Việc nghiên cứu nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện là hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của khoa dược bệnh viện, do đó tôi xin chọn đề
Trang 2LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ VÀ KINH TẾ DƯỢC
MÃ SỐ: : CKI 60 73 20
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ THỊ TRÂM
Nơi thực hiện : Trường đại học Dược Hà Nội
Thời gian : Từ 01/08/2013 đến 30/12/2013
HÀ NỘI 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự dạy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, các cán bộ công tác tại bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình, gia đình và bạn bè Đến nay luận văn đã được hoàn thành
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành tới Tiến sĩ Vũ Thị Trâm , người thầy đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trong bộ môn Quản
lý và Kinh tế Dược đã cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Sau Đại Học, Phòng Đào Tạo, các phòng ban và các thầy cô giáo trường Đại Học Dược
Hà Nội đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám Đốc, khoa Dược và các khoa phòng bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
để tôi hoàn thành tốt luận văn
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình và bạn
bè, những người đã dành cho tôi tình cảm và nguồn động viên, khích lệ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 12 năm 2013
Trương Thị Ngọc Hương
Trang 4MỤC LỤC
Trang bìa chính
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1.Thực trạng cung ứng thuốc trong bệnh viện ở nước ta trong những năm gần đây 3
1.2 Các nhiệm vụ cung ứng thuốc trong bệnh viện 8
1.2.1 Lựa chọn thuốc 8
1.2.2 Mua thuốc 12
1.2.3 Cấp phát thuốc 15
1.2.4 Giám sát sử dụng thuốc 17
1.3 Một vài nét về bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình 18
1.3.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của BV Chấn Thương Chỉnh Hình 18
1.3.2 Hệ thống tổ chức của bệnh viện 19
1.3.3 Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện 21
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
Trang 53.1 Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng thuốc của
BV Chấn Thương Chỉnh Hình TPHCM 26
3.1.1 Tổ chức và cơ cấu nhân lực khoa dược 26
3.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất và kinh phí mua thuốc 30
3.1.3 Mô hình bệnh tật 35
3.1.4 Hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị 38
3.2 Phân tích, đánh giá một số hoạt động cung ứng thuốc tại BV Chấn Thương Chỉnh Hình TPHCM 40
3.2.1 Phân tích, hoạt động lựa chọn thuốc tại bệnh viện 40
3.2.1.1 Quy trình xây dựng danh mục thuốc 40
3.2.1.2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện 41
3.2.1.3 Phân tích tính thích ứng của danh mục thuốc bệnh viện 43
3.2.2 Lựa chọn phương thức mua thuốc 46
3.2.2.1 Quy trình đấu thầu 46
3.2.2.2 Quản lý chất lượng trong quá trình mua thuốc 51
3.2.3 Phân tích, đánh giá hoạt động cấp phát thuốc của bệnh viện 52
3.2.3.1 Quy trình cấp phát thuốc 52
3.2.3.2 Công tác bảo quản thuốc và quản lý hàng tồn kho 53
3.2.4 Phân tích, đánh giá hoạt động giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện 56
3.2.4.1 Giám sát thực hiện danh mục thuốc bệnh viện 56
3.2.4.2 Giám sát kê đơn, chỉ định dùng thuốc 57
3.2.4.3 Công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc 60
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 65
4.1 Về một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng thuốc của BV Chấn Thương Chỉnh Hình TPHCM 65
4.2 Về hoạt động cung ứng thuốc 65
4.2.1 Về hoạt động lựa chọn thuốc 66
4.2.2 Về hoạt động mua thuốc 66
Trang 64.2.3 Về hoạt động cấp phát thuốc 67
4.2.4 Về hoạt động giám sát sử dụng thuốc 68
KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 69
1 KẾT LUẬN 69
1.1 Về một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng thuốc của BV Chấn Thương Chỉnh Hình TPHCM 69
1.2 Về hoạt động cung ứng thuốc 70
2 KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 71
2.1 Với Ủy ban nhân dân Thành phố và Sở Y Tế TPHCM 71
2.2 Với bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình 72
2.3 Với khoa dược 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Dược sĩ trung học Hội đồng thuốc và điều trị Hội đồng nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
bệnh
37
3.12 Kết quả đấu thầu rộng rãi mua thuốc tại bệnh viện Chấn
Thương Chỉnh Hình năm 2011
50
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là tài sản quý nhất của con người và toàn xã hội Người có sức khỏe không chỉ là người không có bệnh tật mà còn là người được thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội Vì vậy quan tâm chăm sóc
và nâng cao sức khỏe cho mọi người chính là quan tâm cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trong công tác khám chữa bệnh cho toàn dân, bệnh viện là nơi thể hiện tập trung nhất các quan điểm của Đảng và Nhà Nước về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe toàn dân Bệnh viện cũng là nơi thể hiện năng lực của ngành y tế Công tác dược bệnh viện có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của một bệnh viện, nó định hướng cho công tác sử dụng thuốc tại bệnh viện, đặc biệt là sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả Sử dụng thuốc là khâu cuối cùng trong công tác khám chữa bệnh nhưng kết quả của việc sử dụng thuốc sẽ thể hiện tính hiệu quả của dịch vụ y tế
Một trong những nhân tố quan trọng có tính ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác khám chữa bệnh của bệnh viện là vấn đề cung ứng thuốc Hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện hiện nay không chỉ gói gọn trong việc mua và cấp phát thuốc mà bên cạnh đó còn phải đảm bảo thuốc được cung ứng đầy đủ, kịp thời và được hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp
Trang 11những khó khăn đòi hỏi và thách thức trong việc lựa chọn, mua sắm, phân phối và sử dụng thuốc
Việc nghiên cứu nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện là hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của khoa dược bệnh viện, do đó tôi xin chọn đề tài nghiên cứu:
