Khi sử dụng thuốc không tuân theo định hướng này thì những hậu quả về mặt kinh tế và sức khoẻ là điều không tránh khỏi: thất bại trong điều trị, các phản ứng có hại, các tác dụng phụ, tư
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ OANH
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA THANH SƠN NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2014
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ OANH
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA THANH SƠN NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK60720412
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Trâm
Nơi thực hiện: Trường Đại học Dược Hà Nội
Bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn
Thời gian thực hiện: Từ 15/11/2013 đến 15/3/2014
HÀ NỘI 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
TS Vũ Thị Trâm – Trường Đại học Dược Hà Nội
TS Nguyễn Thị Thanh Hương- Phó trưởng bộ môn Quản lý và kinh tế dược - Trường Đại học Dược Hà Nội
Đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Dược Hà Nội, Phòng đào tạo sau đại học – Trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em được học tập và nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô Trường Đại học Dược Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô Bộ môn Quản lý và kinh tế dược đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong quá trình học tập tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Đảng ủy, Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn đã quan tâm tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn
Xin dành những lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ để em hoàn thành luận văn này
Thanh Sơn, ngày 20 tháng 3 năm 2014
Học viên
Trần Thị Oanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1.TỔNG QUAN 3
1.1 Mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam 3
1.2 Một số vấn đề liên quan đến quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện 6
1.2.1 Quy trình sử dụng thuốc tại bệnh viện 7
1.2.2 Hội đồng thuốc và điều trị 10
1.3 Vài nét về Bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn 13
1.3.1 Mô hình tổ chức của bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012 14
1.3.2 Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn 14
1.3.3 Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực khoa Dược năm 2012 16
1.3.4 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 20
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3 Cách tiến hành 20
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 20
2.4.1 Đối với bệnh án 20
2.4.2 Đối với đơn thuốc ngoại trú 21
2.5 Phương pháp xử lý số liệu và trình bày kết quả nghiên cứu 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng năm 2012 24
3.1.1 Theo nhóm tác dụng dược lý ……… 24
3.1.2 Theo đối tượng điều trị 26
Trang 53.1.3 Theo nguồn gốc sản xuất 27
3.1.4 Theo tên gốc – tên biệt dược 29
3.1.5 Năm nhóm thuốc tân dược có giá trị sử dụng cao nhất năm 2012 31
3.2 Hoạt động quản lý sử dụng thuốc của HĐT&ĐT - BVĐK Thanh Sơn năm 2012 33
3.2.1 Giám sát chỉ định thuốc trong hồ sơ bệnh án 34
3.2.2 Giám sát chỉ định thuốc trong kê đơn BHYT ngoại trú 39
3.2.3 Hoạt động giám sát ADR của thuốc và sai sót trong điều trị 45
3.2.4 Hoạt động quản lý, giám sát thông tin thuốc trong bệnh viện 47
Chương 4 BÀN LUẬN 51
KẾT LUẬN 57
Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 59
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.2 Mô hình tổ chức của bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn 14
Hình 3.4 Tỷ lệ % thuốc sử dụng theo nguồn gốc sản xuất 25 Hình 3.5 Quy trình phát thuốc đến người bệnh nội trú 38 Hình 3.6 Tỷ lệ % thuốc được kê tên gốc- tên thương mại 42 Hình 3.7 Quy trình phát thuốc đến người bệnh ngoại trú 44
Trang 7Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ADR Adverse Drug Reaction Phản ứng có hại của thuốc
BMI Business Monitor Internatinal Công ty khảo sát thị trường Quốc tếGLP Good Laboratory Practices Thực hành tốt kiểm nghiệm thuốcGMP Good Manufacturing Practice Thực hành tốt sản xuất thuốcGPP Good Pharmacy Practice Thực hành tốt cung ứng thuốcGSP Good Storage Practice Thực hành tốt bảo quản thuốcISO
International Organization for Standardization Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóaWHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.3 Mô hình bệnh tật tại BVĐK Thanh Sơn năm 2012 18Bảng 3.4 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 25Bảng 3.5 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đối tượng điều trị 26Bảng 3.6 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc sản xuất 27Bảng 3.7
Mười thuốc nhập khẩu có giá trị sử dụng cao nhất năm 2012 29Bảng 3.8 Cơ cấu thuốc mang tên gốc- tên biệt dược 30Bảng 3.9 Năm nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất năm 2012 31Bảng 3.10 Cơ cấu chi phí sử dụng nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng,
Bảng 3.11 Kháng sinh beta- lactam sử dụng tại bệnh viện năm 2012 33Bảng 3.12 Hoạt động bình bệnh án của HĐT&ĐT BV Thanh Sơn năm
Bảng 3.13 Kết quả thực hiện quy chế chuyên môn trong bệnh án 35
Bảng 3.16 Chi phí thuốc điều trị trung bình một ngày 37
Bảng 3.17 Hoạt động bình đơn thuốc BHYT ngoại trú của HĐT& ĐT
Bảng 3.18 Kết quả khảo sát việc thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú 40Bảng 3.19 Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc 41Bảng 3.20 Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc, tên thương mại 43
Bảng 3.21 Tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh, corticoid, vitamin, thuốc
Trang 9Bảng 3.23 Hoạt động theo dõi, xử trí, báo cáo ADR của thuốc 46Bảng 3.24 Phương tiện sử dụng và tài liệu tổ thông tin thuốc 48
Trang 101
ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 1985, Tổ chức y tế thế giới(WHO) đã tổ chức một hội nghị ở Nairobi( thủ đô nước Kenya) về sử dụng thuốc hợp lý Kể từ đó, ngày càng
có nhiều nỗ lực để thúc đẩy cải thiện thực hành sử dụng thuốc Một công
cụ thiết yếu cho công việc đó là phương pháp khách quan để đánh giá việc
sử dụng thuốc tại các cơ sở khám, chữa bệnh, cho phép mô tả các đặc điểm
sử dụng thuốc và thói quen kê đơn thuốc[13] Trong những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, tình hình sản xuất và cung ứng thuốc đã có những bước phát triển mới Công nghiệp dược Việt Nam
đã đẩy mạnh đổi mới công nghệ và sản xuất nhiều thuốc có chất lượng tốt hơn trước, nhiều thuốc của nước ngoài được lưu hành ở Việt Nam, danh mục thuốc ngày càng phong phú, tạo điều kiện cho thầy thuốc và dược sỹ
có thêm khả năng lựa chọn và sử dụng thuốc Tuy nhiên, thuốc là loại hàng hóa đặc biệt vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe con người, việc sử dụng cần được quản lý chặt chẽ và bảo đảm tính hợp lý, an toàn, hiệu quả
Trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng thuốc không hiệu quả và bất hợp lý là một vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng ở khắp mọi cấp độ chăm sóc y tế Sử dụng thuốc hợp lý là phải đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người bệnh(đúng liều, đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc) Thuốc phải đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng Khi sử dụng thuốc không tuân theo định hướng này thì những hậu quả về mặt kinh
tế và sức khoẻ là điều không tránh khỏi: thất bại trong điều trị, các phản ứng có hại, các tác dụng phụ, tương tác thuốc và tình trạng kháng thuốc của
vi khuẩn gây bệnh Tất cả những điều này có thể kéo dài thời gian nằm viện, ảnh hưởng tới kinh tế của người bệnh
Trang 112
Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các
quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và điều trị(HĐT&ĐT) tại các bệnh viện
Hội đồng thuốc và điều trị được thành lập nhằm đảm bảo tăng cường độ an
toàn và hiệu quả sử dụng thuốc tại các bệnh viện Hội đồng thuốc và điều
trị( HĐT&ĐT) là một diễn đàn cho tất cả các bên có liên quan cùng hợp tác
nhằm đưa ra quyết định về sử dụng thuốc với mục đích đảm bảo cho người
bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp Như vậy
HĐT&ĐT có thể được xem như một công cụ để nâng cao hơn nữa tính
hiệu quả, hợp lý trong sử dụng thuốc
Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ là một bệnh viện
hạng III, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Sở Y tế tỉnh Phú Thọ, nhiệm vụ
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trên địa bàn huyện và nhân dân các
huyện lân cận Trong những năm trước đây, chưa có sự nghiên cứu đánh
giá nào về vấn đề quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện Nhằm góp phần
nâng cao chất lượng quản lý sử dụng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa huyện
Thanh Sơn, đề tài “Khảo sát hoạt động quản lý sử dụng thuốc tại bệnh
viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012” được tiến hành với hai mục tiêu:
1 Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng tại bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn
năm 2012
2 Mô tả hoạt động của HĐT&ĐT bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn
năm 2012 qua việc bình bệnh án, đơn thuốc BHYT ngoại trú, giám sát
phản ứng có hại của thuốc và quản lý thông tin thuốc của Hội đồng
Để từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng quản lý sử dụng
thuốc tại Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn trong thời gian tới
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam
* Mô hình bệnh tật tại Việt Nam
Theo báo cáo chung tổng quan ngành y tế của Bộ Y tế, có sự thay đổi
rõ rệt về mô hình bệnh từ năm 1986 đến năm 2010 Theo số liệu về cơ cấu
số lượt KCB tại cơ sở y tế nhà nước trong Niên giám thống kê năm 2010,
xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao Nếu tỷ trọng này năm 1986 chỉ là 39% thì năm 1996 tăng lên 50%, năm
2006 là 62% và chỉ sau 5 năm, đến năm 2010, tỷ trọng này đã tăng thêm 10 điểm phần trăm, lên mức 72% Ngược lại với xu hướng này là sự giảm đi nhanh chóng của tỷ trọng số lượt KCB đối với người mắc bệnh truyền nhiễm Tỷ trọng số lượt KCB liên quan đến tai nạn, chấn thương, ngộ độc
có xu hướng chững lại Như vậy, gánh nặng bệnh tật chuyển dịch mạnh sang các bệnh không lây nhiễm như: huyết áp, tâm thần, tim mạch, suy dinh dưỡng, tiểu đường , còn lại 11% loại bệnh do tai nạn thương tích (trong đó có tai nạn giao thông) Nguyên nhân của sự thay đổi mô hình bệnh tật này là do sự biến đổi khí hậu, quá trình phát triển công nghiệp hóa,
sự ô nhiễm môi trường Ngoài ra còn có khoảng 30 bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện như: Ebola, bò điên, SARS, cúm tuýp A/H5N1, cúm tuýp A/H1N1 đang có xu hướng gia tăng mà nguyên nhân chính là do biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường Sự gia tăng của những bệnh không lây nhiễm gây ra sự gia tăng nhanh chóng chi phí khám chữa bệnh Chi phí điều trị cho bệnh không lây nhiễm trung bình cao gấp 40-50 lần so với điều trị các bệnh lây nhiễm do đòi hỏi kỹ thuật cao, thuốc đặc trị đắt tiền, thời gian điều trị lâu, dễ bị biến chứng Một ca mổ tim có chi phí từ 100-150 triệu đồng; một đợt điều trị cao huyết áp hoặc một đợt điều trị bệnh tiểu đường cấp từ 20-30 triệu đồng Đồng thời, các cơ sở y tế cũng phải tăng
Trang 134
đầu tư các trang thiết bị y tế đắt tiền để phát hiện và điều trị các bệnh không lây nhiễm, tuyển chọn và đào tạo thêm các bác sĩ chuyên khoa, kéo theo tăng chi phí dịch vụ[17]
* Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam
Theo đánh giá của Tổ chức y tế thế giới về mức độ đáp ứng của hệ thống y tế, Việt Nam là 1 trong 33 nước có dưới 1 giường bệnh/1000 người
