Bước đầu thiết lập mối quan hệ giữa Bác sĩ, Dược sĩ, Y tá nhằm sử dụng thuốc an toàn hợp lý có hiệu quả cho người bệnh.[5] Tuy nhiên ngoài những mặt tích cực trong hoạt động cung ứng thu
Trang 2Lời cảm ơn!
Tôi vô cùng biết ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thái Hằng đã hướng dẫn tôi thực hiên đề tài này
Đồng cám ơn: - Ban Giám hiệu trường Đại học Dược Hà Nội
- Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược trường Đại học Dược Hà Nội
- Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Hà-Hải Dương
- Khoa Dược Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Hà-Hải Dương
Bên cạnh đó còn có sự ủng hộ và động viên từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Tất cả đã cho tôi ý trí nghị lực và lòng quyết tâm để hoàn thành
đề tài này
Một lần nữa tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả mọi người!
Hải Dương, ngày 19 tháng 03 năm 2014
Vũ Trọng Toàn
Trang 3DMTTY Danh mục thuốc thiết yếu
DMTBV Danh mục thuốc bệnh viện
Trang 4Mục lục
Nội dung Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Đặt vấn đề ……… 01
Chương I : Tổng Quan……… …03
I.Hoạt động cung ứng Thuốc……… 03
1.Tình hình cung ứng thuốc trên Thế giới……… 03
2.Tình hình cung ứng thuốc ở Việt Nam……….04
3.Cung ứng thuốc trong Bệnh viện……… 08
4 Thực trạng cung ứng thuốc của các bệnh viện Việt Nam hiện nay…….23
5 Hội đồng thuốc và điều trị……… 24
6 Vài nét về bệnh viện đa khoa Thanh Hà……….27
7 Vị trí, chức năng, nhân lực khoa dược bệnh viện đa khoa Thanh Hà….27 8 Một số nghiên cứu liên quan……… 31
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 33
I.Đối tượng, nội dung và thời gian nghiên cứu……… …….33
1 Đối tượng nghiên cứu……….33
2 Địa điểm nghiên cứu……… 33
3 Thời gian nghiên cứu……… 33
II Nội dung nghiên cứu……… 33
Trang 51 Phương pháp hồi cứu……… 34
2 Phương pháp phân tích nhân tố……… 31
3 Phương pháp quản trị……… 34
4 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu……… 34
Chương III Kết quả nghiên cứu……….……….36
I.Khảo sát hoạt động lựa chọn thuốc, hóa chất tại bệnh viện đa khoa Thanh Hà……… ….36
II Hoạt động mua sắm thuốc……… 37
III Nhập kho và thanh toán……… ……… 40
IV Tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện……… 42
V Hoạt động bảo quản tồn trữ và cấp phát thuốc……… 43
VI Hoạt động của hội đồng thuốc, điều trị và thông tin thuốc………… 52
1 Hoạt độngcủa hội đồng thuốc và điều trị………52
2 Tình hình sử dụng thuốc hợp lý an toàn ……… 52
VII Hoạt động của đơn vị thông tin thuốc……….52
1 Bệnh viện đã có đơn vị thông tin thuốc……… 52
2 Tổ chức thông tin tư vấn cho bác sỹ lựa chọn thuốc……… 53
3 Tổ chức tập huấn kiến thức sử dụng thuốc……….53
4 Những khó khăn vướng mắc trong việc triển khai đơn vị TT thuốc… 53
5 Thực hiện quy chế chuyên môn thực hành nghề nghiệp ……… 53
6 Vườn thuốc mẫu……….54
VIII Nhận xét và kiến nghị………54
Chương IV Bàn luận ……….……… 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….59
Trang 6Danh mục các bảng
Bảng
số
Nội dung Trang
Bảng 1.1 Nhân lực khoa Dược bệnh viện Đa khoa Thanh Hà
năm 2013
29
Bảng 3.2 Tổng kinh phí hoạt động của đơn vị 38
Bảng 3.3 Tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện 42
Bảng 3.5 Thực trạng sử dụng kháng sinh tại bệnh viện 49
Bảng 3.6 Giám sát việc chấp hành quy định về quản lý thuốc 49
Bảng 3.7 Theo dõi phảm ứng có hại của thuốc 50
Bảng 3.8 Tổ chức bình bệnh án, bình đơn thuốc 51
Trang 7Danh mục các hình
Hình
số
Tên hình Trang
Hình 1.1 Chu trình cung ứng thuốc 9
Hình 1.2 Các yếu tố lựa chọn thuốc 10
Hình 1.3 Hệ thồng kho tại khoa dược bệnh viện ĐK
Thanh Hà
19
Hình 1.4 Sơ đồ Hội đồng thuốc và điều trị 26
Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức khoa Dược Bệnh viện đa khoa
Thanh Hà, cơ cấu nhân lực khoa dược bệnh viện đa khoa Thanh Hà
28
Hình 1.6 Các yếu tố quyết định và ảnh hưởng MHBT 31
Hình 3.8 Quy trình lựa chọn thuốc tại bệnh viện đa khoa
Thanh Hà
36
Hình 3.9 Quy trình cấp phát thuốc của khoa Dược 47
Trang 8CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc BÁO CÁO SỬA CHỮA LUẬN VĂN DSCK CẤP I KHÓA 15
Kính gửi: - Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp DSCK cấp I
- Phòng sau đại học Trường Đại học Dược Hà Nội
- Giáo viên hướng dẫn
Họ và tên học viên: Vũ Trọng Toàn
Tên đề tài: Khảo sát hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện đa Thanh
Hà- Hải Dương năm 2013
Chuyên ngành: Tổ chức quản lý dược
Mã số: CK 60.72.04.12
Đã bảo vệ luận văn tốt nghiệp DSCK cấp I vào hồi 11 giờ 20 phút ngày 24 tháng 7 năm 2014 tại Trường cao đẳng dược Trung Ương Hải Dương Quyết định số 671/QĐ- DHN ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội,
NỘI DUNG SỬA CHỮA , HOÀN CHỈNH
*Những nội dung đã được sửa chữa theo yêu cầu của Hội đồng
1 Đã chỉnh sửa Bảng 1.1: Một số điểm sửa đổi thông tư số 10/2007/TTLT- BYT- BTC so với thông tư số 20/2005/TTLT- BYT-BTC phù hợp với yêu cầu mục tiêu của đề tài
2 Đã chỉnh sửa: Phác đồ điều trị tăng huyết áp, công tác chỉ đạo tuyến phù hợp với mục tiêu của đề tài
3 Đã chỉnh sửa Phụ lục, danh mục các hình, danh mục các bảng, danh mục các chữ viết tắt
