Bệnh xá Trường sĩ quan lục quân 2 là tuyến cơ sở chăm sóc sức khỏe bước đầu của Quân đội tương đương với quy mô của một bệnh viện tuyến huyện, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho cán bộ chiến
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Thị Trâm - trường Đại học Dược Hà Nội – người đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, phòng kế hoạch tổng hợp, các Bác sĩ, Dược sĩ đang công tác tại Bệnh viên Đa khoa Khu vực Củ Chi
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi khảo sát, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Dược Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ khóa học
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự động viên của gia đình, sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vì sự giúp đỡ quý báu đó
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 12 năm 2013
QUÂN II NĂM 2013
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2014
Trang 2Y KẾT HỢP TRƯỜNG SỸ QUAN LỤC
QUÂN II NĂM 2013
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60720412
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Bình
HÀ NỘI 2014
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc đóng vai trò quyết định trong công tác chăm sóc, bảo vệ, duy trì
và phục hồi sức khỏe cho nhân dân
Năm 1996 Chính phủ đã ban hành chính sách quốc gia về thuốc với
an toàn có hiệu quả cho người bệnh, hướng phát triển và tầm nhìn chiến lược đến 2030 lĩnh vực này tiếp tục được nhiều quan tâm
Trong những năm qua ngành Dược luôn được đổi mới, nhiều công nghệ mới đã được ứng dụng để tạo ra các sản phẩm thuốc có chất lượng, có hiệu quả trong điều trị Bước đầu, các sản phẩm của ngành Dược đã đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Tuy nhiên, về mặt trái
do số lượng và chủng loại thuốc ngày càng phong phú nên việc quản lý sử dụng thuốc cần được quan tâm và chú trọng hơn Bởi vì, tình trạng lạm dụng thuốc ngày càng trở thành vấn đề bức xúc của xã hội Việc sử dụng thuốc tràn lan không có kiểm soát, sử dụng thuốc không đúng, không hợp
lý ngày càng gây ra nhiều hậu quả tai hại trước mắt cũng như lâu dài cho người bệnh Bên cạnh đó, khía cạnh tiêu cực của nền kinh tế thị trường cũng tác động rất lớn đến việc kê đơn của bác sĩ Vì vậy việc kê đơn, sử dụng thuốc an toàn, hợp lý cần phải hiểu như là cách dùng thuốc thích hợp với yêu cầu điều trị, liều lượng thích hợp với cá thể bẹnh nhân, thời gian điều trị đúng quy định và giá cả phù hợp với cộng đồng
Đứng trước thực trạng đó, Bộ y tế ban hành nhiều văn bản như: Chỉ thị 03/BYT-CT ngày 25/02/1997, Chỉ thị 04/1998/BYT-CT ngày 04/03/1998, Chỉ thị 05/2004/VT-BYT ngày 06/04/2004, Chỉ thị 20/2005/TTLB-BYT-BTC, thông tư 10/2007/TTLB-BYT-BTC ngày 10/08/2007 về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý sử dụng thuốc
và tăng cường sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, kinh tế, Quyết định số 04/2008/QĐ – BYT ngày 01/02/2008 về Quy chế kê đơn thuốc trong điều
Trang 4trị ngoại trú tại các bệnh viện Việc kê đơn sử dụng thuốc cũng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác khám chữa bệnh
Vì vậy khảo sát thực trạng kê đơn cho bệnh nhân ngoại trú BHYT là một trong những việc cần thiết để kiểm tra việc thực hiện các Chỉ thị, Quyết định nêu trên
Bệnh xá Trường sĩ quan lục quân 2 là tuyến cơ sở chăm sóc sức khỏe bước đầu của Quân đội tương đương với quy mô của một bệnh viện tuyến huyện, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho cán bộ chiến sĩ trong Quân đội,và năm 2013 Bệnh xá đảm nhiêm thêm việc khám chữa bệnh cho người đăng
ký tham gia khám chữa bệnh BHYT theo chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước cho nhân dân trong khu vực Trong năm vừa qua tại bệnh xá
có số lượt người đến khám chữa bệnh BHYT khoảng 6.800 số lượt người, với mô hình bệnh tật đa dạng, phức tạp.Vì là mới thành lập khám chữa bệnh BHYT nên Bệnh xá chủ yếu khám chữa bệnh cho bệnh nhân ngoại trú.Cơ quan BHYT của Tỉnh chỉ định nơi phân phối thuốc cho Bệnh xá
Để góp phần thực hiện tốt hơn công tác khám bệnh kê đơn cũng như việc thực hiện quy chế kê đơn trong điều trị để nâng cao chất lượng sử dụng thuốc an toàn hợp lý có hiệu quả tại đơn vi Chúng tôi đã tiến hành
thực hiện đề tài: “Khảo sát thực trạng kê đơn thuốc đối với bệnh nhân BHYT ngoại trú tại Bệnh xá Quân Dân y kết hợp Trường SQLQII năm 2013”
Nhằm mục tiêu
Khảo sát một số vấn đề liên quan đến việc thực hiện Quy chế kê đơn tại đơn vị Bệnh xá Quân Dân y kết hợp trong năm 2013
Trang 5CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Vài nét về BHYT
Chúng ta đều thừa nhận rằng sức khỏe là vốn quý nhất của con người, hẳn ai cũng muốn mình sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc Song trong đời sống không phải lúc nào cũng được như ý muốn và dù cho khoa học có phát triển tới đâu đi nữa thì bệnh tật, rủi ro vẫn cứ xảy ra Việc dành những khoản tiền chi đột xuất cho khám chữa bệnh luôn là nỗi lo của các gia đình có thu nhập thấp Hơn nữa, cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống con người được nâng cao, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe ngày một tăng lên.Trước nhu cầu bức thiết về việc khám chữa bệnh mà BHYT đã nhanh chóng phát triển và trưởng thành, góp phần to lớn trong việc thực hiện công bằng trong chăm sóc khỏe của người dân
