BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN ĐỨC THU KHẢO SÁT SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH XƯƠNG KHỚP TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN... Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi quan tâm c
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC THU
KHẢO SÁT SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH XƯƠNG KHỚP TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC THU
KHẢO SÁT SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH XƯƠNG KHỚP TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN
ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ DƯỢC
Trang 3ADR Phản ứng có hại của thuốc
NSAID Thuốc kháng viêm không steroid
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 BỆNH XƯƠNG KHỚP THEO QUAN ĐIỂM CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN 4
1.1.1 Tìm hiểu về xương khớp 4
1.1.2 Bệnh xương khớp theo quan điểm của Y học cổ truyền 7
1.1.3 Quan niệm về bệnh sinh 7
1.1.4 Quan niệm về chẩn đoán 8
1.1.5 Quan niệm về điều trị 8
1.2 MỘT SỐ BỆNH XƯƠNG KHỚP THƯỜNG GẶP 10
1.2.1 Bệnh Thoái hóa đa khớp 10
1.2.2 Thoái hóa khớp cột sống lưng và cột sống cổ 10
1.2.3 Bệnh viêm đa khớp dạng thấp 11
1.2.4 Bệnh đau thần kinh tọa 11
1.2.5 Bệnh thoát vị đĩa đệm 12
1.3 MỘT SỐ BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH XƯƠNG KHỚP 12
1.3.1 Theo Y học cổ truyền 12
1.3.2 Theo Y học hiện đại 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 21
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 21
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 21
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2 Cỡ mẫu 22
2.2.3 Các biến số khảo sát 22
2.2.4 Quy trình nghiên cứu 24
2.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 24
2.2.6 Các chỉ tiêu theo dõi 26
2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH NHÂN TRONG MẪU NHIÊN CỨU 27
3.1.1 Thông tin bệnh nhân tham gia mẫu nghiên cứu 27
3.1.2 Đặc điểm bệnh nhân 27
3.1.3 Đặc điểm bệnh án 30
3.2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH XƯƠNG KHỚP TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN ĐỒNG NAI 35
3.2.1 Tình hình sử dụng thuốc thang YHCT và thuốc tân dược 35
3.2.2 Các bài thuốc thang YHCT được sử dụng để điều trị (n=93) 36
3.2.3 Các loại thuốc tân dược được sử dụng 37
3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH XƯƠNG KHỚP TẠI BỆNH VIỆN VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN ĐỒNG NAI 38
Trang 53.3.1 Tác dụng giảm đau 38
3.3.2 Tác dụng điều trị chung 39
3.3.3 Tác dụng phụ của thuốc 39
3.3.4 Các biện pháp khắc phục tác dụng phụ của thuốc 40
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 42
4.1 ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN TRONG CUỘC NGHIÊN CỨU 42
4.1.1 Đặc điểm về giới tính 42
4.1.2 Đặc điểm về độ tuổi 42
4.1.3 Đặc điểm về nghề nghiệp 43
4.2 ĐẶC ĐIỂM BỆNH ÁN 44
4.3 ĐẶC ĐIỂM VỀ THỜI GIAN MẮC BỆNH 46
4.4 CÁC BỆNH MẮC KÈM Ở BỆNH NHÂN XƯƠNG KHỚP 48
4.5 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC THANG YHCT ĐỂ ĐIỀU TRỊ 48
4.6 CÁC LOẠI THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG 50
4.7 HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH 52
4.8 TÁC DỤNG PHỤ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
KẾT LUẬN 54
KIẾN NGHỊ 55 PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm giới tính nhóm nghiên cứu 27
Bảng 3.2 Đặc điểm độ tuổi nhóm nghiên cứu 28
Bảng 3.3 Đặc điểm về nghề nghiệp nhóm nghiên cứu 29
Bảng 3.4 Các bệnh cơ xuơng khớp mắc phải 30
Bảng 3.5 Thời gian mắc bệnh của nhóm nghiên cứu 31
Bảng 3.6 Các bệnh lý mắc kèm của nhóm nghiên cứu 32
Bảng 3.7 Vị trí xương khớp tổn thương 33
Bảng 3.8 Triệu chứng bệnh xương khớp mắc phải 34
Bảng 3.9 Tình hình sử dụng thuốc thang YHCT và thuốc tân dược 35
Bảng 3.10 Số lượng bài thuốc được sử dụng để điều trị 36
Bảng 3.11 Thuốc tân dược được sử dụng để điều trị bệnh xương khớp 37
Bảng 3.12 So sánh mức độ giảm điểm đau trung bình VAS tại các thời điểm 38
Bảng 3.13 Tác dụng điều trị chung của bệnh nhân tham gia nghiên cứu 39 Bảng 3.14 Tác dụng phụ của thuốc 39
Bảng 3.15 Các biện pháp khắc phục tác dụng phụ của thuốc 40
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Thang điểm số học đánh giá mức độ đau VAS 25
Hình 2.2 Đo độ gấp duỗi của khớp gối 25
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ % giới tính bệnh nhân tham gia cuộc nghiên cứu 27 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ % nghề nghiệp bệnh nhân tham gia cuộc nghiên cứu 29
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ % bệnh xương khớp bệnh nhân đang mắc phải 30
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ % thời gian mắc bệnh 31
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ % bệnh mắc kèm với bệnh xương khớp đang điều trị 32
Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ % vị trí xương khớp bị tổn thương 33
Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ % triệu chứng bệnh xương khớp mắc phải 34
Hình 3.9 Biểu đồ tỷ lệ % tình hình sử dụng thuốc của bệnh nhân 35
Hình 3.10 Biểu đồ tỷ lệ % số lượng bài thuốc thang YHCT được sử dụng 36
Hình 3.11 Mức độ giảm điểm đau trung bình VAS tại các thời điểm 38
Hình 3.12 Biểu đồ tỷ lệ % tác dụng phụ của thuốc 39
Hình 3.13 Biểu đồ tỷ lệ % các biện pháp khắc phục tác dụng phụ của thuốc 40
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Những tiến bộ vượt bậc về khoa học - kỹ thuật trong nhiều thế kỷ, đặc biệt thế kỷ XX vừa qua đã mang lại cho con người nhiều khả năng và giải pháp mới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có khả năng và giải pháp cứu chữa bệnh tật của Y học, nhờ đó sức khỏe và tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao rõ rệt
Tuổi thọ ngày càng cao nên tỷ lệ người có tuổi (>= 65 tuổi) trong cộng đồng cũng ngày càng tăng Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới, người có tuổi đang chiếm 11 - 12% dân số, ước tính đến năm 2020 con số này sẽ lên đến 17%, thậm chí có thể lên tới 25% ở các nước Âu, Mỹ, tuổi thọ tăng cao, dân số thế giới ngày càng già đi và tuổi già đã trở thành thách thức của nhân loại[1], [50] Nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người đặc biệt là cho người có tuổi, một bộ phận rất quan trọng trong mỗi gia đình và cộng đồng đang là một mục tiêu quan trọng của công tác y tế trong giai đoạn chuyển tiếp sang Thiên niên kỷ mới
Mặc dù đã có rất nhiều tiến bộ Y học nhưng vẫn còn nhiều căn bệnh gây đau đớn, gây tàn phế và giảm chất lượng sống vẫn tiếp tục đeo bám con người Các bệnh lý Xương Khớp thường gặp nhất (chiếm tỷ lệ cao nhất
cả ở các nước phát triển và đang phát triển), gây đau đớn kéo dài cho hàng trăm triệu người, gây tàn phế cho nhiều người Nhóm bệnh lý này gắn liền với nghỉ việc, giảm năng suất lao động và hạn chế hoạt động hàng ngày Trong tương lai, tỷ lệ này còn đang tiếp tục tăng cao vì sự gia tăng tuổi thọ Ngoài tác động rất lớn về kinh tế, xã hội, các bệnh Xương Khớp còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý tình cảm của con người
Bệnh lý cột sống - cơ - xương - khớp là diện bệnh rất phổ biến ở nước ta do điều kiện khí hậu nóng ẩm, điều kiện kinh tế xã hội cũng như thói quen ăn uống các đồ béo ngọt Ở Việt Nam, nhóm bệnh lý cơ xương khớp - cột
Trang 9sống chiếm tỷ lệ khá cao trong nhân dân, ở mọi lứa tuổi, mọi địa phương Nhóm bệnh lý này tuy ít gây tử vong song nó để lại di chứng nặng nề cho người bệnh, làm giảm khả năng sinh hoạt và lao động của họ, ảnh hưởng tới đời sống thu nhập cá nhân họ và lợi ích chung của kinh tế xã hội[1], [2], [5], [48]
Theo Đông y, tất cả các bệnh đau nhức khớp xương, dù có sưng, nóng,
đỏ hay chỉ tê, mỏi, nặng ở khớp đều thuộc chứng Tý, nghĩa là tắc nghẽn, không thông Nhiều bài thuốc y học cổ truyền có tác dụng rất tốt với bệnh này
Đông y cho rằng, so sức đề kháng của cơ thể không đầy đủ nên các yếu tố gây bệnh cùng phối hợp xâm phạm đến kinh lạc ở cơ, khớp Hậu quả
là sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn, gây ra sưng đau, hoặc tê, mỏi, nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân
Các phương pháp điều trị bao gồm: tập luyện vận động, dưỡng sinh, xoa bóp, chườm nóng, ăn uống và châm cứu; dùng thuốc bên ngoài (như đắp bó thuốc ngoài khớp sưng đau) hoặc uống trong Trong điều trị, các thầy thuốc còn chú ý đến bệnh mới mắc hay đã lâu ngày, hoặc tái phát nhiều lần Nếu mới mắc thì dùng các phương pháp loại bỏ yếu tố gây bệnh
là chính Nếu bệnh lâu ngày hoặc tái phát nhiều lần thì phải vừa nâng đỡ tổng trạng, bổ khí huyết, vừa loại bỏ yếu tố gây bệnh
Nhìn chung, hiện nay có thể điều trị cách bệnh về xương khớp bằng nhiều phương pháp Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi quan tâm chính vào phương pháp điều trị bệnh bằng các bài thuốc Y học cổ truyền thông qua việc thực hiện đề tài “Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị bệnh xương khớp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Đồng Nai”
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Khảo sát đặc điểm các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
2 Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc trong điều trị bệnh xương khớp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Đồng Nai
3 Đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc bệnh xương khớp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Đồng Nai Từ đó có ý kiến đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả
và an toàn trong sử dụng thuốc điều trị bệnh xương khớp tại
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 BỆNH XƯƠNG KHỚP THEO QUAN ĐIỂM CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN
1.1.1 Tìm hiểu về xương khớp
