổi trong nước tiểu trong vòng 24 giờ sau khi dùng
Phần lớn được đào thải trong 6 giờ đầu Khoảng 50% được đào thải qua ống thận, còn lại qua sự lọc cầu thận
T ác dụng không mong muốn:
Phản ứng dị ứng, rối loạn tiêu hoá
Biến đổi tạm thời một số thông số huyết học như test Combs (+), giảm bạch cầu đa nhân trung tính…
Tác dụng lên gan, thận: có thể làm tăng thoáng qua men gan
C hỉ định:
Cefuroxim được dùng để điều trị nhiễm khuẩn thể nhẹ đến vừa ở đường
hô hấp dưới, viêm tai giữa và viêm xoang tái phát, viêm amiđan và viêm họng, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn da và mô mềm, nhiễm khuẩn xương và khớp, nhiễm khuẩn thể nặng niệu - sinh dục, nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não do các vi khuẩn nhạy cảm gây ra
Liều lượng và cách dùng:
Nhiều nhiễm khuẩn đáp ứng với liều tiêm bắp hay TM 750mg, 03 lần một ngày
Dự phòng nhiễm khuẩn phẫu thuật:
Liều thông thường là 1,5g tiêm TM trước khi phẫu thuật, sau đó tiếp tục tiêm TM hoặc tiêm bắp liều 750mg, cứ 8 giờ một lần cho tới thời gian 24 đến 48 giờ sau phẫu thuật Với các phẩu thuật nguy cơ cao hơn có thể tăng gấp hai lần liều thường dùng
Trang 18Nên giảm liều trên bệnh nhân suy thận
C hỉ định:
Các bệnh nhiễm khuẩn nặng và nguy kịch do vi khuẩn nhạy cảm với
Cefotaxim, bao gồm áp xe não, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng trong tim,
viêm màng não (trừ viêm màng não do Listeria monocytogenes), viêm phổi,
bệnh lậu, bệnh thương hàn, điều trị tập trung, nhiễm khuẩn nặng trong ổ bụng (phối hợp với Metronidazol) và dự phòng nhiễm khuẩn sau mổ tuyến tiền liệt
kể cả mổ nội soi, mổ lấy thai
Tác dụng không mong muốn:
Tiêu hóa: ỉa chảy, thay đổi vi khuẩn chí ở ruột
Tại chỗ: viêm tắc tĩnh mạch tại chỗ tiêm, đau và có phản ứng viêm ở chỗ tiêm bắp
Máu: giảm bạch cầu ưa eosin hoặc giảm bạch cầu nói chung toàn thân, sốc phản vệ, các phản ứng quá mẫn cảm
Gan: tăng Bilirubin và các enzym của gan trong huyết tương
Trang 19L iều lượng và cách dùng:
Dùng Cefotaxim theo đường tiêm bắp sâu hay tiêm hoặc truyền TM chậm Liều thường dùng cho mỗi ngày từ 2 - 6g chia làm 2 hoặc 3 lần
Phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật: tiêm 1g trước khi làm phẫu thuật từ
30 đến 90 phút Phẫu thuật lấy thai thì tiêm 1g vào tĩnh mạch cho người mẹ ngay sau khi kẹp cuống rau và sau đó 6 giờ và 12 giờ thì tiêm thêm hai liều nữa vào bắp thịt hoặc TM
Bacteroides Thuốc nhạy cảm với nhiều vi khuẩn Gram (-) đã kháng aminoglycosid và các vi khuẩn Gram (+) đã kháng Ampicilin và các Cephalosporin khác
Ceftazidim không chuyển hóa, bài tiết qua lọc cầu thận, khoảng 80- 90% liều dùng bài tiết qua nước tiểu sau 24 giờ Bài tiết qua mật dưới 1%, chỉ khoảng 10% thuốc gắn với protein huyết tương
Ceftazidim thấm vào các mô ở sâu và cả dịch màng bụng Ceftazidim
đi qua nhau thai và bài tiết vào sữa mẹ
Trang 20Tác dụng không mong muốn:
