Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện vẫn còn nhiều tồn tại: Phần lớn các bệnh viện tuyến huyện còn lúng túng trong việc lựa chọn, xây dựng DMT
Trang 1ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN
QUỲNH LƯU NĂM 2010
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
*******
NGUYỄN VĂN DŨNG
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN
QUỲNH LƯU NĂM 2010 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
Chuyên ngành: Tổ chức quản lý dược
Mã số: CK 6273 2001
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Hương
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành c m ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắ tới
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương giảng viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược Trường Đại học Dược Hà Nội,đã luôn tận t nh giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm Luận văn Tốt nghiệp Dược sĩ chuyên khoa cấp I
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới c c thầy cô giáo Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược, cá thầy cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội, đã tận
t nh giảng dạy và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn tới BSCKI Nguyễn Hoài Nam giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, Khoa Dược, phòng Kế hoạ h tổng hợp, phòng Tổ chức c n bộ, phòng Tài chính kế toán và cá đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian lấy số l ệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài
Tôi xin c m ơn người thân,gia đình và bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong học tập, công tá và trong thời gian thực hiện đề tài này
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2013
Học viên
DS.Nguyễn Văn Dũng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.1 Sử dụng thuốc trên thế giới 3
1.2 Sử dụng thuốc tại Việt Nam 4
1.3 Cung ứng thuốc trong bệnh viện 7
1.3.1 Lựa chọn thuốc 7 1.3.2 Mua thuốc 10 1.3.3 Tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc 12
1.3.4 Sử dụng thuốc 14 1.4 Một số văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động cung ứng
thuốc trong bệnh viện
17
1.5 Vài nét khái quát về BV và Khoa Dược BVĐK Quỳnh Lưu 20
1.5.1 Chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu 20
1.5.2 Mô hình tổ chức Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu 20
1.5.3 Khoa Dược Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.4 Các chỉ số nghiên cứu 25
2.5 Phân tích và xử lý số liệu 27
3.1 Lựa chọn thuốc 28 3.1.1 Quy trình xây dựng DMT 28
3.1.2 Các bước bổ sung thuốc vào DMTBV 30
3.1.3 Mô hình bệnh tật tại BVĐK Quỳnh lưu năm 2010 32
3.1.4 Cơ cấu DMT bệnh viện năm 2010 34
3.2 Mua thuốc 40 3.2.1 Quy trình mua thuốc 41
3.2.2 Kinh phí mua thuốc 43
3.3 Tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc 49
3.3.1 Tồn trữ và bảo quản thuốc 49
3.3.2 Cấp phát thuốc 58 3.4 Sử dụng thuốc 62
Trang 53.4.1 Các thuốc trong DMTBV thực tế sử dụng tại bệnh viện 62
3.4.2 Sử dụng thuốc theo nguồn gốc sản xuất 62
3.4.3 Sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý tại bệnh viện 64
3.4.4 Sử dụng các nhóm thuốc kháng sinh, vitamin, dịch truyền và
corticoid tại bệnh viện
66
3.4.5 Sử dụng thuốc trong đơn ngoại trú 67
3.4.6 Công tác thông tin thuốc và dược lâm sàng tại bệnh viện 70
Trang 63.3 MHBT tại Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu năm 2010 33
3.4 DMT BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010 theo nhóm tác dụng
3.7 Nhóm thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm không steroid,
điều trị gout và bệnh xương khớp trong DMTBV năm 2010
39
3.8 Cơ cấu DMT BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010 theo nguồn
gốc
39 3.9 Cơ cấu kinh phí của BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010 43
3.10 Kinh phí mua thuốc của BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010 45
3.11 Cơ cấu nguồn mua thuốc của BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010 46
3.12 Phân loại và đặc điểm thiết kế hệ thống kho dược Bệnh
3.14 Giá trị thuốc tồn kho hàng tháng tại BV năm 2010 55
3.15 Bảng số lượng bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện
Trang 7T T Tên bảng Trang
3.18 Kinh phí sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý tại
bệnh viện năm 2010
64
3.19 Kinh phí sử dụng các nhóm thuốc kháng sinh, vitamin,
dịch truyền và corticoid tại BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010
66
3.20 Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc 68
3.21 Tỷ lệ đơn thuốc được kê tên gốc 68
3.22 Tỷ lệ đơn thuốc có kháng sinh, vitanin, corticoid, dịch
truyền và thuốc tiêm
69
3.23 Tỷ lệ thuốc được kê đơn có trong DMTCY 69
3.24 Các hoạt động thông tin thuốc và dược lâm sàng tại BVĐK
Quỳnh Lưu năm 2010
70
Trang 8DANH MỤC HÌNH
1.1 Sơ đồ quy trình tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc 12 1.2 Sơ đồ tổ chức BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010 21 1.3 Sơ đồ tổ chức Khoa Dược BVĐK Quỳnh Lưu 23 3.4 Quy trình xây dựng DMT Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu 28 3.5 Các bước bổ sung thuốc vào DMTBV 30 3.6 Quy trình mua thuốc tại BVĐK Quỳnh Lưu 41
3.7 Biểu đồ cơ cấu kinh phí của BVĐK Quỳnh Lưu năm
2010
44 3.8 Khoa Dược BVĐK Quỳnh Lưu 50 3.9 Bảo quản thuốc tại kho dược BVĐK Quỳnh Lưu 51 3.10 Sơ đồ tồn trữ, bảo quản cấp phát thuốc tại Khoa Dược 52 3.11 Quy định thực hiện "5 chống" và "3 kiểm tra-3 đối chiếu" 54
3.12 Bảng theo dõi nhiệt độ và độ ẩm trong kho dược BVĐK
3.15 Biểu đồ kinh phí sử dụng thuốc theo nguồn gốc sản xuất
tại BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010
63
3.16 Biểu đồ kinh phí sử dụng thuốc kháng sinh, vitamin, dịch
truyền và corticoid tại bệnh viện năm 2010
67
Trang 9BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADR Adverse Drug Reaction Tác dụng không mong muốn
Trang 10Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ICD-X International Classification
Diseases-10 Hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10
sàng