“Khảo sát hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện Chấn Thương
Chỉnh Hình – Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2011” với các mục tiêu sau:
1 Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng
thuốc tại bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình Tp.HCM năm 2011
2 Phân tích, đánh giá hoạt động đảm bảo cung ứng thuốc của
bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình năm 2011
Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài, đưa ra những ý kiến đề xuất góp phần nâng cao chất lượng cung ứng thuốc trong giai đoạn tới đáp ứng nhu cầu điều trị hợp lý tại bệnh viện
Trang 12cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc
Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009,2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 47.9% (năm 2009) và 58.7% (năm 2010) tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [21], [22] Những bất cập trong cung ứng, sử dụng thuốc tại các bệnh viện cũng ngày càng gia tăng, chẳng hạn như: thuốc không thiết yếu được sử dụng với tỷ lệ cao, lạm dụng kháng sinh, vitamin…[21]
Các thuốc do ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế chi trả, nguồn thu viện phí cung ứng tại các cơ sở y tế công lập thực hiện thông qua đấu thầu với giá hợp lý, ổn định trong vòng 12 tháng, chất lượng đảm bảo
Tuy nhiên, phần lớn các bệnh viện còn rất lúng túng trong việc triển khai đấu thầu thuốc mặc dù đã có thông tư liên tịch của Bộ Y Tế và Bộ Tài Chính Vì thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt và nhiều chủng loại do đó để
Trang 13lựa chọn thuốc hợp lý cần có kiến thức về thuốc, về điều trị, về tính kinh tế
và tính khách quan
Cung ứng đầy đủ, kịp thời, thường xuyên thuốc có chất lượng đáp ứng nhu cầu điều trị an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế cho người bệnh là một trong những mục tiêu hàng đầu của bệnh viện
Cung ứng thuốc trong bệnh viện là vấn đề đang được Bộ Y Tế quan tâm trong giai đoạn hiện nay Việc nghiên cứu hoạt động cung ứng thuốc
đã được thực hiện ở nhiều bệnh viện
Các nghiên cứu đã phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện như tổ chức nhân lực, mô hình bệnh tật, tổ chức hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị, trang thiết bị, các nhiệm vụ cung ứng thuốc trong bệnh, phân tích, đánh giá hoạt động cung ứng và sử dụng thuốc Đề tài nghiên cứu của bệnh viện TW Quân đội 8, bệnh viện E… đi sâu vào 4 công đoạn trong chu trình cung ứng thuốc Các
đề tài phần nào đã chỉ ra được thực trạng cung ứng thuốc trong giai đoạn hiện nay của các bệnh viện cụ thể
Xây dựng danh mục thuốc bệnh viện: Các bệnh viện đều xây dựng
danh mục thuốc bệnh viện dựa trên danh mục thuốc chủ yếu phù hợp với
mô hình bệnh tật và yêu cầu điều trị của từng bệnh viện
Hoạt động đấu thầu: Các bệnh viện đã tiến hành mua thuốc thông
qua hình thức đấu thầu theo quy định, việc thực hiện đấu thầu mua thuốc đã
hạ được giá thành góp phần tiết kiệm kinh phí cho bệnh viện Đấu thầu thuốc vẫn là vấn đề phức tạp và khó khăn đối với nhiều bệnh viện
Quản lý cấp phát thuốc: Các bệnh viện đều xây dựng quy trình cấp
phát thuốc chặt chẽ từ khâu kiểm nhập cho đến khi thuốc tới tay bệnh nhân
Hoạt động Dược lâm sàng: Các bệnh viện đã triển khai công tác
Dược lâm sàng, tuy nhiên cho đến nay mới chỉ có một số bệnh viện lớn phát huy được nhiệm vụ hướng dẫn sử dụng thuốc , còn lại hầu hết công
Trang 14việc chủ yếu vẫn là xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện và tham mưu cho lãnh đạo bệnh viện trong công tác đấu thầu thuốc Các bệnh viện tuyến tỉnh, đặc biệt là tuyến huyện thì công tác dược lâm sàng chưa phát huy đuợc vai trò và đáp ứng yêu cầu Tình trạng thiếu nhân lực dược sĩ đại học và kiến thức dược lâm sàng còn yếu chính là nguyên nhân khiến dược lâm sàng không phát huy được
Công tác Dược lâm sàng không phải là mới, tuy nhiên cho đến nay vẫn tập trung ở một số bệnh viện trung ương và một số bệnh viện lớn ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Khoa Dược bệnh viện đã triển khai công tác dược lâm sàng, hướng dẫn sử dụng thuốc, nhưng nhìn chung chức năng này còn khá mờ nhạt Tình trạng thiếu dược sĩ đại học và trên đại học ở các địa phương chính là nguyên nhân dược lâm sàng không phát triển được Tại một số bệnh viện, do còn thiếu tính khoa học nên Khoa Dược lúng túng, tổn hao nhân lực và thời gian cho công tác đầu thầu thuốc mà lãng quên nhiều nhiệm vụ khác
Các bệnh viện cơ bản cung ứng đủ thuốc cho người bệnh nội trú không để bệnh nhân tự mua thuốc Hội đồng thuốc và điều trị đã phát huy vai trò trong cung ứng và đảm bảo chất lượng thuốc, hướng dẫn sử dụng hợp lý, an toàn Tuy nhiên nhiều bệnh viện vẫn có xu hướng dùng thuốc ngoại, thuốc đắt tiền ( theo đề tài khảo sát của bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2010: tỉ lệ mặt hàng thuốc ngoại chiếm 41.34% nhưng tỉ lệ chi phí sử dụng chiếm 74.08%) trong khi thuốc sản xuất trong nước hiện đang sử dụng vẫn còn giá trị chữa bệnh.[24]
Hoạt động thông tin và theo dõi ADR: Được thực hiện dưới nhiều
hình thức như thông tin thuốc mới, thuốc bị đình chỉ lưu hành, phản ứng có hại của thuốc xảy ra tại bệnh viện… Tuy nhiên, hoạt động thông tin thuốc vẫn còn yếu kém, chưa thường xuyên, thường là kiêm nhiệm, có bệnh viện còn chưa thành lập tổ thông tin thuốc Chưa tạo được mối quan hệ mật thiết
Trang 15giữa y và dược do đó thông tin phản hồi về tác dụng và phan ứng có hại của thuốc còn nhiều hạn chế.[25] [26] [28] [29]
- Ngày 24 tháng 3 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Y tế ký Quyết định số: 991/QĐ-BYT về việc thành lập Trung tâm Quốc gia về thông tin và theo dõi tác dụng phụ của thuốc, đặt tại Trường Đại học Dược Hà Nội Trung tâm này ra đời sẽ khắc phục được những tồn tại về việc theo dõi ADR của thuốc trong những năm qua Một đơn vị thông tin thuốc và theo dõi tác dụng có hại của thuốc độc lập, với những chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, được phân bổ kinh phí từ nguồn ngân sách của Nhà nước không còn lệ thuộc vào viện trợ nước ngoài, sẽ là khởi đầu tốt cho lĩnh vực này [20]