và các bệnh viện công lập đang trong tình trạng quá tải Mặc dù hệ thống bệnh viện tư nhân tăng trưởng đáng kể, tuy nhiên còn chưa đủ mạnh, mặt khác do lượng bệnh nhân phần lớn tập trung ở khối bệnh viện công lập nên
tỷ lệ người dân/giường bệnh vẫn chưa được cải thiện Việc cung ứng thuốc phục vụ nhu cầu điều trị được các công ty dược chủ yếu tập trung vào thị trường bệnh viện công thông qua đấu thầu Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng chiếm 37,7% giảm nhẹ so với năm 2009 (38,4) Tỷ lệ sử dụng vitamin, dịch truyền và corticoid trong
cơ cấu sử dụng thuốc giảm so với cùng kỳ năm 2009 Vitamin giảm từ 6,5% (năm 2009) xuống còn 4,7% (năm 2010) Đây là tín hiệu đáng mừng trong công tác sử dụng thuốc hợp lý tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị đặc biệt tuyến tỉnh, huyện chưa thực hiện tốt sử dụng thuốc hợp lý, gây tăng chi phí không cần thiết cho người bệnh, tăng tình trạng kháng kháng sinh Trong thời gian tới, cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị, công tác bình bệnh án, phân tích sử dụng thuốc trong các ca lâm sàng nhằm hạn chế việc lạm dụng kháng sinh và vitamin, nâng cao chất lượng điều trị Tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền sử dụng thuốc cao, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt Nam có tỷ lệ các bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn khá phổ biến Theo báo cáo của BMI(Business Monitor International), năm 2008 Việt Nam đã chi khoảng
Trang 145
1,1 tỷ USD cho dược phẩm Trong năm 2009, con số này tăng lên khoảng 1,2 tỷ USD do chi phí mua thuốc để phòng chống các dịch bệnh tăng lên Vào năm 2013, chi phí này sẽ tăng lên khoảng 1,7 tỷ USD Giá trị thị trường thuốc kê đơn ước đạt 1,45 tỷ USD vào năm 2013, chiếm khoảng 73,2% thị trường dược phẩm; thuốc không kê đơn sẽ đạt khoảng 529 triệu
đô la Mỹ, chiếm khoảng 26,8%[17]
Thuốc sản xuất trong nước ngày càng đa dạng về dạng bào chế như: Thuốc dung dịch tiêm truyền, thuốc tiêm, kháng sinh, thuốc tiêm bột đông khô và các nhóm thuốc khác, Việc sản xuất thuốc y học cổ truyền, thuốc
có nguồn gốc từ dược liệu được Nhà nước đặc biệt quan tâm, khuyến khích Quyết định 43/2007/QĐ-TTg ngày 29/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và tầm nhìn đến 2020” đã nhấn mạnh: Phát huy tiềm năng, thế mạnh về dược liệu
và thuốc y học cổ truyền, đẩy mạnh công tác quy hoạch, nuôi trồng và chế biến dược liệu, xây dựng ngành công nghiệp bào chế thuốc từ dược liệu và thuốc y học cổ truyền trở thành một phần quan trọng của ngành dược Việt Nam; bảo đảm số lượng thuốc có nguồn gốc từ dược liệu và thuốc y học cổ truyền chiếm 30% số thuốc được sản xuất trong nước vào năm 2015 và 40% vào năm 2020[22]
Theo báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, nhìn chung hệ thống sản xuất, cung ứng thuốc đã đảm bảo cung ứng đủ thuốc thiết yếu đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Sản xuất thuốc trong nước hiện đáp ứng 47% nhu cầu về thuốc của người dân về giá trị sử dụng Mạng lưới bán lẻ rộng khắp với dân số bình quân trên 1 cơ sở bán lẻ thuốc
là 2000 người Nhu cầu sử dụng vắc-xin tại Việt Nam được đáp ứng từ nguồn sản xuất trong nước và nhập khẩu Bộ Y tế tăng cường triển khai
Trang 156
thực hiện các tiêu chuẩn thực hành tốt trong tất cả các khâu sản xuất, cung ứng, lưu thông thuốc Đến cuối năm 2011 đã đạt mục tiêu 100% doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược đạt tiêu chuẩn GMP theo khuyến cáo của WHO(113 cơ sở), 100% cơ sở kiểm nghiệm thuốc đạt nguyên tắc tiêu chuẩn GLP theo khuyến cáo của WHO hoặc ISO 17025, và 158 cơ sở đạt tiêu chuẩn thực hành tốt bảo quản thuốc(GSP) Việc thực hiện báo cáo kết quả nghiên cứu tương đương sinh học trong hồ sơ đăng ký thuốc áp dụng đối với 12 dược chất theo Thông tư 08/2010/TT-BYT" Hướng dẫn báo cáo
số liệu nghiên cứu sinh khả dụng/ tương đương sinh học trong đăng ký thuốc" là nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả điều trị của thuốc lưu hành trên thị trường[16]
Vấn đề về thông tin thuốc và sự hiểu biết của công chúng về sử dụng thuốc hợp lý, an toàn còn nhiều hạn chế, mặc dù công tác dược lâm sàng không phải là mới, tuy nhiên cho đến nay vẫn tập trung ở một số bệnh viện Trung ương và một số bệnh viện lớn ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Khoa dược bệnh viện đã triển khai công tác dược lâm sàng, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hiệu quả, nhưng nhìn chung chức năng này còn khá mờ nhạt, công việc chủ yếu vẫn là cùng tham gia xây dựng Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện và tham mưu cho Lãnh đạo bệnh viện trong công tác đấu thầu thuốc Các bệnh viện tuyến tỉnh, đặc biệt là tuyến huyện thì công tác dược lâm sàng chưa đáp ứng được yêu cầu Tình trạng thiếu dược sĩ đại học và trên đại học ở các địa phương chính là nguyên nhân dược lâm sàng không phát triển được Tại một số bệnh viện, do còn thiếu tính khoa học nên Khoa Dược lúng túng, tổn hao nhân lực và thời gian cho công tác đầu thầu thuốc mà lãng quên nhiều nhiệm vụ khác
1.2 Một số vấn đề liên quan đến quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện
Trang 167
1.2.1 Quy trình sử dụng thuốc trong bệnh viện
Việc sử dụng thuốc tại bệnh viện được thực hiện theo quy trình sau:
CHẨN ĐOÁN THEO DÕI
TUÂN THỦ
CẤP PHÁT
Hình 1.1 Quy trình sử dụng thuốc tại bệnh viện
Như vậy, quy trình sử dụng thuốc trong bệnh viện gồm bốn bước, mỗi bước có sự liên quan chặt chẽ với nhau, chính là sự liên quan giữa bác
sĩ, dược sĩ, điều dưỡng chăm sóc và người bệnh Ở mỗi bước có những quy định cụ thể, các đối tượng liên quan đều phải thực hiện nghiêm chỉnh nhằm đạt được hiệu quả cao trong điều trị cho người bệnh
Khi thực hiện việc chẩn đoán theo dõi, người thầy thuốc phải khai
