1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá về hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam thời gian qua và những kiến nghị

15 576 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá về hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam và những kiến nghị
Tác giả Đặng Uyên Thủy Minh
Trường học Ngân Hàng Việt Nam
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2025
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 83,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam thời gian qua và những kiến nghị

Trang 1

Lời mở đầu

Trong điều kiện hiện nay, khi mà quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra

và bao trùm lên tất cả các lĩnh vực của đời sống nh hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống văn hoá, chính trị thì hợp tác quốc tế, đầu t nớc ngoài ở nớc ta ngày càng đợc mở rộng nhằm phát huy lợi thế so sánh của mình Trong đó, một nhân tố quan trọng không thể thiếu đợc là hoạt động ngoại hối Hoạt động này

có liên quan chặt chẽ đến nền kinh tế quốc tế và là cơ sở để nền kinh tế nớc ta hội nhập đợc với nền kinh tế thế giới Vì thế, hoạt động ngoại hối là mối quan tâm đặc biệt của chính phủ nớc ta trong thời kì hiện nay

Do việc quản lý ngoại hối liên quan trực tiếp đến rất nhiều hoạt động kinh

tế khác nhau đồng thời chịu ảnh hởng của các nhân tố trong nớc cũng nh quốc tế nên NHTƯ phải có những chính sách và biện pháp để điều chỉnh ngoại hối luôn

ở trạng thái ổn định Với chính sách đổi mới đợc Đảng và Nhà nớc ta ban hành vào năm 1986, hệ thống Ngân hàng Việt Nam (NHNN VN) - cơ quan quản lý Nhà nớc trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đã có những bớc chuyển biến đáng kể, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý ngoại hối

Chính vì lý do đó nên em đã chọn đề tài: “Đánh giá về hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam và những kiến nghị” để làm tiểu luận Do kiến

thức và thời gian có hạn nên nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận đợc sự góp ý của các thầy cô!

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Đặng Uyên Thủy Minh.

Trang 2

Nội dung Chơng I: KháI quát về quản lý ngoạI hối.

I - Khái niệm

Ngoại hối là tiền nớc ngoài, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá và các công cụ thanh toán bằng tiền nớc ngoài và là phơng tiện thiết yếu trong quan

hệ kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia

Quản lý ngoại hối là việc Nhà nớc áp dụng các chính sách, biện pháp tác

động vào quá trình nhập, xuất ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) và việc sử dụng ngoại hối theo những mục tiêu nhất định

II - Mục đích của việc quản lý ngoại hối.

Điều 30 pháp lệnh NHNN VN năm 1990, điều 38 luật NHNH VN năm

1997 và mới đây là Nghị định 52/2003/NĐ-CP của Chính phủ đều qui định về việc Nhà nớc giao cho NHNN VN quản lý ngoại hối và việc quản lý ngoại hối nhằm mục đích sau:

1 Điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

NHTƯ sử dụng mọi biện pháp để tập trung nguồn ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) vào tay mình, nhờ đó, Nhà nớc có điều kiện để sử dụng nó phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động đối ngoại Đồng thời sử dụng chính sách ngoại hối nh một công cụ có hiệu lực để thực hiện chính sách tiền tệ, bằng cách thông qua việc mua bán ngoại hối trên thị trờng để can thiệp vào tỷ giá khi cần thiết nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền, tác động vào lợng tiền cung ứng

2 Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nớc.

NHTƯ là cơ quan quản lý tài sản quốc gia nên phải quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nớc nhng không chỉ bảo quản mà còn biết cách sử dụng dự trữ đó để phục vụ cho việc đầu t và phát triển kinh tế và phải luôn đảm bảo an toàn không

bị ảnh hởng rủi ro về tỷ giá ngoại tệ trên thị trờng quốc tế.Vì vậy NHTƯ phải mua, bán, chuyển đổi đồng tiền để phát triển, chống thất thoát, sói mòn quỹ dự trữ ngoại hối của Nhà nớc, bảo vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ NHTƯ thông qua các chính sách biện pháp của mình để can thiệp trên thị trờng ngoại hối để

đạt đợc mục tiêu đặt ra của NHTƯ hoặc là những mục tiêu kinh tế xã hội mà Nhà nớc đặt ra

Trang 3

3 Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Cán cân thanh toán của một nớc phản ánh đầy đủ những xu hớng cung, cầu về ngoại tệ trong các giao dịch quốc tế nên nó tác động lớn đến tỷ giá hối

đoái của đồng tiền Khi cán cân thanh toán bội thu, lợng ngoại tệ chảy vào trong nớc dẫn đến khả năng cung về ngoại tệ cao hơn so với nhu cầu làm tỷ giá có chiều hớng giảm xuống Khi cán cân thanh toán bội chi, lợng ngoại tệ chảy ra

n-ớc ngoài, lúc này tỷ giá có chiều hớng tăng lên Nếu ở hai trờng hợp này không

có sự can thiệp của NHTƯ thì tỷ giá sẽ biến động theo lợng cung cầu ngoại tệ trên thị trờng

III - Cơ chế quản lý ngoại hối.