Cung ứng thuốc tại bệnh viện tốt không những nâng cao chất lượng
và hiệu quả điều trị của bệnh viện mà còn góp phần làm bình ổn giá thuốc Chính vì vậy vấn đề này cần được nghiên cứu kỹ và đưa ra hướng giải quyết sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất
25/02/1997 về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý, sử dụng thuốc tại bệnh viện và chỉ thị 04/Bộ Y Tế- CT ngày 04/03/1998 về việc tăng cường sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, tiết kiệm tại các cơ sở khám chữa bệnh Công tác cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc đã góp phần tích cực trong quá trình điều trị và phục vụ người bệnh.[5] [10]
Ngay từ năm 1997, chỉ thị 03/BYT-CT ngày 25-02-1997 của Bộ Y
Tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng quản lý và sử dụng thuốc tại bệnh viện ghi rõ: “ Việc mua bán thuốc phải thực hiện qua thể thức đấu thầu, chọn thầu, chỉ định thầu công khai theo quy định nhà nước”
Công tác Dược bệnh viện đã đi vào nề nếp, nhưng việc sử dụng thuốc chưa hợp lý, thiếu an toàn vẫn diễn ra ở nhiều nơi Tình trạng lạm dụng thuốc đặc biệt là thuốc kháng sinh diễn ra phổ biến, thầy thuốc có tâm lý chuộng kháng sinh mới, tác dụng mạnh, phổ tác dụng rộng để chắc chắn
Trang 16khỏi nhanh, làm tăng uy tín thầy thuốc Mặc dù những bệnh thông thừờng không phải dùng tới mức đó Tình trạng kê đơn theo quảng cáo là tình trạng chung và trở thành căn bệnh của toàn cầu Kê đơn theo quảng cáo đồng nghĩa với bán thuốc quá đắt cho bệnh nhân, giá thuốc biệt dược, thuốc quảng cáo thường đắt gấp 2-3 lần thuốc gốc [27] Việc sử dụng thuốc tràn lan đang
là mối lo ngại cho các nhà quản lý y tế và xã hội Từ những vấn đề trên, ngày 16/04/2004 Bộ Y Tế sổ sung chỉ thị 05/2004/KT-Bộ Y Tế để tiếp tục chấn chỉnh công tác cung ứng sử dụng thuốc trong bệnh viện [7] [12]
Ngày 27-07-2005 Bộ Y Tế và Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư liên tịch số 20/2005/TTLT-BYT-BTC để hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế công lập Thông tư này áp dụng cho các cơ sở y tế công lập có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước theo quy định để mua thuốc phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh và phòng bệnh với tổng kinh phí trong năm từ 200 triệu đồng trở lên đối với cơ sở y
tế công lập trung ương
Sau hai năm thực hiện đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập theo thông tư 20/2005/TTLT-BYT-BTC, ngày 10-08-2007, Bộ Y Tế, Bộ Tài Chính ban hành thông tư số 10/2007/TTLT-BYT-BTC thay thế cho thông
tư 20/2005/TTLT-BYT-BTC Thông tư số 10/2007 thay đổi một số điều khoản so với thông tư 20/2005 như: áp dụng cho các cơ sở y tế công lập có
sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác để mua thuốc theo quy định tại thông tư này và các văn bản pháp luật
có liên quan (không giới hạn số tiền mua sắm tối thiểu)
Thông tư 10 quy định Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm phê duyệt
kế hoạch đấu thầu mua thuốc cho các cơ sở y tế công lập thuộc phạm vi quản lý theo quy định hiện hành Thủ trưởng các cơ sở y tế công lập (thủ
Trang 17trưởng đơn vị) chịu trách nhiệm phê duyệt hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc của đơn vị
Thông tư 10 quy định cụ thể các nội dung phải thực hiện gồm:
- Lập kế hoạch đấu thầu mua thuốc: căn cứ lập kế hoạch, nội dung của từng gói thầu trong kế hoạch, giá gói thầu, hình thức lựa chọn nhà thầu, thời gian tổ chức đấu thầu, hình thức hợp đồng
- Trình duyệt kế hoạch và phê duyệt kế hoạch đấu thầu
- Hồ sơ mời thầu
- Kết quả lựa chọn nhà thầu
1.2 Các nhiệm vụ cung ứng thuốc trong bệnh viện
Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến tận tay người sử dụng, chu trình cung ứng thuốc trong bệnh viện được mô tả như hình 1.1
Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến tận tay người sử dụng Đó là một chu trình khép kín bao gồm, các hoạt động sau : Lựa chọn thuốc, mua sắm thuốc, cấp phát thuốc và quản lý sử dụng thuốc Các hoạt động này có liên quan chặt chẽ với nhau, mỗi hoạt động đều dựa
Lựa chọn thuốc
Quản lý sử dụng
thuốc
Các lĩnh vực quản lý khác( Nhân lực, tài lực,
Trang 18trên kết quả của hoạt động trước đó đồng thời là nền tảng cho hoạt động kế tiếp Do đó các hoạt động cần có sự trao đổi thông tin và phối hợp với nhau làm tăng hiệu quả của hoạt động cung ứng thuốc
1.2.1 Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc trong bệnh viện có ý nghĩa quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và chi phí điều trị
Lựa chọn thuốc là công việc đầu tiên trong chu trình cung ứng thuốc
và là khâu rất quan trọng Lựa chọn danh mục thuốc hợp lý và thích ứng với mô hình bệnh tật của bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cho việc chủ động cung ứng thuốc Hơn nữa, việc lựa chọn để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện còn là cơ sở cho việc điều trị an toàn, hiệu quả và tiết kiệm chi phí, sử dụng hợp lý nguồn tài chính trong bệnh viện [6] Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng điều trị
Tiêu chí để lựa chọn thuốc
- Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật
- Thuốc có chất lượng tốt, an toàn, kinh tế
- Phù hợp với phác đồ điều trị chuẩn
- Đáp ứng tốt trong thực tế điều trị
- Ưu tiên sử dụng thuốc thiết yếu và thuốc theo tên gốc
Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mô hình bệnh tật tại chỗ, trang thiết bị điều trị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán
bộ, nguồn lực tài chính, các yếu tố môi trường, địa lý…[2]
* Mô hình bệnh tật của bệnh viện
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong một khoảng thời gian nhất định (thường theo từng năm) về số bệnh nhân đến khám và điều trị Bệnh viện là nơi trực tiếp khám và điều trị cho người mắc bệnh trong cộng đồng, vì vậy mô hình bệnh tật( MHBT) của bệnh viện bao gồm cả MHBT của cộng đồng Nhưng khác với MHBT ở cộng đồng là
Trang 19mỗi bệnh viện có tổ chức khác nhau, đặt trên địa bàn khác nhau với đặc điểm dân cư và địa lý khác nhau, đặc biệt là có chức năng nhiệm vụ khác nhau trong tuyến y tế, từ đó dẫn đến MHBT của các bệnh viện khác nhau