Cơ thể con người là một cỗ máy hoàn hảo Chúng ta đều có một cấu tạo bộ xương như nhau, có thể sử dụng nó làm những việc hoàn toàn khác nhau với tốc độ, sức mạnh và kiểm soát hoàn hảo sự cân bằng tinh tế Thai nhi 5 tháng tuổi gần như có đầy đủ các xương, thực ra đó là bộ khung gồm các sụn dẻo và dai Những chiếc xương thực sự sẽ hình thành sau đó Đặc điểm tiến hóa kỳ diệu này cho phép bộ xương của hài nhi chịu được sự co nén và xương sọ có thể bị ép lại chút ít trong khi sinh Các mảnh xương sọ không khớp với nhau hoàn toàn cho tới khi đứa bé được 18 tháng tuổi Chúng ta ra đời với 350 chiếc xương, nhiều hơn 150 xương so với đười ươi trưởng thành Nhiều chiếc đã hòa nhập vào với nhau trong thời thơ ấu, đến tuổi 25 thì trung bình mỗi người chỉ có 206 chiếc xương[8]
Xương là một trong những tác phẩm của tạo hóa, chúng nhẹ song khoẻ đến mức khó tin Chúng có thể chịu đựng được trọng lực gấp 4 lần khả năng chịu lực của bê tông cốt thép Dưới lớp vỏ bọc là cơ, các xương định hình trong cơ thể, chúng đỡ cơ thể và tạo ra đòn bẩy cho các cơ Bộ xương của chúng ta khoảng 13kg, chiếm gần 1/5 khối lượng cơ thể, mỗi chiếc xương được tạo hình sao cho rất lý tưởng để thực hiện một chức năng đặc biệt Cấu trúc phức tạp của các chi khiến cho chúng vô cùng linh hoạt
và đa tác dụng Hai tay được nâng đỡ bởi một bộ khung xương ở 2 bên vai kết nối lỏng lẻo với phần còn lại của bộ xương Xương bả vai không gắn với xương lồng ngực ở phía dưới vì thế cho phép cánh tay có một tầm hoạt động rất lớn[18] Trong các xương ẩn chứa cả một thế giới kỳ diệu, 1/3
Trang 12mạng lưới mạch máu và các dây thần kinh vô cùng nhỏ bé Lõi của một số xương chứa đầy tuỷ có nhiệm vụ tạo ra tế bào máu Kiểu cấu tạo nhỏ li ti này có rất nhiều trong bộ xương của chúng ta Cấu trúc mở của nó vừa khoẻ vừa rất gọn nhẹ[22]
Xương không phải bất biến, chất khoáng tạo nên chất cứng - canxi và photpho vẫn không ngừng tan rã và bị cuốn đi theo dòng máu, đồng thời các chất khoáng mang đến các ống nhỏ li ti trong xương cũng liên tục tạo
ra xương mới Cứ sau 2 năm là bộ xương của chúng ta gần như được thay mới, các tinh thể xương mới xếp thành từng lớp để tạo nên sự rắn chắc tương tự như cấu tạo của sợi cacbon Tất cả các khớp nối trong cơ thể con người, khớp đầu gối là phức tạp nhất, nó vừa phải co duỗi được trong khi phải mang một tải trọng lớn Xương bánh chè giúp các cơ có thể căng ra quanh khớp xương Để giảm ma sát xuống tối đa, các xương được phân cách bởi một cái đệm mềm, nó chứa đầy một chất nhờn tự nhiên có vị ngọt gọi là dịch khớp[28] Các khớp và xương phối hợp với nhau để trợ giúp cho sự vận động của các cơ Xương cột sống phải đỡ cho phần khối lượng
từ thắt lưng trở lên, nó còn là chiếc áo giáp cho tuỷ sống, chứa các sợi dây tuỷ truyền thông như một “Siêu xa lộ thông tin” có nhiệm vụ trao đổi tín hiệu giữa não và các phần còn lại của cơ thể 31 cặp dây thần kinh toả ra từ tuỷ sống về phía gốc cột sống, tạo thành một mớ các dây thần kinh riêng biệt gọi là “đuôi ngựa” Đốt cuối cùng của xương sống, xương cụt không
có dây thần kinh nào, đó chính là dấu vết vô dụng của cái đuôi đã tiến hóa Những mấu lồi ra của dọc xương sống có tác dụng giữ chặt các cơ, khiến các đốt xương sống gắn liền với nhau 24 chiếc xương riêng rẽ, những đốt sống được nối với nhau bởi đĩa sụn có khả năng hấp thụ những chấn động Trọng lực của cơ thể đã ép các đĩa xuống khi chúng ta đứng vì thế chúng ta
sẽ giảm một phần nhỏ chiều cao vào ban ngày và lấy lại nó khi ngủ vào ban đêm Bộ khung xương của chúng ta được nâng đỡ bởi hai chân, đó là những chiếc xương khoẻ nhất của cơ thể con người có thể chịu sức nặng
Trang 13hơn một tấn Các xương chân chính là bản sao của xương tay, nhưng được tạo hình cho những chức năng khác nhau Những ngón chân ngắn tạo ra sự đàn hồi và các xương cong để dàn trải sức nặng của cơ thể được truyền đến qua xương gót chân[42]
Trong khi các loại máy khác ngày càng bị xuống cấp, bộ máy con người lại được cải thiện khi sử dụng, luyện tập thường xuyên Theo triết lý
y học phương Đông: “Thận chủ cốt” tức là tạng Thận phụ trách việc sinh
ra, nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ xương Khi chức năng của Thận bình thường thì xương được phát triển cân đối, cấu trúc ổn định, rắn chắc và phát triển theo quá trình phát triển của cơ thể Nếu như có sự "trục trặc” nào đó ảnh hưởng xấu đến xương, gây bệnh cho xương thì từ vùng Thượng thận sẽ tiết ra tố chất điều đến vùng bệnh để xử lý (vì vậy nhiều lúc chúng