Trang 11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Nói đến công tác chăm sóc sức khỏe phải kể đến vai trò của ngành Dược, trong đó thuốc là yếu tố chủ yếu đảm bảo mục tiêu chăm sóc sức khỏe nhân dân [1] Trong những năm qua, công tác Dược nói chung đã có những bước phát triển rất cơ bản về tổ chức quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc Ngành Dược đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân về số lượng và chất lượng Sản lượng thuốc trên thế giới tăng nhanh với tốc độ 9-10 % mỗi năm, sản phẩm thuốc đa dạng và phong phú Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hóa cao, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được mở rộng, tạo điều kiện cho giao thương
và chuyển giao khoa học công nghệ mạnh mẽ trong đó có ngành Dược Thuốc nhập khẩu có mặt trên thị trường Việt Nam, thuốc sản xuất nhượng quyền, thuốc sản xuất trong nước ngày càng lớn, chất lượng thuốc được nâng cao Từ chỗ Việt Nam thiếu thuốc, chủ yếu dựa vào nhập khẩu, đến năm 2010 thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được 48,03% giá trị nhu cầu sử dụng của nhân dân và đảm bảo được 491 hoạt chất/1400 hoạt chất tương ứng với 35,07% [25] Một thực tế là trên thị trường hiện nay có rất nhiều thuốc có cùng hoạt chất nhưng khác nhau về biệt dược, hiệu quả điều trị cũng không rõ rệt hơn so với thuốc gốc [7],[20] Thị trường thuốc phong phú mang lại nhiều thuận lợi cho công tác khám chữa bệnh, song cũng gây khó khăn cho các thầy thuốc khi kê đơn điều trị, cập nhật thông tin,
so sánh tác dụng, thậm chí gây nhầm lẫn và trùng lắp khi kê đơn thuốc, đặc biệt là
ở những nơi còn thiếu thông tin về thuốc cho thầy thuốc và người dân
Cung ứng thuốc luôn giữ vai trò quan trọng trong khám chữa bệnh của bệnh viện, chất lượng cung ứng thuốc có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thuốc và chất lượng khám chữa bệnh Cung ứng thuốc theo thể thức đấu thầu đã tiết kiệm
1
Trang 12chi phí cho người bệnh và ngân sách bệnh viện Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện vẫn còn nhiều tồn tại: Phần lớn các bệnh viện tuyến huyện còn lúng túng trong việc lựa chọn, xây dựng DMT phù hợp với MHBT của địa phương, khu vực nơi bệnh viện trực tiếp khám chữa bệnh, DMTBV phải phù hợp với phác đồ điều trị Xây dựng DMT cần có vai trò tham vấn của HĐT & ĐT Trong khám chữa bệnh, thầy thuốc kê đơn thuốc không sát với chỉ định, kê nhiều loại thuốc trong một đơn thuốc Tình trạng lạm dụng các thuốc kháng sinh, vitamin, dịch truyền, corticoid có chiều hướng gia tăng, phối hợp thuốc có tương tác bất lợi và những lãng phí không cần thiết trong dùng thuốc còn xảy ra [11]
Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu là bệnh viện hạng III trực thuộc Sở Y
tế Nghệ An, chỉ tiêu được giao năm 2010 là 235 giường bệnh Bệnh viện có 14 khoa phòng chức năng, khám chữa bệnh cho 371.709 người dân và nhân dân các địa phương lân cận Ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện còn eo hẹp, kinh phí mua thuốc năm 2010 chiếm 53,01% tổng chi tiêu của bệnh viện [30] Việc nâng cao chất lượng cung ứng thuốc tại bệnh viện không những góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, mà còn góp phần tiết kiệm và sử dụng hiệu quả kinh phí bệnh viện Năm 2010, bệnh viện đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu sử dụng thuốc của người bệnh Để góp phần đánh giá thực trạng hoạt động cung ứng thuốc tại BVĐK Quỳnh Lưu, đề tài: “ Đánh giá hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện
đa khoa huyện Quỳnh Lưu năm 2010” được thực hiện với hai mục tiêu sau:
1- Phân tích hoạt động lựa chọn và mua thuốc tại Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu năm 2010
2- Phân tích hoạt động tồn trữ, bảo quản, cấp phát và sử dụng thuốc tại Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu năm 2010
2
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Sử dụng thuốc trên thế giới
Ngày nay, khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ đã tác động tới mọi mặt của nền kinh tế và đời sống xã hội, trong đó có sự tác động rất lớn đến ngành Dược Thị trường thuốc chữa bệnh phát triển, chủng loại thuốc phong phú và có hiệu lực điều trị cao Hàng năm, giá trị thuốc sử dụng trên thế giới tăng lên với tốc độ 9 - 10% [22] Cứ sau mỗi thập kỷ giá trị thuốc sử dụng tăng lên rất nhanh: năm 1976 là 43 tỷ USD; năm 1985 là 94 tỷ USD; năm 1994 là
256 tỷ USD; năm 2005 là 605 tỷ USD; năm 2008 là 773 tỷ USD; năm 2009 là
760 tỷ USD; năm 2010 là 825 tỷ USD Bình quân tiền thuốc sử dụng trên trên đầu người cũng tăng theo: năm 1976 là 10,3 USD; 1995 là 40 USD; 1999 là 63 USD; năm 2010 là 125 USD [23],[25],[32]
Thị trường dược phẩm trên thế giới được mở rộng, đa dạng về số lượng
và chủng loại thuốc Hệ thống cung ứng thuốc đến từng khu dân cư, đặc biệt là vùng sâu và vùng xa Tuy nhiên, mô hình cung ứng thuốc của từng quốc gia, từng công ty có sự khác nhau về cách thức tổ chức hoạt động và tình hình tài chính Các công ty, tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới, công ty đa quốc gia
đã chi phối hoạt động cung ứng thuốc trên toàn cầu, chúng kiểm soát và chi phối thị phần chủ yếu Việc nghiên cứu và phát triển thuốc mới ở các công ty, tập đoàn này rất mạnh mẽ và luôn được chú trọng Kinh phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thuốc mới chiếm từ 11-17% doanh số [23] Tuy thị trường dược phẩm phát triển mạnh, nhưng sự phân bố tiêu dùng thuốc trên thế giới rất chênh lệch giữa các quốc gia và các vùng miền Năm 1976, các nước phát triển chiếm 27% dân số thế giới nhưng sử dụng thuốc tới hơn 75% lượng thuốc đã
3
Trang 14sản xuất Năm 1985, với 25% dân số các nước phát triển đã sử dụng lên tới 79% lượng thuốc đã sản xuất [32] Năm 2009, mức tiêu thụ thuốc trên thế giới cũng không đồng đều: Bắc Mỹ 38,67%; Châu Âu 31,52%; Nhật Bản 11,35 %; Châu Mỹ La tinh 5,73%; Châu Á, Châu Đại dương, Châu Phi 12,73%[23] Tiền thuốc bình quân đầu người hàng năm cũng rất chênh lệch giữa các nước: Nhật bản tiền thuốc bình quân đầu người hàng năm là 297 USD, Pháp là 235 USD Trong khi đó ở Trung Quốc là 4,91 USD, Indonesia là 6,17 USD, thậm chí ở một số vùng Châu Phi là 01 USD [32]