Để nghiên cứu MHBT được thuận lợi và chính xác, Tổ chức y tế thế giới
đã ban hành danh mục phân loại quốc tế về bệnh tật ICD, bảng phân loại bệnh tật đã được sửa đổi và bổ sung lần thứ 10 [4] MHBT là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện không chỉ lựa chọn xây dựng danh mục thuốc phù hợp mà còn là cơ sở để hoạch định và phát triển toàn diện trong tương lai Ngoài một số yếu tố như điều kiện kinh tế- xã hội, tôn giáo, khí hậu, địa lý,
tổ chức mạng lưới và chất lượng dịch vụ y tế, trình độ khoa học kỹ thuật, MHBT của bệnh viện còn phụ thuộc vào sự lựa chọn của người bệnh và vào chính bệnh viện.[2]
* Phác đồ điều trị
Phác đồ điều trị là sự đúc rút kinh nghiệm và tập trung trí tuệ của tập thể cán bộ chuyên môn của bệnh viện cho những phương án điều trị cụ thể của từng loại bệnh và được Hội đồng khoa học bệnh viện thông qua, là căn
cứ giúp người thầy thuốc có phương hướng điều trị nhanh chóng, hiệu quả
và tối ưu Phác đồ điều trị thường dựa vào những phác đồ chuẩn để áp dụng vào bệnh viện cho sát với thực tế điều trị của bệnh viện Đây là tài liệu hướng dẫn thầy thuốc thực hành những công việc không thể thiếu được
* Danh mục thuốc thiết yếu:
“Danh mục thuốc thiết yếu là danh mục những loại thuốc thỏa
mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân Những loại thuốc này luôn sẵn có bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý”
Với những ưu điểm có đầy đủ chủng loại thuốc để đáp ứng điều trị các bệnh thông thường, tên thuốc thường là tên gốc, tên thông dụng quốc
tế, dễ bảo quản dễ sử dụng, giá cả hợp lý Vì vậy DMTTY đã giúp cho
Trang 20nhiều quốc gia vượt qua được tình trạng thiếu thuốc thiết yếu cho điều trị, tiết kiệm được ngân sách quốc gia và hạn chế được tác dụng không mong muốn của thuốc
Thuốc thiết yếu là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của nhà nước về đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng chữa bệnh cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong DMTTY phục vụ công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân DMTTY là một trong những căn cứ để lựa chọn thuốc trong bệnh viện
* Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh
Quyết định 31/2011/ QĐ- BYT ngày 11/07/2011 có 900 hoạt chất Đây là danh mục thuốc tương đối đầy đủ và rộng mở nếu so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới[12] [19] [23].Danh mục thuốc thiết yếu
là cơ sở pháp lý để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc cụ thể cho đơn vị mình Căn cứ vào danh mục chủ yếu, mô hình bệnh tật, khả năng kinh phí của bệnh viện để lựa chọn cụ thể từng loại thuốc có trong danh mục đưa vào xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện phục vụ công tác khám, chữa bệnh đáp ứng các mục tiêu sau:
+ Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế
+ Đáp ứng nhu cầu điều trị hiệu quả cho người bệnh
+ Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh thuộc diện chi trả của BHYT
+ Phù hợp với khả năng ngân sách của BHYT và khả năng kinh tế của người bệnh
* Khả năng kinh phí của bệnh viện
Kinh phí của bệnh viện là một trong những yếu tố quan trọng để lựa chọn và quyết định danh mục thuốc của bệnh viện Kinh phí bệnh viện phụ thuộc vào : nguồn ngân sách nhà nước, nguồn viện phí, nguồn BHYT chi trả và nguồn tài trợ của các cơ quan, tổ chức chính trị trong và ngoài nước
Trang 21* Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Việc lựa chọn thuốc còn phụ thuốc vào trình độ chuyên môn của người thầy thuốc và trang thiết bị kỹ thuật của bệnh viện
Ngoài ra lựa chọn thuốc có thể tham khảo danh mục thuốc, hoạt chất,
mô hình bệnh tật, các phác đồ điều trị chuẩn đã được lưu hành của WHO, của một số quốc gia tương đồng về kinh tế, y tế và dự đoán tình hình bệnh tật trong kỳ tới.[2]
1.2.2 Mua thuốc
Hoạt động mua thuốc có liên quan đến chất lượng thuốc, Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện cân nhắc lựa chọn sao cho thuốc được mua có chất lượng, phù hợp với yêu cầu điều trị Việc mua thuốc ở bệnh viện tiến hành theo các bước sau:
- Xác định số lượng thuốc cần thiết cho mỗi loại dựa vào danh mục thuốc bệnh viện trên cơ sở dựa vào cơ số tồn kho năm trước, số lượng bệnh nhân khám và điều trị trong năm, dự kiến số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị năm sau
- Tập hợp những thông tin tiêu dùng về thuốc bao gồm: Dược động học, dược lực học, tác dụng dược lý, chỉ định, chống chỉ định, tác dụng không mong muốn, liều dùng, giá thuốc, so sánh gía trị thuốc cùng hoạt chất, nước sản xuất
- Sau khi lựa chọn thuốc phù hợp với nhu cầu sử dụng của bệnh viện, khoa dược tiến hành mua thuốc trong danh mục
* Lựa chọn phương thức mua thuốc
Ngay từ năm 1997, chỉ thị số 03/CT-Bộ Y Tế ngày 25/02/1997 của
Bộ trưởng Bộ Y Tế về chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý và dùng thuốc tại bệnh viện đã ghi rõ “Việc mua thuốc phải thực hiện qua thể thức đấu thầu, chọn thầu, chỉ định thầu công khai theo quy định của nhà nước”[5]
Trang 22Nhằm tăng cường việc quản lý, sử dụng kinh phí của các cơ sở y tế công lập trong việc mua thuốc, hóa chất, dịch truyền, vật tư tiêu hao, phục
vụ nhu cầu khám chữa bệnh và phòng bệnh có hiệu quả Ngày 27/07/2005
Bộ Y Tế và Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư liên tịch số
20/2005/TTLT-Bộ Y Tế-BTC “Hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ
sở y tế công lập” tuy nhiên sau một thời gian triển khai thực hiện tại các cơ
sở y tế phát sinh một số vướng mắc do đó ngày 10 tháng 08 năm 2007 Bộ
Y Tế, Bộ Tài Chính đã ban ban hành thông tư liên tịch số
10/2007/TTLT-Bộ Y Tế-BTC “ Hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế công lập” thay thế thông tư 20/2005/TTLT-Bộ Y Tế-BTC Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-Bộ Y Tế-BTC đã sửa chữa một số điểm so với thông tư số 20/2005/TTLT- Bộ Y Tế- BTC, cụ thể:
Đối tượng áp dụng: Các cơ sở y tế công lập có sử dụng nguồn kinh
phí từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định