ta đau nhức trong xương, trong khớp không cần uống thuốc mà tự khỏi) Thận có hàng trăm chức năng khác nhau, một khi chức năng chủ cốt suy giảm thì cấu trúc xương sẽ bất thường, khả năng phòng vệ và điều trị cho xương khớp cũng suy giảm Khi ấy tố chất mà vùng Thượng thận sinh ra để giải quyết “trục trặc” viêm nhiễm, đau nhức cho xương khớp sẽ không còn được như ý và xương bị suy thoái (thưa xương, loãng xương, thoái hóa dị dạng xương, viêm xương, viêm khớp và thoái hóa khớp) [22] Cột sống của chúng ta dễ dàng uốn cong là bởi cấu trúc của các đĩa đệm trong mỗi khớp nối Khi đốt sống bị thoái hóa, mòn vẹt ảnh hưởng sự định vị của đĩa đệm làm nó trật ra, chèn vào thần kinh, ép vào tuỷ sống gây đau và tê bại Những tế bào xương sống gần chỗ bị thoái hóa sẽ tăng sinh phát triển lấp vào tạo thành các mô sùi lên như cái gai xương, nó chèn vào thần kinh làm đau nhức[25]
Y học cổ truyền quan tâm nghiên cứu điều trị tận gốc Khi chức năng chủ cốt của Thận suy giảm và xương khớp bị bệnh thì ngoài việc điều trị trực tiếp xương khớp còn phục hồi chức năng của Thận cường kiện cơ thể
Trang 14nghiệm với những triết lý luận trị thông thái Y học cổ truyền đã thành công đáng kể trong việc bảo vệ phục hồi, cường kiện chức năng Thận, trong đó có chức năng chủ cốt để điều trị hiệu quả các chứng bệnh về xương khớp thoái hoá xương khớp (tuy nhiên đã một thời y học hiện đại phát triển lấn lướt làm nhiều người thiếu quan tâm và lãng quên)
1.1.2 Bệnh xương khớp theo quan điểm của Y học cổ truyền
Theo Y học cổ truyền, tất cả các bệnh đau nhức khớp xương, dù có sưng, nóng, đỏ hay chỉ tê, mỏi, nặng ở khớp đều thuộc chứng Tý, nghĩa là tắc nghẽn, không thông[26], [28], [39], [58], [59]
Y học cổ truyền cho rằng, so sức đề kháng của cơ thể không đầy đủ nên các yếu tố gây bệnh cùng phối hợp xâm phạm đến kinh lạc ở cơ, khớp Hậu quả là sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn, gây ra sưng đau, hoặc
tê, mỏi, nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân
Một số người chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày hoặc do cao tuổi, các chức năng hoạt động cơ thể suy yếu nên khí huyết giảm sút, không nuôi dưỡng được cân mạch, gây thoái hóa khớp xương và đau Vì vậy, khi chữa các bệnh về khớp, y học cổ truyền đều hướng tới lưu thông khí huyết ở gân, xương, đưa các yếu tố gây bệnh (phong hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và phòng chống tái phát
1.1.3 Quan niệm về bệnh sinh[5], [9], [10], [11], [17], [20], [26]
Do sức đề kháng và khả năng tự bảo vệ của cơ thể không đầy đủ, các yếu tố gây bệnh là Phong - Hàn - Thấp cùng phối hợp tác động xâm phạm đến kinh lạc - cơ - khớp, làm cho sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn không thông gây ra sưng đau, hoặc không sưng mà chỉ đau tê mỏi nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân
Do chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày, hay do người già các chức năng hoạt động cơ thể bị suy yếu, làm cho khí huyết cũng giảm sút không nuôi dưỡng được cân mạch gây nên tình trạng thoái hóa khớp xương và gây
Trang 15nên đau Vì vậy khi chữa các bệnh về khớp, các phương pháp chữa theo Y học cổ truyền đều nhằm lưu thông khí huyết ở cân ở xương, đưa các yếu tố gây bệnh (phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và đề phòng chống lại các hiện tượng báo động sự tái phát của bệnh khớp xương
1.1.4 Quan niệm về chẩn đoán[6], [15], [17], [28], [39]
Y học cổ truyền chẩn đoán bệnh dựa trên quan sát, hỏi và thăm khám người bệnh, riêng đối với bệnh lý khớp xương, dựa trên nguyên nhân gây bệnh tùy thuộc vào biểu hiện chứng trội mà chẩn đoán bệnh như: biểu hiện đau không cố định, di chuyển từ nơi này sang nơi khác, kèm theo sợ gió, nổi mẩn ngứa… thì được chẩn đoán là phong tý và như thế sẽ có nhiệt tý, thấp tý, hàn tý…
Ngoài ra, việc chẩn đoán còn dựa trên các chức năng tạng phủ của cơ thể, tùy thuộc vào triệu chứng sẽ có chẩn đoán tạng bệnh kèm theo như can thận hư, tâm tỳ hư…
Trên lâm sàng, thường bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng phối hợp, ít khi tách bạch từng biểu hiện riêng biệt, nên thực tế lâm sàng thường
có các chẩn đoán bệnh lý như: phong hàn thấp tý, phong thấp nhiệt tý, chứng tý can thận âm hư…
1.1.5 Quan niệm về điều trị
Do quan niệm sưng - đau khớp xương là do tắc nghẽn sự vận hành của khí huyết, và do chức năng tạng phủ suy yếu ảnh hưởng đến việc tạo ra khí huyết làm cho khí huyết giảm sút không nuôi dưỡng cân mạch đầy đủ gây ra đau nhức khớp xương nên việc điều trị nhằm vào mục tiêu giải tỏa
sự tác nghẽn, đuổi nguyên nhân gây bệnh ra ngoài và bổ dưỡng khí huyết - mạnh gân xương[5], [58], [59]
Các phương pháp điều trị bao gồm từ không dùng thuốc như: tập luyện vận động, dưỡng sinh, xoa bóp, chườm nóng, ăn uống và châm cứu,
Trang 16sưng đau đến uống trong, sử dụng các loại thực vật, động vật và khoáng chất vào điều trị
Trong việc điều trị, các thầy thuốc YHCT còn chú ý đến bệnh mới mắc hay bệnh đã lâu ngày, hoặc tái phát nhiều lần Nếu mới mắc thì dùng các phương pháp để loại bỏ yếu tố gây bệnh (phong, hàn, thấp) là chính, nếu bệnh lâu ngày hay tái phát nhiều lần thì vừa phù chính (nâng đỡ tống trạng, bổ khí huyết), vừa loại bỏ yếu tố gây bệnh để tránh tái phát và đề phòng những biến chứng và những di chứng về sau[57]