Ở những quốc gia đang phát triển và kém phát triển đầu tư ngân sách cho
y tế thấp, hệ thống y tế chưa phát triển, cơ sở hạ tầng kém, đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng khám chữa bệnh và nhu cầu sử dụng thuốc của người dân, đặc biệt là người nghèo Thị trường dược phẩm thế giới phát triển theo xu hướng đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc của các nước phát triển và theo mô hình bệnh tật của các nước đó [32]
1.2 Sử dụng thuốc tại Việt Nam
Trong những năm qua, ngành Dược đã phát triển về sản xuất, tổ chức quản lý và cung ứng thuốc đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân
cả về số lượng và chất lượng Thuốc sản xuất trong nước ngày càng tăng, chất lượng thuốc được nâng lên, số lượng mặt hàng mới và có mẫu mã phong phú ngày càng nhiều [17] Việt Nam từ chỗ thiếu thuốc, nguồn thuốc chủ yếu dựa vào nhập khẩu, đến năm 2010, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng của cả nước 1.913.661.000 USD (42.099 tỷ VNĐ), trong đó trị giá thuốc sản xuất trong nước là 919.039.000 USD chiếm 48,03 % tiền thuốc đã sử dụng [25] Tính đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008, thị trường dược phẩm Việt Nam có 20.066 số đăng kí còn hiệu lực tương ứng với 1400 hoạt chất, trong đó có 9727 sản phẩm thuốc sản xuất trong nước của 491 hoạt chất (1 hoạt chất có 19 số đăng ký);
4
Trang 15thuốc nhập khẩu có 10.339 sản phẩm thuốc của 909 hoạt chất (1 hoạt chất có 11
số đăng ký) [20] Theo thống kê của Bộ Y tế và IMS thị trường dược phẩm Việt Nam có mức độ tăng trưởng khoảng 17 - 19% /năm Việt Nam có thị trường dược phẩm lớn thứ tư khu vực Đông Nam Á, tốc độ tăng trưởng đứng thứ 3 trong khu vực [25] Trong nước có 180 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược
và đông dược, trong đó có 101 nhà máy sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP, song có hơn 90% nguyên liệu sản xuất thuốc phải nhập khẩu Tổng tiền thuốc sử dụng ở các bệnh viện trong cả nước năm 2010 là 15.496 tỷ đồng (chiếm 36,8% tổng giá trị sử dụng thuốc năm 2010), trong đó tổng tiền thuốc nhập khẩu là 9805 tỷ đồng, chiếm 63%, một số bệnh viện lớn ở Hà Nội tỷ lệ này còn cao hơn: tỷ lệ
sử dụng thuốc sản xuất trong nước ở bệnh viện tuyến Trung ương chiếm khoảng 12%, bệnh viện tuyến tỉnh khoảng 34%, bệnh viện tuyến huyện chiếm khoảng 61,5% [15] Tiền thuốc bình quân đầu người hàng năm tăng lên liên tục,
từ 0,3 USD năm 1990 tăng lên 9,85 USD năm 2005, 19,77 USD năm 2009 và 22,25 USD năm 2010 [14] Mạng lưới cung ứng thuốc tại Việt Nam ngày càng rộng khắp, đảm bảo thuốc được cung cấp đến tận người dân Trung bình một điểm bán thuốc phục vụ 2000 người [26]
Nằm trong mạng lưới cung ứng thuốc của Việt Nam, trên địa bàn tỉnh Nghệ An tính đến năm 2010 có 863 cơ sở hành nghề dược, trong đó có 35 công
ty và chi nhánh dược, 126 nhà thuốc, 702 cơ sở thuộc loại hình khác Trung bình 1 điểm bán thuốc phục vụ 3700 người Công tác Dược của tỉnh đã đáp ứng tốt nhu cầu dùng thuốc của các cơ sở khám chữa bệnh, đầy đủ thuốc thiết yếu, tiền thuốc bình quân theo đầu người/năm là 200.733 đồng (khoảng 9,56 USD), doanh số bán của các doanh nghiệp trên địa bàn đạt 602 tỷ đồng Tổng ngân sách Nhà nước cấp cho ngành Y tế Nghệ An là 415,937 tỷ đồng, trong đó, ngân
5
Trang 16sách dành cho tuyến huyện là 277,89 tỷ đồng (trung bình mỗi huyện là 14 tỷ đồng), khám chữa bệnh cho 3.123.428 người dân tỉnh Nghệ An [31]
Sự tiến bộ của công tác Dược nói chung đã có sự đóng góp quan trọng của công tác Dược bệnh viện Năm 2010, các cơ sở khám chữa bệnh trong toàn quốc tiếp tục duy trì tốt công tác cung ứng thuốc, đảm bảo đủ thuốc cho người bệnh nội trú theo DMTCY Vai trò của HĐT& ĐT được củng cố và nâng lên trong việc xây dựng DMTBV, sử dụng thuốc an toàn hợp lý thông qua bình đơn thuốc, bình bệnh án Tổ chức cung ứng, bảo quản, cấp phát thuốc có chất lượng trong bệnh viện Các bệnh viện duy trì và thực hiện tốt Chỉ thị 05/2004/CT - BYT, ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện, tổ chức đấu thầu cung ứng thuốc theo quy định Công tác vận chuyển, kiểm nhập, tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc đảm bảo Bệnh viện cung ứng đủ thuốc cho bệnh nhân điều trị nội trú, không để người bệnh tự mua các thuốc nằm trong danh mục thuốc chủ yếu theo Quyết định số: 05/2008/QĐ - BYT của Bộ Y tế ngày 01/2/2008 Nhà thuốc, quầy thuốc trong khuôn viên bệnh viện hoạt động theo đúng quy chế hiện hành Bệnh viện đã tổ chức thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc [16] Việc sử dụng thuốc trong các bệnh viện, thực trạng hiện nay có xu hướng dùng thuốc nhập khẩu, thuốc đắt tiền [26] Thị trường dược phẩm Việt Nam có nhiều tên thuốc biệt dược, gây khó khăn cho việc kê đơn, bán thuốc và người sử dụng thuốc Bên cạnh đó, nhiều thầy thuốc chỉ quan tâm đến tên biệt dược khi
kê đơn mà không biết tên gốc của thuốc, thường kê những thuốc do trình dược viên giới thiệu hay những thuốc đã quen sử dụng Trong một đơn thuốc hay một liệu trình điều trị thầy thuốc thường kê nhiều loại thuốc, đặc biệt là trong đơn
có khi phối hợp 3 - 4 loại kháng sinh [21], chỉ định thời gian và cách dùng thuốc trong ngày chưa hợp lí do chưa nắm chắc dược động học, dược lí - dược
6
Trang 17lâm sàng Bác sĩ thường chỉ định cho bệnh nhân dùng thuốc 2 lần/ngày vào sáng - chiều Sự phối hợp thuốc chưa hợp lí, còn xảy ra tương tác và phản ứng
có hại của thuốc khi điều trị Công tác hướng dẫn sử dụng thuốc chưa thật hiệu quả và chính xác
Công tác cấp phát thuốc xuống tận khoa phòng còn gặp khó khăn về nhân lực dược và sự phối hợp đồng bộ giữa cán bộ y - dược trong bệnh viện Công tác bình bệnh án, bình đơn thuốc còn mang tính hình thức, hoạt động chưa thường xuyên, chưa đi sâu vào nhận xét chẩn đoán và điều trị để đảm bảo
sử dụng thuốc an toàn, hợp lí [17]
Mạng lưới cung ứng thuốc ở Việt Nam đa dạng về thành phần, thuốc được cung ứng phong phú về chủng loại và các dạng bào chế Tuy nhiên, mạng lưới cung ứng thuốc còn nhiều tầng nấc, tồn tại nhiều khâu trung gian, có nơi có lúc còn biểu hiện độc quyền trong cung ứng thuốc, nhất là các thuốc biệt dược