thác tiền sử dùng thuốc, tiền sử dị ứng; liệt kê các thuốc người bệnh đã dùng trước khi nhập viện trong vòng 24 giờ và ghi diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ bệnh án theo quy định của Bộ Y tế để chỉ định sử dụng thuốc hoặc ngừng sử dụng thuốc
Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 04/2008/QĐ-BYT ngày 01 tháng 02 năm 2008" ban hành Quy chế kê đơn trong điều trị ngoại trú"[4] trong đó
có quy định về điều kiện của người kê đơn thuốc, quy định thuốc phải kê
Trang 17và không được lạm dụng thuốc
Việc chỉ định dùng thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc, hồ
sơ bệnh án, không viết tắt tên thuốc, không ghi ký hiệu Trường hợp sửa chữa bất kỳ nội dung nào phải ký xác nhận bên cạnh Chỉ định thuốc đảm bảo đầy đủ các nội dung: tên thuốc, nồng độ, liều dùng một lần, số lần dùng thuốc trong 24 giờ, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc, thời điểm dùng thuốc, đường dùng thuốc và những chú ý đặc biệt khi dùng thuốc Ghi chỉ định thuốc theo trình tự: đường tiêm, uống, đặt, dùng ngoài và các đường dùng khác Đánh số thứ tự ngày dùng theo quy định các thuốc gây nghiện, hướng tâm thần và một số thuốc khác
Hiện nay, nhiều bệnh viện kể cả tuyến huyện đã cài đặt hệ thống mạng Lan, thuận tiện cho việc kê đơn, hướng dẫn sử dụng thuốc đặc biệt trong điều trị ngoại trú Tuy nhiên, việc chỉ định thuốc trong hồ sơ bệnh án vẫn còn có tồn tại: ghi tên thuốc chưa rõ ràng, thiếu chính xác về nồng độ, hàm lượng, chưa phù hợp về liều dùng, khoảng cách dùng, thời điểm dùng, chưa quan tâm đến những vấn đề xảy ra khi dùng thuốc: tương tác, tương kỵ Việc chỉ định thời gian dùng thuốc phải tuân thủ theo hướng dẫn của
Bộ Y tế
Trường hợp người bệnh cấp cứu, thầy thuốc chỉ định thuốc theo diễn biến của bệnh Trường hợp người bệnh cần theo dõi để lựa chọn thuốc hoặc lựa chọn liều thích hợp, thầy thuốc chỉ định thuốc hàng ngày Thầy thuốc căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý, đường dùng của thuốc để lựa chọn đường dùng thích hợp cho người bệnh Không được lạm dụng dùng đường tiêm, truyền tĩnh mạch khi không cần thiết Trong quá
Trang 189
trình thăm khám, kê đơn thuốc, bác sĩ phải thông báo tác dụng không mong muốn của thuốc cho điều dưỡng chăm sóc và người bệnh Theo dõi đáp ứng của người bệnh khi dùng thuốc và xử lý kịp thời các tai biến do dùng thuốc Thực hiện việc báo cáo phản ứng có hại của thuốc cho khoa Dược ngay khi xảy ra Thực tế, việc theo dõi đáp ứng của người bệnh khi dùng thuốc, các biểu hiện bất thường sau dùng thuốc còn chưa triệt để tại các khoa điều trị, đôi khi chưa phát hiện và báo cáo kịp thời các phản ứng có hại của thuốc trong sử dụng thuốc cho người bệnh
Đối với công tác cấp phát thuốc, khoa Dược tổ chức cấp phát thuốc bảo đảm chất lượng và hướng dẫn sử dụng thuốc Thực hiện các quy định các quy định chung về công tác khoa dược bệnh viện[7]
Khoa Dược thực hiện công tác thông tin thuốc trong toàn bệnh viện Thông báo những thông tin về thuốc: tên thuốc, thành phần, tác dụng dược
lý, tác dụng không mong muốn, liều dùng, áp dụng điều trị, giá tiền, lượng tồn trữ Khoa Dược làm đầu mối trình Lãnh đạo bệnh viện báo cáo phản ứng có hại của thuốc và gửi về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc ngay sau khi xử lý Hầu hết các bệnh viện có thành lập đơn vị thông tin thuốc, trong đó dược sĩ khoa Dược chiếm vai trò chính trong việc chuyển tải các thông tin cần thiết về thuốc và cách sử dụng tới toàn thể nhân viên y tế trong bệnh viện
Việc tuân thủ điều trị là hết sức cần thiết Trước khi người bệnh
dùng thuốc, điều dưỡng thực hiện công khai thuốc dùng hàng ngày cho từng người bệnh bằng cách thông báo cho người bệnh trước khi dùng thuốc, đồng thời yêu cầu người bệnh hoặc người nhà ký nhận vào phiếu công khai thuốc được kẹp ở đầu hoặc cuối giường bệnh và hướng dẫn, giải thích cho người bệnh tuân thủ điều trị
Điều dưỡng kiểm tra, đối chiếu với y lệnh về tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, liều dùng một lần, số lần dùng thuốc trong 24 giờ, khoảng cách
Trang 1910
giữa các lần dùng thuốc, thời điểm dùng thuốc và đường dùng thuốc, kiểm
tra hạn sử dụng và chất lượng cảm quan của thuốc nhằm phát hiện những
bất thường trong y lệnh hoặc dùng nhiều thuốc đồng thời gây tương tác
báo cáo với thầy thuốc điều trị hoặc thầy thuốc trực Chuẩn bị các phương
tiện cho người bệnh dùng thuốc, phương tiện vận chuyển thuốc phải đảm
bảo sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng, dễ thấy Trên các xe tiêm phải chuẩn bị sẵn
sàng hộp thuốc cấp cứu và phác đồ chống sốc đối với thuốc phải dùng
đường tiêm Khi người bệnh dùng thuốc cần đảm bảo 5 đúng, điều dưỡng
trực tiếp chứng kiến người bệnh dùng thuốc và theo dõi phát hiện kịp thời
các bất thường của người bệnh trong khi dùng thuốc
Sau khi người bệnh dùng thuốc phải theo dõi người bệnh thường
xuyên để kịp thời xử trí các bất thường của người bệnh, ghi chép đầy đủ
các diễn diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ bệnh án Bác sĩ điều trị có trách nhiệm theo dõi tác dụng của thuốc và xử lý kịp thời
các tai biến do dùng thuốc, ghi sổ theo dõi phản ứng có hại của thuốc, báo
với dược sĩ khoa dược khi xảy ra ADR của thuốc
Như vậy, trong quá trình giám sát tuân thủ hướng dẫn sử dụng thuốc,
cần xây dựng tốt mối quan hệ giữa bác sỹ- dược sỹ- điều dưỡng và người
bệnh Đây là mối quan hệ khăng khít, tạo nên vòng tròn khép kín trong quá
trình điều trị mà bệnh nhân là đối tượng trung tâm cần được chăm sóc
1.2.2 Hội đồng thuốc và điều trị( HĐT&ĐT)
Hội đồng thuốc và điều trị( còn gọi là Hội đồng) được thành lập ở tất
cả các bệnh viện, do Giám đốc bệnh viện ra quyết định thành lập, hoạt
động theo chế độ kiêm nhiệm Hội đồng có ít nhất 5 thành viên trở lên,
gồm các thành phần: Chủ tịch Hội đồng là Giám đốc hoặc Phó Giám đốc