Kích ứng tại chỗ, viêm tắc tĩnh mạch
Đau đầu, chóng mặt, sốt, phù quinck, phản ứng phản vệ
Máu: tăng bạch cầu ưa eosin, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, tăng lympho bào, phản ứng Coombs dương tính
Thần kinh: loạn cảm, loạn vị giác Ở người bệnh suy thận điều trị không đúng liều có thể co giật, bệnh não, run, kích thích thần kinh - cơ
Tiêu hóa: buồn nôn, nôn, đau bụng, ỉa chảy
Trang 21ra Cefoperazon có tác dụng trên một số vi khuẩn kị khí Hoạt tính của
Cefoperazon tăng lên với sự hiện diện của chất ức chế β - lactamase (Sulbactam)
* Sulbactam:
Sulbactam có cấu trúc tương tự β - lactamase nhưng có hoạt tính kháng khuẩn rất yếu, vì vậy không dùng một mình, phối hợp với Cefoperazon sẽ tăng khả năng bền vững với β - lactamase
Dược động học:
* Cefoperazon không hấp thu qua đường tiêu hóa nên phải dùng đường tiêm ở dạng muối natri Cefoperazon Nửa đời của Cefoperazon trong huyết tương là khoảng 2 giờ Cefoperazon gắn kết với protein huyết tương từ 82 đến 93%, tùy theo nồng độ Cefoperazon phân bố rộng khắp trong các mô và dịch của cơ thể, qua nhau thai và bài tiết vào sữa mẹ ở nồng độ thấp Cefoperazon thải trừ trong nước tiểu chủ yếu qua lọc cầu thận
* Sulbactam hấp thu đường uống và đường tiêm, phân bố vào các mô
và dịch não tủy, thuốc thải trừ qua đường nước tiểu
C hỉ định:
Thuốc được sử dụng để điều trị các nhiễm khuẩn nặng do các vi khuẩn Gram (-), Gram (+) nhạy cảm và các vi khuẩn đó kháng các kháng sinh β - lactam khác
Thuốc được chỉ định trong điều trị các nhiễm khuẩn sau: chủ yếu là các nhiễm khuẩn đường mật, đường hô hấp trên và dưới, da và mô mềm, xương
Trang 22khớp, thận và đường tiết niệu, viêm vùng chậu và nhiễm khuẩn sản phụ khoa, viêm phúc mạc và các nhiễm khuẩn trong ổ bụng, nhiễm khuẩn huyết, bệnh lậu
Tác dụng không mong muốn:
Tăng bạch cầu ưa eosin tạm thời
Tiêu hoá: ỉa chảy, buồn nôn, nôn viêm đại tràng màng giả
Ngoài da: ban da dạng sần, mày đay, ngứa sốt
Máu: giảm bạch cầu trung tính có hồi phục, thiếu máu tan huyết, giảm tiểu cầu
Thần kinh trung ương: co giật (với liều cao và suy giảm chức năng thận), đau đầu, tình trạng bồn chồn
Liều lượng và cách dùng:
Cefoperazon được sử dụng ở dạng muối natri tiêm bắp sâu hoặc tiêm truyền TM
+ Người lớn: 2 - 4g/ ngày, chia 2 lần
- Nhiễm trùng nặng và lâu ngày:
+ Người lớn: có thể lên đến 8g/ ngày, chia 2 lần
1.2.2.6 Metronidazol
Tên biệt dược: Trichopol Hãng sản xuất: Polpharma - Balan
Dạng bào chế: dung dịch tiêm truyền 500mg/100ml
Khi nhiễm khuẩn ổ bụng kèm áp xe như áp xe ruột thừa, nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ruột và áp xe gan, và khi nhiễm khuẩn phụ khoa như viêm nội
Trang 23mạc tử cung nhiễm khuẩn và áp xe cần kết hợp Metronidazol với một kháng sinh loại β- lactam (một Cephalosporin thế hệ mới)
D ược động học:
Metronidazol thường hấp thu nhanh và hoàn toàn sau khi uống