và thuốc chuyên khoa Mặc dù chất lượng các thuốc sản xuất trong nước được nâng lên đáng kể, giá thành thấp hơn nhiều so với thuốc ngoại cùng loại Nhưng thuốc sản xuất trong nước mới chỉ chiếm 37 % giá trị sử dụng trong khối bệnh viện đáp ứng điều trị bệnh thông thường với dạng bào chế đơn giản [15] Các thuốc chuyên khoa, thuốc điều trị đặc hiệu, thuốc có yêu cầu sản xuất bằng công nghệ cao chưa được đầu tư sản xuất Với tình hình sản xuất thuốc trong nước như trên đã ảnh hưởng đến cung ứng, sử dụng thuốc trong các bệnh viện nói chung và các bệnh viện tuyến huyện nói riêng [13]
1.3 Cung ứng thuốc trong bệnh viện
Cung ứng thuốc trong bệnh viện là đảm bảo đủ số lượng và chất lượng thuốc cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai,
7
Trang 18thảm họa) [8],[33] Chu trình cung ứng thuốc trong bệnh viện gồm 4 công đoạn:
lựa chọn, mua sắm, tồn trữ - bảo quản - cấp phát và sử dụng thuốc 1.3.1 Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là khâu đầu tiên của chu trình cung ứng thuốc trong bệnh
viện Bệnh viện cần lựa chọn và xây dựng được một DMT hợp lí thích ứng với
MHBT tại bệnh viện DMT là cơ sở cho việc đảm bảo cung ứng thuốc hiệu quả,
góp phần vào nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và sử dụng hợp lí nguồn
ngân sách bệnh viện Lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố: MHBT, phác
đồ và hướng dẫn điều trị, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm điều trị của thầy
thuốc, DMTCY, trang thiết bị y tế, khả năng chi trả của quỹ BHYT, của bệnh
nhân và môi trường địa lí [33]
Các thuốc được lựa chọn vào DMTBV phải đảm bảo yêu cầu sau :
- Hiệu lực, hiệu quả điều trị hoặc chẩn đoán bệnh cao, rõ ràng và phải được
chứng minh bởi nguồn tài liệu đầy đủ và đáng tin cậy
- An toàn trong điều trị, không có hoặc ít có tác dụng phụ hoặc những thuốc có
đầy đủ dữ liệu tin cậy để phân tích nguy cơ/lợi ích Chọn thuốc có tỷ lệ nguy
cơ/lợi ích phù hợp đưa vào danh mục
- Thuốc được lựa chọn phải đảm bảo chất lượng theo quy định Nên lựa chọn
các thuốc của các cơ sở đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) và
thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP) [12]
- Dạng thuốc, nồng độ, hàm lượng phù hợp, dễ sử dụng, có độ ổn định và sinh
khả dụng cao Nên ưu tiên dạng đơn chất
- Phù hợp với MHBT tại bệnh viện, phác đồ điều trị, trình độ chuyên môn của
thầy thuốc
- Phù hợp với phương tiện, trang thiết bị kĩ thuật sử dụng và điều kiện bảo
quản thuốc tại bệnh viện
8
Trang 19- Sẵn có, giá thành điều trị hợp lý, ưu tiên cho các thuốc sản xuất trong nước, thuốc mang tên gốc (GN), tên quốc tế thông dụng (INN), ưu tiên thuốc chủ yếu
sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh trong DMTCY do Bộ Y tế ban hành đang còn hiệu lực [5]
HĐT & ĐT bệnh viện cần lưu ý khi lựa chọn các thuốc có tác dụng điều trị tương đương nhau, nhưng khác nhau về hoạt chất hoặc các thuốc có cùng hoạt chất nhưng khác nhau về biệt dược [5] DMTBV mang tính đặc thù của mỗi bệnh viện và được xem xét điều chỉnh cho phù hợp trong từng thời kỳ theo yêu cầu điều trị Khi bệnh viện xây dựng DMT, các khoa phòng chuyên môn đều có cơ hội tham gia góp ý HĐT & ĐT tập hợp, xem xét cân nhắc các ý kiến góp ý và có thông tin phản hồi đến các khoa phòng Các thông tin liên quan xây dựng DMT cần khách quan trên cơ sở các yếu tố ảnh hưởng và các yêu cầu lựa chọn thuốc Cuối cùng HĐT & ĐT thống nhất lựa chọn, xây dựng và phổ biến nội dung DMT kèm theo những lý do giải thích sự có mặt của từng thuốc trong danh mục Đồng thời, xây dựng chính sách và hướng dẫn thực hiện DMTBV [32] gồm các nội dung sau:
Đối tượng sử dụng DMT (thầy thuốc kê đơn và bộ phận phụ trách mua thuốc), cách thức sử dụng danh mục, rà soát danh mục, quy định về bổ sung hoặc loại thuốc ra khỏi DMTBV Các thủ tục yêu cầu sử dụng thuốc không nằm trong danh mục ở những trường hợp bất thường hay khẩn cấp Tất cả nhân viên trong bệnh viện phải được hướng dẫn và tập huấn về DMT Một vấn đề thường gặp là thầy thuốc kê đơn thường có những yêu cầu sử dụng thuốc không nằm trong DMTBV, dẫn đến thực trạng là người bệnh phải mua thuốc ngoài danh mục mà không có sự chấp thuận của HĐT& ĐT Bệnh viện cần phải thiết lập một hệ thống thực hiện, phân công trách nhiệm và có các quy định để thực thi các vấn đề liên quan đến thuốc, kể cả các hình thức kỷ luật, khiển trách để thực
9
Trang 20hiện có hiệu quả DMTBV HĐT & ĐT cần phải thống nhất và đưa ra các tiêu chí cụ thể về lựa chọn thuốc, để việc lựa chọn thuốc khách quan và có chất lượng Nếu việc lựa chọn thuốc mang tính cá nhân sẽ gây khó khăn cho việc thuyết phục các thầy thuốc kê đơn các thuốc trong DMTBV
Việc đánh giá các yêu cầu bổ sung thuốc mới vào DMT cần phải dựa trên các tiêu chí cụ thể và bằng chứng rõ ràng: Cân nhắc các phương án điều trị mới cho những bệnh lý mà các biện pháp điều trị bởi các thuốc hiện thời đáp ứng kém hoặc không còn đáp ứng Trường hợp phác đồ mới cải thiện chất lượng điều trị tốt hơn cần căn cứ vào: hiệu lực, hiệu quả điều trị và độ an toàn của thuốc theo các tài liệu tin cậy Chất lượng thuốc đảm bảo, năng lực kinh nghiệm điều trị của thầy thuốc, trang thiết bị liên quan, tình hình kinh phí của bệnh viện
và khả năng chi trả của người bệnh hợp lí
Sử dụng thuốc không có trong danh mục ở một số trường hợp nhất định, thì không nên đưa các thuốc này vào danh mục, mà chỉ dùng trong các trường hợp: bệnh nhân không đáp ứng điều trị hoặc chống chỉ định với thuốc hiện có trong danh mục Trường hợp bệnh nhân trước đó đã đáp ứng tốt với thuốc có trong danh mục thì việc thay đổi thuốc là không cần thiết và có thể gây nguy hại cho người bệnh Khi có yêu cầu bổ sung thuốc mới HĐT & ĐT cần thảo luận và biểu quyết lấy ý kiến thống nhất Khoa Dược lưu lại các văn bản đề xuất và ý kiến của HĐT & ĐT, để theo dõi sự tuân thủ và đánh giá sự thích ứng của DMTBV với MHBT tại bệnh viện [33]