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2014
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc có một vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân Dân tộc ta đã trải qua nhiều thời kỳ bị chiến tranh áp bức, nhân dân sống trong cảnh lầm than, điều kiện được chăm sóc sức khỏe còn rất nhiều khó khăn, tuy nhiên dù khó khăn đến đâu dân tộc ta vẫn có ý trí quật cường vươn lên cho được đến như ngày hôm nay Ngành y tế nói chung và nghành Dược nói riêng, cũng vượt qua bao nhiêu khó khăn vất vả cho đến bây giờ chúng ta đã đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân từ khắp các bản làng thôn xóm vùng núi xa xôi hẻo lánh
ai cũng được khám và cung cấp những thuốc thiết yếu đầy đủ Tình trạng bệnh tật ngày một được cải thiện rõ rệt, lòng tin của nhân dân đối với hệ thống y tế tăng lên nếu các cơ sở y tế có đủ thuốc có chất lượng phục vụ cho công tác điều trị[11]
Cùng với việc thành lập hội đồng thuốc và điều trị tại các bệnh viện, tình hình cung cấp thuốc cho các bệnh viện đã được cải thiện
Việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, tiết kiệm đã có bước tiến bộ Thực hiện
5 đúng :
Công tác theo dõi tác dụng phụ có hại của thuốc được tăng cường Các khoa dược bệnh viện từng bước vươn lên đảm nhiệm chức năng thông tin tư vấn sử dụng thuốc
Bước đầu thiết lập mối quan hệ giữa Bác sĩ, Dược sĩ, Y tá nhằm sử dụng thuốc an toàn hợp lý có hiệu quả cho người bệnh.[5]
Tuy nhiên ngoài những mặt tích cực trong hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện còn tồn tại một số mặt còn hạn chế như việc kê đơn chưa hợp lý
Bệnh viện Đa khoa Thanh Hà Hải Dương với tổng số 160 giường bệnh Hàng năm bệnh viện đã thực hiện công tác khám, chữa bệnh cho một
số lượng lớn cán bộ và nhân dân trong huyện cho nên nhu cầu cung ứng kịp thời đầy đủ thuốc hóa chất xét nghiệm có chất lượng phục vụ công tác khám chữa bệnh là rất cần thiết Xuất phát từ thực trạng như vậy chúng tôi tiến hành làm đề tài : Khảo sát hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Hà Hải Dương.Với các mục tiêu sau:
Trang 10- Khảo sát hoạt động lựa chọn thuốc tại bệnh viện đa khoa Thanh Hà năm 2013
- Khảo sát hoạt động mua và cấp phát thuốc tại bệnh viện
đa khoa Thanh Hà năm 2013
- Khảo sát hoạt động giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện
đa khoa Thanh Hà năm 2013
Để từ đó đưa ra những kết luận, kiến nghị nhằm cải thiện và nâng cao hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện được tốt hơn
Trang 11CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
I.Hoạt động cung ứng thuốc
1.Tình hình cung ứng thuốc trên thế giới
Thuốc có vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh và chữa bệnh, trong BVCSSKND Nhu cầu về thuốc phòng bệnh và chữa bệnh ngày càng cao và đa dạng; số lượng và chủng loại thuốc theo yêu cầu của xã hội ngày càng tăng Chỉ tính riêng nguyên liệu dùng để bào chế các dạng thuốc trên thế giới hiện nay, cũng vào khoảng 20.000 hoạt chất Từ những nguyên liệu này người ta bào chế ra rất nhiều loại dược phẩm khác nhau Trong những năm gần đây ngành công nghiệp dược trên thế giới phát triển hết sức mạnh
mẽ Từ những năm 50 của thế kỷ XX, con người mới chỉ biết 3-4 loại thuốc
KS thì ngày nay đã có tới hàng trăm thuốc KS được sử dụng, hàng ngàn thuốc KS đang được nghiên cứu Sản phẩm của thuốc hết sức đa dạng và phong phú, nhiều loại thuốc có tác dụng mạnh, hiệu quả điều trị cao nhằm đấu tranh với bệnh tật và bảo vệ sức khỏe kéo dài tuổi thọ của con người, nhưng tác dụng phụ cũng rất nhiều[10] Do đó cần phải hướng tới việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn, phải hạn chế các phản ứng có hại của thuốc Càng ngày các nước có xu hướng lựa chọn và chỉ sử dụng một số các loại thuốc có độ an toàn cao hơn, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước mình, chẳng hạn như Na uy chỉ có khoảng 80 hoạt chất, Nigeria có khoảng
400 sản phẩm thuốc trên thị trường Theo chương trình hành động thuốc thiết yếu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho đến nay thuốc dùng trong bệnh viện (BV) ở các nước phát triển và đang phát triển vào khoảng 300-
900 loại hoạt chất [9]
Trang 12Năm 1975 WHO tiến hành xây dựng danh mục thuốc thiết yếu để áp dụng cho các quốc gia trên thế giới Sau 2 năm WHO đã xem xét lại để đưa
ra danh mục lần 1 gồm 200 loại thuốc Cho đến năm 1995 danh mục thuốc thiết yếu đã được WHO ban hành lần thứ 8
Với mục đích sử dung thuốc hợp lý, an toàn và kinh tế, ở Việt nam
Bộ Y tế (BYT) đã ban hành danh mục thuốc thiết yếu lần I vào năm 1985 gồm 225 thuốc lẻ, lần II năm 1989 với 116 thuốc ; lần III năm 1995 BYT với 255 thuốc được phân chia theo trình độ chuyên môn của cán bộ y tế Gần đây nhất, năm 1999, BYT ban hành danh mục thuốc thiết yếu lần thứ
IV với 346 thuốc tân dược và 81 thuốc y học cổ truyền, được phân theo các tuyến điều trị: BV tuyến tỉnh/Trung ương (TW), BV tuyến huyện, Trạm y
tế (TYT) xã , lần thứ V với 325 thuốc tân dược ngày 1 tháng 7 năm 2005 , 17/2005/QĐ-BYT, lần thứ VI với 466 thuốc , thông tư 45/2013/TT-BYT, ngày 26 tháng 12 năm 2013