1 Cơ chế tự do ngoại hối.

Thực hiện cơ chế này nghĩa là ngoại hối đợc tự do lu thông trên thị trờng Lúc này trạng thái cân bằng của ngoại hối là do thị trờng quyết định, hoàn toàn không có sự can thiệp của Nhà nớc, do vậy tỷ giá - giá cả ngoại hối sẽ phù hợp với sức mua của đồng tiền trên thị trờng Tỷ giá thả nổi dẫn đến lãi suất, luồng vốn vào và ra hoàn toàn do thị trờng chi phối

2 Cơ chế quản lý.

2.1 - Cơ chế Nhà nớc thực hiện quản lý hoàn toàn.

Theo cơ chế này thì Nhà nớc đợc độc quyền về ngoại thơng và ngoại hối

Tỷ giá đợc hình thành do Nhà nớc quy định trên cơ sở áp đặt các luồng tiền ra vào Lúc này thì các tổ chức tham gia vào hoạt động ngoại thơng đều phải chấp hành đúng theo các quy định mà Nhà nớc đa ra Nếu nh việc kinh doanh xuất nhập khẩu bị lỗ do tỉ giá thì Nhà nớc sẽ cấp bù, còn nếu có lãi thì phải nộp cho Nhà nớc Cơ chế này thích hợp với nền kinh tế kế hoach hoá tập trung

2.2 - Cơ chế quản lý có điều tiết.

Ta thấy, việc Nhà nớc áp đặt một chế độ tỷ giá là không phù hợp với nền kinh tế thị trờng nh hiện nay Từ đó thấy ngay đợc hạn chế của việc quản lý hoàn toàn Để khắc phục đợc hạn chế này thì Nhà nớc đã tiến hành điều tiết nhng gắn với thị trờng và chỉ điều tiết trong một phạm vi nào đó để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của thị trờng, tạo diều kiện cho kinh tế trong nớc phát triển ổn định, ngăn chặn ảnh hởng từ bên ngoài

Trang 4

Chơng II - Hoạt động quản lý ngoại hối của nht

thời gian qua.

I Vai trò của NHTƯ trên thị trờng ngoại hối.

Hầu hết các chính sách của NHTƯ đều tác động tới tỷ giá và NHTƯ khi thực hiện các chính sách đều phải xét tới những tác động của chúng đối với tỷ giá hối đoái Các NHTƯ có thể tác động vào tỷ giá nhằm gây ảnh hởng đến nền kinh tế hoặc có thể can thiệp vào thị trờng hối đoái để ngăn chặn đồng tiền nớc

họ sao cho không đi quá xa theo một hớng nào Vai trò của NHTƯ đợc thể hiện

ở những mặt cụ thể nh sau:

1 Nếu có sự lo ngại nền kinh tế bị ảnh hởng của các biến động đột ngột

trong giá trị đồng nội tệ, NHTƯ có thể cố gắng làm giảm bớt các biến động tỉ giá theo cách nhìn có lợi của mình Điều này có thể giúp cho chu kỳ kinh doanh

ít thay đổi làm giảm bớt sự lo lắng trong các thị trờng tài chính và những hoạt

động đầu cơ, từ đó ngăn chặn giá trị của một đồng tiền bị rơi tự do

2 Thiết lập các biên độ tỷ giá hối đoái ẩn nhằm điều chỉnh hớng biến

động của thị trờng Một số NHTƯ nỗ lực duy trì giá đồng nội tệ trong vòng các biên độ không chính thức bằng cách can thiệp để không xảy ra tình trạng giá trị