Trang 21“Mua bán thuốc phải thực hiện qua thể thức đấu thầu và chỉ định thầu công khai theo quy định của Nhà nước” Bộ Y tế và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số: 20/2005/TTLT - BYT - BTC, hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế công lập, có sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước để phục vụ khám chữa bệnh và phòng bệnh cho nhân dân
Quy chế đấu thầu của Chính phủ ban hành theo Nghị định số: 85/2009/NĐ - CP ngày 15/10/2009, Luật đấu thầu số: 61/2005/QH11, Luật số: 38/2009/QH12, Thông tư liên tịch số: 10/2007/TTLT- BYT- BTC ngày 10 tháng 8 năm 2007 Bản kế hoạch đấu thầu thuốc sau khi lập xong phải được Bộ
Y tế phê duyệt mới trở thành bản kế hoạch đấu thầu chính thức của các bệnh viện tuyến Trung ương Các bệnh viện trực thuộc sở y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: sở y tế tiến hành đấu thầu thuốc tập trung cho các cơ sở
y tế công lập và ngoài công lập tham gia khám chữa bệnh trên địa bàn Các cơ
sở khám chữa bệnh căn cứ kết quả đấu thầu lập dự trù mua thuốc phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của đơn vị mình Các thuốc được dự trù mua phải tuân thủ DMTBV Các thuốc trúng thầu phải đảm bảo chất lượng theo quy định hiện hành và được Cục Quản lí Dược Việt Nam cấp số đăng kí Thuốc phải có phiếu kiểm nghiệm chi tiết cho từng lô mẻ Nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP và có giấy phép lưu hành sản phẩm ở Việt Nam Các thuốc nhập khẩu phải có giấy phép lưu hành ở nước ngoài
Trường hợp trong năm phát sinh nhu cầu mua thuốc bổ sung một số mặt hàng trong DMT theo kết quả đấu thầu Đơn vị có thể mua sắm trực tiếp bằng hình thức chọn trực tiếp nhà thầu cung cấp hàng hóa [4] Nếu mặt hàng thuốc không nằm trong danh mục kết quả đấu thầu với số lượng nhỏ, tổng giá trị dưới
10 triệu đồng, thì giám đốc bệnh viện có thể lựa chọn các hình thức mua sắm như: chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu trên cơ sở áp dụng kết quả đấu thầu
11
Trang 22(thời gian dưới 1 năm) các mặt hàng thuốc của bệnh viện khác trong cùng địa phương và phải đảm bảo đơn giá mua thuốc không vượt quá đơn giá đã trúng thầu Sau khi lựa chọn các thuốc trúng thầu theo DMTBV, bệnh viện sẽ kí kết hợp đồng nguyên tắc và tiến hành mua thuốc theo hợp đồng đã kí với công ty dược trúng thầu mà bệnh viện đã lựa chọn Khoa Dược làm dự trù đặt hàng hàng tháng theo nhu cầu điều trị, các công ty cung ứng thuốc theo dự trù và vận chuyển thuốc đến tận kho dược Trong quá trình vận chuyển thuốc, các công ty phải đảm bảo các điều kiện bảo quản theo yêu cầu của từng loại thuốc và tuân thủ đúng các quy định được ghi trong hợp đồng mua bán thuốc Các thuốc khi nhập vào kho phải được kiểm nhập đúng quy định Hội đồng kiểm nhập thuốc gồm: Giám đốc bệnh viện, Trưởng khoa dược, Trưởng phòng tài chính kế toán,
kế toán dược, thống kê dược, người giao và người nhận thuốc Hội đồng kiểm nhập thuốc tiến hành kiểm tra, đối chiếu tên thuốc, dạng thuốc, số lượng, chất lượng, hãng sản xuất, số đăng ký, số kiểm soát, hạn dùng của thuốc thực nhập với hóa đơn và hợp đồng mua bán đã ký kết Sau khi thống nhất, kế toán dược làm phiếu nhập kho và làm thủ tục thanh toán Bệnh viện thanh toán tiền thuốc cho bên bán theo hình thức chuyển khoản Kho bạc Nhà nước căn cứ hóa đơn nhập hàng, hợp đồng mua bán thuốc và kết quả đấu thầu thuốc để giám sát và chuyển tiền thuốc Hoạt động mua thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thuốc, thực hiện DMT và sử dụng hợp lý ngân sách bệnh viện
1.3.3 Tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc
12
Trang 23Quy trình tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc trong bệnh viện [8], có thể khái quát hóa trong hình 1.1
Kho VT-Y cụ Hóa chất Khoa cận lâm sàng
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình tồn trữ, bảo quản và cấp phát thuốc
1.3.3.1 Tồn trữ và bảo quản thuốc
Quá trình tồn trữ, bảo quản thuốc cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng, nếu thuốc không được bảo quản theo đúng yêu cầu bảo quản của từng loại thuốc Trước hết kho thuốc phải được xây dựng nơi cao ráo, thoáng mát, thuận tiện cho việc vận chuyển và cấp phát thuốc Trong kho thuốc phải được trang bị các thiết bị để ngăn ngừa các yếu tố gây hỏng hay làm giảm chất lượng thuốc: chống nóng, chống ẩm, tránh ánh sáng, chống côn trùng, mối, mọt, chuột, gián, trộm cắp, cháy nổ, ngập lụt (thực hiện "5 chống") theo quy định thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP) [8]
Tùy theo yêu cầu bảo quản của từng loại thuốc do nhà sản xuất quy định
để bảo quản ở điều kiện thích hợp, nếu không có yêu cầu bảo quản đặc biệt thì
áp dụng điều kiện bảo quản thông thường ở nhiệt độ 15 - 20oC Các thuốc gây nghiện, hướng tâm thần, thuốc phóng xạ bảo quản theo quy chế hiện hành [33]
13
Trang 24Hạn dùng của thuốc là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng thuốc, khi lưu kho cần tuân thủ hạn dùng gần xuất trước (first expiry – first out) và cần có cơ chế loại bỏ thuốc hết hạn Thuốc có cùng hạn dùng cần tuân thủ: thuốc nhập trước - xuất trước (first in – first out)
Thuốc trong kho cần xếp theo nhóm tác dụng dược lý và dạng thuốc, tránh nhầm lẫn, đảm bảo dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm tra chất lượng, hạn dùng và thường xuyên đảo thuốc Kho thuốc cần xây dựng các quy trình bảo quản, quản
lí và tồn trữ thuốc Quy định mức lưu trữ tối thiểu và tối đa trong kho, không để thuốc tồn kho quá nhiều [33] Bảo quản thuốc tốt là việc không chỉ cất giữ an toàn các thuốc mà còn phải duy trì đầy đủ các hồ sơ tài liệu theo quy định Hệ thống sổ sách, sổ xuất nhập, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, các quy trình thao tác chuẩn (nếu có), giấy biên nhận, giấy chứng nhận chất lượng thuốc, sổ kiểm nhập, sổ theo dõi chất lượng thuốc, sổ theo dõi hạn dùng của thuốc, biên bản kiểm kê cân đối, biên bản thanh lý thuốc, tất cả đều phải được duy trì đầy đủ và liên tục [2]
1.3.3.2 Cấp phát thuốc
Quy trình cấp phát thuốc từ khoa Dược đến khoa lâm sàng và từ khoa lâm sàng đến người bệnh nội trú được xây dựng dựa trên tình hình nhân lực khoa Dược, nhân lực khoa lâm sàng và yêu cầu điều trị của mỗi bệnh viện Cấp phát thuốc phải đảm bảo nguyên tắc: cung cấp thuốc đầy đủ, chính xác, kịp thời