Thống kê đến thời điểm cuối năm 2007, tại Việt Nam có khoảng
178 doanh nghiệp (DN) có sản xuất dược phẩm Trong đó số lượng các DN đạt tiêu chuẩn GMP - WHO chiếm tỷ lệ còn thấp (18 DN), giá trị sản xuất trong nước còn thấp, tuy nhiên đã có những tín hiệu về tăng thị phần thuốc sản xuất trong nước từ 3 năm trở lại đây Các cơ sở đạt GMP đã sản xuất được khoảng 90% doanh thu thuốc sản xuất trong nước[1]
* Năm 2005: giá trị SX trong nước ước khoảng 395 triệu USD trên tổng doanh thu tiền thuốc thuốc tại Việt Nam 817 triệu USD (tương đương 48%)
* Năm 2006: giá trị sản xuất trong nước tăng lên 475 triệu USD (tương đương 49%)
Trang 13* Năm 2007: sản xuất trong nước đạt khoảng 600 triệu USD
* Năm 2010: sản xuất trong nước đạt khoảng 900 triệu USD
Tuy nhiên do thuốc trong nước có sản lượng sản xuất nhiều (số đơn
vị thuốc được sử dụng) chiếm đến 70% nhưng giá trị doanh thu lại thấp hơn vì đa số các mặt hàng trong nước sản xuất là thuốc thông thường nên giá cả khá rẻ, còn các mặt hàng chuyên khoa đặc trị thì phần lớn vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài, giá rất cao Kế hoạch ngành được đặt ra vào năm
2010 giá trị tiền thuốc sản xuất trong nước đạt 60%, và tăng lên 80% vào năm 2015
Số lượng hoạt chất các DN Việt Nam đăng ký sản xuất cũng đã tăng lên theo cục Quản lý tính đến năm 2013 các DN Việt Nam đã sản xuất tương ứng với 900 hoạt chất so với tổng số 1500 hoạt chất đang được đăng
ký tại Việt Nam
Công tác kiểm tra chất lượng thuốc lưu hành trên thị trường Việt Nam được nâng cao, trong năm 2006 hệ thống kiểm nghiệm trên toàn quốc đã phát hiện 38 mẫu thuốc giả[9]
Doanh nghiệp trong nước
Danh sách các công ty sản xuất thuốc với doanh thu lớn:
1 Dược Phẩm 3/2 F.T.PHARMA- Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Danh sách các công ty dược FDI
1 Sanofi Aventis - Pháp
2 Novartis - Thụy Sĩ
3 United Pharma - Philippines
4 Ranbaxy - Ấn Độ
5 Sing poong Daewoo - Hàn Quốc
6 Korea United Pharm - Hàn Quốc
7 OPV - Mỹ
8 Ampharco - Mỹ
9 Stada - Đức
10 BOSTON PHARMA - Mỹ
Các nhà phân phối dược phẩm tại Việt Nam
Tính đến năm 2013 có khoảng 1200 DN có đăng ký chức năng kinh doanh dược phẩm tại thị trường Việt Nam, trong đó có khoảng 570 doanh nghiệp
Trang 15nước ngoài chủ yếu hoạt động dưới hình thức văn phòng đại diện Hàn Quốc, Ấn Độ và Pháp là những quốc gia có DN đăng ký nhiều nhất
Doanh nghiệp phân phối dược phẩm tại thị trường Việt Nam được phân chia ra làm 2 loại Một là các DN tiền thân của nhà nước chuyên làm chức năng nhập khẩu hưởng hoa hồng (%) và làm thêm các chức năng dịch vụ kho bãi, giao nhận Hai là các doanh nghiệp tập trung vào hoạt động tiếp thị và xây dựng các hệ thống phân phối
1 Diethelm - Thụy Sĩ
2 Zuellig Pharma - Singapore
3 [cpc1] (công ty Dược phẩm Trung ương 1)-Hà Nội
4 Codupha (Cty Dược phẩm TW2) - Thành phố Hồ Chí Minh
5 Phyto Pharma (Cty Dược liệu TW2) - Thành phố Hồ Chí Minh
6 FTPHARMA (Cty CP Dược Phẩm 3/2) - Thành phố Hồ Chí Minh
7 Sapharco (Cty Dược phẩm Thành phố Hồ Chí Minh) - Thành phố Hồ Chí Minh
8 Vimedimex II (Cty XNK Y Dược TW II) - Thành phố Hồ Chí Minh
9 Vimedimex I (Cty XNK Y Dược TW I) - Hà Nội
10 Cẩm Tú (Cty TNHH Dược Phẩm Cẩm Tú) - Thành phố Hồ Chí Minh
11 Hapharco (Cty Dược phẩm Hà Nội) - Hà Nội
12 Dapharco (Cty Dược TBYT Đà Nẵng) - Đà Nẵng
13 ATM PHARMA (Cty Dược ATM) - Hà Nội
14 Quan Son Pharmaceutical Joint Stock Company - Việt Nam
Các doanh nghiệp này làm dịch vụ nhập khẩu ủy thác nên doanh số báo cáo thường rất lớn, doanh thu trên sổ sách từ vài trăm tỷ đến vài nghìn tỷ mỗi năm Tuy nhiên phần doanh số này chủ yếu do các Văn phòng Đại diện các hãng dược tại Việt Nam và nhà phân phối của họ quản lý nên các doanh nghiệp nhập khẩu ủy thác chỉ có được vài phần trăm hoa hồng cho doanh số trên (khoảng từ 1%-3%)
Trang 16Nhìn chung hệ thống lưu thông, phân phối thuốc đã phát triển rộng khắp, đảm bảo đưa thuốc đến tận tay người dân Trung bình một điểm bán
lẻ phục vụ 1500 người dân
Trong số lượng lớn quầy bán lẻ thuốc, thì đây là những quầy nhỏ, số lượng chủng loại thuốc ít và chủ yếu là các loại thuốc thông thường phục vụ cho người dân Đại đa số các loại quầy này tập trung tại các vùng nông thôn, tỉnh lẻ
Tại các thành phố lớn, thì số lượng các nhà thuốc tư nhân chiếm áp đảo Chỉ riêng tại TP Hồ Chí Minh đã có hơn 3000 nhà thuốc tư nhân
và Hà Nội hơn 1000 nhà thuốc tư nhân Phần còn lại nằm tại các thành phố, thị xã trung tâm các tỉnh Tại các thị trấn huyện ở các tỉnh có rất ít nhà thuốc, trung bình mỗi thị trấn có khoảng 1 đến 2 nhà thuốc như vậy
So sánh chủng loại và số lượng thuốc, thì tại các nhà thuốc tư nhân có số lượng, chủng loại nhiều gấp bội so với các quầy thuốc tại các vùng nông thôn, tỉnh lẻ Các nhà thuốc tư nhân tại thành thị ngoài các mặt hàng thông thường, thường có thêm một số loại thuốc đặc trị, ngoại nhập mà các quầy thuốc ở vùng nông thôn không có bán
Vấn đề đảm bảo công bằng trong cung ứng
3 Cung ứng thuốc trong bệnh viện