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của BHYT trên thế giới và ở Việt Nam
* Thế giới
Cùng với sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật,đời sống con người ngày càng được nâng cao thì dường như tai nạn cũng xuất hiện nhiều hơn Nhằm có một nguồn quỹ xã hội để bồi thường hay bù đáp cho những tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra, các tổ chức bảo hiểm xã hội (BHXH) lần lượt xuất hiện ở khắp các quốc gia trên thế giới Do mục đích hoạt động giàu lòng nhân ái mà công tác BHXH ngày càng được quan tâm nhiều hơn, từ đó dẫn đế sự ra đời của Công ước quốc tế về an toàn xã hội vào ngày 18/06/1952 tại Genève Đây là Công ước đầu tiên của thế giới về Bảo Hiểm Lao Động (bảo hiểm xã hội)
Mục tiêu của Công ước là “Chúng ta phải huy động mọi thành viên trong xã hội cùng đóng góp tiền của nhằm làm giảm đi gánh nặng cho ngân sách quốc gia trong việc khắc phục thiên tai, bệnh tật Đó là nhu cầu khách quan của công tác Bảo hiểm”
Trang 6Hệ thống y tế các nước
Từ xa xưa việc điều trị cho người bệnh đã là một nhu cầu rất cấp thiết Ban đầu việc điều trị được thực hiện bởi những thầy thuốc riêng lẻ có tính gia truyền hoặc được truyền dạy bởi một thầy thuốc đi trước Chi phí điều trị có khi được định giá cụ thể nhưng cũng có khi theo dạng “tùy hỉ”
Thời gian trôi qua, xã hội phát triển đòi hỏi việc khám chữa bệnh phải được tổ chức lại Các phòng khám rồi các bệnh viện ra đời cùng với việc hình thành nên một nghề nghiệp mới - nghề Y, và ngoài thầy thuốc/bác sĩ thì còn có thêm điều dưỡng, dược sĩ, dược tá, kỹ thuật viên xét nghiệm v.v… Hoạt động khám chữa bệnh cũng được tổ chức và quản lý trong những cơ cấu phức tạp hơn theo nhiều cách khác nhau ở mỗi nước Bên cạnh y học điều trị, hoạt động y học dự phòng và y tế công cộng cũng được phát triển và tạo thành một hệ thống y tế toàn diện.Có nhiều cách mô
tả và phân loại hệ thống y tế nhưng cách thường được dùng đó là dựa trên tiếp cận kinh tế học Ở góc độ này thì một hệ thống y tế thường được xem xét dựa trên việc trả lời 2 câu hỏi cơ bản: “Ai cung cấp dịch vụ?” và “Ai chi?”.Người cung cấp dịch vụ có thể là nhà nước hoặc tư nhân hoặc cả hai Nếu nhà nước và tư nhân cùng cung cấp thì hệ thống này gọi là hệ thống chăm sóc sức khỏe (CSSK) hai thành phần (two-tier health care) và tùy mỗi nước thì mức độ cung cấp dịch vụ của mỗi thành phần có khác nhau Nếu chỉ có thành phần nhà nước cung cấp hoặc chiếm phần chủ yếu (như Canada) thì gọi là hệ thống CSSK một thành phần (one-tier health care).Về
cơ cấu hệ thống cung cấp dịch vụ CSSK đặc biệt là dịch vụ khám chữa bệnh thì mỗi nước có một cơ cấu khác nhau.Ở nhiều nước ngoài các bệnh viện, dưỡng đường, trung tâm chuyên khoa thì có mạng lưới các bác sĩ đa khoa chịu trách nhiệm khám chữa bệnh bước đầu cho những người dân đăng ký.Các cơ sở y tế này có thể là công hoàn toàn, tư nhân hoàn toàn hoặc bán công Việc mô tả hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe là
Trang 7không đơn giản tuy nhiên việc trả lời cho câu hỏi “Ai chi?” còn phức tạp hơn gấp nhiều lần Thông thường người ta đề cập đến 3 nguồn chi: nhà nước, tập thể và người dân Dựa vào đây người ta chia làm 3 nhóm:
- Nhóm nhà nước bao cấp toàn bộ: nhà nước chịu toàn bộ chi phí Đây là mô hình hệ thống y tế của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và một số nước Châu Âu ví dụ như Anh hoặc Bắc Mỹ như Canada
- Nhóm nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý và điều hòa thị trường chăm sóc sức khỏe Đây là mô hình của nước Mỹ thời xa xưa
- Nhóm trung gian với nhiều mức độ chi trả khác nhau của nhà nước
và đây là mô hình phổ biến của các nước hiện nay Ví dụ như ở Mỹ, nhà nước chỉ chi trả khi cần thiết, ví dụ chi cho người già (Medicare), người tàn tật, người nghèo không có khả năng chi trả (Medicaid)…
Về nguồn chi từ người dân có thể ở 2 hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc phối hợp cả hai
Với hình thức trực tiếp: người dân chi trả cho người cung cấp dịch
vụ sức khỏe bằng hiện kim theo vụ việc (fee for service), đây là dạng phổ biến ở nước ta
Trong hình thức gián tiếp người dân chi trả thông qua việc đóng phí thường niên cho công ty bảo hiểm và công ty bảo hiểm sẽ thay mặt người bệnh để chi trả, có thể chi 100% kinh phí hoặc với những hình thức đồng chi trả khác nhau
Ngoài nhà nước và người dân còn có nguồn chi từ tập thể chẳng hạn như các chủ xí nghiệp chi trả chi phí chăm sóc sức khỏe của công nhân, các quỹ từ thiện chi trả cho người nghèo v.v Thực tế cơ chế cung cấp tài chính cho các dịch vụ sức khỏe ở các nước có thể rất khác nhau và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố văn hóa, xã hội.Ví dụ Bảo hiểm Y tế tự nguyện không phải ở nước nào, nơi nào cũng được hưởng ứng Có nước thì người