để mua thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh với tổng kinh phí trong năm từ 200 triệu đồng trở lên với cơ sở y tế công lập trung ương, từ 50 triệu đồng với các cơ sở y tế tuyến quận, huyện đều phải tổ chức đấu thầu Đối với các cơ sở y tế công lập có tổng nguồn ngân sách mua thuốc trong năm dưới mức quy định trên, thủ trưởng đơn vị quyết định hình thức mua sắm cho phù hợp, có hiệu quả
Đối tượng không áp dụng: Thuốc do nhà nước đặt hàng, máu và các
chế phẩm từ máu Thuốc đông, nam dược trừ thành phẩm
Thời gian phê duyêt kế hoạch đấu thầu: Không quá 10 ngày
Phê duyệt hồ sơ mời thầu: Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm phê
duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc cho đơn vị theo quy định hiện hành
Đánh giá hồ sơ mời thầu: Đánh giá hồ sơ dự thầu theo từng mặt
hàng trong một gói thầu
Trang 23Phê duyệt kết quả dự thầu: Thủ trưởng đơn vị
Kế hoạch đấu thầu: Tối thiểu 01 năm, 01 lần
Phát sinh thủ trưởng đơn vị được quyền quyết định mua: Dưới 100
triệu đồng
Các yếu tố này giúp cho công tác đấu thầu được nhanh và nhiều thuận lợi một số nội dung khác của thông tư số 10/2007/TTLT-Bộ Y Tế-BTC không thay đổi nhiều so với thông tư 20/2005/TTLT- Bộ Y Tế- BTC trong đó có các yêu cầu về chất lượng thuốc, cam kết của nhà thầu về đảm bảo cung ứng đầy đủ, về giá cả
* Các phương thức mua thuốc
Có nhiều phương thức mua thuốc: Mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu mua sắm đặc biệt…
* Lựa chọn nhà cung ứng
Lựa chọn nhà cung ứng chính là tổ chức đấu thầu để chọn ra nhà thầu có năng lực về tài chính và chuyên môn đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của bên mời thầu Việc tổ chức đấu thầu phải theo đúng các thông tư, nghị định của chính phủ về đấu thầu mua bán hàng hóa
+ Chất lượng và quy cách hàng hóa
+ Phương thức giao nhận và nghiệm thu
+ Thời hạn thanh toán
+ Hiệu lực của hợp đồng
+ Thanh toán và kiểm nhận thuốc
Trang 24* Các phương thức thanh toán tiền thuốc
Phương thức thanh toán: Tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán theo
hợp đồng
Thanh toán tiền thuốc theo đúng số lượng đã mua và đúng giá trong hợp đồng mua bán
* Nhận thuốc và kiểm tra thuốc
+ Trước khi hàng nhập vào kho bên mua phải giám sát, kiểm tra giữa
dự trù với hóa đơn giao hàng có đúng số lượng, chủng loại, chất lượng thuốc như đã quy định trong hợp đồng trước đó hay không Khi giao hàng phải có đầy đủ giấy báo lô, ghi rõ số đăng ký, số kiểm soát, lô sản xuất, hạn dùng của thuốc, phiếu kiểm nghiệm
+ Đối với thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần khi kiểm nhận phải làm biên bản kiểm nhập theo quy chế thuốc độc
+ Thuốc nhập vào kho phải thông qua hội đồng kiểm nhập theo quy định của bệnh viện
1.2.3 Cấp phát thuốc
* Về tổ chức kho:
Hệ thống kho dược được chia thành kho chính và kho lẻ phục vụ cho hoạt động cấp phát thuốc nội trú và ngoại trú, cấp phát thuốc là hoạt động quan trọng trong cung ứng thuốc, khoa dược có quy trình cấp phát thuốc,
thủ tục hợp lý, đảm bảo chặt chẽ, đúng nguyên tắc
- Kho chính: Thủ kho là dược sĩ đại học giúp trưởng khoa làm dự trù
mua thuốc, nắm vững tình hình tồn kho, cấp phát thuốc cho các kho lẻ
- Kho cấp phát lẻ: Cấp phát cho bệnh nhân ngoại trú có thẻ bảo hiểm
y tế, các khoa phòng Phiếu lĩnh thuốc phải được trưởng khoa dược hoặc
dược sĩ được ủy quyền ký tên
Trước khi giao thuốc dược sĩ phải thực hiện 03 kiểm tra 03 đối chiếu theo đúng quy chế sử dụng thuốc
Trang 25* Tồn trữ và bảo quản thuốc:
- Chất lượng thuốc có thể bị ảnh hưởng do quá trình tồn trữ và bảo quản, thuốc khi được nhập vào kho cần phải tuân theo điều kiện bảo quản của nhà sản xuất, nếu không có yêu cầu bảo quản đặc biệt thì áp dụng điều kiện bảo quản thông thường (< 30°C) Các thuốc nghiện, hướng thần bảo quản theo quy định
- Kho thuốc phải cao ráo, thoáng mát, có các quy trình quản lý, hệt thống theo dõi quá trình bảo quản, tồn trữ thuốc an toàn, có phiếu theo dõi ghi chép mỗi ngày( nhiệt độ và độ ẩm)
- Hạn dùng thuốc cũng là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thuốc Cần lưu giữ thuốc theo quy định hạn gần xuất trước (First- expiry, First- out) Đối với thuốc có cùng hạn sử dụng tuân theo quy định nhập trước xuất trước (First-in, First-out)
Hoạt động cấp phát thuốc được đánh giá là có hiệu quả khi:
- Luôn dự trữ trong kho một lượng thuốc hợp lý, không để xảy ra tình trạng thiếu hoặc thừa thuốc
- Thuốc được bảo quản trong điều kiện tốt, không bị quá hạn sử dụng
- Hạn chế tối đa tình trạng hao hụt thuốc vì các nguyên nhân khác nhau
- Thuốc được cấp cho các khoa, phòng đúng, đủ, kịp thời, chất lượng đảm bảo
- Có đủ phương tiện vận chuyển nhanh chóng
- Theo dõi và hướng dẫn quản lý tủ thuốc trực tại các khoa, phòng trong bệnh viện
- Xử lý kịp thời những khó khăn ngoài dự kiến
- Lưu trữ các hồ sơ và dữ liệu đầy đủ, trung thực, chính xác và minh bạch
Trang 261.2.4 Giám sát sử dụng thuốc
* Thực hiện danh mục thuốc
Giám sát thực hiện danh mục thuốc là giám sát việc tuân thủ theo danh mục thuốc bệnh viện Để đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo danh mục thuốc bệnh viện, HĐT & ĐT phải thường xuyên xem xét đánh giá danh mục thuốc vì ngày càng có nhiều thuốc mới và phương pháp điều trị mới Đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện việc tuân thủ danh mục thuốc, cụ thể như là đối với việc sử dụng thuốc không có trong danh mục, việc bổ sung hay loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục, thuốc thay thế trong điều trị
Hội đồng thuốc và điều trị cần tạo điều kiện cho bác sĩ và dược sĩ tiếp cận danh mục thuốc để thuận lợi cho việc kê đơn và hướng dẫn sử dụng thuốc Thông tin được đưa trong danh mục thuốc bệnh viện nên đưa đầy đủ kịp thời giúp cho việc sử dụng, quản lý và cung ứng được thuận tiện
* Kê đơn, chỉ định dùng thuốc
Để quản lý việc kê đơn, chỉ định dùng thuốc được an toàn, hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm, các bác sĩ cần thực hiện đúng quy chế kê đơn theo quy định của bệnh viện và Bộ Y Tế
- Kê đơn trong danh mục thuốc đã được bệnh viện xây dựng
- Thực hiện quy chế kê đơn
- Thực hiện phác đồ điều trị
- Quy trình kê đơn và sử dụng thuốc của bệnh viện