Theo báo cáo của Cục quản lý Dược Việt nam trong năm 2012 ngành Dược về cơ bản đã cung ứng đủ thuốc và kịp thời cho các cơ sở điều trị trên toàn quốc Tổng hợp báo cáo của Bộ y tế, bệnh viện trong cả nước 99% các bệnh viện cung ứng đủ thuốc chữa bệnh chủ yếu đảm bảo chất lượng theo danh mục thuốc của bệnh viện xây dựng[9]
Cung ứng thuốc trong Bệnh viện cần đảm bảo chất lượng đáp ứng nhu cầu điều trị hợp lý, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của khoa
Trang 17Dược bệnh viện Theo WHO ( Tổ chức Y tế thế giới ) chu trình cung ứng thuốc được biểu diễn ở hình sau[6]:
Hình 1.1: Chu trình cung ứng thuốc
Chu trình cung ứng thuốc theo 4 bước lựa chọn, mua thuốc, cấp phát,
sử dụng là chu trình khép kín, đó là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng là bệnh nhân và chính kết quả sử dụng trên bệnh nhân sẽ là cơ
sở vững chắc cho quá trình cung ứng tiếp theo.Như vậy,để chu trình hoạt động hiệu quả cần một tổ chức có khả năng điều phối gắn kết các bước của chu trình cung ứng đồng thời đó phải là tổ chức có chức năng quản lý có thể hướng dẫn, điều chỉnh chu trình thông qua các chính sách của mình, có chức năng chuyên môn, kỹ thuật để đánh giá hoạt động cung ứng Trong
Trang 18chu trình quản lý thuốc ở bệnh viện HĐT&ĐT là tổ chức đứng ra điều phối toàn bộ quá trình cung ứng thuốc tại bệnh viện Tuy nhiên cần phải cố gắng, nỗ lực để các chức năng lựa chọn, mua sắm, thanh toán và lưu kho cần phân tách, tránh kiêm nhiệm, chồng chéo[13]
3.1.Lựa chọn thuốc
Việc chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh tật tại chỗ, trang thiết bị điều trị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, các nguồn lực tài chính, các yếu tố môi trường…
Hình 1.2 Các yếu tố lựa chọn thuốc
DMT đã sử dụng
Trang 19Tổ chức y tế thế giới năm 1999 đã xây dựng một số tiêu chí lựa chọn như sau[7]:
* Tiêu chí lựa chọn thuốc:
-Chỉ chọn những thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị,
độ an toàn thông qua các thử nghiệm lâm sang và trên thực tế sử dụng rộng rãi tại các cơ sở khám chữa bệnh
-Thuốc được chọn phải có sẵn ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng, cũng như sự ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản
và sử dụng nhất định
-Khi có 2 hoặc nhiều hơn 2 thuốc tương đương nhau về 2 tiêu chí trên thì cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu quả điều trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng
-Khi so sánh chi phí giữa các thuốc cần phải so sánh tổng chi phí cho toàn bộ quá trình điều trị chứ không phải chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc.Khi mà các thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi lựa chọn cần phải tiến hành phân tích hiệu quả - chi phí
-Trong một số trường hợp sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số các yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những đặc điểm tại địa phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng
-Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất, những thuốc ở dạng đa chất phải có đủ cơ sở chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị của một nhóm đối tượng cụ thể và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, độ an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất
-Thuốc ghi tên gốc hoặc tên chung quốc tế (INN), tránh đề cập đến tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
Hội đồng thuốc và điều trị cần phải thống nhất một cách rõ rang tất
cả các tiêu chí dựa trên những tiêu chí có sẵn của WHO để chọn thuốc làm
Trang 20sao đảm bảo được quy trình lựa chọn khách quan và có cơ sở.Nếu thiếu cơ
sở bắng chứng thì các quyết định đưa ra rất có thể mang tính cá nhân hoặc thiếu khách quan và điều này cũng sẽ gây khó khăn khi thuyết phục các thầy thuốc kê đơn thực hiện danh mục thuốc Các tiêu chí chọn thuốc cũng như toàn bộ thủ tục đề xuất đưa thuốc vào danh mục thuốc phải được công khai Không phải tất cả các bằng chứng đều có sức thuyết phục như nhau.Mức độ tin cậy của bằng chứng cần phải được xác nhận khi công khai các tiêu chí lựa chọn và đưa ra quyết định[7]
* Xây dựng và thực hiện danh mục thuốc bệnh viện
Danh mục thuốc bệnh viện phải thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu (TTY) Việc thống nhất một cách rõ ràng các tiêu chí chọn lựa khi xây dựng danh mục thuốc là rất quan trọng và cần phải thực hiện một cách bài bản nhằm tạo dựng giá trị của danh mục thuốc cũng như sự tin tưởng của thầy thuốc kê đơn khi sử dụng danh mục thuốc đó
Bước 1: Lập một danh mục các vấn đề sức khỏe/bệnh tật theo thứ tự
ưu tiên điều trị trong bệnh viện và xác định phương án điều trị đầu tay cho từng trường hợp cụ thể
Việc phân loại, xếp hạng bệnh tật nhằm phân định ra đâu là những bệnh thường gặp nhất trong quá trình điều trị tại bệnh viện được thực hiện thông qua hình thức lấy ý kiến đóng góp của tất cả các khoa phòng và xem xét, rà soát lại tất cả các ghi chép về tỉ lệ mắc bệnh, tử vong tại bệnh viện thời điểm trước đó Đối với từng bệnh cụ thể cần xác định phương án điều trị ban đầu phù hợp dựa trên cơ sở các hướng dẫn điều trị được xây dựng trong nước hoặc trong bệnh viện