Trang 8dân đã quen với hướng bao cấp toàn bộ như Anh, các nước Bắc Âu, có nước thì người dân lại quen không bao cấp toàn bộ như ở Mỹ…
Hệ thống BHYT các nước Bảo hiểm y tế, một bộ phận chính sách BHXH đã được Chính phủ các nước rất quan tâm và người dân nhiệt tình hưởng ứng Cho đến nay, hàng trăm nước trên thế giới đã thực hiện BHYT, mặc dù với nhiều hình thức, mức độ, phạm vi, … khác nhau Sự giống nhau của các nước về BHYT là mục đích, tổ chức, quản lý, huy động đóng góp của cộng đồng.Tại hầu hết các nước, hệ thống BHYT chủ yếu phục vụ cho công nhân viên chức làm việc ở các cơ quan Nhà nước
Mục đích của BHYT là đảm bảo cho những người tham gia bảo hiểm được khám, chữa bệnh thuận lợi khi ốm đau và không phải trả tiền viện phí, mà khoản chi phí khám chữa bệnh là do BHYT trợ cấp
Do đó, BHYT góp phần ổn định cuộc sống gia đình cho những người tham gia bảo hiểm và nhờ vậy xã hội được lành mạnh hóa công việc khám chữa bệnh Ở đa số các nước trên thế giới, Nhà nước đầu tư khoảng 60%, còn 40% ngân sách y tế dựa vào sự đóng góp của cộng đồng xã hội thông qua hoạt động BHYT
Nguồn thu của BHYT chủ yếu từ phí BHYT (hay do đóng BHYT) phụ thuộc vào tiền lương (đối với người làm công ăn lương) hoặc thu nhập (đối với các đối tượng khác)
Đối với những người làm công hưởng lương, luật pháp các nước đều quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động (các chủ doanh nghiệp) phải đóng từ 50 – 66% mức đóng bảo hiểm, còn người lao động chỉ đóng
từ 34 – 50% Quy định đó vừa đảm bảo quyền lợi cho người lao động, vừa nâng cao trách nhiệm của người chủ đối với sức khỏe của người thợ
Quỹ BHYT được sử dụng vào hai mục đích chính :
- Chi bảo hiểm bệnh tật bao gồm cả chi phí khám chữa bệnh (thuốc, dịch truyền, xét nghiệm, vật tư y tế, công thầy thuốc, dịch vụ y tế, …)
Trang 9- Chi trợ cấp lương cho người lao động do ốm đau phải nghỉ việc Mục đích thứ hai gắn liền với người làm công hưởng lương.Nó chính
là một bộ phận của BHXH Do đó, nhiều nước đã chuyển giao bộ phận này cho BHXH , ở Việt Nam cũng vậy Về mức trợ cấp BHYT (hay chi trả chi phí khám chữa bệnh) cho người được BHYT cũng được quy định khác nhau ở mỗi nước
Ví dụ : Ở Pháp người ta xây dựng 4 mức trợ cấp về thuốc :
- 0% : bệnh nhân phải tự thanh toán 100%
- 40% : bệnh nhân phải tự thanh toán 60%
- 70% : bệnh nhân phải tự thanh toán 30%
- 100% : bệnh nhân phải tự thanh toán hoàn toàn
Còn ở Mỹ, Nhà nước chi trả 100% cho cho người già (Medicare), người tàn tật, người nghèo không có khả năng chi trả (Medicaid), …, hãng bảo hiểm (tư nhân) chi trả 80% chi phí khám chữa bệnh, người bệnh trả 20%
Trong hoạt động y tế, chi phí cho khám chữa bệnh ngày càng tăng cao Nguyên nhân là sự xuất hiện của nhiều trang thiết bị chẩn đoán và điều trị kỹ thuật cao đắt tiền, bên cạnh đó nhiều bệnh do lối sống như: tim mạch, đái tháo đường, các rối loạn tâm thần, AIDS, … gây tốn kém trong điều trị
Để giảm chi phí y tế các Công ty bảo hiểm phải định ra những cơ chế:
Mức chi tối thiểu (deductible): nếu chi phí điều trị chưa vượt qua mức này thì người bệnh tự trả
Mức chi tối đa (fixed-indemnity): tức công ty BH chỉ chi đến mức này dù chi phí điều trị có cao hơn
Đồng chi trả (co-insurance): tức công ty BH chi một phần, người bệnh chi một phần
Tự bảo hiểm (self-insurance) : tức nếu người đóng bảo hiểm không
bị bệnh trong năm qua thì chi phí đóng cho năm tới được giảm xuống
Chăm sóc sức khỏe tại Mỹ :
Trang 10Mỹ là nước công nghiệp phát triển duy nhất còn lại trên thế giới cho đến nay vẫn chưa đảm bảo được việc chăm sóc sức khỏe cho toàn dân, là một cường quốc kinh tế hàng đầu, nhưng là một quốc gia có đến 47 triệu (15,8%) (2006) người dân không có BHYT Trong số 84% người dân có BHYT thì người có việc làm (60%), kinh doanh cá thể (9%) hoặc được cung cấp bởi các chương trình của Chính phủ
Hệ thống tài chính y tế tại Mỹ chủ yếu dựa vào các công ty BHYT tư nhân Ngoài hai quỹ BHYT nhà nước là
Medicare - quỹ dành cho 41 triệu người trên 65 tuổi và Medicaid - quỹ dành cho khoảng 30 triệu người thu nhập thấp, các quỹ BHYT còn lại
là BHYT thương mại, hoạt động vì lợi nhuận
Hầu hết các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Mỹ là ngoại trú (phòng khám tư nhân) Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà là phổ biến, thường do bác sỹ yêu cầu Chính phủ Mỹ chi trả BHYT cho 27% dân chúng, trong đó
có người già, người tàn tật (Medicare), người nghèo (Medicaid) và trẻ em (Chương trình BHYT thiếu nhi) Số người còn lại chưa đủ già (trên 65 tuổi
để được hưởng chế độ BHYT Medicare), chưa đủ nghèo (để được hưởng chế độ BHYT Medicaid) và chưa đủ giàu (để mua BHYT thương mại) phải
tự túc BHYT khi ốm đau
Đa phần người Mỹ (59,7%) nhận mức BHYT thông qua người thuê lao động, sở làm Mức phí BHYT trung bình mà người lao động phải trả là 16% cho độc thân và 28% cho người đã lập gia đình Năm 2004, BHYT tư nhân chi trả 36% chi phí chăm sóc sức khỏe (vượt mức 15%), trong khi Chính phủ chi trả 44%, đã đưa Mỹ lên hàng đầu về chi tiêu cho bảo hiểm Theo WHO,
hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ được xếp hàng 37 năm 2000
Trang 11So sánh nền BHYT của Mỹ và các nước khác đặc biệt là nuớc Cu
Ba Mỹ bỏ ra bình quân 6.096 USD chi phí bảo hiểm sức khoẻ hàng năm cho mỗi đầu nguời, trong khi Cu Ba chỉ bỏ ra 229 USD, nhưng việc chăm sóc sức khỏe ở Cu Ba cũng chẳng thua gì ở Mỹ Chương trình chăm sóc y tế ở Cu Ba nhắm vào việc phòng ngừa (prevention) trong khi ở Mỹ thì chỉ ốm đau có triệu chứng mới được chữa Nếu so sánh với các quốc gia châu Âu và Canada thì tuy Mỹ bỏ ra 2 ngàn tỷ USD/một năm về chi phí y tế, nhưng vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho dân chúng đã thua xa các quốc gia khác Tại Mỹ tiền chi phí y khoa năm cỡ 16% của tổng sản luợng quốc gia (GDP), trong khi chi phí y khoa ở Anh chỉ cỡ 7% tổng sản luợng quốc gia
Ở các quốc gia khác như Canada, Pháp hay Đức thì chi phí y khoa ở các xứ này cũng ở dưới mức 10% GDP Sự khác biệt của nền bảo hiểm y tế của Mỹ với các quốc gia vừa kể là việc điều hành các chưong trình BHYT này : chương trình BHYT ở các quốc gia khác là những chương trình BHYT đại chúng do chính quyền trông coi, trong khi việc điều hành các chương trình BHYT ở Mỹ là do các công ty bảo hiểm Vì là tư nhân cho nên mục tiêu tối hậu của các công ty BHYT ở Mỹ là nhắm vào số lợi nhuận, chứ không cần biết đến sự an nguy của bệnh nhân Hàng triệu người đang cần sự giúp đỡ, tài trợ của Chính phủ về tài chính để có được BHYT Ở nước Mỹ, các công ty BHYT tư nhân, hệ thống khám chữa bệnh
tư nhân và các nhà sản xuất thuốc tạo nên một nền “công nghiệp chăm sóc sức khỏe” (health care industry) vì lợi nhuận đầy quyền lực, bởi nó chiếm
tỷ trọng tới 13,6% GDP
Ở Hàn quốc, hệ thống BHYT phục vụ cho 4 đối tượng :
- Công nhân các xí nghiệp công thương nghiệp
- Cán bộ nhà nước và giáo viên các trường tư thục
Trang 12- Các nhóm lao động cá thể
- Lao động ở nông thôn và thực hiện đồng chi trả theo mức giá chi phí
cố định
Tại Nhật Bản hiện nay, chăm sóc y tế là một trong những ưu tiên
hàng đầu trong đời sống của người dân và chi phí này là phần không thể thiếu trong ngân sách của cá nhân và gia đình.Người tham gia phải trả từ
20 - 30% chi phí y tế cho bất cứ loại điều trị nào đã được bảo hiểm.Chi phí cho phần không được bảo hiểm sẽ phải tự thanh toán Thủ tục tham gia bảo hiểm được thực hiện ở các ủy ban hành chính thành phố hay thị trấn nơi bạn cư trú, tiền đóng bảo hiểm trả theo hàng tháng Mỗi khu vực phí bảo hiểm không giống nhau
* Việt Nam
Ở Việt Nam, ngay từ thời thuộc địa đã có vài chế độ BHXH cho công nhân lao động và từ những năm 1918 ở nước ta thực hiện chế độ BHXH cho công nhân bị tàn tật Sau đó do tình hình chiến tranh và phải tập trung cho khôi phục đất nuớc mà mãi đến ngày 15/08/1992 BHYT Việt Nam mới chính thức được thành lập theo Nghị định số 299 của Hội Đồng
Bộ Trưởng Trước đây, ở nước ta trong thời kỳ bao cấp BHXH (trong đó bao gồm BHYT) nằm trong sự bao cấp hoàn toàn của Nhà nước và lồng vào chế độ tiền lương, do đó việc thu và chi nguồn quỹ bảo hiểm đều do Trung ương chỉ định
Trong những năm tiếp theo sau đó Nhà nước đã thực hiện xóa bỏ bao cấp trong quản lý kinh tế và thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần.Do
sự thay đổi này mà nền kinh tế Việt Nam đã có sự cải thiện ở nhiều mặt, đã đẩy mạnh việc phát triển công tác BHYT Nhờ thế dù còn non rất trẻ nhưng BHYT Việt Nam đã phát triển khá vững mạnh và đã tạo được niềm tin trong nhân nhân Năm 1993, chính sách BHYT ra đời.Theo đó tất cả các công nhân viên chức nhà nước bắt buộc phải đóng BHYT Tuy nhiên, trong
Trang 13dân số nói chung, số người tự nguyện mua BHYT còn khá thấp Một năm sau khi chính sách BHYT ra đời, chỉ 1% dân số mua bảo hiểm; đến năm
1997, con số này là 5,5%; Nói cách khác, có ít nhất 85% dân số không có BHYT Điều này không ngạc nhiên, vì thu nhập của phần lớn nông dân thời đó vẫn còn thấp (trung bình mỗi ngày khoảng 25.000-40.000 đồng), do
đó đối với họ, BHYT vẫn là một nhu cầu xa xỉ
Tháng 11/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế giai đoạn 2009-2012 trướcQuốc hội
Kết quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế giai đoạn 2009-2012 khẳng định chặng đường 20 năm thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm y tế, nhất là sau gần bốn năm thực hiện Luật Bảo hiểm y tế, Việt Nam đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng về bảo hiểm
y tế, khẳng định chủ trương, quan điểm đúng đắn, nhất quán của Đảng, Nhà nước về chính sách bảo hiểm y tế
Việt Nam đang từng bước tiếp cận với mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển kinh tế và bảo đảm chính sách an sinh xã hội phù hợp xu thế chung của thế giới
Với định hướng đúng và sự nỗ lực của Nhà nước, các cấp, các ngành, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đã tăng nhanh Người tham gia bảo hiểm được hưởng dịch vụ khám chữa bệnh, kỹ thuật y tế hiện đại, chất lượng hơn, được cung ứng thuốc khám chữa bệnh, kể cả thuốc mới, hiệu quả giúp hàng triệu lượt người vượt qua ốm đau và các căn bệnh mãn tính, nan y, hiểm nghèo