bệnh viện phụ trách chuyên môn, phó Chủ tịch Hội đồng kiêm ủy viên
thường trực là trưởng khoa Dược bệnh viện, thư ký Hội đồng là trưởng
phòng Kế hoạch tổng hợp hoặc dược sĩ khoa Dược hoặc cả hai thành viên
Trang 2011
này, ủy viên gồm trưởng một số khoa điều trị chủ chốt, bác sĩ chuyên khoa
vi sinh và điều dưỡng trưởng bệnh viện, trưởng phòng Tài chính - Kế toán Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính
sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện
Để thực hiện tốt chức năng trên, Hội đồng phải thực hiện tốt các nhiệm vụ về xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện, xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện, xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị, xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến
sử dụng thuốc, giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót
trong điều trị, thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc[3]
Liên quan đến vấn đề quản lý sử dụng thuốc của HĐT&ĐT đó là thực hiện xây dựng tiêu chí lựa chọn xây dựng danh mục thuốc bệnh viện, DMTBV là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động và có kế hoạch cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn và hiệu quả, phù hợp với các mặt đặc thù của từng bệnh viện Nhằm đảm bảo thuốc được sử dụng đúng, an toàn, HĐT&ĐT xây dựng quy trình cấp phát thuốc từ khoa Dược đến người bệnh, đồng thời xây dựng quy trình giám sát sử dụng thuốc tại các khoa lâm sàng, trình Giám đốc bệnh viện phê duyệt, ra quyết định ban hành Việc xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị, Hội đồng có thể tự xây dựng hoặc tham khảo từ những tài liệu sẵn có do Bộ Y tế ban hành, đảm bảo phù hợp với hướng dẫn điều trị và hướng dẫn của các chương trình mục tiêu quốc gia do Bộ Y tế ban hành, phù hợp với trình độ chuyên môn, nhân lực và trang thiết bị hiện có của đơn vị, phản ánh quy tắc thực hành hiện thời, đơn giản, dễ hiểu và dễ cập nhật Khi xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, Hội đồng tập chung đến các vấn đề về tồn trữ, bảo quản, kê đơn, cấp phát và sử dụng
Thực hiện Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế, hầu hết các HĐT&ĐT tại các bệnh viện đã được Giám đốc bệnh viện ra
Trang 2112
quyết định thành lập các tiểu ban và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong tiểu ban Tuy nhiên, hầu hết tại các bệnh viện tuyến huyện việc giám sát sử dụng kháng sinh và theo dõi sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh đều chưa thực hiện được do nhiều yếu tố: nhân lực, cơ sở vật chất Việc Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị của HĐT&ĐT hiện nay được thực hiện theo Quyết định 1088/QĐ-BYT ngày 04/4/2013 của Bộ Y tế Theo báo cáo năm 2012 của trung tâm
DI & ADR quốc gia, trung tâm đã tiếp nhận tổng số 3236 báo cáo phản ứng
có hại của thuốc( tăng 25,6% so với năm 2011), trong đó có 3024 báo cáo được gửi từ các cơ sở điều trị, các bện viện da khoa là các đơn vị chính gửi báo cáo(chiếm 63,4% số lượng đơn vị báo cáo)[18]
Trong việc thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc, Hội đồng thuốc
và điều trị có nhiệm vụ chuyển tải các thông tin về hoạt động, các quyết định và đề xuất tới tất cả những đối tượng thực hiện các quyết định của Hội đồng Chỉ đạo đơn vị Thông tin thuốc trong bệnh viện cập nhật thông tin về thuốc, cung cấp thông tin về thuốc nhằm bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn trong phạm vi bệnh viện Tư vấn cho Giám đốc bệnh viện xây dựng, ban hành và triển khai qui định về hoạt động giới thiệu thuốc trong phạm vi bệnh viện Cung cấp thông tin thuốc là nhiệm vụ cơ bản của người dược sĩ nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả - một trong những mục tiêu hàng đầu trong công tác điều trị Tại các bệnh viện hiện nay, nhu cầu thông tin thuốc đối với bác sỹ, dược sỹ và các nhân viên y tế
là rất lớn, chính vì vậy vai trò của đơn vị thông tin thuốc càng trở nên quan trọng Đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện thực hiện việc cập nhật thông tin về thuốc, cung cấp thông tin về thuốc nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp
lý, an toàn trong phạm vi bệnh viện, giúp Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện trong việc xây dựng danh mục thuốc, hướng dẫn điều trị và các quy trình chuyên môn khác phù hợp với phân tuyến chuyên môn của đơn vị [3], điều đó đòi hỏi đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện phải được trang bị đầy đủ các trang thiết bị: hệ thống máy vi tính, nối mạng Internet, máy in,
Trang 2213
máy fax, điện thoại, tài liệu và được đào tạo kiến thức, kỹ năng về thông tin thuốc
1.3 Vài nét về bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn:
Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn là một bệnh viện hạng III trực thuộc Sở Y tế tỉnh Phú Thọ, được xây dựng trên địa bàn thị trấn huyện Thanh Sơn- tỉnh PhúThọ Bệnh viện được xây dựng theo chương trình dự
án nâng cấp BVĐK tuyến huyện cơ bản hoàn thành các hạng mục và đưa vào sử dụng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân huyện nhà và các huyện lân cận như Tân Sơn, Tam Nông, Lâm Thao, Thanh Thuỷ[19]
Bệnh viện có chức năng, nhiệm vụ cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; đào tạo cán bộ y tế; nghiên cứu khoa học về y học; chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật; phòng bệnh cho nhân dân; hợp tác quốc tế; quản lý kinh tế y tế trong bệnh viện Năm 2012 bệnh viện được giao kế hoạch 160 giường, trong đó 130 giường theo chỉ tiêu pháp lệnh; 30 giường xã hội hóa xong giường thực kê tại bệnh viện là 260 giường do số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện tăng đột biến