Triệu chứng chung là đau mỏi các khớp, mưa lạnh, ẩm thấp đau tăng, thường hay tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết Bệnh âm ỉ kéo dài, thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, ăn uống kém… Riêng cho từng thể bệnh lâm sàng: nếu thiên về phong chứng sẽ có thêm triệu chứng như: đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp thường là các khớp phần trên cơ thể như cổ, vai, khuỷu tay, cổ tay, bàn ngón tay, đau đầu, sợ gió, rêu lưỡi trắng Nếu thiên về thấp chứng thêm các triệu chứng: đau cố định tại các khớp bệnh, không di chuyển, kèm theo tê nặng mỏi là chủ yếu Nếu thiên về hàn chứng thì đau nhiều về đêm, trời lạnh đau tăng, chườm nóng giảm đau, đau kiểu co thắt và buốt[48]
Nguyên tắc chung:
Ăn uống đầy đủ chất, không kiêng khem quá đáng nếu không có yêu cầu của thầy thuốc, chú ý ăn thức ăn giàu đạm, nhiều khoáng chất và vitamin, uống nước đủ mỗi ngày trung bình từ 1,2 lít trở lên, không ăn uống nhiều chất kích thích hoặc khó tiêu
Tập luyện nhẹ: như đi bộ, tập thái cực quyền, tập dưỡng sinh
Đi gậy nếu là đau khớp gối hoặc khớp háng
Chườm muối nóng vào các khớp đau như cột sống, nhượng chân, vai, hoặc dùng đèn hồng ngoại chiếu vào khớp đau, chú ý liều lượng về thời gian chiếu đèn, tránh biến chứng phỏng da cho bệnh nhân
Trang 17 Xoa bóp để tăng cường sự vận hành của khí - huyết
Châm cứu giúp giảm đau, điều chỉnh sự tắc nghẽn khí huyết và bổ dưỡng
Dùng thuốc theo biện chứng luận trị
Biện pháp không dùng thuốc:
Cho khớp nghỉ ngơi
Tập luyện phù hợp, tùy theo bệnh lý và giai đoạn bệnh
Vật lý trị liệu: xoa bóp, các bài tập thụ động và chủ động, xung điện,…
1.2.1 Bệnh Thoái hóa đa khớp[2, 343-355]
Thoái hóa khớp (THK) là những bệnh của khớp và cột sống mạn tính, gây đau và biến dạng khớp Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm ở cột sống, gắn liền với những thay đổi sinh học - cơ học giải phẫu - và bệnh lý ở phần khoang khớp gồm xương dưới sụn và màng hoạt dịch và khoang giữa các thân đốt sống
Thoái hóa khớp là bệnh lý chủ yếu của sụn khớp và đĩa đệm cột sống, nhưng ảnh hưởng đến toàn bộ thành phần cấu tạo khớp như xương dưới sụn, bao hoạt dịch, bao khớp … bệnh thường xảy ra ở các khớp chịu lực nhiều như: cột sống thắt lưng - cổ, gối, gót…
1.2.2 Thoái hóa khớp cột sống lưng và cột sống cổ[2,327-342]
Trang 18Thoái hóa cột sống là bệnh hình thành do sự mất cân bằng giữa quá trình tạo xương và hủy xương[4] Bệnh tiến triển một cách âm thầm, lặng
lẽ, báo hiệu bởi các triệu chứng đau buốt, nhức mỏi bả vai, cổ, sống lưng, thắt lưng; Thoái hóa cột sống là nguyên nhân dẫn đến một số bệnh như thoát vị đĩa đệm, gai cột sống, đau dây thần kinh tọa, bán thân bất toại, liệt
Bệnh thoái hóa cột sống là một bệnh mạn tính thường gặp nhất ở người trung niên và người có tuổi, xảy ra ở mọi thành phần trong xã hội Phụ nữ gặp nhiều hơn nam giới Vị trí thường bị thoái hóa Thoái hóa cột sống thắt lưng chiếm 31,12%, bệnh thoái hóa cột sống cổ chiếm 13,96% trong các bệnh thoái hóa khớp
Có sự liên quan chặt chẽ giữa bệnh thoái hóa cột sống và tuổi tác Bệnh thoái hóa cột sống là bệnh lý do hậu quả của quá trình tích tuổi và sự chịu lực tác động thường xuyên lên khớp cột sống
Bệnh thoái hóa cột sống nếu được chẩn đoán sớm và điều trị sớm có thể làm chậm phát triển của bệnh, giảm triệu chứng đau đớn
1.2.3 Bệnh viêm đa khớp dạng thấp[1,117-137]
Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh khá thường gặp, đặc biệt là ở giới nữ Đây là một bệnh đã xác định được nguyên nhân, đó là do bệnh nhân tự sản xuất ra một chất gọi là kháng thể có tác dụng chống lại các chất tạo ra đầu khớp của chính bản thân mình, vì thế bệnh được xếp vào loại bệnh tự miễn dịch
1.2.4 Bệnh đau thần kinh tọa [1,113-176]
Đau dây thần kinh tọa được định nghĩa là một hội chứng thần kinh có đặc điểm chủ yếu là đau dọc theo lộ trình của dây thần kinh tọa và các nhánh của nó, nguyên nhân thường do bệnh lý đĩa đệm ở phần thấp của cột sống
Trang 19Đau dây thần kinh tọa có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do những tổn thương ở cột sống thắt lưng Năm 1928, một nguyên nhân mới
đã được phát hiện đã làm thay đổi hẳn khái niệm về nguyên nhân gây bệnh,
đó là thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng
1.2.5 Bệnh thoát vị đĩa đệm [1,87-98]
Những đốt sống tạo thành cột sống ở sau lưng được chêm bởi những đĩa nhỏ gọi là đĩa đệm Những đĩa này tròn và dẹt có vỏ ngoài dai để bao bọc một lớp nhày, trong, được gọi là nhân Bình thường những đĩa này chịu một áp lực do cột sống đè lên
Khi những đĩa này khoẻ mạnh, chúng có chức năng giảm sốc cho cột sống và làm cho cột sống mềm dẽo dễ uốn, giúp cho cột sống có thể cúi, ngữa, vặn mình qua lại được dễ dàng
Khi đĩa đệm bị chấn thương, nó sẽ mòn, rách, chúng có thể phồng lên, hoặc vỡ ra Đó gọi là thoát vị đĩa đệm