Nửa đời của Metronidazol trong huyết tương khoảng 8 giờ và thể tích phân bố xấp xỉ thể tích nước trong cơ thể (0,6 - 0,8 lít/kg)
Khoảng 10 - 20% thuốc liên kết với protein huyết tương
Metronidazol thâm nhập tốt vào các mô và dịch cơ thể, vào nước bọt
và sữa mẹ Nồng độ điều trị cũng đạt được trong dịch não tủy
Nửa đời thải trừ trung bình trong huyết tương khoảng 7 giờ
C hỉ định:
Điều trị nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn kỵ khí nhạy cảm như nhiễm khuẩn ổ bụng, nhiễm khuẩn phụ khoa, nhiễm khuẩn da và các cấu trúc da, nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương, nhiễm khuẩn huyết và viêm màng trong tim Phối hợp với uống Neomycin, hoặc Kanamycin để phòng ngừa khi phẫu thuật ở người phải phẫu thuật đại trực tràng và phẫu thuật phụ khoa
Tác dụng không mong muốn:
TDKMM thường gặp nhất khi uống Metronidazol là buồn nôn, nhức đầu, chán ăn, khô miệng, có vị kim loại rất khó chịu Các phản ứng không
mong muốn khác ở đường tiêu hóa của Metronidazol là nôn, ỉa chảy, đau thượng vị, đau bụng, táo bón Các TDKMM trên đường tiêu hóa xảy ra khoảng 5 - 25%
Trang 24Trẻ em: truyền TM 20 - 30 mg/kg/ngày chia làm 2 - 3 lần
Phòng nhiễm khuẩn kị khí sau phẫu thuật: 20 - 30 mg/kg/ngày chia làm 3 lần
1.2.2.7 Pefloxacin
Tên biệt dược: Peflacin Hãng sản xuất: Aventis - Pháp
Dạng bào chế: dung dịch tiêm truyền TM 400 mg/125ml
Dược lý và cơ chế tác dụng:
Pefloxacin là kháng sinh tổng hợp thuộc họ quinolon thế hệ II, có tác dụng diệt khuẩn do ức chế tổng hợp protein của vi khuẩn
Phổ kháng khuẩn rộng tác dụng tốt trên trực khuẩn Gram (-), tụ cầu (kể
cả loại kháng methicillin), vi khuẩn kỵ khí
Dược động học:
Hấp thu sau khi tiêm truyền 01 giờ nồng độ tối đa trong huyết thanh đạt khoảng 4 mg/ml Thời gian bán hủy trong huyết thanh khoảng 12 giờ, khuyếch tán vào mô, liên kết với proteine huyết thanh khoảng 30%
Chuyển hóa chủ yếu ở gan, hai chất chuyển hóa chính là demethylpefloxacine (hay norfloxacine) và pefloxacine N - oxide
Bài tiết chủ yếu qua thận và qua mật dưới dạng không đổi và dạng liên hợp với acide glucuronique và dạng N- oxyde
Chỉ định:
Điều trị viêm tuyến tiền liệt cấp và mãn tính, nhiễm khuẩn xương khớp,
nhiễm khuẩn nặng do trực khuẩn Gram (-) và tụ cầu, đặc biệt trong: nhiễm trùng thận và tiết niệu, nhiễm trùng sinh dục, nhiễm trùng ổ bụng và gan mật,
nhiễm trùng da, nhiễm trùng mắt, nhiễm trùng huyết và nội tâm mạc, nhiễm trùng màng não, nhiễm trùng hô hấp, nhiễm trùng tai mũi họng
Trang 25Tác dụng không mong muốn:
Rối loạn tiêu hóa, dị ứng mề đay và phù Quinck, đau cơ hoặc đau khớp, viêm gân, đứt gân Achille, có thể xảy ra trong 48 giờ đầu và trên cả hai bên,
nhức đầu, rối loạn cảnh giác, mất ngủ, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính Những rối loạn này sẽ phục hồi khi ngưng điều trị
Liều lượng, cách dùng:
Tiêm truyền TM chậm (1 giờ) dung dịch Peflacin 400 mg/125ml, 02 lần/ ngày
Trang 26Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh nhân phẫu thuật lấy thai tại khoa Sản, khoa Đẻ bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Chọn bệnh nhân tại khoa Sản, khoa Đẻ có chỉ định phẫu thuật lấy thai
và có chỉ định sử dụng kháng sinh trên hai nhóm đối tượng nghiên cứu:
+ Bệnh nhân có nguy cơ NK và NK trước phẫu thuật
+ Bệnh nhân không có NK trước phẫu thuật
* Bệnh nhân có nguy cơ NK và NK trước phẫu thuật
Bệnh nhân có nhiễm khuẩn trước phẫu thuật bao gồm những trường hợp có những triệu chứng: sốt > 37,50C, bạch cầu tăng >10.000 hoặc có các ổ nhiễm khuẩn ở phổi, da, tai mũi họng…
Bệnh nhân có nguy cơ nhiễm khuẩn (nước ối bẩn, hôi, ối vỡ > 6 giờ)
* Bệnh nhân không có NK trước phẫu thuật
Bệnh nhân không có nhiễm khuẩn trước phẫu thuật là những bệnh nhân chuyển dạ đẻ mà ối chưa vỡ hoặc chuyển dạ đẻ ối vỡ < 6 giờ, không viêm nhiễm các cơ quan khác…
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Những bệnh án và bệnh nhân không đáp ứng thu thập thông tin + Bệnh nhân chuyển viện
2.2 P hương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên bệnh nhân phẫu thuật lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang
2.2.1 Cách chọn mẫu và cỡ mẫu
Trang 27Chọn toàn bộ bệnh nhân phẫu thuật lấy thai vào mẫu nghiên cứu trong khoảng thời gian 01/8/2011 đến 30/8/2011 thu được 198 bệnh nhân
2.2.2 Xử lý số liệu
Tất cả bệnh nhân ở cả hai nhóm nghiên cứu đều đựợc lập hồ sơ dược lâm sàng để theo dõi, ghi lại các thông số, các dữ kiện đặt ra Các số liệu thu được chúng tôi xử lý theo phương pháp thống kê y học với phần mềm EXCEL
2.3 Cách theo dõi và đánh giá kết quả nghiên cứu
2.3.1 Theo dõi bệnh nhân
Tất cả bệnh nhân trong diện nghiên cứu đều được theo dõi tình trạng toàn thân, nhiệt độ, tình trạng vết mổ, các biến chứng (nếu có) vào buổi sáng, chiều và ghi vào phiếu thu thập thông tin
+ Thân nhiệt bệnh nhân: đo thân nhiệt do điều dưỡng viên thực hiện đo hai lần/ ngày (đo bằng nhiệt kế nách) chúng tôi theo dõi và ghi vào phiếu thu thập thông tin
+ Tình trạng vết mổ: bác sỹ thăm khám và kiểm tra vết mổ vào buổi sáng chúng tôi phân loại và ghi vào phiếu thu thập thông tin
+ Biến chứng sau phẫu thuật:
- Các nhiễm khuẩn bội nhiễm, chảy máu vết mổ, tử cung đau, sản dịch hôi Tất cả các trường hợp nếu có nghi ngờ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật đều làm xét nghiệm công thức máu, tổng phân tích nước tiểu, tốc độ máu lắng
- Các biểu hiện của phản ứng kháng sinh, tai biến do tiêm thuốc (viêm -
áp xe vùng tiêm), các TDKMM đều được theo dõi, đánh giá và ghi vào hồ sơ nghiên cứu
+ Theo dõi việc sử dụng kháng sinh trước, trong, sau phẫu thuật và bổ sung kháng sinh cho các trường hợp nhiễm khuẩn sau phẫu thuật
+ Cắt chỉ và khám kiểm tra đánh giá lại tình trạng toàn thân, tình trạng vết mổ trước khi xuất viện