Việc triển khai các kỹ thuật chuyên môn tại bệnh viện được thực hiện theo quy định về phân tuyến của Bộ Y tế[2] Năm 2012 bệnh viện đã thực hiện một số kỹ thuật khó sau: Phẫu thuật lấy thai; bóp bóng Ambu, thổi ngạt sơ sinh; phẫu thuật cắt tử cung bán phần; nối động mạch tử cung;
đỡ đẻ ngôi ngược; đặt katheter tĩnh mạch trung tâm; Phẫu thuật thay thể thuỷ tinh; Hút dịch khí màng phổi; Kỹ thuật kéo giãn cột sống thắt lưng; Điều trị bằng các dòng điện xung vv Đặc biệt, bệnh viện đã triển khai chương trình đơn nguyên sơ sinh rất hiệu quả Các kỹ thuật cận lâm sàng phục vụ chẩn đoán: Chụp X-quang tim phổi, lồng ngực bằng kỹ thuật tăng sáng; điện tim; siêu âm ổ bụng; xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu, xét nghiệm nước tiểu 10 thông số, xét nghiệm công thức máu vv Bệnh viện được lắp đặt hệ thống phần mềm Microsoft thuận tiện cho việc quản lý khám, chữa bệnh tại đơn vị[19]
Trang 2314
1.3.1 Mô hình tổ chức của bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn:
ĐẢNG UỶ
CÁC PHÒNG
CHỨC NĂNG
KHỐI LÂM SÀNG
KHỐI CẬN LÂM SÀNG
- Khoa Nội- Nhi - Lây
- Khoa HSTC và CĐ
- Khoa YHCT và PHCN
- Khoa Dược
- Khoa Khám bệnh
- Khoa Cận Lâm sàng( gồm bộ phận xét nghiệm và bộ phận chẩn đoán hình ảnh)
- Khoa Dinh dưỡng
Hình 1.2 Mô hình tổ chức bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn
1.3.2 Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn
Năm 2012, Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn được kiện toàn theo quyết định số 63/QĐ-BV ngày 01/03/2012 của Giám đốc bệnh viện, gồm 13 người Chủ tịch Hội đồng là Phó Giám đốc phụ trách điều trị, phó chủ tịch Hội đồng kiêm uỷ viên thường trực là trưởng khoa Dược, thư ký Hội đồng là trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, các thành viên còn lại là trưởng các khoa Lâm sàng, Cận lâm sàng trong bệnh viện và điều dưỡng trưởng bệnh viện
Hoạt động của HĐT&ĐT được thực hiện dựa trên kế hoạch hoạt động đã xây dựng theo tháng, quý, năm Họp sơ kết hoạt động của Hội đồng: Quý họp 01 lần vào tuần cuối của tháng cuối quý; Họp bình bệnh án,
Trang 2415
đơn thuốc: Tháng họp 01 lần vào thứ năm của tuần cuối tháng Trong năm
2012, số lượng bệnh án và đơn thuốc được bình là 98 bệnh án và 180 đơn thuốc Nội dung bình bệnh án đơn thuốc được thực hiện theo bảng 1.1
Bảng 1.1 Tiêu chí bình bệnh án, đơn thuốc
3 Kê đơn, y
lệnh điều trị
Chỉ định thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh; Tên thuốc rõ ràng, đúng danh pháp, đúng nồng độ hàm lượng, liều dùng, đường dùng, thời khắc dùng; Vấn đề tương tác giữa thuốc với thuốc, thuốc với nước dùng để uống thuốc ; Thuốc được đánh số thứ tự theo quy định; Thay đổi thuốc phải phù hợp với diễn biến bệnh
4 Diễn biến
bệnh
Trong quá trình điều trị ghi đầy đủ diễn biến, phân cấp chăm sóc, lý do chỉ định mới vào hồ sơ bệnh
án Ký và ghi rõ tên sau mỗi lần thăm khám
5 Hội chẩn Khi có người bệnh chẩn đoán xác định nguyên nhân chưa rõ ràng, tiên lượng dè dặt hoặc trước
khi phẫu thuật phải có hội chẩn
6 Chế độ chăm sóc của điều
dưỡng
Chăm sóc người bệnh toàn diện với bệnh nhân chăm sóc cấp 1 Theo dõi sát người bệnh, ghi chép đầy đủ, chính xác, trung thực các diễn biến của người bệnh vào phiếu theo dõi, phiếu chăm sóc
7 Hoàn tất hồ
sơ, thủ tục
Bệnh án phải kẻ hết ngày điều trị, tóm tắt sau 15 ngày điều trị Bệnh nhân ra viện phải có tổng kết bệnh án và rút kinh nghiệm Lãnh đạo khoa hoặc người được uỷ quyền ký và ghi rõ họ tên
Trang 2516
Năm 2012, Hội đồng thuốc đã xây dựng được quy trình cấp phát thuốc
từ khoa Dược đến người bệnh nhằm đảm bảo thuốc được sử dụng đúng, an
Thống kê dược
Dược lâm sàng, thông tin thuốc
Quản lý hoạt động chuyên môn của Nhà thuốc bệnh viện Hình 1.3 Mô hình tổ chức khoa Dược
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Thông tư 22/TT-BYT ngày 10/06/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế [7] Bộ phận nghiệp vụ dược gồm 1 DS cao đẳng Thực hiện công tác kiểm tra quy định chuyên môn dược tại khoa Dược, các khoa lâm sàng và Nhà thuốc trong bệnh viện Cập nhật thường xuyên các văn bản quy định về quản lý chuyên môn, tham mưu cho Trưởng khoa trình Giám đốc bệnh viện kế hoạch phổ biến, triển khai thực hiện các quy định này tại các khoa trong bệnh viện Đảm nhiệm việc cung ứng thuốc; định kỳ kiểm tra việc bảo quản, quản lý, cấp phát thuốc tại khoa Dược; kiểm tra việc sử dụng và bảo quản thuốc trong tủ trực tại các khoa lâm sàng Đảm nhiệm việc kiểm nghiệm, kiểm soát chất lượng thuốc Năm 2012 khoa Dược đã gửi 25 mẫu
Trang 2617
thuốc đi kiểm nghiệm chất lượng, các mẫu kiểm nghiệm đều đạt yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng theo quy định[14]
Bộ phận kho và cấp phát: Gồm 4 DS trung học phụ trách 2 bộ phận- cấp phát nội trú và cấp phát ngoại trú Hệ thống kho bảo quản thuốc, hóa chất, vật tư của khoa Dược được xây dựng tại nơi bằng phẳng, khô ráo, không bị ô nhiễm môi trường, được trang bị máy điều hòa nhiệt độ, quạt thông gió, máy hút ẩm, máy hút bụi, xe đẩy hàng, xe nâng hàng, nhiệt kế,
ẩm kế, tủ lạnh bảo quản tuy nhiên kho chưa được xây dựng theo thiết kế chuyên biệt của kho bảo quản, chưa có kho riêng bảo quản hóa chất dễ cháy nổ
Bộ phận thống kê dược: Gồm 3 dược sĩ trung học Thực hiện việc theo dõi, thống kê số liệu thuốc nhập về kho dược, số liệu thuốc cấp phát cho nội trú, ngoại trú và cho các nhu cầu đột xuất khác Thực hiện báo cáo công tác khoa Dược, tình hình sử dụng thuốc, hóa chất, vật tư y tế tiêu hao
trong bệnh viện định kỳ hàng năm và báo cáo đột xuất khi được yêu cầu
Công tác dược lâm sàng, thông tin thuốc: Khoa chưa có dược sỹ chuyên trách làm công tác dược lâm sàng, thông tin thuốc mà do trưởng khoa dược kiêm nhiệm thêm công tác này, thực hiện cập nhật và thông báo các thông tin về thuốc mới, tác dụng không mong muốn của thuốc, thu thập báo cáo ADR của thuốc , phối hợp với các phòng chức năng thực hiện kiểm tra, giám sát sử dụng thuốc an toàn, hợp lý tại các khoa điều trị lâm sàng