1.3 MỘT SỐ BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH XƯƠNG KHỚP
1.3.1 Theo Y học cổ truyền
1.3.1.1 Bài thuốc “Độc hoạt tang ký sinh” [45]
Độc hoạt tang ký sinh là một cổ phương thông dụng để chữa trị các chứng phong thấp, thấp khớp gây đau nhức, chân tay co duỗi khó khăn Phương thang bao gồm Sâm, Linh, Quế, Thảo để kiện Tỳ, ôn dương hoá thấp, gia tăng trương lực cơ và tăng cường chính khí; Khung, Quy, Thục, Thược, Đỗ trọng, Ngưu tất để dưỡng Can, Thận, khỏe mạnh gân cốt; thêm các vị thuốc có tác dụng khu phong, thông kinh hoạt lạc như Độc hoạt, Tang ký sinh, Tế tân, Tần giao, Phòng phong Bài thuốc này thiên về
sơ phong, tán tà, chữa phong thấp, thấp khớp ở vùng hạ tiêu như eo lưng đầu gối, khớp chân Nếu đau nhức ở vùng cánh tay, bàn tay có thể gia thêm
Trang 20Khương hoạt 8gr, Quế chi 4gr Sau đây là nguyên thang của bài Độc hoạt
ký sinh thang
Đổ vào 3 chén nước sắc còn hơn nửa chén Nước thứ hai đổ vào thêm
2 chén, sắc còn hơn nửa chén Trộn đều hai lần thuốc sắc được Chia làm
hai hoặc ba lần uống trong một ngày Uống trong lúc thuốc còn ấm Mỗi
- Cách dùng: sắc nước uống
Có thể hòa với mật làm thành hoàn, mỗi lần uống 8 - 12 g
- Tác dụng: Kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết
* Giải thích bài thuốc:
Trang 21Bài này gồm 2 bài "Tứ quân tử thang" và "Đương qui bổ huyết thang"
gia Long nhãn nhục, Toan táo nhân, Viễn chí, Mộc hương, Đại táo là một
bài thuốc thường dùng để trị chứng tâm tỳ hư tổn
Trong bài:
- Sâm, Linh, Truật, Thảo (Tứ quân): bổ khí, kiện tỳ để sinh huyết là
chủ dược
- Đương qui, Hoàng kỳ: bổ khí sinh huyết
- Long nhãn, Táo nhân, Viễn chí: dưỡng tâm an thần
- Mộc hương: lý khí ôn tỳ
- Sinh khương, Đại táo: điều hòa vinh vệ
- Các vị thuốc hợp lại có tác dụng ích khí kiện tỳ bổ huyết dưỡng tâm
1.3.1.3 Bài thuốc “Hữu quy hoàn gia giảm” [42]
Trang 221.3.2 Theo Y học hiện đại
1.3.2.1 Meloxicam 7,5 mg
Meloxicam là thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) thuộc họ oxicam, có đặc tính kháng viêm, giảm đau và hạ sốt Meloxicam có tính kháng viêm mạnh cho tất cả các loại viêm Cơ chế chung của những tác dụng trên là do Meloxicam có khả năng ức chế sinh tổng hợp prostaglandine, chất trung gian gây viêm Ở cơ thể sống (invivo), Meloxicam cơ chế sinh tổng hợp prostaglandine tại vị trí viêm mạnh hơn ở niêm mạc dạ dày hoặc ở thận
Đặc tính an toàn cải tiến này do thuốc ức chế chọn lọc đối với COX-2
so với COX-1 So sánh giữa liều gây loét và liều kháng viêm hữu hiệu trong thí nghiệm gây viêm ở chuột cho thấy thuốc có độ an toàn và hiệu quả điều trị cao hơn các NSAID thông thường khác
Tác dụng
Meloxicam có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống viêm và chóng kết tập tiểu cầu Tuy nhiên tác dụng hạ sốt kém nên Meloxicam chủ yếu dùng giảm đau và chống viêm
Meloxicam tan ít trong mỡ nên thấm tốt vào hoạt dịch và các tổ chức viêm Thuốc xâm nhập kém vào mô thần kinh nên ít tác dụng không mong muốn trên thần kinh
Trang 231.3.2.2 Diclophenac
Diclofenac, dẫn chất của acid phenylacetic là thuốc chống viêm không steroid Thuốc có tác dụng chống viêm, giảm đau và giảm sốt mạnh Diclofenac là một chất ức chế mạnh hoạt tính của cyclooxygenase, do đó làm giảm đáng kể sự tạo thành prostaglandin, prostacyclin và thromboxan
là những chất trung gian của quá trình viêm Diclofenac cũng điều hòa con đường lipoxygenase và sự kết tụ tiểu cầu
Giống như các thuốc chống viêm không steroid khác, diclofenac gây hại đường tiêu hóa do giảm tổng hợp prostaglandin dẫn đến ức chế tạo mucin (chất có tác dụng bảo vệ đường tiêu hóa) Prostaglandin có vai trò duy trì tưới máu thận Các thuốc chống viêm không steroid ức chế tổng hợp prostaglandin nên có thể gây viêm thận kẽ, viêm cầu thận, hoại tử nhú và hội chứng hư đặc biệt ở những người bị bệnh thận hoặc suy tim mạn tính Với những người bệnh này, các thuốc chống viêm không steroid có thể làm tăng suy thận cấp và suy tim cấp
Chỉ định
- Điều trị dài ngày viêm khớp mạn, thoái hóa khớp
- Thống kinh nguyên phát
- Đau cấp (viêm sau chấn thương, sưng nề) và đau mạn
- Viêm đa khớp dạng thấp thiếu niên
1.3.2.3 Glucosamin
Glucosamin là một amino - monosaccharide, nguyên liệu để tổng hợp proteoglycan, khi vào trong cơ thể nó kích thích tế bào ở sụn khớp tăng tổng hợp và trùng hợp nên cấu trúc proteoglycan bình thường Kết quả của quá trình trùng hợp là muco - polysaccharide, thành phần cơ bản cấu tạo nên đầu sụn khớp, Glucosamine sulfate đồng thời ức chế các enzym phá hủy các tế bào sinh sụn Glucosamine còn kích thích sinh sản mô liên kết của xương, giảm quá trình mất calci của xương
Trang 24Do Glucosamin làm tăng sản xuất chất nhầy dịch khớp nên tăng độ nhớt, tăng khả năng bôi trơn của dịch khớp Vì thế Glucosamine không những làm giảm triệu chứng của thoái khớp (đau, khó vận động) mà còn ngăn chặn quá trình thoái hóa khớp, ngăn chặn bệnh tiến triển