đồng nội tệ tụt dới một mức chuẩn nào đó Tuy nhiên ngay cả khi có các giới hạn

ẩn thì những giới hạn này cũng đợc điều chỉnh qua thời gian bởi vì đồng nội tệ mạnh hay yếu đều có thể ảnh hởng đến nền kinh tế đất nớc Đồng nội tệ yếu có thể làm giảm mức thất nghiệp, có thể kích thích nền kinh tế nhng lại đẩy tỷ lệ lạm phát cao hơn Còn đồng nội tệ mạnh có thể khuyến khích ngời tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nớc mua hàng hoá từ các nớc khác do hàng hoá ngoại quốc hấp dẫn hơn về giá cả Lúc này sức cạnh tranh của hàng hoá nớc ngoài tăng lên buộc các nhà sản xuất nội địa phải giảm giá hàng Vì vậy giá trị lý tởng của một đồng tiền tuỳ thuộc vào quan điểm của nớc đó cụ thể là quan điểm của các nhà quản lý có liên quan đến những quyết định này

3 Trong một số trờng hợp cụ thể, NHTƯ có thể can thiệp cô lập giá trị

của một đồng tiền khỏi một xáo trộn tạm thời

II - Hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN VN thời gian qua.

1 Giai đoạn trớc khi ban hành luật ngân hàng.

Trong thời kì kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nớc nắm độc quyền về ngoại thơng và ngoại hối; quyền thu, chi ngoại tệ do Nhà nớc quyết định; chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh mới đợc phép tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa theo tỉ giá ấn định từ trớc Tuy nhiên, chế độ một tỉ giá nh thế này không phản

ánh đợc mối quan hệ cung - cầu ngoại hối trên thị trờng

Trang 5

Vì thế mà từ năm 1989, Nhà nớc ta đã thực hiện một số thay đổi trong quan hệ kinh tế đối ngoại và trong chính sách tỉ giá Tháng 3/1989, Nhà nớc ta

đã áp dụng chế độ tỉ giá đợc điều chỉnh thờng xuyên gần sát với tỉ giá thị trờng Ngay sau đó, NHNN VN thành lập hai trung tâm giao dịch hối đoái ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội để làm thí điểm cho việc chuẩn bị thành lập thị trờng hối đoái trong cả nớc Nhờ đó, tỉ giá hối đoái dần dần phản ánh đợc thực tiễn của quan hệ cung - cầu trên thị trờng, góp phần ổn định VNĐ, tạo điều kiện cho sự ổn định của môi trờng kinh tế và phục vụ tốt cho các hoạt động kinh tế đối ngoại

2 Sau khi ban hành Bộ luật ngân hàng.

NHTƯ thực hiện việc quản lý ngoại hối thông qua việc điều hành thị trờng ngoại hối, đa ra các quy chế hoạt động, quy định về tỉ giá, quản lý trạng thái ngoại tệ, biên lập cán cân thanh toán, kiểm tra việc xuất nhập khẩu ngoại hối ở

đây chúng ta sẽ xét đến hai vấn đề nổi cộm và quan trọng nhất đó là vấn đề tỉ giá

và việc quản lý trạng thái ngoại tệ

2.1 - Tỉ giá.

Ngày nay, tỷ giá trở thành một vũ khí lợi hại trong cuộc chiến tranh thơng mại hết sức khốc liệt trên thế giới, nhất là giữa Nhật – Mỹ – Tây Âu ở Việt Nam, từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng, mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, tỷ giá cũng là một vấn đề hết sức nóng bỏng và đợc nhiều ngời quan tâm Chính sách tỷ giá đã đợc Nhà nớc ta sử dụng nh một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô Nếu không có quyết sách về tỷ giá kịp thời, phù hợp sẽ gây ảnh hởng tiêu cực, kìm hãm quá trình đầu t trong nớc, làm thâm hụt cán cân thơng mại và khó

có thể thực hiện thành công những mục tiêu và nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiêp hoá hiện đại hóa đất nớc

Do các dao động tỷ giá ảnh hởng đến lãi suất nên nó cũng ảnh hởng đến giá chứng khoán đợc mua bán trên các thị trờng Tác động cụ thể tuỳ thuộc vào loại chứng khoán đợc mua hoặc bán, đặc biệt ảnh hởng đến giá cổ phiếu và trái phiếu :