Bước 2: Dự thảo, đưa ra lấy ý kiến góp ý và hoàn thiện danh mục thuốc
Khi soạn thảo danh mục thuốc cần xác định rõ:
- Những thuốc quan trọng nhất ( thực sự thiết yếu ) và những thuốc ít quan trọng hơn ( mức độ thiết yếu giảm dần
Trang 21- Những thuốc có giá thành cao nhất
- Xem liệu các thuốc có được kê đơn với số lượng lớn hoặc
có giá thành cao hoặc có thực sự là thiết yếu hay không
Bước 3: Xây dựng các chính sách và hướng dẫn thực hiện
Danh mục thuốc sẽ không thực sự hữu ích nếu thiếu những chính sách và hướng dẫn sử dụng cụ thể, chính thức Những nội dung này bao gồm
- Đối tượng sử dụng danh mục thuốc ( Thầy thuốc kê đơn
và bộ phận phụ trách mua thuốc )
- Cách thức nhập và rà soát danh mục thuốc
- Những quy định để bổ xung hoặc loại thuốc ra khỏi danh mục thuốc
- Thủ tục cho việc đưa ra yêu cầu sử dụng thuốc không nằm trong danh mục thuốc trong trường hợp bất thường hoặc trường hợp khẩn cấp ( ví dụ thuốc không nằm trong danh mục thuốc do thầy thuốc được ủy quyền kê trong trường hợp bệnh nhân cụ thể )
Bước 4: Hướng dẫn sử dụng danh mục thuốc và giám sát thực hiện
Tất cả các nhân viên trong bệnh viện phải được hướng dẫn, tập huấn
về danh mục thuốc Một vấn đề thường gặp là thầy thuốc kê đơn liên tục có những yêu cầu sử dụng thuốc không nằm trong danh mục.Điều này dẫn đến thực trạng là người bệnh phải mua thuốc ở nhà thuốc bên ngoài bệnh viện hoặc bộ phận mua thuốc tiến hành mua những thuốc đó mà không có sự chấp thuận của HĐT&ĐT Do vậy cần phải thiết lập một hệ thống thực hiện, phân công trách nhiệm và các quy định để thực thi bao gồm cả các hình thức kỷ luật, khiển trách Cả người sử dụng cũng như lãnh đạo bệnh viện có thể tham gia vào quá trình đánh giá và thúc đẩy thực hiện[7]
Trang 22 Mô hình bệnh tật ( MHBT ):
Là một quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới mô hình bệnh tật ở việt nam trong những thập kỷ tới là mô hình bệnh tật phức tạp Các bệnh nhiễm khuẩn vẫn là những bệnh khá phổ biến Số người nhiễm HIV/AIDS, bệnh nhiễm virus ngày càng tăng Sự biến đổi này cũng giống như sự thay đổi tại các quốc gia đang phát triển khác
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là các số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng thời gian nhất định, số bệnh nhân vào điều trị, số ngày nằm điều trị trung bình và số các loại thuốc đã được sử dụng cho khối lượng bệnh nhân này Tùy theo hạng và tuyến bệnh viện mà MHBT bệnh viện có thể thay đổi ( Do hạng bệnh viện liên quan tới kinh phí, kĩ thuật điều trị, biên chế…), nghiên cứu MHBT các bệnh viện sử dụng phân loại quốc tế bệnh tật ICD 10 ( Bao gồm 21 chương bệnh ) MHBT của bệnh viện là căn
cứ quan trọng giúp bệnh viện không chỉ xây dựng DMT phù hợp mà còn làm cơ sở để bệnh viện hoạch định phát triển toàn diện trong tương lai
Phác đồ điều trị ( Hướng dẫn thực hành điều trị )
Phương pháp điều trị là tài liệu hướng dẫn cho thầy thuốc thực hiện những công việc cụ thể và không thể thiếu trong quá trình điều trị ( gọi là hướng dẫn thực hành điều trị ) Theo tổ chức y tế thế giới, một hướng dẫn thực hành điều trị về thuốc bao gồm đủ 4 thông số: Hợp lý, An toàn, Hiệu quả, Kinh tế
Phác đồ điều trị là biểu tượng của sự tập trung trí tuệ của tập thể cán
bộ chuyên môn của bệnh viện cho những phương án điều trị cụ thể của từng loại bệnh Vì vậy DMT của bệnh viện cần dựa vào phác đồ điều trị ( có thể phác đồ điều trị trong và ngoài nước ) Không có phác đồ điều trị thì không thể xây dựng DMT một cách khoa học[7]
Trang 23 Danh mục thuốc thiết yếu:
DMTTY có đủ các chủng loại đáp ứng yêu cầu điều trị các bệnh thông thường Tên thuốc trong danh mục đơn giản là tên gốc, dễ nhớ, dễ biết, dễ lựa chọn, dễ sử dụng, dễ bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ và dễ quản lý
Cũng theo tổ chức y tế thế giới chỉ cần 1USD thuốc thiết yếu có thể đảm bảo chữa khỏi 80% chứng bệnh thông thường của mỗi người dân tại cộng đồng để thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu Như vậy, việc cung ứng thuốc thiết yếu với giá cả hợp lý, chất lượng đảm bảo là một yêu cầu cấp thiết và là một trong những nội dung của chính sách quốc gia về thuốc Hiện nay trên thế giới có hơn 150 quốc gia đã áp dụng và có DMTTY ( chủ yếu các nước đang phát triển ) Số lượng tên thuốc trong DMT của mỗi nước trung bình khoảng 300 thuốc
Lập DMTTY phải trải qua quá trình nghiên cứu, phân tích, dự đoán nhu cầu, điều kiện cung ứng thuận lợi, có hiệu quả điều trị cao nhất, ít tác hại nhất, ưu tiên thuốc nội cùng loại, hoặc thuốc của những hãng đã được chứng minh trên hiệu quả lâm sàng Mặt khác DMTBV phải phù hợp với khả năng tài chính của bệnh viện, phù hợp với điều kiện, trình độ kê đơn và sau cùng là giá thành điều trị thấp hoặc chấp nhận được Thông tư 08/BYT-
TT ngày 4/7/1997 đã chỉ rõ thuốc được chọn lập thành danh mục sắp xếp theo vần chữ cái và sắp xếp theo nhóm tác dụng dược lý để thầy thuốc kê đơn lựa chọn thuốc thuận tiện, dễ dàng DMTBV là danh mục đặc thù cho mỗi bệnh viện Danh mục này được xem xét, cập nhật điều chỉnh từng thời