Đó là tác dụng vào cơ chế bệnh sinh của thoái khớp, điều trị các bệnh thoái hóa xương khớp cả cấp và mãn tính, có đau hay không đau, cải thiện chức năng khớp và ngăn chặn bệnh tiến triển, phục hồi cấu trúc sụn khớp
Ở một số nước tiên tiến như Mỹ, Glucosamin không được xem là thuốc mà chỉ là chế phẩm "hỗ trợ dinh dưỡng" (food supplement) vì được sản xuất và phân phối không thông qua sự quản lý của FDA (tương đương với Cục Quản lý Dược Việt Nam), có thể mua tại các siêu thị, không thông qua đơn thuốc của bác sĩ Hiện Glucosamin có được dùng trong bệnh lý viêm xương khớp nhưng chỉ với tác dụng hỗ trợ Ở nước ta, một số thuốc
có thành phần Glucosamin đã được giới thiệu (có tên là Bosamin, S) nhưng chưa được bán rộng rãi
Viartril-Chỉ định
Thuốc có tác dụng tăng tổng hợp các tinh chất sụn proglycan và glucosaminoglycan làm tăng tính đàn hồi của tinh chất sụn, cải thiện cấu trúc sụn khớp, làm chậm quá trình thoái hóa và thay đổi cấu trúc của sụn khớp, cần được duy trì điều trị dài ngày (đơn vị tính là năm)
Liều lượng: Glucosamine Sulfate (tinh thể) 500 mg x 2 - 3 lần/ ngày
1.3.2.3 Corticoid
Corticoid là những nội tiết tố (hormone) do vỏ nang thượng thận (cortico-surrénale) tiết ra, có cấu trúc hóa học steroid nên được gọi tắt là nhóm thuốc corticoid Ðến nay người ta đã tổng hợp được rất nhiều nhóm thuốc steroid và sử dụng rộng rãi, đồng thời cũng kéo theo tình trạng lạm dụng thuốc rất phổ biến
Trang 25Thuốc có nhiều công dụng điều trị:
- Chống viêm ở giai đoạn sớm, giai đoạn muộn bất kể nguyên nhân gì như cơ học, hóa học, nhiễm khuẩn, dị ứng Chỉ riêng với đặc tính này, thuốc cũng đã trị được nhiều loại bệnh như viêm khớp do thấp khớp, bệnh thoái hóa khớp, viêm các khớp ngoại vi, những tình trạng bệnh lý do chấn thương khớp, trị sẹo lồi, sẹo phì đại (khoa da), trị viêm phần trước mắt (khoa mắt), trị viêm mũi (khoa tai mũi họng)
- Chống dị ứng: Dùng điều trị trong các bệnh dị ứng da, dị ứng đường
hô hấp, hen suyễn nặng
- Ngoài ra còn nhiều chỉ định chuyên môn khác do tác dụng đa dạng của thuốc như bệnh da pemphigut, vảy nến, bệnh giảm tiểu cầu thứ phát vô căn của người lớn, bệnh thiếu máu tán huyết do tự miễn
- Thuốc corticoid dạng viên uống thường ít khi dùng để điều trị thoái hoá khớp
- Thường dùng các thuốc dạng tiêm phóng thích chậm (depo- corticosteroid) khi có đau khớp và có dấu hiệu viêm màng hoạt dịch thứ phát
- Liều lượng corticoid tuỳ thuộc từng khớp, cách tiêm, số lần tiêm Khoảng cách giữa các lần tiêm trong vòng 1 tuần
Tác hại của việc lạm dụng thuốc
- Việc lạm dụng corticoid sẽ gây rất nhiều tác hại cho người dùng Nhiều loại kem trị mụn chứa corticoid nếu dùng dài ngày sẽ làm mụn nổi nhiều hơn khi ngưng thuốc hoặc gây nám da mặt
- Dùng thuốc nhỏ mắt chứa corticoid (tưởng nhầm là thuốc rửa trong mắt, giúp mắt sáng long lanh) sẽ dẫn đến đục thủy tinh thể, thấy cảnh vật
mờ mờ ảo ảo
- Tăng cân do giữ natri, đào thải kali gây béo bệu, mặt tròn như mặt trăng
Trang 26- Chậm liền sẹo các vết thương và dễ gây nhiễm khuẩn thứ phát
- Làm thoái biến protid nên dễ gây teo cơ
- Làm xương xốp do giảm hấp thu calci nên khi té ngã dễ bị gãy xương
- Làm loét dạ dày tá tràng, dễ gây xuất huyết tiêu hóa
- Ức chế miễn dịch, giảm sức đề kháng của cơ thể
- Làm tăng tiết mồ hôi, co giật, tăng áp lực nội sọ, rối loạn kinh nguyệt, ảo giác, vui vẻ thái quá, tăng nhãn áp
1.3.2.5 Mephenesin 250 mg
Mephenesin là một thuốc làm giãn cơ tác động trung ương có thời gian tác động ngắn Thuốc được dùng điều trị các triệu chứng đau do co thắt cơ
Sau khi uống, mephenesin được hấp thu nhanh chóng Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 1 giờ Thuốc chuyển hóa thành dạng không hoạt tính gồm acid - (o-tolyoxy) lactic và acid - (2-methyl-4- hydroxyphenoxy) lactic Mephenesin được đào thải chủ yếu qua nước tiểu Dưới 2% được thải trừ trong nước tiểu dưới dạng không đổi Thời gian bán thải khoảng ¾ giờ
Chỉ định: Điều trị triệu chứng đau do co thắt cơ trong các rối loạn tư
thế cột sống như đau cổ, vẹo cổ, đau lưng, đau thắt lưng, và các tình trạng
co thắt khác
Điều trị hỗ trợ trong liệu pháp phục hồi chức năng và vật lý trị liệu
Liều lượng: Người lớn và trẻ em trên 15 tuổi: uống 6 - 12 viên mỗi
ngày, chia làm nhiều lần
Trang 271.3.2.6 Diacerein 50 mg
Điều trị đường uống dài hạn đặc hiệu đối với các bệnh thoái hóa khớp Cần cân nhắc lợi ích so với nguy cơ của việc dùng Diacerein cho những bệnh nhân có rối loạn đường ruột trước đó, đặc biệt là đại tràng dễ bị kích thích
Liều lượng thường dùng là 1 viên nang uống hai lần mỗi ngày vào hai bữa ăn chính trong một thời gian dài Tuy nhiên, vì Diacerein có thể làm tăng nhanh thời gian thức ăn qua ruột trong 2 tuần điều trị đầu tiên, nên bắt đầu điều trị với 1 viên nang mỗi ngày uống vào bữa ăn tối trong 2 tuần Khi bệnh nhân đã quen với thuốc này, nên tăng liều lên 2 viên nang mỗi ngày Bác sĩ nên quyết định thời gian điều trị để đem lại hiệu quả