- Tác động đối với giá cổ phiếu : Cổ phiếu của các doanh nghiệp nội địa có thể

bị ảnh hởng bởi việc các nhà đầu t nớc ngoài sử dụng cổ phiếu nh một phơng tiện

để kiếm lời từ đầu cơ tiền tệ Bằng cách này, các nhà đầu t nớc ngoài có thể mua

cổ phiếu nội địa khi đồng bản tệ yếu rồi bán các cổ phiếu này khi đồng bản tệ mạnh Nh vậy mức cầu của nớc ngoài đối với bất kỳ một cổ phiếu nội địa nào đó

có thể cao hơn khi đồng nội tệ đợc dự kiến tăng giá

- Tác động đối với giá trái phiếu : Đồng nội tệ yếu rất có thể sẽ làm tăng dự đoán

về lạm phát, lãi suất thị trờng lên cao hơn và mức cầu các nguồn vốn vay giảm

Trang 6

Lãi suất thị trờng tăng làm cho lợi tức từ các trái phiếu hiện hữu tăng, trái phiếu giảm giá Những ngời nắm giữ trái phiếu dự đoán đồng nội tê giảm giá sẽ không muốn giữ trái phiếu, vì giá trị thị trờng của trái phiếu giảm làm cho lãi suất tăng, các nhà đầu t sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lời cao hơn để bù đắp rủi ro do lạm phát

Vì thế, trong thời gian qua, NHTƯ đã điều hành tỷ giá theo hớng hình thành mức tỷ giá phản ánh cung cầu ngoại tệ trên thị trờng, khuyến khích xuất khẩu để đẩy mạnh tăng trởng kinh tế, theo dõi sát sao diễn biến tỷ giá hàng ngày

để có biện pháp can thiệp, giữ cho tỷ giá vận động theo tín hiệu thị trờng, nhng không có biến động lớn vợt quá tầm kiểm soát trong việc điều hành chính sách tiền tệ Trong 4 tháng đầu năm 2001, tỷ giá biến động ổn định Từ tháng 5/2001,

tỷ giá có xu hớng tăng, mức tăng tỷ giá bình quân trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng 6 tháng đầu năm là 2.2% so với cuối năm 2000, tỷ giá trên thị t ờng tự

do tăng khoảng 2.8% Từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 9/2001, tỷ giá trên thị tr-ờng ngoại tệ liên ngân hàng biến động khoảng 2% và trên thị trtr-ờng tự do biến

động khoảng 2.1%

Việc điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ trong thời gian qua nh: tăng dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ lên 8%, rồi 12% và 15%; tự do hoá lãi suất cho vay ngoại tệ; giảm tỷ lệ kết hối bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp từ 50% xuống còn 30%; giảm tỷ lệ lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các pháp nhân; chủ

động can thiệp tăng tỷ giá; thu hẹp biên độ mua bán ngoại tệ của các Ngân hàng thơng mại (NHTM) chỉ hạn chế đợc tốc độ dịch chuyển từ ngoại tệ sang nội tệ

Do tỷ giá liên tục tăng lên, nhất là trong 3 tháng 5, 6 và 7/2001, mỗi ngày tăng từ 3-7 đồng/USD, tổng cộng tới gần 4% Trong 7 tháng, NHTƯ tiếp tục tăng dự trữ bắt buộc tới 15% làm tăng chi phí vốn đầu vào, do đó các NHTM cũng liên tục giảm lãi suất huy động ngoại tệ xuống còn 2.6- 2.8%/ năm cho kỳ hạn 12 tháng,

so với mức 5.8- 6.0%/năm trớc đó

Vì lí do tỉ giá liên tục tăng cao nh vậy nên NHTƯ quy định biên độ giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn hẹp lại làm cho các ngân hàng và các doanh nghiệp phải tìm mọi cách mua bán với nhau ngoài biên độ Điển hình là từ 17/7/2001, NHTƯ quy định ngiệp vụ mua bán ngoại tệ theo nghiệp vụ hoán đổi (swap) với các NHTM NHTM mang ngoại tệ bán cho NHTƯ để nhận ngay đợc tiền vốn VNĐ để cho vay Sau một thời gian xác định 7, 15, 30 hoặc 90 ngày sẽ mua số ngoại tệ đó trên cơ số tỷ giá xác định và một tỷ lệ gia tăng là : 0.8%; 0.85%; 1.7% tơng ứng với các kỳ hạn nói trên Tất cả các NHTM đều cho rằng

tỷ lệ gia tăng trên là quá cao, làm nản lòng họ trong nỗ lực cố gắng để nhận vốn

Trang 7

nội tệ của NHTƯ để cho vay Vì thế, mới đây NHTƯ đã giảm tỷ lệ nói trên với các tỷ lệ tơng ứng lần lợt là 0.3%; 0.4%; 0.5%; 1%