Quỹ bảo hiểm y tế đang dần trở thành nguồn tài chính cơ bản phục
vụ cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần giảm mức chi trả từ tiền túi của người bệnh cho công tác chăm sóc sức khỏe
Trang 14Chính sách bảo hiểm y tế Việt Nam đã bảo đảm nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế, đồng thời cũng đảm nhận nhiều chính sách phúc lợi xã hội khác
Đến cuối năm 2012, gần 70% dân số cả nước đã tham gia bảo hiểm y
tế, với phần đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và người dân chiếm khoảng 58% trong tổng thu bảo hiểm y tế, tạo nền móng quan trọng để tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân
1.1.2 Mục Tiêu của BHYT
BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT khi ốm đau BHYT do Nhà nước tổ chức thực hiện mang tính chất xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong khám chữa bệnh và toàn dân tham gia
1.1.2.1 Các hình thức BHYT
* Đối tượng BHYT bắt buộc
* Đối tượng BHYT tự nguyện
1.1.2.2 Thẻ BHYT :
Cấp cho người tham gia BHYT BHXH Việt nam quản lý và phát hành thẻ Thẻ có giá trị sử dụng ngay và liên tục khi đóng BHYT đúng quy định.Thẻ BHYT tự nguyện có giá trị sử dụng 30 ngày kể từ ngày đóng BHYT lần đầu hoặc tiếp tục đóng sau một thời gian gián đoạn
Thẻ không có giá trị sử dụng khi đã hết hạn sử dụng, không do cơ quan có thẩm quyền ban hành, người trong thẻ đã chết, thẻ bị tẩy, xóa, …
Người có thẻ BHYT có quyền : khám chữa bệnh theo chế độ BHYT, chọn cơ sở khám chữa bệnh ban đầu, được thay đổi nơi khám chữa bệnh ban đầu vào cuối mỗi quý ; yêu cầu cơ quan BHXH và cơ sở khám chữa
Trang 15bệnh bảo đảm quyền lợi theo quy định ; khiếu nại, tố cáo khi phát hiện hành vi vi phạm Điều lệ BHYT
Người có thẻ BHYT có trách nhiệm :
Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn ; xuất trình thẻ khi đếm khám chữa bệnh ; không cho người khác mượn thẻ ; chấp hành quy định của tổ
chức BHXH và cơ sở khám chữa bệnh
Quyền và trách nhiệm của cơ sở khám chữa bệnh BHYT:
Cơ sở khám chữa bệnh có quyền : yêu cầu tổ chức BHXH tạm ứng
và thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo quy định ; khám chữa bệnh theo đúng chuyên môn ; sử dụng nguồn kinh phí theo quy định ; khiếu nại khi phát hiện hành vi vi phạm Điều lệ BHYT
Cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm: thực hiện đúng hợp đồng khám chữa bệnh BHYT; ghi chép, lập, cung cấp tài liệu liên quan đến khám BHYT; khám chữa bệnh an toàn, hợp lý; kiểm tra thẻ BHYT; quản
lý và sử dụng nguồn kinh phí đúng quy định; thực hiện các quy định về chế độ thống kê, báo cáo hoạt động chuyên môn, tài chính liên quan đến BHYT
Quyền lợi của người có thẻ BHYT:
Người có thẻ BHYT còn giá trị sử dụng khi khám chữa bệnh ngoại trú và nội trú ở các cơ sở khám chữa bệnh công lập và ngoài công lập có hợp đồng với cơ quan BHXH về khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT được hưởng quyền lợi : Khám bệnh chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng (theo danh mục quy định của Bộ Y tế) trong thời gian điều trị tại cơ
sở khám chữa bệnh Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng Thuốc, dịch truyền trong danh mục theo quy định của Bộ Y tế Máu và các chế phẩm của máu Các phẫu thuật, thủ thuật Khám thai và sinh đẻ Sử dụng vật tư, thiết bị y tế và giường bệnh Chi phí vận chuyển trong trường hợp phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế
Trang 16Người có thẻ BHYT khi khám chữa bệnh tại cơ sở đăng ký khám chữa bệnh ban đầu và cơ sở khám chữa bệnh BHYT khác theo giới thiệu chuyển viện phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ
Y tế hoặc trong những trường hợp cấp cứu tại cơ sở khám chữa bệnh BHYT, được cơ quan BHXH thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo giá viện phí hiện hành của Nhà nước
Người có thẻ BHYT khi sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn : Được quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí của dịch vụ kỹ thuật cao có mức phí dưới 7.000.000 đồng (bảy triệu) Đối với dịch vụ kỹ thuật cao có mức phí từ 7.000.000 đồng (bảy triệu) trở lên dược thanh toán như sau : Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí của dịch vụ đối với đối tượng là người hoạt động cách mạng trước 8/1945 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh, người mất sức lao động từ 81% trở lên, người có tuổi từ 90 trở lên Đối với người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do
Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đang hưởng trợ cấp hàng tháng, người cao tuổi tàn tật không nơi nương tựa, người đang hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng và các đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hàng tháng, người được hưởng chế độ khám chữa bệnh cho người nghèo :
Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí của dịch vụ nhưng tối đa không quá 20.000.000 đồng cho một lần sử dụng dịch vụ đó
Các đối tượng còn lại : Quỹ BHYT thanh toán 60% chi phí nhưng mức thanh toán tối đa không quá 20.000.000 đồng cho một lần sử dụng dịch vụ