và thuận tiện cho điều trị [8] Bệnh viện nên tổ chức riêng việc cấp phát thuốc cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú Khoa Dược cấp phát thuốc, hóa chất cho khoa lâm sàng và cận lâm sàng để phục vụ cho điều trị bệnh nhân nội trú từ 1-2 lần/ngày theo phiếu lĩnh thuốc hóa chất của các khoa phòng Trước khi cấp phát, Trưởng khoa Dược hoặc dược sĩ được ủy nhiệm duyệt phiếu lĩnh thuốc trong giờ hành chính [9] Hóa chất xét nghiệm, được cấp phát nguyên chai lọ
14
Trang 25theo dự trù hàng tuần Tùy thuộc nhân lực dược và điều kiện thực tế của bệnh viện khoa Dược có thể đưa thuốc đến khoa lâm sàng
Khoa Dược tổ chức cấp phát thuốc trực tiếp cho bệnh nhân điều trị ngoại trú theo đơn của thầy thuốc trong bệnh viện Chế độ kê đơn và cấp phát thuốc theo đơn theo Thông tư số: 04/2008/TT - BYT ngày 01 tháng 02 năm 2008 của
Bộ Y tế Sau khi cấp phát thủ kho phải vào sổ xuất nhập hay thẻ kho theo dõi thuốc từng ngày cho từng loại thuốc Kho cấp phát ngoại trú cuối ngày phải kiểm kê đối chiếu các thuốc có đơn giá cao, thuốc quản lí theo chế độ đặc biệt (gây nghiện, hướng tâm thần) [8]
Các thuốc pha chế theo đơn trong bệnh viện giao cho kho cấp phát lẻ Các thuốc gây nghiện, hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc phải được bảo quản, tồn trữ và cấp phát theo đúng chế độ quản lí thuốc gây nghiện, hướng tâm thần Trước khi cấp phát thuốc thủ kho phải thực hiện “3 kiểm tra, 3 đối chiếu” theo quy chế cấp phát và sử dụng thuốc Khoa Dược chịu trách nhiệm toàn bộ chất lượng thuốc do khoa Dược phát ra [9]
1.3.4 Sử dụng thuốc
1.3.4.1 Giám sát kê đơn và chỉ định dùng thuốc
Kê đơn và chi định dùng thuốc do bác sĩ điều trị thực hiện Các nguyên nhân gây sai sót ở khâu kê đơn và chỉ định dùng thuốc rất đa dạng và phức tạp
Sự sai sót có thể do trình độ chẩn đoán bệnh, sự hiểu biết về thuốc, kiến thức điều trị, y đức, ý thức trách nhiệm, sức ép xã hội, cơ chế thị trường chi phối.v.v
Do vậy, để kê đơn chỉ định dùng thuốc đúng, yêu cầu bác sĩ kê đơn phải thực hiện tốt Luật khám chữa bệnh, Luật Dược, Quy chế kê đơn chẩn đoán bệnh, quy chế sử dụng thuốc, sự tuân thủ DMTBV và kê đơn điều trị theo hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế Việc kê đơn chỉ định dùng thuốc luôn phải được giám sát, kiểm tra và đúc rút kinh nghiệm bằng nhiều hình thức như: bình bệnh án, bình
15
Trang 26đơn thuốc, tăng cường thông tin thuốc, thông tin điều trị Khi kê đơn phải thực hiện 5 đúng: đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều, đúng cách dùng và đúng dạng dùng [7] HĐT & ĐT bệnh viện tổ chức giám sát việc thực hiện DMTBV bằng nhiều hoạt động đồng bộ [17] Ngày 01 tháng 2 năm 2008 Bộ Y tế ra Chỉ thị số: 04/2008/CT - BYT về việc: bác sĩ phải kê đơn thuốc trong DMTBV, trong đơn thuốc phải ghi chính xác liều dùng một lần, số lần dùng thuốc và thời gian dùng thuốc trong ngày, thời gian cho cả đợt điều trị Thuốc trong đơn được ghi theo tên gốc với thuốc đơn chất, có thể ghi theo tên biệt dược song phải ghi rõ tên hoạt chất bên cạnh Trường hợp thuốc có từ hai hoạt chất trở lên cần ghi đúng tên biệt dược Chỉ kê đơn thuốc khi thật cần thiết và chỉ kê những thuốc tối thiểu cần thiết Trước khi kê đơn, thầy thuốc phải tìm hiểu kỹ tiền sử dùng thuốc của người bệnh và có đầy đủ thông tin về thuốc định kê Các bác sĩ cần thận trọng khi kê đơn, phối hợp thuốc, dùng các thuốc nhiều thành phần tránh tương tác, tránh phản ứng phụ, phản ứng có hại của thuốc, hạn chế dùng nhiều loại thuốc trong cùng một đơn thuốc ở cùng một thời điểm [18]
Đối với đơn thuốc ngoại trú cần kiểm tra, giám sát các chỉ số nhằm sử dụng thuốc hợp lý [1],[33]
- Số thuốc trung bình cho một đơn thuốc: khoảng 1,5
- Tỷ lệ phần trăm thuốc kê tên gốc: 100 %
- Tỷ lệ đơn thuốc có kháng sinh: 20-30 %
- Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có vitamin: 5-7 %
- Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có dịch truyền: 5-7 %
- Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có thuốc tiêm: khoảng 20 %
- Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có các thuốc nằm trong DMT thiết yếu, DMT CY
và các phác đồ điều trị : 100 %
16
Trang 27Đối với điều trị nội trú, giám sát chỉ định dùng thuốc thông qua bình bệnh án ít nhất mỗi tháng một lần, có sự tham gia rộng rãi của các bác sỹ và DSLS Mỗi lần bình bệnh án HĐT & ĐT rút ngẫu nhiên từ 5 - 10 bệnh án của mỗi khoa điều trị, tóm tắt bệnh án và phần chỉ định dùng thuốc để phân tích tình hình sử dụng thuốc của từng trường hợp cụ thể Đánh giá việc chỉ định dùng thuốc có phù hợp với chẩn đoán bệnh không, đảm bảo an toàn- hợp lí - hiệu quả
- kinh tế không, có tương tác, tương kỵ không, có tuân thủ DMTBV không [18] Thông qua các hoạt động của mình, HĐT & ĐT giúp bệnh viện sử dụng thuốc một cách tối ưu và góp phần tích cực trong bình ổn giá thuốc trên thị trường [17]
1.3.4.2 Công tác thông tin thuốc và dược lâm sàng
Thông tin thuốc chính xác và kịp thời góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và sử dụng thuốc an toàn hợp lí Bộ Y tế ra Thông tư số: 08/1997/TT - BYT ngày 4 Tháng 7 năm 1997 về hướng dẫn tổ chức đơn vị thông tin thuốc, quy định về nhân lực phụ trách thông tin thuốc, trang thiết bị để hoạt động, quản lí thông tin thuốc trong bệnh viện, mối liên hệ với Trung tâm thông tin thuốc quốc gia và Trung tâm theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ADR) Vụ Điều trị ra công văn số: 10776/2003/BYT - ĐTr ngày 13 tháng 11 năm 2003 về việc hướng dẫn tổ chức hoạt động của đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện
Việc cập nhật thông tin thuốc phải từ những nguồn xác định, tin cậy và khách quan Đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện có chế độ thu thập, lưu trữ, phân phát thông tin đầy đủ, kịp thời và có chất lượng Bệnh viện có hệ thống các nguồn thông tin từ các bác sĩ, dược sĩ, y tá, người cung ứng thuốc và bệnh nhân Đồng thời, đơn vị thông tin thuốc phổ biến tài liệu thông tin về thuốc có trong danh mục [7] Năm 2010, cả nước có 1807 báo cáo phản ứng có hại của
17
Trang 28thuốc về Trung tâm thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc [16]