1.3.3.2 Cơ cấu nhân lực khoa dược năm 2012
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân lực khoa dược năm 2012
Trang 2718
Khoa dược bệnh viện chỉ có 01 dược sĩ đại học, 01 dược sĩ cao đẳng còn lại 07 dược sĩ trung học Do thiếu dược sĩ đại học nên một số vị trí vẫn thiếu cán bộ chuyên trách, phải kiêm nhiệm như dược lâm sàng, thông tin thuốc Khoa dược không có bộ phận pha chế thuốc theo đơn, tất cả các
thuốc đều được mua theo kết quả đấu thầu của Bệnh viện Tỉnh[14]
1.3.4 Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012
Bảng 1.3 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012
suất
Tỷ lệ (%)
01 Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật A00 - B99 1923 3,16
03 Bệnh của máu, cơ quan tạo máu D50 - D98 86 0,14
04 Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa E00 - E90 2114 3,48
05 Rối loạn tâm thần và hành vi F00 - F99 728 1,20
07 Bệnh mắt và phần phụ H00 - H59 1518 2,50
08 Bệnh của tai và xương chũm H60 - H95 2725 4,48
12 Bệnh da và mô dưới da L00 - L99 557 0,92
16 Chấn thương, ngộ độc và hậu quả của
một số nguyên nhân bên ngoài S00-S98 3552 5,84
Trang 2819
Là bệnh viện đa khoa do đó mô hình bệnh tật năm 2012 tương đối đa dạng, trong đó các nhóm bệnh chiếm tỷ lệ cao là bệnh tiêu hóa; bệnh hô hấp; bệnh cơ, xương và mô liên kết; bệnh hệ sinh dục, tiết niệu; thai nghén, sinh đẻ và hậu sản
Nhóm bệnh hệ hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất, trong đó bệnh nhân mắc viêm họng và amidan cấp là 7.822 lượt(47,53%) Tiếp theo là nhóm thai nghén, sinh đẻ và hậu sản, do tại bệnh viện đã triển khai thực hiện tốt đơn nguyên sơ sinh, rất nhiều trường hợp trẻ sinh thiếu tháng được cứu sống, nuôi dưỡng trong lồng ấp đạt hiệu quả tốt đã thu hút các sản phụ đến từ các xã trong huyện và các huyện lân cận Bệnh về tiêu hóa và cơ- xương,
mô liên kết cũng chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm phần lớn là các bệnh viêm dạ dày, tá tràng, viêm khớp dạng thấp, viêm đa khớp, thoái hóa khớp và các bệnh về cột sống khác[15] Việc xác định mô hình bệnh tật có ý nghĩa cao trong việc đánh giá hiệu quả quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện
Trang 2920
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Mô tả hồi cứu
2.3 Cách tiến hành
Hồi cứu báo cáo công tác khám chữa bệnh của bệnh viện năm 2012; báo cáo sử dụng thuốc năm 2012 của bệnh viện đa khoa Thanh Sơn; Báo cáo ADR của thuốc năm 2012; sổ thông tin thuốc; biên bản họp và kết quả bình bệnh án, bình đơn thuốc của Hội đồng năm 2012
Thu thập thông tin về chỉ định thuốc trong các bệnh án và đơn thuốc BHYT ngoại trú đã bình năm 2012 của HĐT&ĐT, đánh giá sử dụng thuốc qua một số chỉ tiêu
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
Trang 30Ý nghĩa: Đánh giá được tình hình hoạt động và hiệu quả điều trị cho BN
2.4.1.3 Số thuốc trung bình trong một bệnh án
Ý nghĩa: So sánh chi phí cho một ngày điều trị trên một bệnh và giữa các
bệnh với nhau
2.4.2 Đối với đơn thuốc ngoại trú
2.4.2.1 Thực hiện quy chế chuyên môn trong kê đơn ngoại trú
+ Công thức 5:
Tỷ lệ đơn thuốc đúng quy chế(%) =
Số đơn thuốc đúng quy chế - x 100 Tổng số đơn khảo sát
Ý nghĩa: Đánh giá mức độ chấp hành quy chế chuyên môn trong kê đơn ngoại trú
Trang 31Số thuốc kê tên gốc
Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc (%) = - x 100 Tổng số thuốc sử dụng
+ Công thức 8:
Số thuốc kê tên biệt dược
Tỷ lệ thuốc được kê tên biệt dược(%) = - x 100 Tổng số thuốc sử dụng
Ý nghĩa: Đo lường xu thế kê đơn thuốc theo tên gốc
Việc sử dụng thuốc mang tên gốc sẽ giúp làm giảm chi phí cho
người bệnh, việc xác định tỷ lệ thuốc được kê tên gốc giúp đánh giá quá
trình kê đơn có thực hiện tốt các hướng dẫn của BộY tế về ưu tiên sử dụng thuốc mang tên gốc không
2.4.2.4 Tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh, corticoid, vitamin, thuốc tiêm + Công thức 9: Số đơn có kê KS
Tỷ lệ đơn có kê KS (%) = - x 100
Tổng số đơn thuốc
+ Công thức 10:
Số đơn có kê Corticoid
Tỷ lệ đơn có kê Corticoid (%) = - x 100 Tổng số đơn thuốc
Trang 3223
+ Công thức 11:
Số đơn có kê Vitamin
Tỷ lệ đơn có kê Vitamin (%) = - x 100 Tổng số đơn thuốc
+ Công thức 12:
Số đơn có kê thuốc tiêm
Tỷ lệ đơn có kê thuốc tiêm (%) = - x 100 Tổng số đơn thuốc
Ý nghĩa: Đo lường mức độ sử dụng kháng sinh, corticoid, vitamin, thuốc
tiêm Các thuốc này giá thành thường đắt và hay bị lạm dụng trong điều trị
2.4.2.5 Chi phí trung bình cho một lần kê đơn
Công thức 13:
Tổng số tiền các đơn thuốc khảo sát Chi phí trung bình một đơn = - Tổng số đơn khảo sát
Ý nghĩa: Đánh giá được chi phí thuốc cho một lần kê đơn, chi phí thuốc
càng cao càng gây tốn kém nhiều cho bệnh nhân
2.5 Phương pháp xử lý số liệu và trình bày kết quả nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, tính tỷ lệ % các chỉ tiêu phân tích, biểu diễn kết quả bằng bảng biểu, biểu đồ
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel for Window để tổng hợp theo các chỉ số nghiên cứu
Trang 3324
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng năm 2012
Danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012
được HĐT&ĐT bệnh viện xây dựng căn cứ vào mô hình bệnh tật tại đơn vị,
phân tuyến kỹ thuật được Sở Y tế tỉnh Phú Thọ phê duyệt, các hướng dẫn
điều trị đã xây dựng, danh mục thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu của Bộ Y tế,
kinh phí sử dụng thuốc và hợp đồng giữa BHYT và bệnh viện năm 2012
3.1.1 Theo nhóm tác dụng dược lý
Danh mục thuốc gồm 2 phần, danh mục thuốc tân dược được chia
thành 21 nhóm và danh mục các chế phẩm y học cổ truyền được chia thành
05 nhóm theo tác dụng dược lý Danh mục thuốc bệnh viện được phát cho
tất cả các khoa, có hướng dẫn sử dụng giúp cho việc tra cứu, thay thế thuốc