đó, phần còn lại do người bệnh tự thanh toán cho cơ sở khám chữa bệnh
Trường hợp 60% chi phí thấp hơn 7.000.000 đồng (bảy triệu) đồng quỹ BHYT thanh toán bằng 7.000.000 đồng (bảy triệu)
Trang 17Bộ Y tế ban hành Danh mục dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn sau khi thống nhất với Bộ Tài chính để cơ quan BHXH có căn cứ thanh toán với các cơ sở khám chữa bệnh Chi phí vận chuyển người bệnh theo quy định được thanh toán như sau :
Trường hợp vận chuyển người bệnh bằng phương tiện của cơ sở khám chữa bệnh, cơ quan BHXH sẽ thanh toán chi phí vận chuyển cho cơ
sở khám chữa bệnh với mức thanh toán không quá 0,2 lít xăng/km vận chuyển (cho cả lượt đi và về) theo giá hiện hành tại thời điểm sử dụng Nếu
có nhiều hơn một người bệnh cùng được
1.1.3 Quyền và trách nhiệm của người tham gia BHYT
Quyền của người tham gia BHYT
1 Được cấp thẻ bảo hiểm y tế khi đóng bảo hiểm y tế
2 Lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này
6 Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế
Nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm y tế
1 Đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn
2 Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đúng mục đích, không cho người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế
3 Thực hiện các quy định tại Điều 28 của Luật này khi đến khám bệnh, chữa bệnh
Trang 184 Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm y tế,
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi đến khám bệnh, chữa bệnh
5 Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài phần chi phí do quỹ bảo hiểm y tế chi trả
1.2 Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú
1.2.1 Sự hình thành của Quy chế
Thập niên những năm 90, trước thực tế sử dụng thuốc không hợp lý
và an toàn của người bệnh dẫn đến những tác hại cho sức khỏe, việc ban hành tạm thời Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn theo quyết định số 488/QĐ-BYT ra ngày 03/04/1995 là một việc cấp thiết và phù hợp với hoàn cảnh nước ta khi đó
Quy chế này được ban hành với mục đích:
1 Góp phần bảo đảm việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và đạt hiệu quả phòng và chữa bệnh cao, đồng thời ngăn chặn việc người bệnh tự dùng một số thuốc cần phải có chỉ định của bác sĩ, dẫn đến những tác hại cho sức khỏe
2 Xác định trách nhiệm của bác sĩ trong việc khám bệnh, kê đơn và trách nhiệm của dược sĩ trong việc cung ứng thuốc
3 Chấn chỉnh việc kê đơn, cung ứng thuốc chưa hợp lý hiện nay, thực hiện các công ước và thông lệ quốc tế về kê đơn và cung ứng thuốc cho người dùng
Sau một thời gian thực hiện Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn tạm thời cúng với sự xuất hiện ngày càng phong phú, đa dạng các loại thuốc mới Kèm theo đó là những lợi nhuận “hoa hồng” không nhỏ từ phía các công ty, các hãng dược phẩm dành cho bác sĩ đã tác động rất lớn đến đến việc kê đơn của bác sĩ và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống y tế càng làm cho việc quản lý kê đơn và sử dụng đã khó khăn nay càng trở nên khó khăn hơn Chính vì vậy, Bộ y tế đã chính thức ban hành Quy chế kê đơn và
Trang 19bán thuốc theo đơn lần đầu tiên kèm theo quyết định số BYT ngày 28/05/2003 nhằm chấn chỉnh lại việc kê đơn, cung ứng thuốc trong giai đoạn này
1847/2003/QĐ-Để quy chế kê đơn ngày càng hoàn thiện và thích ứng được điều kiện kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội của Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH ngày 01/02/2008 Bộ trưởng Bộ y tế ra quyết định số 04/2008/QĐ-BYT, ban hành Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú, bãi bỏ Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn năm 2003 Theo quy chế mới, trước mắt các bác sĩ phải kê đơn và bán thuốc theo danh mục 30 nhóm thuốc Đối với nhóm thuốc có tính chất gây nghiện, người kê đơn còn phải theo đúng các quy định như: đầu tên thuốc phải viết hoa, thêm số 0 ở trước số lượng thuốc… Riêng các thực phẩm chức năng vì không được coi là thuốc do đó sẽ không được ghi các sản phẩm này trong toa thuốc
Lý do ra đời quy chế mới là do Quy chế kê đơn năm 2003 có nhiều điều chưa phù hợp, đặc biệt là về việc quản lý nhóm thuốc Opioids Theo hướng dẫn của WHO thì cần phải tiến tới cân bằng trong chính sách quốc gia về kiểm soát Opioids, nghĩa là phải làm sao để đảm bảo sự sẵn có Opioids dùng cho mục đích y tế Chính vì vậy Quy chế kê đơn năm 2008
đã có quy định cụ thể về kê đơn opioids giúp cho người bệnh ung thư và HIV/AIDS có thể dễ dàng tiếp cận với thuốc Opioids và làm giảm bớt tình trạng e ngại khi kê đơn Opioids của bác sĩ
Quy chế thuốc trong điều trị ngoại trú mới ban hành của Bộ y tế đã
có nhiều thay đổi và bổ sung thêm nhằm mục đích đảm bảo sự an toàn và quyền lợi của người bệnh
1.2.2 Nội dung chính của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngọai trú
Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho người bệnh,
là cơ sở pháp lý cho việc chỉ định dùng thuốc, bán thuốc và cấp thuốc theo đơn Bác sĩ có thể chỉ định điều trị cho người bệnh vào đơn thuốc( theo