Tuy nhiên, hoạt động thông tin thuốc hiện nay còn yếu, đặc biệt là ở các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện, do các dược sĩ còn hạn chế về ngoại ngữ, nghiệp vụ thông tin, trang thiết bị phục vụ thông tin thiếu thốn [17] Đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện không những chỉ làm nhiệm vụ cung cấp thông tin mà còn thu thập thông tin về thuốc từ các khoa lâm sàng Đơn vị thông tin thuốc cần phải được trang bị kiến thức, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin Đồng thời cũng phải phổ biến thông tin, hướng dẫn cách tiếp cận các nguồn thông tin đảm bảo chính xác và tin cậy Đơn vị thông tin thuốc bệnh viện cần phải liên hệ với các đơn vị thông tin thuốc của các bệnh viện khác để trao đổi
và chia sẻ thông tin một cách thường xuyên [17]
1.4 Một số văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện
Trước những khó khăn và tồn tại của việc cung ứng thuốc trong bệnh viện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Dược ở Việt Nam dần được hoàn thiện Quốc hội, Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, các Bộ và các cơ quan ngang Bộ có liên quan đã ban hành các Luật, các Thông tư, các Quyết định, Chỉ thị liên quan đến công tác khám chữa bệnh và cung ứng thuốc nhằm chấn chỉnh
và hướng dẫn cung ứng thuốc trong các bệnh viện:
- Thông tư số: 08/1997/TT - BYT của Bộ Y tế ngày 4 tháng 7 năm 1997 về việc
"Hướng dẫn tổ chức HĐT & ĐT trong bệnh viện"
- Công văn số: 10766/YT - ĐTr ngày 13 tháng 11 năm 2003 của Vụ Điều trị về việc "Hướng dẫn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của đơn vị thông tin thuốc"
- Chỉ thị số: 05/2004/CT - BYT ngày 16 tháng 4 năm 2004 của Bộ Y tế về
"Chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc và điều trị tại bệnh viện"
18
Trang 29- Thông tư liên tịch số: 20/2005/TTLT - BYT - BTC ngày 27 tháng 7 năm
2005 của Bộ Y tế và Bộ Tài Chính về việc "Hướng dẫn đấu thầu, cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế công lập"
- Luật Dược số: 34/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI đã thông qua
- Nghị định số: 79/2006/NĐ - CP về "Quy định chi tiết một số điều Luật Dược" ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ
- Thông tư số: 02/2007/TT - BYT ngày 24 tháng 01 năm 2007 về việc "Hướng dẫn chi tiết một số điều về điều kiện kinh doanh thuốc theo quy định của Luật Dược và Nghị định 79 của Chính phủ"
- Quyết định số: 12/2007/QĐ - BYT ngày 24 tháng 01 năm 2007 về việc ban hành nguyên tắc " Thực hành tốt phân phối thuốc"
- Quyết định số: 11/2007/QĐ - BYT ngày 24 tháng 01 năm 2007 về việc ban hành nguyên tắc " Thực hành tốt nhà thuốc"
- Quyết định số: 27/2008/QĐ - BYT ngày 28 tháng 7 năm 2008 về việc "Hủy
bỏ Quyết định số: 2032/1999/QĐ - BYT ngày 8 tháng 7 năm 1999 về việc ban hành Quy chế quản lý thuốc độc, Danh mục thuốc độc, Danh mục thuốc giảm độc và Quyết định số: 3046/2001/QĐ - BYT ngày 12 tháng 7 năm 2001 về việc
Trang 30- Thông tư: 10/2010/TT - BYT ngày 29/4/2010 về việc "Hướng dẫn các hoạt động liên quan đến thuốc gây nghiện"
- Thông tư: 11/2010/TT - BYT ngày 29/4/2010 về việc "Hướng dẫn các hoạt động liên quan đến thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc"
- Công văn số: 1517/BYT- KCB ngày 06/3/2008 về việc "Hướng dẫn thực hiện quy chế kê đơn thuốc điều trị ngoại trú, Quy định danh mục thuốc phải kê đơn"
- Thông tư số: 13/2009/TT - BYT ngày 1/9/2009 về việc "Hướng dẫn hoạt động thông tin quảng cáo thuốc" Quyết định số: 3814/2009/QĐ-BYT ngày 09/10/2009 về việc "Điều chỉnh điều 30 của Thông tư số 13"
- Luật khám chữa bệnh số: 40/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội khóa XII đã thông qua
- Thông tư liên tịch số: 10/2007/TTLT - BYT - BTC ngày 10 tháng 8 năm 2007của Bộ Y tế và Bộ Tài Chính về việc "Hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế công lập"
- Thông tư liên tịch số: 11/2007/TTLT - BYT - BTC - BCT ngày 31 tháng 8 năm 2007 của Bộ Y tế, Bộ Tài Chính và Bộ Công thương về việc "Quản lí nhà nước về giá thuốc dùng cho người"
- Thông tư liên tịch số: 09/2009/TTLT-BYT-BTC về việc "Thực hiện Luật Bảo hiểm Y tế"
- Quyết định số: 05/2008/QĐ-BYT ngày 01 tháng 02 năm 2008 của Bộ Y tế về
"Danh mục thuốc chủ yếu dùng trong các cơ sở khám chữa bệnh"
1.5 Vài nét khái quát về Bệnh viện và Khoa Dược BVĐK Quỳnh Lưu
Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu được thành lập năm 1960, tách ra từ bệnh viện “Phủ Diễn” là bệnh viện vùng của 3 huyện Diễn Châu, Yên Thành và Quỳnh Lưu Sau chia tách tiền thân của Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu là Bệnh
xá huyện với hơn 20 giường bệnh Qua 50 năm xây dựng và trưởng thành, đến
20
Trang 31năm 2010 là bệnh viện hạng 3, chỉ tiêu 235 giường bệnh Bệnh viện được xây dựng ở trung tâm huyện, nằm bên quốc lộ 1A Bệnh viện khám chữa bệnh cho hơn 371.709 người dân huyện nhà và nhân dân các địa phương khu vực lân cận [29],[34]
1.5.1 Chức năng, nhiệm vụ Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu
Theo Quy chế bệnh viện ban hành năm 1997, BVĐK Quỳnh Lưu có
chức năng, nhiệm vụ sau [9]:
- Cấp cứu, khám chữa bệnh cho nhân dân khi có nhu cầu
- Phòng chống dịch bệnh và phối hợp phòng chống dịch bệnh
- Tham gia đào tạo cán bộ y tế: bệnh viện là cơ sở thực hành cho học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp y - dược
- Nghiên cứu khoa học
- Chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật đối với y tế cơ sở trên địa bàn
- Hợp tác quốc tế
- Quản lý bệnh viện: quản lý kinh tế bệnh viện
1.5.2 Mô hình tổ chức của Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu
Bệnh viện có mô hình tổ chức của bệnh viện đa khoa hạng 3 tuyến huyện, nhân lực bệnh viện phân bổ ở 3 khu vực hoạt động và được mô tả trong hình 1.2: khối lâm sàng gồm: khoa Phòng khám, Nội-Nhi- Đông y, khoa Lây, khoa Ngoại, khoa Sản, khoa 3 Chuyên khoa, khoa Hồi sức cấp cứu và 2 Phòng khám đa khoa khu vực; khối cận lâm sàng gồm: khoa Cận lâm sàng, khoa Dược; khối phòng chức năng gồm có: phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Tổ chức hành chính, phòng Tài chính kế toán Trong bệnh viện có các tổ chức: Đảng ủy, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Chi hội Cựu chiến binh, Chi hội Phụ