Trang 28+ > 390C: sốt cao
+ Sốt đơn thuần: sau phẫu thuật 24 giờ thân nhiệt người bệnh thường hơi tăng (từ 37,50C đến 380C) nhưng không có biểu hiện nhiễm khuẩn nào và thường hết sốt sau một đến hai ngày, các trường hợp này gọi là sốt đơn thuần
+ Sốt do nhiễm khuẩn: thân nhiệt bệnh nhân ≥ 380C ở cả hai lần đo trong ngày và có biểu hiện của nhiễm khuẩn kèm theo
- Đánh giá tình trạng vết mổ:
Chúng tôi phân loại vết mổ như sau:
+ Vết mổ khô sạch hoàn toàn
+ Vết mổ có mủ
+ Vết mổ: chảy nước, vàng, nề, không liền nhanh
Nếu bệnh nhân sốt > 380C, kèm theo vết mổ sưng nề, đỏ, đau, có dịch hoặc mưng mủ thì được coi là nhiễm khuẩn vết mổ Ngược lại vết mổ khô, sạch, bệnh nhân không sốt thì được coi là vết mổ không nhiễm khuẩn
- Đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật:
Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật = tổng số nhiễm khuẩn sau phẫu thuật/ tổng đối tượng nghiên cứu/nhóm (hoặc lô)
- Tính ngày điều trị sau phẫu thuật:
Ngày điều trị sau phẫu thuật = ngày ra viện - ngày phẫu thuật
Trang 292.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Khảo sát đặc điểm các trường hợp bệnh nhân phẫu thuật lấy thai có sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang
+ Phân nhóm bệnh nhân theo độ tuổi
+ Khảo sát về lần sinh con trong mẫu nghiên cứu
+ Phân nhóm bệnh nhân theo tuổi thai
+ Các chỉ định phẫu thuật lấy thai gặp trong mẫu nghiên cứu
+ Phân nhóm theo thời gian vỡ ối và chuyển dạ tới lúc phẫu thuật + Phân nhóm bệnh nhân theo mức độ nhiễm khuẩn trong nghiên cứu + Phân nhóm bệnh nhân theo thời gian phẫu thuật
+ Thời gian điều trị sau phẫu thuật
2.4.2 Mô tả thực trạng sử dụng kháng sinh trên người bệnh trong mẫu nghiên cứu
- Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trước khi phẫu thuật
+ Lựa chọn kháng sinh sử dụng trước phẫu thuật
+ Thời gian điều trị bằng kháng sinh trước phẫu thuật
- Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật
+ Lựa chọn kháng sinh sử dụng trong phẫu thuật
+ Thời điểm sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật
- Khảo sát việc sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật
+ Lựa chọn kháng sinh sử dụng sau phẫu thuật
+ Đổi phác đồ kháng sinh điều trị sau phẫu thuật
Tỷ lệ đổi phác đồ
Các kiểu đổi phác đồ kháng sinh
+ Thời gian sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật
- Khảo sát hiệu quả của sử dụng kháng sinh
+ Theo dõi nhiệt độ của bệnh nhân sau phẫu thuật
+ Tình trạng vết mổ trong thời gian sau phẫu thuật
+ Tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật lấy thai
+ Theo dõi TDKMM và các tai biến khi sử dụng kháng sinh
Trang 30Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
3.1.1 Phân nhóm bệnh nhân theo độ tuổi
Bảng 3.1 Phân nhóm bệnh nhân theo nhóm tuổi
3.1.2 Khảo sát về lần sinh con trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.2 Phân nhóm theo số lần sinh con trong mẫu nghiên cứu