được dễ dàng
Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý được thể hiện qua bảng
3.4
Trang 3425
Bảng 3.4 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý( theo SLMH)
lệ(%)
I Danh mục thuốc tân dược
1 Thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 26 15,12
7 Hormon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 10 5,81
8 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-
base và các dung dịch tiêm truyền khác 09 5,23
9 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng 09 5,23
11 Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong ngộ độc 05 2,92
12 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn 04 2,33
15 Thuốc có tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ và chống đẻ
non
03 1,74
20 Thuốc điều trị đau nửa đầu, chóng mặt 01 0,58
21 Thuốc giãn cơ và ức chế cholinesterase 01 0,58
II Danh mục các chế phẩm YHCT
2 Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 01 0,58
4 Nhóm thuốc chữa các bệnh về âm, huyết 01 0,58
5 Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì 04 2,33
Trang 3526
Nhận xét:
Qua thống kê, năm 2012 tại Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn
có 21 nhóm thuốc tân dược và 05 nhóm thuốc là các chế phẩm y học cổ truyền, được sử dụng với số lượng mặt hàng là 172 Trong đó nhóm có nhiều mặt hàng nhất là thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn với
26 mặt hàng (15,12%), xếp thứ hai là nhóm thuốc tim mạch với 22 mặt hàng (12,79%) Các nhóm có số lượng mặt hàng được sử dụng nhiều khác
là thuốc đường tiêu hóa ; thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid, thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp với 14 mặt hàng (8,14%); khoáng chất và vitamin với 12 mặt hàng (6,98%) Danh mục các chế phẩm y học cổ truyền được dùng tổng 5 nhóm là 10 mặt hàng, trong đó nhóm thuốc nhuận tràng ,tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì được dùng nhiều hơn cả là 04 mặt hàng Điều đó cho thấy việc lựa chọn thuốc sử dụng thuốc tại bệnh viện trong năm 2012 tương đối đa dạng, phù hợp với mô hình bệnh tật tại bệnh viện
3.1.2 Theo đối tượng điều trị
Tại bệnh viện, đối tượng điều trị được chia làm hai nhóm là BHYT
và dịch vụ y tế Cơ cấu thuốc sử dụng theo đối tượng điều trị tại bệnh viện Thanh Sơn năm 2012 được thể hiện qua bảng 3.5
Bảng 3.5 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đối tượng điều trị
Trang 3627
đồng, chiếm 42,29 tổng kinh phí của bệnh viện Trong đó, đối tượng chiếm giá trị sử dụng thuốc cao hơn là bảo hiểm y tế với 39,11% do chính sách bảo hiểm y tế toàn dân được thực hiện triệt để tại địa phương Phần lớn bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện đều có bảo hiểm y tế, ngoài các đối tượng có BHYT là cán bộ, viên chức, công nhân công tác trên địa bàn, đối tượng có BHYT là trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, bảo hiểm y tế
tự nguyện cũng chiếm tỷ lệ khá cao
3.1.3 Theo nguồn gốc sản xuất
Nguồn gốc sản xuất của thuốc gồm có thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc sản xuất thể hiện qua bảng 3.6
Bảng 3.6 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc sản xuất
Nguồn gốc
Số khoản ( thuốc)
Trang 3728
dược phát triển việc nghiên cứu, sản xuất thuốc trong nước Tại Bệnh viện
Đa khoa huyện Thanh Sơn năm 2012, thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ thấp hơn thuốc sản xuất trong nước cả về số lượng mặt hàng và giá trị sử dụng
63.95
36.05
59.74 40.26
0 50
100
%
Thuốc sản xuất trong nước Thuốc nhập khẩu
Hình 3.4 Tỷ lệ % thuốc sử dụng theo nguồn gốc sản xuất
Theo đó số lượng mặt hàng thuốc sản xuất trong nước chiếm 63,95%
và giá trị sử dụng chiếm 59,74% tổng tiền thuốc Mặc dù số lượng mặt hàng thuốc nhập khẩu chiếm 36,05% nhưng giá trị sử dụng chiếm tới 40,26% điều đó chứng tỏ giá thành thuốc nhập khẩu cao hơn so với thuốc sản xuất trong nước
* Mười thuốc nhập khẩu có giá trị sử dụng cao nhất năm 2012 được sử dụng tại bệnh viện:
Các thuốc nhập khẩu có giá trị sử dụng cao nhất năm 2012 được thể hiện qua bảng 3.7
Trang 381 Cefotaxim 1g Pritaxim Hàn Quốc Lọ 909.198.125
3 Oxytocin 5UI Oxytocin Hungari Ống 247.941.960
6 Gliclazid 80mg Wonlicla Hàn Quốc Viên 119.457.330
7 Insulins 40UI/ml Insilidd N Ấn Độ Lọ 80.398.500
8 Amlodipin 5mg Flamodip 5 Ấn Độ Viên 79.683.034
9 Metformin 500mg Philformin Hàn Quốc Viên 69.305.673
10 Bupivacain
hydrocloride 0,5%
Bupigobbi Arghentina Ống 58.996.382
Nhận xét:
Trong 10 thuốc nhập khẩu có giá trị sử dụng cao nhất năm 2012, tất
cả đều ở dạng đơn chất, tập trung vào các nhóm là kháng sinh, thuốc thúc
đẻ và cầm máu sau đẻ, thuốc tác dụng đối với máu, nhóm thuốc hạ đường huyết Trong đó nhóm thuốc hạ đường huyết có 3/10 mặt hàng, nhóm kháng sinh có 2/10 mặt hàng, 1/10 mặt hàng là các nhóm thuốc còn lại Như vậy, trong số 10 thuốc nhập khẩu có giá trị sử dụng cao nhất, thuốc kháng sinh có 2 mặt hàng, tuy nhiên tổng giá trị sử dụng lại cao hơn các nhóm thuốc khác vì đây là các thuốc có giá thành cao
3.1.4 Theo tên gốc, tên biệt dược
Cơ cấu thuốc sử dụng theo tên gốc, tên biệt dược được thể hiện qua bảng 3.8
Trang 3930
Bảng 3.8 Cơ cấu thuốc mang tên gốc, tên biệt dược
Cơ cấu
Số lượng mặt hàng
Giá trị sử dụng
Số lượng
Tỷ lệ(%)
Giá trị (VNĐ)
Tỷ lệ(%)
Theo xuất xứ của các thuốc mang tên gốc, thuốc sản xuất trong nước được dùng nhiều hơn thuốc nhập khẩu cả về số lượng mặt hàng và giá trị
sử dụng Theo đó số lượng mặt hàng thuốc sản xuất trong nước nhiều gấp 3,36 lần thuốc nhập khẩu và có giá trị sử dụng gấp 5,5 lần thuốc nhập khẩu
Theo xuất xứ của các thuốc mang tên biệt dược, các thuốc nhập khẩu chiếm ưu thế hơn thuốc sản xuất cả về số lượng mặt hàng và giá trị
sử dụng Cụ thể, thuốc nhập khẩu gấp 1,42 lần thuốc sản xuất về số lượng mặt hàng và gấp 1,86 lần về giá trị sử dụng