nữ, Chi hội Điều dưỡng Các Hội đồng gồm có: Hội đồng khoa học, Hội đồng Thuốc và Điều trị, Hội đồng Thi đua khen thưởng và kỷ luật Cơ cấu nhân sự và
21
Trang 32mô hình tổ chức Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu năm 2010 trình bày trong bảng
1.1 và hình 1.2
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân sự Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu năm 2010
(người)
Tỷ lệ (%)
22
Khối cận lâm sàng
Trang 33Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu năm 2010
1.5.3 Khoa Dược Bệnh viện đa khoa Quỳnh Lưu
1.5.3.1 Chức năng của khoa Dược
Khoa Dược là tổ chức cao nhất đảm nhận mọi công tác chuyên môn, nghiệp vụ về Dược trong bệnh viện Khoa Dược vừa có chức năng là khoa chuyên môn, vừa là bộ phận quản lí và tham mưu cho giám đốc bệnh viện về công tác Dược trong toàn bệnh viện, chịu trách nhiệm cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời và có chất lượng Tổ chức tư vấn, giám sát sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế [9]
1.5.3.2 Nhiệm vụ của khoa Dược
- Lập kế hoạch, tổ chức cung ứng thuốc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh tại
bệnh viện, phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa trên địa bàn
- Tổ chức quản lý, theo dõi việc xuất nhập, cấp phát thuốc tại bệnh viện và các trường hợp khác khi được giao nhiệm vụ, đầu mối triển khai hoạt động của HĐT & ĐT, bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc - GSP”
- Tổ chức pha chế thuốc dùng ngoài, thuốc sát khuẩn Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin thuốc, tư vấn sử dụng thuốc Theo dõi và báo cáo tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR)
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy chế chuyên môn về Dược trong toàn bệnh viện
- Tham gia nghiên cứu khoa học và đào tạo về Dược
- Tham gia quản lý, theo dõi kinh phí sử dụng thuốc, quản lý hoạt động nhà thuốc, quầy thuốc bệnh viện, thực hiện việc cung ứng, quản lý hóa chất, y cụ, sinh phẩm y tế, vật tư y tế tiêu hao và khí y tế [1],[9]
23
Trang 341.5.3.3 Tổ chức nhân lực khoa Dược
Nhân lực khoa Dược chiếm hơn 6 % so với tổng biên chế của toàn bệnh viện: gồm 1 Trưởng khoa, 1 Phó trưởng khoa là DSĐH và 13 DSTH Các chức danh công tác trong khoa Dược phân công theo Quy chế bệnh viện do Bộ Y tế ban hành ngày 19/9/1997 Tỷ lệ DSĐH/DSTH là 1/6,5 [1],[9],[30] Cán bộ khoa Dược được bố trí ở các bộ phận sau: hành chính dược - phụ trách khoa, dược lâm sàng - dược chính - thống kê - pha chế, tổ kho, tổ cấp phát thuốc xuống khoa lâm sàng Mô hình tổ chức khoa Dược BVĐK Quỳnh Lưu được mô
tả trong hình 1.3 [9]
24
Trang 35Ban giám đốc Bệnh viện
- Kho vật tư thiết bị
- Kho cấp phát BHYT ngoại trú
- Kho thuốc Đông dược
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
HĐT& ĐT, khoa Dược, các bác sĩ điều trị và các dược sĩ khoa Dược BVĐK Quỳnh Lưu liên quan đến hoạt động cung ứng thuốc bệnh viện
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Mô tả hồi cứu
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu tài liệu
2.3.1 Hoạt động lựa chọn thuốc
Hồi cứu hồ sơ, các biên bản họp HĐT & ĐT, DMTBV, số liệu của các hoạt động liên quan đến việc lựa chọn thuốc tại bệnh viện:
- Vai trò của HĐT & ĐT trong việc lựa chọn và xây dựng DMTBV
- MHBT tại bệnh viện, các yếu tố căn cứ lựa chọn thuốc, quy trình lựa chọn và xây dựng DMTBV
- Số liệu thuốc đã lựa chọn trong năm 2010
- Nhu cầu thuốc của các khoa lâm sàng đề nghị
- Danh mục thuốc dùng chủ yếu trong bệnh viện, DMT thiết yếu, DMTBV dùng cho bệnh nhân thuộc đối tượng BHYT
- Số lượng thuốc có trong DMTBV năm 2010
- Các tiêu chí trong việc lựa chọn thuốc
- Thời gian định kỳ thành lập DMTBV
2.3.2 Hoạt động mua thuốc
Hồi cứu hồ sơ, các biên bản liên quan đến việc mua thuốc năm 2010, kinh phí mua thuốc năm 2010, mô tả quy trình cung ứng thuốc
26
Trang 37- Phương thức áp thầu trong cung ứng thuốc của BVĐK Quỳnh Lưu năm 2010: thời gian áp thầu 6 tháng và 1 năm
- Lựa chọn nhà cung ứng thuốc sau khi có kết quả trúng thầu
- Kết quả áp thầu của bệnh viện năm 2010
2.3.3 Hoạt động tồn trữ, bảo quản, cấp phát thuốc và thông tin thuốc
Hồi cứu hồ sơ, quan sát thực tế, ghi lại các văn bản và các hoạt động liên quan đến việc tồn trữ, bảo quản, cấp phát thuốc để phân tích một số chỉ số tại
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Tỷ lệ thuốc đơn chất có trong DMTBV
- Công thức:
- Ý nghĩa: Đánh giá mức độ lựa chọn thuốc đơn chất trong DMTBV
Số thuốc đơn chất trong DMTBV Tổng số thuốc trong DMTBV 100%
27
Trang 382.4.2 Tỷ lệ thuốc mang tên gốc trong DMTBV
2.4.3 Tỷ lệ thuốc có nguồn gốc từ hóa dược trong DMTBV
- Ý nghĩa: Đánh giá sự tuân thủ DMTCY
Số thuốc chủ yếu trong DMTBV Tổng số thuốc trong DMTBV 100%
2.4.5 Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước có trong DMTBV
28
Trang 392.4.6 Tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất trong nước
- Công thức:
- Ý nghĩa: Thuốc sản xuất trong nước thường có giá rẻ hơn thuốc nhập khẩu cùng loại Tỷ lệ này càng cao không những chứng tỏ chính sách bảo hộ khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước được thực thi tốt mà còn cho thấy giảm chi phí điều trị, tiết kiệm ngoại tệ cho Nhà nước và nhân dân
Giá trị tiền mua thuốc sản xuất trong nước
Tổng giá trị tiền mua thuốc của bệnh viện 100%
2.4.7 Tỷ lệ khoa lâm sàng được khoa Dược cấp phát thuốc đến tận khoa
- Công thức:
- Ý nghĩa: Đánh giá múc độ thực hiện Chỉ thị 05 về việc khoa Dược cấp thuốc xuống tận khoa điều trị
Tổng số khoa được khoa dược giao thuốc tới khoa
Tổng số khoa lâm sàng trong BV 100%
2.4.8 Tỷ lệ thuốc có trong DMTBV thực tế được sử dụng
Tổng tiền thuốc kháng sinh, vitamin, dịch truyền
Tổng số tiền thuốc trong năm 2010 100%
29
Trang 40- Ý nghĩa: Đánh giá giá trị tiền thuốc một số nhóm chính kháng sinh, vitamin, dịch truyền trong tổng tiền thuốc sử dụng
2.5 Phân tích và xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft office và biểu diễn các kết quả bằng bảng và biểu đồ
30