kỳ theo yêu cầu điều trị Việc bổ xung hoặc loại bỏ thuốc ra ngoài danh mục cần phải được cân nhắc thận trọng Các thành viên trong hội đồng thuốc và điều trị cần thảo luận, lựa chọn với thái độ khoa học, thận trọng sau khi đã được cung cấp đầy đủ thông tin về thuốc Danh mục thuốc phản
Trang 24ánh sự thay đổi trong thực hành sử dụng thuốc để điều trị nhằm đạt tính hiệu quả, an toàn, kinh tế Muốn vậy trước hết cần nhận thức đúng và sau đó đánh giá sâu sắc vấn đề chưa hợp lý chưa an toàn và không kinh tế đang ngự trị trong
sử dụng thuốc điều trị hiện tại nói riêng và cung ứng thuốc nói chung
Lựa chọn thuốc không chỉ có tên thuốc, hàm lượng theo tên gốc mà còn phải sơ bộ trong nghiên cứu số lượng từng mặt hàng, chủng loại nguồn gốc, và tổng hợp giá trị tiền thuốc cho cả năm dựa trên số lượng bệnh nhân
và bệnh tật phải thu dung hang năm phải phù hợp với kinh phí
3.2 Mua thuốc
* Tiến hành mua thuốc:
Phải tuân theo quy định của Pháp luật như Luật đấu thầu [6]; Luật dược
;Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT – BYT – BTC, ngày 19/01/2012 của
bộ Y tế - Tài chính hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế [6]
- Lựa chọn phương thức mua thuốc
Muốn quá trình mua thuốc của các bệnh viện được đảm bảo và thống nhất, thuốc có chất lượng, giá thành hợp lý và phù hợp với các quy định của pháp luật về mau sắm hàng hóa…
Ngày 25/02/1997, Bộ y tế đã ra chỉ thị số 03/CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện
Trang 25Năm 2013, việc thấu thầu thuốc trong các BV hiện nay áp dụng theo thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT – BYT-BTC của BYT và BTC[6]
Luật Dược ngày 14/6/2005 và Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 cảu Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng [6] Kết quả của quá trình đấu thầu thuốc là lựa chọn được nhà cung ứng thuốc, giá thuốc, chất lượng thuốc
Các bệnh viện thành lập Hội đồng kiểm nhập Khi tiến hành nhận thuốc, với sự có mặt của Hội đồng kiểm nhập thuốc và thủ kho, kiểm tra số lượng, chủng loại trên dự trù và hóa đơn, đối chiếu hóa đơn với số lượng thực tế, phiếu báo lô, tên thuốc, hãng sản xuất, nơi sản xuất, quy cách đóng gói, hàm lượng hoặc nồng độ, số lượng, số đăng ký, số kiểm soát, hạn dùng, kiểm tra bằng cảm quan ngẫu nhiên một số thuốc…Sau khi nhập
Trang 26thuốc vào kho tiến hành lập biên bản kiểm nhập thuốc và nhập kho theo đúng qui chế Ngay khi nhập kho thuốc cần được sắp xếp vào các khu vực của kho theo sự phân loại của từng thuốc theo độc tính, thông thường thuốc được sắp đặt theo nhóm tác dụng dược lý và điều kiện bảo quản theo qui định ghi trên nhãn thuốc, dạng bào chế
* Thanh toán
Thanh toán tiền mua thuốc theo đúng số lượng đã mua và đúng giá
đã trúng thầu Phương thức thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản Hiện nay do kinh phí hạn hẹp có nhiều bệnh viện phải nợ tiền thuốc của các công
ty từ 3 đến 6 tháng
* Tồn trữ, bảo quản thuốc
- Tồn trữ bảo quản: Tồn trữ bao gồm cả quá trình xuất, nhập kho
hợp lý, quá trình kiểm kê, dự trữ và các biện pháp kỹ thuật và bảo quản hàng hoá Công tác tồn trữ thuốc là một trong những khâu quan trọng của việc bảo đảm cung cấp thuốc đến tận tay người bệnh với chất lượng tốt Các thuốc khi được nhập vào kho cần phải tuân theo điều kiện bảo quản của nhà sản xuất, nếu không có yêu cầu đặc biệt thì áp dụng điều kiện bảo quản thông thường (15-200C), các thuốc độc nghiện, hướng tâm thần bảo quản theo quy định [4]
Kho thuốc cần xây dựng các quy trình quản lý và kiểm soát việc kiểm thuốc tốt không những là việc cất giữ an toàn tối thiểu và tối đa Bảo quản thuốc không tốt những là việc cất giữ an toàn các thuốc mà bao gồm
cả việc đưa vào duy trì đầy đủ các hệ thống hồ sơ tài liệu phù hợp, kể cả giấy biên nhân và phiếu xuất, hệ thống sổ sách, quy trình thao tác đặc biệt cho công tác bảo quản và kiểm soát theo dõi xuất, nhập và chất lượng thuốc
Trang 27sàng
Người bệnh
Trang 28- Đảm bảo chất lượng thuốc: Bao gồm cả hai hoạt động kỹ thuật và quản
lý Hoạt động kỹ thuật là việc đánh giá các tài liệu về sản phẩm thuốc, kiểm tra chất lượng trong phòng kiểm nghiệm, giám sát chất lượng thuốc trong quá trình cung ứng
- Cấp phát thuốc từ khoa dược đến khoa lâm sàng được xây dựng căn
cứ vào tình hình cụ thể về nhân lực của từng bệnh viện nhưng đảm bảo nguyên tắc phục vụ thuốc kịp thời, thuận tiện nhất cho điều trị Bệnh viện nên tổ chức cấp phát thuốc nội trú và ngoại trúriêng
Trong quá trình cấp phát thuốc phát thực hiện các công việc sau: + Cung cấp các thông tin về thuốc cho bác sỹ và y tá
+ Theo quy định mới của Bộ Y Tế dược sĩ cấp phát phải đưa thuốc đến tận khoa phòng điều trị
+ Khi xuất thuốc khỏi kho và giao nhận thuốc cho khoa phòng đều phải thực hiện kiểm tra, đối chiếu
3.3 Cấp phát thuốc
Trong bệnh viện cấp phát thuốc do khoa dược và điều dưỡng của các khoa lâm sàng đảm nhiệm Để tránh sảy ra sai sót trong khâu cấp phát trước, khi cấp phát thuốc người cấp phát thuốc phải thực hiện: "Ba kiểm tra, ba đối chiếu" [3]