Trang 20mẫu quy định của Bộ y tế) hoặc sổ y bạ, sổ điều trị bệnh mãn tính gọi chung là đơn thuốc
Đơn thuốc là một chỉ định của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, nhằm giúp họ có được những thứ thuốc theo đúng phác đồ điều trị
Đơn thuốc là tổng hợp các loại thuốc, bao gồm cả thuốc bắt buộc phải bán theo đơn và những thuốc có thể mua tự do Đó là một “y lệnh” hướng dẫn cho các bệnh nhân cần uống, bôi, thoa, phun, dán hay tiêm truyền Đơn thuốc liệt kê tên thuốc, số lượng, liều lượng, số lần dùng thuốc trong ngày, thời điểm dùng thuốc (trước, trong hay sau bữa ăn) Một đơn thuốc được xem là chuẩn phải đạt được các yêu cầu: hiệu quả chữa bệnh cao, an toàn trong dùng thuốc
và tiết kiệm
1.2.2.1 Nội dung của một đơn thuốc
Trên thế giới không có một tiêu chuẩn thống nhất nào về kê đơn thuốc và mỗi quốc gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của đất nước mình Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng nhất đó là đơn thuốc phải rõ ràng Đơn thuốc phải hợp lệ và chỉ định chính xác thuốc phải sử dụng Theo khuyến cáo của WHO thì một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung sau:
1 Tên, địa chỉ của người kê đơn, số điện thoại (nếu có)
2 Ngày, tháng kê đơn
3 Tên gốc của thuốc, hàm lượng
4 Dạng thuốc, tổng lượng thuốc
5 Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo
6 Tên, địa chỉ, tuổi của bệnh nhân
7 Chữ kí của người kê đơn
1.2.2.2 Điều kiện của người kê đơn thuốc
Theo điều 3 của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú do BYT Việt Nam ban hành năm 2008 quy định của người kê đơn như sau:
Trang 21 Đang hành nghề tại cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp có bằng tốt nghiệp Đại học Y và được người đứng đầu cơ sở phân công khám, chữa bệnh
Đối với các tỉnh có vùng núi, vùng sâu, vùng cao, hải đảo xa xôi, vùng khó khăn và những nơi chưa có bác sĩ, Sở Y Tế có văn bản
ủy quyền cho Trưởng phòng Y tế huyện chỉ định y sĩ của Trạm y
tế thay thế cho phù hợp với tình hình địa phương
1.2.2.3 Quy định về ghi đơn thuốc
Theo điều 7 của quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú được ban hành kèm theo quyết định số 04/2008/QĐ – BYT ngày 01/02/2008 quy định về ghi đơn thuốc như sau:
1 Kê đơn thuốc vào mẫu đơn, mẫu sổ quy định kèm theo Quy chế
2 Ghi đủ các mục in trong đơn, chữ viết rõ ràng, dễ đọc, chính xác
3 Địa chỉ người bệnh phải ghi chính xác số nhà, đường phố, hoặc thôn, xã
4 Với trẻ em dưới 72 tháng tuổi: ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ
5 Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế ( INN, generic name) hoặc nếu ghi tên biệt dược phải ghi tên quốc tế trong ngoặc đơn ( trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất)
6 Ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng, cách dùng của mỗi thuốc
7 Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa
8 Số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số
9 Nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày bên cạnh
Trang 2210 Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng Ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn
1.3 Về kê đơn tốt
Kê đơn là mệnh lệnh, nhật ký ghi lại việc điều trị
Kê đơn tốt là sự chỉ định thuốc cho điều trị dựa vào quá trình suy luận logic trên những thông tin chính xác và khách quan Kê đơn tốt phải đảm bảo sự cân bằng giữa các yếu tố hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế và tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân
1.3.1 Đơn thuốc tốt
Một đơn thuốc tốt phải đáp ứng đầy đủ các thông tin tiêu chuẩn yêu cầu cho một đơn thuốc gồm có:
Nội dung của một đơn thuốc
Cách ghi nội dung một đơn thuốc và cách bố trí các mục ghi trong đơn theo quy định của từng quốc gia
1.3.1.1 Những yêu cầu về kê đơn tốt
Theo hướng dẫn thực hành kê đơn thuốc tốt của WHO để thực hiện được quá trình kê đơn thuốc tốt người thầy thuốc cần phải tuân theo quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý gồm 6 bước như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề bệnh lýcủa bệnh nhân Quá trình này cần được thực hiện một cách thận trọng dựa trên sự quan sát kỹ lưỡng của bác sĩ, mô tả bệnh của bản thân bệnh nhân, tiền sử bệnh, X quang, kết quả xét nghiệm và các nghiên cứu khác
Bước 2: Xác định mục tiêu điều trị Việc xác định mục tiêu điều trị giúp người thầy thuốc tránh được việc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết, tập trung vào vấn đề
Bước 3: Xác định phương pháp điều trị đã được chứng minh hiệu quả, an toàn, kinh tế và phù hợp với bệnh nhân nhất trong số các phương án điều trị khác nhau, kể cả phương án không dùng thuốc
Trang 23Thẩm định lại sự phù hợp của thuốc đã lựa chọn cho bệnh nhân
Sự phù hợp được đánh giá trên 3 khía cạnh:
- Sự phù hợp giữa tác dụng và dạng dùng của thuốc với bệnh nhân
- Sự phù hợp của liều dùng hàng ngày
- Sự phù hợp của quá trình điều trị
Đối với mỗi khía cạnh cần phải điều tra mục đích điều trị, hiệu quả (chỉ định và sự liên quan đến liều dùng) và an toàn (chống chỉ định, tương tác thuốc, nhóm thuốc có nguy cơ cao) có được đảm bảo