Trang 313.1.3 Phân nhóm bệnh nhân theo tuổi thai
Tuổi thai cũng là một yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn sau phẫu thuật, với các trường hợp sinh non (tuổi thai < 35 tuần) hoặc sinh già tháng (tuổi thai > 42 tuần) thì khả năng nhiễm khuẩn tăng cao cả mẹ và con
Bảng 3.3 Phân nhóm bệnh nhân theo tuổi thai
N hận xét: Trong cả hai nhóm đối tượng nghiên cứu tuổi thai tập trung
từ 38 - 40 tuần có 154 trường hợp chiếm 77,8%, như vậy thai đủ tháng là chủ yếu trong nghiên cứu Có 03 trường hợp thai > 42 tuần chiếm 1,5% và tuổi thai < 35 tuần rất ít chỉ có 01 trường hợp chiếm 0,5% (do rau tiền đạo ra huyết)
3.1.4 Các chỉ định phẫu thuật lấy thai gặp trong mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi chia thành 05 lý do chỉ định phẫu thuật lấy thai như bảng 3.4
Bảng 3.4 Các chỉ định phẫu thuật lấy thai
Lý do chỉ định phẫu thuật Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Trang 32Tỉ lệ %
Do đường sinh dục
Vết mổ đẻ cũ, nghiệm pháp lọt thất bại
Do thai
Do phần phụ của thai
Lý do khác
Biểu đồ 3.1: BIỂU DIỄN CÁC CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT LẤY THAI
Nhận xét: Chỉ định phẫu thuật lấy thai nguyên nhân do thai chiếm tỉ lệ
cao nhất (36,4%) trong nghiên cứu, tỉ lệ giảm dần do vết mổ đẻ cũ chiếm 30,3% và do phần phụ của thai chiếm 22,7%, do nguyên nhân khác 6,6%, do
đường sinh dục chiếm tỉ lệ thấp nhất 4,0%
3.1.5 Phân nhóm theo thời gian vỡ ối và chuyển dạ tới lúc phẫu thuật Bảng 3.5 Phân nhóm theo thời gian vỡ ối và chuyển dạ tới lúc phẫu thuật
Trang 33Biểu đồ 3.2: BIỂU DIỄN THỜI GIAN CHUYỂN DẠ VÀ THỜI GIAN
VỠ ỐI CỦA BỆNH NHÂN
Nhận xét:
* Thời gian chuyển dạ:
Thời gian chuyển dạ trước phẫu thuật trong khoảng từ 0 đến hơn 10
giờ, trong đó < 3 giờ chiếm đa số (60,6%) Đặc biệt có 05 trường hợp không
có thời gian chuyển dạ là do thai già tháng hết ối, thai suy phải mổ cấp cứu
* Thời gian vỡ ối trước phẫu thuật:
Thời gian vỡ ối trước phẫu thuật trong khoảng 0 đến 10 giờ, trong đó
các trường hợp chưa vỡ ối chiếm đa số (51,5%) và số trường hợp có thời gian
vỡ ối 10 - 12 giờ là thấp nhất chỉ chiếm 4,1%
3.1.6 Phân nhóm bệnh nhân theo mức độ nhiễm khuẩn trong
nghiên cứu
Tình trạng nhiễm khuẩn trước phẫu thuật cũng ảnh hưởng nhiều đến
khả năng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật và đến việc dùng kháng sinh trước phẫu
vỡ ối
Trang 34thuật và sau phẫu thuật Tỷ lệ bệnh nhân không có NK trước PT và bệnh nhân có nguy cơ NK, NK trước PT so với số bệnh nhân khảo sát được trình bày trong bảng 3.6
Bảng 3.6 Phân nhóm bệnh nhân trước PT theo mức độ nhiễm khuẩn
Đối tượng bệnh nhân Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Nhận xét:
Trước khi phẫu thuật có 145 bệnh nhân không có nhiễm khuẩn chiếm 73,3%; 27 bệnh nhân có nguy cơ nhiễm khuẩn chiếm 13,6%, 26 bệnh nhân có nhiễm khuẩn chiếm 13,1% Việc phân nhóm đối tượng này có liên quan đến vấn đề sử dụng kháng sinh dự phòng hay điều trị đối với bệnh nhân phẫu thuật lấy thai
3.1.7 Phân nhóm bệnh nhân theo thời gian phẫu thuật
Thời gian thực hiện phẫu thuật (độ dài cuộc phẫu thuật) tỉ lệ thuận với
tỉ lệ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật
Bảng 3.7 Độ dài cuộc phẫu thuật trong nghiên cứu
Trang 35Nhận xét:
Thời gian phẫu thuật lấy thai tập trung chủ yếu từ 30 - 40 phút chiếm 81,3%, thời gian phẫu thuật lấy thai > 60 phút chiếm rất ít 1,6% thường do bệnh nhân phẫu thuật lần 2 bị dính
3.1.8 Thời gian điều trị sau phẫu thuật
Thời gian điều trị sau phẫu thuật của bệnh nhân trong nghiên cứu này, chúng tôi tính từ ngày phẫu thuật đến khi xuất viện
Bảng 3.8 Thời gian điều trị sau phẫu thuật của bệnh nhân
Thời gian điều trị sau phẫu thuật Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Đa số thời gian điều trị sau phẫu thuật trong khoảng 6 -7 ngày, chiếm tỉ
lệ 90,4% Số bệnh nhân điều trị 8-9 ngày chiếm 8,1%, số bệnh nhân điều trị
>10 ngày rất ít chỉ có 03 trường hợp chiếm 1,5% Không có bệnh nhân nào xuất viện trước 05 ngày sau phẫu thuật, thời gian điều trị sau phẫu thuật của bệnh nhân có liên quan đến thời gian sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật
3.2 Thực trạng sử dụng kháng sinh trên người bệnh trong mẫu nghiên cứu
3.2.1 Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trước khi phẫu thuật
Từ kết quả bảng 3.6 chúng ta thấy trong số 198 bệnh nhân nghiên cứu
có 145 bệnh nhân không có nhiễm khuẩn trước phẫu thuật, có 27 bệnh nhân
có nguy cơ nhiễm khuẩn và có 26 bệnh nhân có nhiễm khuẩn trước phẫu thuật
Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trước phẫu thuật cho thấy:
+ 145/145 (100%) các trường hợp không có nhiễm khuẩn trước phẫu thuật đều không sử dụng kháng sinh
Trang 36+ 53/53 (100%) các trường hợp có NK trước phẫu thuật hoặc ngay cả chỉ có nguy cơ NK trước phẫu thuật cũng đều được chỉ định kháng sinh
Sau đây là phần khảo sát chi tiết hơn về kháng sinh được sử dụng cho các đối tượng này
3.2.1.1 Lựa chọn KS sử dụng trước phẫu thuật
Bảng 3.9 Lựa chọn KS sử dụng trước phẫu thuật
cơ nhiễm khuẩn, 100% các trường hợp chỉ dùng C2G (Cefaclor) đường uống
3.2 1.2 Thời gian điều trị bằng kháng sinh trước phẫu thuật
Bảng 3.10 Thời gian điều trị KS trước phẫu thuật
STT Thời gian điều trị KS
Trang 37N hận xét:
Đa số bệnh nhân điều trị kháng sinh 01 ngày chiếm 81,1% trong số 53 bệnh nhân có nguy cơ NK và NK trước phẫu thuật, điều trị kháng sinh trên 07 ngày chỉ có 02 bệnh nhân chiếm tỉ lệ rất nhỏ (3,9%)
3.2.2 Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật
3.2.2.1 Lựa chọn kháng sinh sử dụng trong phẫu thuật
Bảng 3.11 Lựa chọn KS sử dụng trong phẫu thuật
Kháng sinh
BN không có NK trước PT
Hwasul (Cefoperazon + Sulbactam ) +
Metronidazol