Trong quá trình kê đơn cần đúc rút kinh nghiệm bằng các hình thức như bình đơn thuốc, thông tin về thuốc, các phác đồ điều trị mới… Nhằm đảm bảo kê đơn, chỉ định dùng thuốc thực hiện 5 đúng: đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều, đúng cách, đúng dạng
Trang 27* Thống kê, báo cáo sử dụng thuốc
Khoa dược chịu trách nhiệm toàn bộ về chất lượng thuốc do khoa dược phát ra, thực hiện kiểm kê thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao định kỳ hàng tháng với các nội dung:
- Đối chiếu sổ xuất, nhập với chứng từ
- Đối chiếu sổ sách với thực tế về số lượng và chất lượng
- Đánh giá lại thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, tìm nguyên nhân gây chênh lệch hư hao khi xảy ra chênh lệch
Mục tiêu hướng dẫn sử dụng thuốc của dược sĩ tại bệnh viện nói riêng và các dược sĩ nói chung là đảm bảo bệnh nhân được dùng đúng thuốc, đủ thuốc, thuốc có chất lượng đảm bảo và đáp ứng nhu cầu điều trị Tham gia công tác này có vai trò lớn của đội ngũ dược lâm sàng và đơn vị thông tin thuốc Thông tin thuốc là chìa khóa của hoạt động sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế và đảm bảo hiệu quả của quá trình chăm sóc bằng thuốc Người dược sĩ có trách nhiệm thông tin tư vấn về thuốc cho thầy thuốc kê đơn hợp lý, hỗ trợ y tá dùng thuốc đúng cho người bệnh, thực chất
là thực hành dược lâm sàng trong bệnh viện
1.3 Một vài nét về bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình
1.3.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình- Thành phố Hồ Chí Minh
Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình được thành lập năm 1985 và là bệnh viện thực hành chuyên khoa loại I về chấn thương chỉnh hình với quy
mô 500 giường bệnh
Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình là đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Sở Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh, thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định của Nghị định 43/2006/NDĐ- CP, ngày 25/4/2006 của Chính phủ
Trang 28Bệnh viện chịu sử quản lý toàn diện của của Sở Y Tế về chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành Y tế Thành phố Hồ Chí Minh
Bệnh viện có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước
Trụ sở làm việc: 929 Trần Hưng Đạo, Phường 01, Quận 5, TP Hồ Chí Minh
* Chức năng của bệnh viện:
- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh
- Đào tạo cán bộ y tế
- Nghiên cứu khoa học về Y tế
- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật
Nhiệm vụ của các Phó Giám đốc Bệnh viện do Giám đốc phân công,
ủy quyền giải quyết trực tiếp một số công việc của Bệnh viện và liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp trên về công tác được phân công
Bệnh viện tổ chức thành 22 khoa, phòng trong đó có 6 phòng chức năng, 12 khoa lâm sàng và 4 khoa cận lâm sàng Các phòng chức năng và các đoàn thể đặt dưới sự quản lý của Ban Giám Đốc Trong đó Giám đốc bệnh viện là người đứng đầu, chịu trách nhiệm trước cấp trên về mọi thông tin của bệnh viện Trưởng các khoa, phòng trong bệnh viện sẽ chịu trách
Trang 29nhiệm trước Giám đốc bệnh viện về mọi hành động của khoa phòng mình Trong những năm qua mặc dù cơ sở vật chất thiếu thốn, chật chội, nhân lực không đủ, tình trạng bệnh nhân luôn quá tải, tình trạng bệnh tật ngày càng phức tạp,… nhưng bệnh viện vẫn hoàn thành vượt chỉ tiêu được giao
Các phòng chức năng, nghiệp vụ và các khoa lâm sàng, cận lâm sàng được thực hiện theo qui định tại Quyết định số 1895/1997/Bộ Y Tế-QD ngày 19/09/1997 cùa Bộ Trưởng Bộ Y Tế về việc ban hành quy chế bệnh viện.Khi cần thiết tùy theo yêu cầu công tác Giám đốc bệnh viện có thể đề nghị với Giám đốc Sở Y tế thành lập, sát nhập hoặc điều chỉnh các khoa, phòng cho phù hợp
Hình 1.2 : Mô hình tổ chức Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình
ĐẢNG BỘ BAN GIÁM ĐỐC
NGHIỆP VỤ KHOA CẬN LÂM SÀNG
Dược Chống nhiễm khuẩn Chẩn đoán hình ảnh Xét nghiệm
Kế hoạch tổng hợp & Chỉ đạo tuyến
Tổ chức cán bộ Tài chính – Kế toán Hành chính – Quản trị Điều dưỡng
Vật tư & Thiết bị y tế
Trang 30Vị trí, chức năng và nhiệm vụ, tồ chức của các khoa, phòng thuộc Bệnh viện được thực hiện theo quy định tại Quyết định 1895/1997/Bộ Y Tế-QD ngày 19/09/1997 của Bộ Trưởng Y Tế về viện ban hành qui chế Bệnh viện
Số lượng giường bệnh, biên chế cán bộ viên chức, định mức lao động của Bệnh viện được thực hiện theo chỉ tiêu của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh giao hàng năm theo qui định của pháp luật
* Cơ cấu nhân lực của bệnh viện
Nhân lực là yếu tố quan trọng để bệnh viện hoàn thành chức năng và nhiệm vụ được giao, nó liên quan trực tiếp đến chất lượng khám chữa bệnh
và sử dụng thuốc tại bệnh viện
1.3.3 Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện
Để góp phần chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc tại bệnh viện, Bộ Y Tế đã ra chỉ thị 03/Bộ Y Tế-CT ngày 25/02/1997 Và để hướng dẫn việc tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐT
& ĐT tại bệnh viện Bộ Y Tế đã ra thông tư 08/Bộ Y Tế-TT ngày 04/7/1997 Theo các văn bản này Giám đốc bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình đã thành lập HĐT & ĐT của đơn vị gồm 15 người, hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm Trong đó, Chủ tịch là Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn, Phó chủ tịch kiêm ủy viên thường trực là Dược sĩ đại học Trưởng khoa Dược bệnh viện, Thư ký là Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, các ủy viên thường xuyên là trưởng một số khoa điều trị chủ chốt hoặc của tất cả các khoa và Y tá trưởng bệnh viện, ủy viên không thường xuyên là Trưởng phòng Tài chính Kế toán
- HĐT & ĐT họp định kỳ mỗi quý một lần Họp không định kỳ do Giám đốc yêu cầu hoặc Chủ tịch hội đồng triệu tập Phó chủ tịch hội đồng
- Trưởng khoa Dược chuẩn bị nội dung họp và gửi tài liệu đến các thành viên trong hội đồng trước khi diễn ra cuộc họp Trên cơ sở đó, hội đồng sẽ
Trang 31thảo luận phân tích các ý kiến đề xuất Ủy viên thường trực tổng hợp trình lên Giám đốc bệnh viện phê duyệt và quyết định thực hiện Sau 3, 6, 9, 12
tháng làm báo cáo sơ kết và tổng kết một lần.)