Ba kiểm tra đó là:
- Thể thức phiếu xuất kho, đơn thuốc, liều dùng, cách dùng
- Bao bì, nhãn thuốc
- Chất lượng thuốc
Trang 29Ba đối chiếu đó là:
- Tên thuốc ở đơn
- Nồng độ, hàm lượng thuốc ở đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao
- Số lượng, số khoản thuốc sẽ giao
Thực hiện sử dụng thuốc theo y lệnh
Theo mô hình tổ chức của ngành y tế nước ta hiện nay việc thực hiện
sử dụng thuốc theo y lệnh là nhiệm vụ của các điều dưỡng viên, bệnh nhân
và người nhà bệnh nhân Trong đó, các điều dưỡng viên giữ vai trò quan trọng Điều dưỡng viên trước khi cho người bệnh dùng thuốc phải thực hiện: "Ba kiểm tra, năm đối chiếu"[3]
- Thời gian, thời điểm dùng thuốc
Đối với người bệnh và người nhà bệnh nhân cũng cần phổ biến cho
họ tầm quan trọng và lợi ích của việc thực hiện 3 kiểm tra, 5 đối chiếu
3.4 Giám sát sử dụng thuốc
Giám sát thực hiện danh mục thuốc
Giám sát thực hiện DMT là giám sát việc tuân thủ theo DMTBV Chỉ thị 05/2004/CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện đã yêu cầu: "Đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo Danh
Trang 30mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh, không để người bệnh nội trú phải tự mua thuốc trong Danh mục thuốc chủ yếu"
Để đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo DMTBV, HĐT&ĐT bệnh viện phải duy trì DMTBV bằng cách thường xuyên rà soát DMTBV vì ngày càng có nhiều thuốc mới và phác đồ điều trị mới Nếu không rà soát kỹ thì danh mục sẽ trở thành bộ sưu tập thuốc cũ và kém hiệu quả[1]
Chẩn đoán đúng:
Chẩn đoán đúng là tất yếu khách quan của việc kê đơn đúng, ngày nay khoa học và công nghệ y học tạo điều kiện tốt cho chuẩn đoán tuy nhiên cũng cần chú ý tránh lạm dụng công nghệ cao trong chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng
Kê đơn, chỉ định dùng thuốc
Kê đơn và chỉ định dùng thuốc do bác sĩ thực hiện, các nguyên nhân sai sót ở khâu kê đơn, chỉ định dùng thuốc rất đa dạng, phức tạp có thể có trình độ chẩn đoán bệnh, hiểu biết về thuốc, do ý thức trách nhiệm - y đức
do bản chất thị trường chi phối, do sức ép xã hội nên muốn quản lý việc
kê đơn, chỉ định dùng thuốc an toàn, hợp lí, hiệu quả, tiết kiệm cần yêu cầu bác sĩ thực hiện đúng các quy định của bệnh viện của nhà nước
- Kê đơn trong danh mục đã được bệnh việc xây dựng
- Quy chế kê đơn
- Quy trình kê đơn và sử dụng thuốc của bệnh viện
Trang 314 Thực trạng cung ứng thuốc của các bệnh viện Việt Nam hiện nay:
Việc cung ứng thuốc cho các bệnh viện của các doanh nghiệp tỉnh, thành phố được thực hiện tốt, thuốc thực hiện nhu cầu điều trị Mạng lưới tham gia cung ứng thuốc đa dạng về thành phần: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, đại lý bán lẻ, nhà thuốc tư nhân Nguồn cung ứng thuốc phong phú bao gồm nhiều chủng loại và dạng bào chế đã đáp ứng được nhu cầu điều trị và tiền thuốc sử dụng bình quân đầu người đạt 11,2USD năm 2006[1] Việc cung ứng được đảm bảo đầy đủ về chủng loại và số lượng thông qua đấu thầu HĐT&ĐT đã phát huy vai trò trong cung ứng và đảm bảo chất lượng thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn 89% bệnh viện đã tổ chức HĐT&ĐT, 96% bệnh viện theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ADR), 85% các bệnh viện tiến hành hoạt động thông tin thuốc Nhiều bệnh viện thực hiện đấu thầu mua thuốc đã hạ được giá thành góp phần tiết kiệm kinh phí cho bệnh viện Song việc đấu thầu chưa thống nhất, một số bệnh viện thực hiện đấu thầu từ 1-3 tháng do thiếu kinh phí Các bệnh viện có xu hướng dùng thuốc ngoại, đắt tiền trong khi các thuốc hiện đang sử dụng vẫn còn giá trị chữa bệnh Theo một đề tài khảo sát tại bệnh viện phụ sản trung ương, thuốc ngoại chiếm tới 70%, thuốc sản xuất trong nước chiếm 44% về giá trị tiêu dùng thuốc năm 2004
Tỉ lệ này chung cho thuốc tân dược và đông dược, nếu tính riêng thuốc tân dược thì thị phần này còn thấp hơn nhiều Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu mới chỉ dáp ứng được điều trị bệnh thông thường với dạng bào chế đơn giản (trên 90%) Sử dụng kháng sinh tràn lan, lạm dụng kháng sinh phổ rộng, điều trị bao vây dẫn đến gia tăng các tác dụng không mong muốn và tình trạng kháng kháng sinh Như vậy tiền thuốc kháng sinh chiếm khoảng 56-58% tổng chi phí riêng thuốc Tiền thuốc vitamin dao động từ 2-4% trong nhiều năm
Trang 32Có quá nhiều tên thuốc gây lúng túng cho bác sĩ khi kê đơn, gây khó khăn cho cả người bán và người mua thuốc Bên cạnh đó nhiều bác sĩ chỉ biết tên biệt dược mà không biết tên gốc, thường chỉ kê đơn những thuốc được trình dược viên giới thiệu hoặc những tên thuốc đã quen thuộc
Giám sát kê đơn hợp lý thông qua bình bệnh án và tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh việc kê đơn và bán thuốc theo đơn theo hướng dẫn của Bộ
Y Tế theo công văn số 3483/YT-ĐT ra ngày 19/05/2004 Theo báo cáo của
155 bệnh viện có 64,3% bệnh viện bình bệnh án 1 lần/tháng và tổng số