Bước 4: Bắt đầu điều trị Cần đưa ra những chỉ dẫn cho bệnh nhân Ví dụ như viết một đơn thuốc rõ ràng cẩn thận, ngắn gọn nhưng dễ hiểu cho bệnh nhân
Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho bệnh nhân Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất những thông tin sau: Các tác dụng của thuốc; Các tác dụng phụ; Hướng dẫn sử dụng (cách dùng, thời gian sử dụng, bảo quản…); cảnh báo (nên hay không nên dùng khi nào, liều tối đa, thời gian điều trị đầy đủ); hẹn gặp lần tới, xác minh mọi thông tin có rõ ràng đối với bệnh nhân
Bước 6: Giám sát điều trị Nếu như bệnh được chữa khỏi thì ngừng quá trình điều trị, hoặc nếu phương pháp điều trị này có hiệu quả nhưng bệnh vẫn chưa khỏi hẳn thì cần xem lại có tác dụng phụ nào nghiêm trọng hay không Nếu có thì cân nhắc lại liều dùng hay chọn thuốc khác Trường hợp bệnh không được chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả các bước trên
1.4 Một vài nét ở cơ sở nghiên cứu
Bệnh xá lục quân 2 là cơ sở khám chữa bệnh quân dân y kết hợp trong khu vực địa bàn đóng quân của Trường sĩ quan lục quân 2, bao gồm
Trang 24giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kĩ thuật được tổ chức thành các khoa, phòng với trang thiết bị cơ sở hạ tầng thích hợp để thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng cung cấp các dịch vụ y tế cho các cán bộ, công nhân viên, học viên tại nhà trường và nhân dân quanh khu vực
1.5 Một số văn bản pháp quy trong lĩnh vực dược liên quan đến vấn
đề kê đơn thuốc
Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú ban hành kèm theo quyết định số 04/2008/QĐ – BYT ngày 01/02/2008
Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh ban hành kèm theo quyết định số 05/2008/QĐ – BYT ban hành ngày 01/02/2013
CN PHÒNG HẬU CẦN BAN QUÂN Y BỆNH XÁ
Trang 25 Danh mục thuốc sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh được Quỹ BHYT thanh toán Bộ Y Tế ban hành thông tư 31/2011/TT-BYT hướng dẫn Ngày 11/07/2011
Trang 26CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng và thời gian nghiên cứu
- Đơn thuốc được kê cho bệnh nhân BHYT điều trị ngoại trú trong năm 2013 được lưu ở khoa Dược tại đơn vị Bệnh xá Trường sĩ quan lục quân 2
Địa điểm nghiên cứu
Bệnh xá Trường sĩ quan lục quân 2
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp mô tả hồi cứu
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp thu thập số liệu
Cỡ mẫu nghiên cứu:
Để đánh giá nội dung nghiên cứu, đề tài cần tiến hành lấy đơn thuốc
để thực hiện nghiên cứu
Số lượng đơn thuốc tính theo công thức lấy cỡ mẫu:
n= Z2 (1-α/2)
n: là cỡ mẫu cần cho nghiên cứu
P: là tỷ lệ ước tính của việc thống kê đơn thuốc dựa trên nghiên cứu thử; thời gian để thống kê trong một năm là khoảng 80% (do trừ đi số ngày nghỉ ngày lễ); nên P = 0,8
d: là khoảng cách sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ
lệ của quần thể ( theo ước tính của người nghiên cứu)
Hệ số tin cậy Z(1-α/2)phụ thuộc vào giới hạn tin cậy (1-α)
Chọn α= 0,05 tra bảng có Z(1-α/2)= 1,96 với d= 0,05 thay vào công thức tính được n = 246 như vậy số đơn thuốc thu thập điều tra là 246
Số đơn thuốc cần nghiên cứu trong năm 2013 là:
Trang 27ni= .
N : Là tổng số đơn thuốc trong năm 2013 N = 6036
n : Là tổng số đơn thuốc được tính theo công thức n =246
ni : Là số đơn thuốc cần lấy
Thay vào công thức thì số đơn thuốc cần lấy là: 231
Cách lấy mẫu
Sử dụng cách chọn mẫu hỗn hợp (kết hợp giữa cách chọn hệ thống
và ngẫu nhiên)
Tiến hành lấy mẫu cụ thể như sau:
Lấy ngẫu nhiên một đơn thuốc trong một ngày, lần lượt các ngày đã làm việc của tháng, cứ như vậy lấy số đơn thuốc của mỗi ngày đã làm việc trong năm 2013
Mô tả cách thu thập số liệu
Sau khi lấy đủ số đơn thuốc cần lấy cho mẫu nghiên cứu, chúng tôi
xử lý các thông tin trên đơn thuốc trên chương trình Microsoft Excel, cụ thể như sau:
- Thống kê một số thông tin cơ bản của đơn thuốc theo các cột thông tin được chuẩn bị trong một trang Excel đã được chuẩn bị trước
Stt Ngày
kê
Số ngày điều trị
Chẩn đoán
Số thuốc
1 đơn
HD sử dụng
TT bệnh nhân
+ Với các mục: Ngày kê đơn ; Số ngày điều trị ; Số thuốc trong đơn
sẽ ghi số liệu cụ thể như mẫu thu thập
Trang 28+ Chẩn đoán sao chép như chẩn đoán được ghi trong đơn trong mẫu + Với các mục: TT về bệnh nhân, Hướng dẫn sử dụng, Chữ ký và tên của bác sỹ nếu có đầy đủ thì đánh dấu «X », còn không đầy đủ thì bỏ trống
- Nhập tên từng tên thuốc được kê trong mỗi đơn phân theo nhóm (như trong mẫu của danh mục TTY) vào trang Excel khác đã được chuẩn bị trước
Stt Tên thuốc Đv
t
Đơn giá
SL Thành tiền
Tên generic
DM TTY
DM TCY
Đơn chất
Nhiều thành phần
+ Những đại lượng: Đơn giá; Số lượng ta ghi số liệu cụ thể
+ Các đại lượng còn lại: Tên generic; DMTTY; DMTCY nếu đúng ta đánh dấu «X », nếu không phải ta để trống
- Sau khi nhập đầy đủ số liệu, thông tin ta xử lý bằng các phương trình Excel để có được các chỉ số nghiên cứu
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1.Thực trạng kê đơn
Số thuốc trung bình trong một đơn kê(N tb )