Công tác Dược lâm sàng còn có mối quan hệ sâu sắc đến chương trình giảng dạy về dược lâm sàng tại các Trường Đại học và kế hoạch tổ chức đào tạo, đào tạo lại cho cán bộ y tế sau nhiều năm ra trường Thông qua công tác dược địa phương, hầu hết các Sở Y tế đều nhận thấy cần thiết phải đạo tạo lại kiến thức dược lâm sàng cho cán bộ y tế mới đáp ứng được yêu cầu thực tế điều trị, nhưng chưa có Sở Y tế nào tìm được giải pháp thoả đáng cho vấn đề này, liên quan nhiều đến việc bố trí nguồn kinh phí, thời gian đào tạo Nơi nào làm tốt công tác dược lâm sàng thì Hội đồng thuốc & điều trị thể hiện tốt hơn vai trò tham mưu cho Giám đốc bệnh viện trong công tác sử dụng thuốc an toàn, hợp lý (thông qua bình bệnh án, …) còn nơi nào làm không tốt công tác dược lâm sàng thì Hội đồng thuốc và điều
trị chỉ còn ý nghĩa trên danh nghĩa.[20]
- Xây dựng danh mục thuốc phù hợp với đặc thù bệnh tật và chi phí
về thuốc và vật tư tiêu hao của bệnh viện
- Giám sát việc thực hiện quy chế chẩn đoán bệnh, làm hồ sơ bệnh án
và kê đơn điều trị, quy chế sử dụng thuốc và quy chế công tác khoa dược
Trang 32- Theo dõi phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến thuốc trong bệnh viện
- Thông tin thuốc: Thuốc mới, tương tác thuốc khi phối hợp thuốc, thuốc cấm lưu hành, ADR của thuốc cho toàn bệnh viện Thành lập đơn vị thông tin thuốc trực thuộc Hội đồng thuốc và điều trị
- Tổ chức nghiên cứu khoa học và đào tạo kiến thức về thuốc
Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa dược sĩ, bác sĩ điều trị và y tá điều dưỡng trong sử dụng thuốc cho người bệnh [11] [13] [14]
Tóm lại: Để đảm bảo cung ứng thuốc trong bệnh viện được đầy đủ,
kịp thời, chất lượng và kinh tế Đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở các bệnh viện khác nhau và đã chỉ ra được những mặt đã làm được cũng như những khó khăn, tồn tại của hoạt động cung ứng thuốc cần khắc phục Tuy nhiên, với bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực này
Bộ Y Tế đã ban hành Thông tư số 08/Bộ Y Tế-TT ngày 4/7/1997 hướng dẫn việc tổ chức chức năng nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện để thực hiện chỉ thị 03/Bộ Y Tế- CT ngày 25/2/1997 của Bộ trưởng Bộ Y Tế về việc chấn chỉnh công tác quản lý và sử dụng thuốc tại bệnh viện
Trang 33CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện tại bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.HCM, quá trình nghiên cứu về hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện gồm: HĐT&ĐT, khoa Dược, các bác sĩ điều trị và các dược sĩ ở khoa dược
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Phương pháp mô tả và hồi cứu
* Phương pháp phân tích của quản trị học
Dựa trên các phương pháp phân tích quản trị học: Phân tích S.W.O.T
về các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình
Quy trình cung ứng thuốc
Trang 34Quy trình tồn trữ và bảo quản thuốc
Quy trình cấp phát thuốc
Quy trình giám sát sử dụng thuốc
Quy trình thống kê thuốc sử dụng
Trang 35CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TP.HCM
Hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Do điều kiện nghiên cứu có hạn xin được trình bày các yếu tố cơ bản như sau:
3.1.1 Tổ chức và cơ cấu nhân lực khoa Dược
* Tổ chức khoa Dược
Khoa Dược có trách nhiệm trong toàn bộ hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện, nên tổ chức và cơ cấu nhân lực là yếu tố quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của khoa
Ngoại trú Nội trú
Ban Giám Đốc
Trưởng Khoa Dược
Tổ Pha Chế Tổ Kho &
Tủ thuốc viên
Thuốc hướng thần
Thuốc gây nghiện &
dược chính
Nhà thuốc
1
Nhà thuốc
2
Trang 36Tại Cục Quản lý dược: bổ sung và củng cố đội ngũ cán bộ của Cục theo Quyết định 53/2008/QĐ-BYT ngày 30/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Y
tế về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý dược Phối hợp chặt chẽ với Vụ Khoa học - Đào tạo để thực hiện tốt cơ chế đào tạo cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ cho những địa phương gặp khó khăn về nhân lực dược.[20]
- Trưởng khoa: Là Dược sĩ sau đại học phụ trách chung toàn bộ
hoạt động của khoa, nhà thuốc bệnh viện, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng thuốc và điều trị Chịu trách nhiệm trước Giám đốc bệnh viện về các hoạt động của khoa và các hoạt động khác của bệnh viện
- Tổ kho và dược chính: Tổ chức quản lý, cấp phát đủ thuốc có chất
lượng cho công tác điều trị của bệnh viện, tham gia lập dự trù thuốc
Dược lâm sàng: Giám sát sử dụng thuốc, thông tin tư vấn thuốc Dược chính: Kiểm tra, theo dõi thực hiện quy chế dược tại các khoa, phòng Quản lý chất lượng thuốc trong bệnh viện, duyệt thuốc hàng ngày cho các khoa, phòng