7775 bệnh án được bình từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2004 Thực hiện quy chế kê đơn đã có 82,9% bệnh viện kê đơn thuốc theo tên gốc cho bệnh nhân ngoại trú
Đánh giá cung ứng thuốc bệnh viện thanh tra Bộ Y Tế đã đưa ra những nhận định sau:
- Công tác khoa Dược chưa được sự quan tâm đúng mức
- Bình quân tỷ lệ thuốc nội được sử dụng trong khối khám chữa bệnh chỉ chiếm trung bình khoảng 20-30% về cả số lượng mặt hàng và kinh phí
- Hoạt động thông tin quảng cáo và hoạt động của trình dược viên phải được chấn chỉnh và quản lý chặt chẽ
- Công tác Dược lâm sàng đã hình thành những hoạt động tại các bệnh viện ở nhiều địa phương chưa triển khai được hoặc có triển khai nhưng cơ sở vật chất quá nghèo nàn
5 Hội đồng thuốc và điều trị:
Bộ Y Tế đã ban hành Thông tư số 08/BYT-TT ngày 04/7/1997 hướng dẫn việc tổ chức chức năng nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện để thực hiện chỉ thị 03/BYT-CT ngày 25/2/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc chấn chỉnh công tác quản lý và sử dụng thuốc tại Bệnh viện [2]
Trang 33* Mục tiêu và mục đích của HĐT&ĐT:
- Mục đích: của HĐT&ĐT là nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả ra sao và sử dụng như thế nào
Để đạt được mục đích trên, một HĐT&ĐT cần phải đạt được những mục tiêu sau:
- Xây dựng và thực hiện một hệ thống danh mục thuốc có hiệu quả kể
về mặt điều trị cũng như giá thành trong đó bao gồm các hướng dẫn điều trị thống nhất, một danh mục thuốc và cẩm nang hướng dẫn danh mục thuốc
- Đảm bảo chỉ sử dụng những thuốc thoả mãn các tiêu chí về hiệu quả điều trị, độ an toàn, hiệu quả - chi phí và chất lượng
- Đảm bảo an toàn thuốc thông qua công tác theo dõi, đánh giá và trên
cơ sở đó ngăn ngừa các phản ứng có hại (ADR) và sai sót trong điều trị
- Xây dựng và thực hiện những can thiệp để nâng cao thực hành sử dụng thuốc của các thầy thuốc kê đơn, dược sỹ cấp phát và người bệnh; điều này đòi hỏi phải thực hiện công tác điều tra và giám sát sử dụng thuốc
* Chức năng của HĐT&ĐT:
- Hội đồng tư vấn cho bác sĩ, dược sỹ và các nhà quản lý
- Xây dựng các chính sách thuốc
- Đánh giá và lựa chọn thuốc cho danh mục thuốc bệnh viện
- Xây dựng hướng dẫn điều trị chuẩn
- Phân tích sử dụng thuốc để nhận định các vấn đề
- Tiến hành các biện pháp can thiệp hiệu quả để nâng cao thực hành
sử dụng thuốc
- Xử trí các phản ứng có hại
- Xử trí các sai sót trong điều trị
- Phổ biến thông tin
Trang 34* Vai trò của HĐT & ĐT trong quản lý thuốc
HĐT&ĐT có vai trò xây dựng hệ thống danh mục thuốc và các chính sách thuốc thực hiện theo yêu cầu và các chính sách thuốc thực hiện theo yêu cầu của HĐT&ĐT
* Tổ chức của HĐT&ĐT
HĐT&ĐT gồm từ 5 đến 15 người, tùy theo bệnh viện, hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm do Giám đốc BV ra quyết định thành lập
Hình 1.4 Sơ đồ Hội đồng thuốc và Điều trị
HĐT&ĐT họp định kỳ mỗi tháng một lần, họp bất thường khi Giám đốc bệnh viên yêu cầu, Chủ tịch hội đồng triệu tập
Chuẩn bị nội dung do phó chủ tịch kiêm ủy viên thường trực HĐT&ĐT chuẩn bị tài liệu liên quan cho các buổi họp của hội đồng thuốc
Chủ tịch Hội đồng Thuốc và Điều trị (Giám đốc, P.Giám đốc Phụ trách chuyên môn)
Phó Chủ tịch Hội đồng kiêm UV thường trực (Dược sỹ đại học, Trưởng khoa Dược)
Thư ký Hộ đồng Thuốc và Điều trị (Trưởng Phòng kế hoạch tổng hợp)
Ủy viên Hội đồng Thuốc và Điều trị (Trưởng một số Khoa, phòng)
Trang 356 Vài nét về bệnh viện đa khoa Thanh Hà:
Bệnh viện đa khoa Thanh Hà là bệnh viện tuyến huyện
Chỉ tiêu giường bệnh: 160 giường
Tổng số cán bộ toàn bệnh viện: 170 người
Tổng số cán bộ làm công tác Dược: 11 người, chiếm tỷ lệ 6,47%
7 Vị trị, chức năng, nhân lực khoa dược bệnh viện đa khoa Thanh Hà:
7.1 Vị trí
Khoa Dược bệnh viện là một chuyên khoa trực thuộc Ban Giám đốc Bệnh viện Khoa dược là tổ chức cao nhất đảm nhận mọi công việc về Dược không chỉ có tính chất thuần tuý của một chuyên khoa mà còn thêm tính chất của một bộ phận quản lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn trong khám chữa bệnh, nhất là trong sử dụng thuốc
7.2 Chức năng nhiệm vụ khoa Dược Bệnh viện Đa khoa Thanh Hà
Khoa Dược có chức năng, nhiệm vụ sau[5]:
- Lập kế hoạch, cung cấp, đảm bảo thuốc, hoá chất, vật tư y tế đầy
đủ, kịp thời đáp ứng yêu cầu điều trị hợp lý của Bệnh viện
- Duy trì các quy chế dược tại Bệnh viện
- Kiểm tra, theo dõi việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, tham gia thông tin, tư vấn về thuốc, theo dõi phản ứng có hại của thuốc trong toàn Bệnh viện
- Bảo quản thuốc, hoá chất tại các khoa trong Bệnh viện
- Tham gia công tác nghiên cứu khoa học
- Huấn luyện và giúp đỡ các tuyến xã khi có nhu cầu
Trang 367.3 Tổ chức cơ cấu nhân lực khoa Dược Bệnh viện đa khoa Thanh Hà
Hoạt động của koa Dược bệnh viện để đảm bảo cung cấp thuốc hợp
lý, an toàn và hiệu quả Mô hình khoa Dược được bệnh viện tổ chức theo cấu trúc trực tuyến - chức năng như sau:
Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức khoa Dược Bệnh viện Đa khoa Thanh Hà
Cơ cấu nhân lực khoa Dược Bệnh viện Đa khoa Thanh Hà
BAN GIÁM ĐỐC
KHOA DƯỢC
HÀNH
CHÍNH
CẤP PHÁT
PHA CHẾ
PHÒNG ĐẢM BẢO THUỐC