Diacerein có khởi phát hiệu quả chậm và tác dụng có lợi quan sát được sau 2 - 4 tuần điều trị, cần khuyến khích bệnh nhân không nên ngưng điều trị trước khi hiệu quả của thuốc được thấy rõ ràng
Do tác động khởi đầu chậm (sau 2 - 4 tuần điều trị), và khả năng dung nạp rất tốt qua đường tiêu hóa, Diacerein không ức chế tổng hợp prostaglandin, thuốc không gây hại cho dạ dày, vì vậy có thể được kê đơn
an toàn với một thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) trong 2 - 4 tuần điều trị đầu tiên
Trang 28
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Là bệnh nhân bị bệnh xương khớp được theo dõi và điều trị nội trú tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Đồng Nai từ ngày 01/4/2012 đến ngày 31/7/2012 với các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ sau:
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Được chẩn đoán là mắc bệnh xương khớp và điều trị nội trú Bệnh viện YDCT Đồng Nai
- Được chỉ định điều trị bằng thuốc YHCT đơn thuần hoặc phối hợp với thuốc YHHĐ
- Bệnh nhân được theo dõi phải có thời gian phát bệnh hoặc điều trị ít nhất là 20 ngày
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Thời gian điều trị không liên tục
- Bệnh nhân có tiền sử dị ứng một trong các thành phần của thuốc
- Bệnh nhân đang xuất huyết tiêu hóa, hoặc có các bệnh lý mạn tính kèm theo như: suy gan, suy thận, viêm gan, bệnh lý ác tính,
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, hồi cứu
Trang 292.2.2 Cỡ mẫu
Dự kiến cỡ mẫu nghiên cứu khoảng ≥ 100 bệnh án Trong thời gian từ ngày 01/04/2012 đến 30/7/2012 thu được 105 trường hợp bệnh nhân thỏa mãn đầy đủ yêu cầu nghiên cứu đặt ra
cột sống cổ
- Viêm đa khớp
- Đau thần kinh tọa
- Thoát vị đĩa đệm Thời gian mắc bệnh Định tính - < 12 tháng
- 12 - 36 tháng
- > 36 tháng Bệnh mắc kèm Định tính - Bệnh tim mạch (Suy tim)
- Tăng huyết áp
- Đái tháo đường
- Rối loạn tuần hoàn não
- Rối loạn lipid
- Hen phế quản
- Viêm loét dạ dày - tá tràng
Trang 30Tên biến Loại biến Giá trị biến số
Tình hình sử dụng thuốc Định tính - Chỉ sử dụng thuốc thang
- Chỉ sử dụng thuốc tân dược
- Sử dụng phối hợp các loại thuốc
Các loại thuốc YHCT sử
dụng
Định tính - Độc hoạt tang ký sinh
- Hữu quy hoàn gia giảm
dụng phụ
Định tính - Ngưng sử dụng thuốc
- Gia giảm các vị thuốc
- Tăng cường dinh dưỡng, nghỉ ngơi, luyện tập
- Kiểm soát đau Thang điểm VAS ngày 0 Định lượng
Thang điểm VAS ngày 7 Định lượng
Thang điểm VAS ngày 14 Định lượng
Thang điểm VAS ngày 21 Định lượng
Trang 31- Các thông tin được thu thập theo mẫu bệnh án nghiên cứu
2.2.4.2 Theo dõi và đánh giá
- Bệnh án nghiên cứu được xây dựng theo mẫu thống nhất Tất cả bệnh nhân đều được làm bệnh án ghi đầy đủ tiền sử, bệnh sử, các chỉ số đánh giá, kết quả thăm khám và các xét nghiệm cần cho chẩn đoán bệnh
- Các bệnh nhân được điều trị trong điều kiện nội trú và được theo dõi đầy đủ, bệnh nhân được thăm khám toàn diện: hỏi bệnh, khám thực thể, chụp X - quang, các xét nghiệm
2.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi
2.2.5.1 Đánh giá mức độ đau theo VAS (Visual Analog Scale)
Mức độ đau của bệnh nhân được đánh giá theo thang điểm VAS từ 1 đến 10 bằng thước đo độ của hãng Astra- Zeneca Thang điểm số học đánh giá mức độ đau VAS là một thước có hai mặt:
Trang 32Hình 2.1 Thang điểm số học đánh giá mức độ đau VAS
Một mặt: chia thành 11 vạch đều nhau từ 0 đến 10 điểm
Một mặt: có 5 hình tượng, có thể quy ước và mô tả ra các mức để bệnh nhân tự lượng giá cho đồng nhất độ đau
Mức độ đau theo VAS được chia thành các mức như sau:
Không đau : 0 điểm
Đau ít : 1 - 3 điểm
Đau vừa : 4 - 6 điểm
Đau nhiều : 7 - 10 điểm
2.2.5.2 Tầm vận động (TVĐ) của khớp gối: Được đo dựa trên phương
pháp đo và ghi tầm hoạt động của khớp do Viện hàn lâm các nhà phẫu thuật chỉnh hình Mỹ được Hội nghị Vancouver ở Canada thông qua năm
1964 và hiện được quốc tế thừa nhận là phương pháp tiêu chuẩn - phương pháp zero - nghĩa là ở vị trí giải phẫu, mọi khớp được quy định là 0o
- Dụng cụ đo là thước đo chuyên dụng, có vạch đo góc chia độ từ (0o
-180o) Biên độ vận động gấp bình thường của khớp gối là: 135o - 140o
Hình 2.2 Đo độ gấp duỗi của khớp gối
Trang 332.2.5.3 Đánh giá mức độ giảm sưng: Bằng cách so sánh giá trị trung bình
của chu vi khớp gối theo các thời điểm
Dùng thước dây đo chu vi khớp gối ở vị trí ngang qua giữa xương
bánh chè ở phía trước và nếp gấp khoeo ở phía sau, có so sánh 2 bên
2.2.6 Các chỉ tiêu theo dõi
Mức độ đau theo thang điểm VAS sẽ được tiếp tục đánh giá lại tại thời
điểm trước và sau khi ngừng điều trị 30 ngày, bằng cách hẹn bệnh nhân đến
Thống kê mô tả: các biến số định tính sẽ được mô tả theo tần số và Tỷ
lệ phần trăm Các biến số định lượng được mô tả theo giá trị trung bình và