- Tổ pha chế: Pha chế thuốc dùng ngoài đảm bảo đúng tiêu chuẩn
phục vụ cho nhu cầu điều trị của bệnh viện
- Tổ thống kê: Thống kê tình hình sử dụng thuốc, hóa chất, vật tư
tiêu hao trong toàn bệnh viện
- Nhà thuốc bệnh viện: Có 2 điểm bán thuốc: phục vụ cho bệnh
nhân đến khám bệnh tự nguyện không có thẻ BHYT và phòng khám theo
yêu cầu
* Cơ cấu nhân lực khoa Dược
Nguồn nhân lực năm 2011 được trình bày ở bảng sau:
Trang 37Bảng 3.1 Cơ cấu nhân lực khoa dược bệnh viện
Nhân lực
Tỷ lệ khoa Dược/BV
Số nhân viên
Tỉ lệ
%
Số nhân viên
Nhận xét: Nhìn vào bảng cơ cấu nhân lực khoa Dược cho thấy:
- Tỷ lệ dược sĩ sau Đại học thấp (chiếm tỷ lệ 0.8% toàn bệnh viện), vẫn còn trình độ sơ cấp( chiếm tỉ lệ 6,6% toàn viện)
Tổ chức khoa Dược bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình gồm một trưởng khoa phụ trách chung, một phó trưởng khoa phụ trách khối kho cấp
Trang 38phát và công tác đấu thầu, các DSĐH phụ trách cấp phát nội trú, ngoại trú, dược chính, tiếp liệu thuốc Chức năng các bộ phận như sau:
Tổ nghiệp vụ dược: Có hai DSĐH đảm nhiệm việc cung ứng thuốc
cho khoa dược và nhà thuốc bệnh viện; kiểm tra việc bảo quản, quản lý, cấp phát thuốc tại khoa dược, khoa lâm sàng và nhà thuốc trong bệnh viện
Tổ thống kê, thông tin thuốc: Có một DSĐH, ba DSTH Có nhiệm
vụ thống kê, báo cáo theo dõi sử dụng thuốc và cung cấp các báo cáo công tác dược của bệnh viện Phối hợp với kho chính lập kế hoạch dự trù cung ứng thuốc Hướng dẫn và kiểm tra công tác chuyên môn về dược, nhập hàng theo hóa đơn vào kho chẵn
Tổ kho, cấp phát: Hai DSĐH và chín DSTH Tổ chức dự trù, quản
lý, cấp phát, đảm bảo đủ thuốc có chất lượng cho công tác điều trị của bệnh viện Có bốn tủ cấp phát nội trú:
- Tủ kháng sinh chích – Kháng ung thư – Dịch truyền
- Tủ thuốc viên
- Tủ thuốc chích kháng viêm – Thuốc khác – Hướng thần
- Tủ thuốc nghiện do một DSĐH làm thủ kho cấp phát
Và một tủ cấp phát ngoại trú cho bệnh nhân BHYT
Tổ pha chế: Có một DSTH Pha chế một số loại thuốc dùng ngoài
rửa vết thương đơn giản như NaCl 0.9‰, nước cất, cồn 70° sử dụng trong bệnh viện
Nhà thuốc: Có bốn DSTH và hai DSĐH kiêm nhiệm Nhà thuốc
chịu trách nhiêm cung cấp thuốc, vật tư tiêu hao, một số thuốc ngoài danh mục thuốc bệnh viện Danh mục thuốc của nhà thuốc được Giám đốc bệnh viện ký duyệt
Số DSĐH tại khoa dược chưa đáp ứng công việc của khoa Tại mỗi
bộ phận chính cuả khoa dược như dược chính, cấp phát ngoại trú, thống kê, quản lí nhà thuốc, pha chế đều cần có DSĐH
Trang 39Khoa Dược chưa có dược sĩ chuyên trách làm công tác dược lâm sàng, thông tin thuốc mà dược sĩ ở các bộ phận kiêm nhiệm thêm công tác này Thông tin thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc của dược sĩ trong bệnh viện còn rất hạn chế Các DSĐH chưa được đào tạo chuyên về dược bệnh viện, các công việc đơn giản như cấp phát, kiểm kê đã chiếm hết thời gian làm việc Các chức danh công tác trong khoa dược được phân công theo quy chế bệnh viện do Bộ Y Tế ban hành ngày 19/09/1997 và TT 22/2011/ TT-BYT ngày 20/06/2011
Do làm kiêm nhiệm nên hoạt động thông tin thuốc, theo dõi ADR chưa được thường xuyên Kiến thức dược lâm sàng còn yếu, chưa được cập nhật thường xuyên nên việc hướng dẫn, tư vấn sử dụng thuốc gặp rất nhiều khó khăn Công tác giám sát sử dụng thuốc, theo dõi phản ứng có hại của thuốc còn chưa kịp thời Đây là khó khăn và thách thức, cũng là những mặt của khoa Dược còn hạn chế cần khắc phục để hoàn thành nhiệm vục của khoa
3.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất và kinh phí mua thuốc
* Kinh phí mua thuốc
Trong cơ chế hiện nay, theo nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2006 quy định cho các bệnh viện tự hoạch toán, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Việc quản lý và sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính trong bệnh viện đang là vấn đề nan giải Kinh phí dành cho mua thuốc luôn chiếm số lượng lớn, nguồn kinh phí mua thuốc, vật tư tiêu hao và hóa chất của bệnh viện chủ yếu từ 03 nguồn chính:
+ Nguồn ngân sách nhà nước
+ Nguồn BHYT chi trả
+ Nguồn viện phí
Nguồn kinh phí cho bệnh viện được thể hiện ở bảng 3.2 a và b
Trang 40Bảng 3.2 a và b Nguồn kinh phí mua thuốc tại BV trong năm 2011
Kinh phí bệnh viện (VNĐ)
Kinh phí mua thuốc (VNĐ)
(chiếm 10,18%)
39.399.475.033 (chiếm 12,10%)
Kinh phí mua thuốc
cả 2 loại hình chiếm 22,28% kinh phí của bệnh viện
Năm 2011, nguồn kinh phí mua thuốc của bệnh viện chủ yếu từ nguồn thu BHYT và viện phí, ngân sách nhà nước có cấp nhưng bệnh viện không dùng cho việc chi trả mua thuốc
* Kinh phí chi trả do bảo hiểm y tế:
Qua khảo sát mức chi trả tiền thuốc do BHYT, chúng tôi thu được