Năm 2002, tỷ giá tăng thấp nằm ngoài dự kiến của nhiều ngời Bởi vì từ

đầu năm 2002 mức dự đoán tỷ giá tăng thấp cũng là bằng năm 2001 tức tăng từ 3.5%-4% lên trên 15.550 đ/USD Nhng đến giữa tháng 12/2002 chỉ xoay quanh mức 15.100-15.400 đ/USD Năm 2003, tỷ giá cũng biến động nhẹ: 15.398đ/USD Tháng 6/2003, tỷ giá bình quân liên ngân hàng là 15.524đ/USD, tăng khoảng 5 đ/USD so với tháng trớc, có thời điểm còn cao hơn mức giá phổ biến trên thị trờng tự do

2.2 - Quản lý trạng thái ngoại tệ.

a) Lãi suất.

Do đợc tự do hoá từ tháng 6/2001 nên lãi suất ngoại tệ ở nớc ta luôn theo sát lãi suất trên thị trờng quốc tế Lãi suất tiền gửi USD của các NHTM hoàn toàn phụ thuộc vào lãi suất của FED và lãi suất SIBOR, và lãi suất huy động USD ở nớc ta đang có khoảng cách rất xa so với lãi suất tiền gửi USD Trớc năm

2002, lo ngại trớc d luận về tình trạng đô la hoá, NHNN đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên tới 15% để buộc các NHTM phải giảm lãi suất huy động USD, sau đó

tỷ lệ này giảm xuống, hiện nay còn 8% nhng vẫn khá cao cha hoàn toàn tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM tăng lãi suất huy động vốn USD, hấp dẫn ngời gửi USD vào các ngân hàng

Riêng lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các pháp nhân tại các tổ chức tín dụng, NHNN vẫn khống chế ở mức thấp nhằm hạn chế việc găm giữ đô la trong tài khoản và hạn chế đô la trong điều kiện tỷ lệ kết hối 80% giảm xuống 50% và hiện nay còn 30% Do đó lãi suất USD ở nớc ta giảm mạnh theo xu hớng thị tr-ờng quốc tế Năm 2002, mức phổ biến đối với tiền gửi không kỳ hạn là 1-1.2%/ năm; kỳ hạn 3 tháng: 1.5-2%/năm; kỳ hạn 6 tháng: 2.2-2.5%/năm; kỳ hạn 12 tháng: 2.6-3.0%/năm Lãi suất cho vay ngắn hạn: 5.5-6%/năm; trung, dài hạn: 6.05-6.5%/năm Kể từ 16/6/2003, lãi suất tiền gửi USD không kì hạn của các tổ chức tín dụng, Kho bạc nhà nớc tại NHNN giảm từ 1,35%/năm xuống còn 1,25%/năm Diễn biến lãi suất USD ở nớc ta cho thấy đã chịu ảnh hởng trực tiếp của thị trờng quốc tế, nhất là tác động của 9 lần giảm lãi suất của cục dự trữ liên bang Mỹ, đồng thời chịu ảnh hởng bởi việc NHNN Việt Nam điều chỉnh tăng tỷ

lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ Theo một quan chức của NHNN thì việc giảm lãi suất là phù hợp với xu hớng lãi suất đồng USD đang đứng ở mức thấp trên thị trờng thế giới Dự báo khả năng lãi suất USD còn có thể tiếp tục giảm trong thời gian tới

Trang 8

b) Việc quản lý ngoại tệ.

Nhờ có những diễn biến trên thị trờng tiền tệ trong năm 2002 nh lãi suất

đồng VN tăng, nhập siêu tăng cao ớc tính tới 2.53 tỷ USD, nên thị trờng ngoại tệ tơng đối ổn định, lãi suất USD và EURO ở mức thấp Các luồng ngoại tệ tiền mặt chuyển vào Việt Nam tăng cao, trong cả năm đạt 2.2 tỷ USD Ngoài ra còn các nguồn ngoại tệ tiền mặt do ngời Việt Nam đi công tác nớc ngoài theo các dự

án mang về, ngời nớc ngoài làm việc tại Việt Nam Do đó mặc dù nhập siêu lớn nhng do nguồn ngoại tệ tiền mặt tăng cao, cộng với những diến biễn trái chiều về lãi suất làm hạn chế tình trạng đầu cơ ngoại tệ và sự dịch chuyển tiền tệ theo chiều hớng ngợc lại trớc đây: từ USD sang VNĐ

Trong năm 2002, chỉ riêng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh NHNN đã cấp phép cho 197 bàn uỷ nhiệm thu đổi ngoại tệ, xác nhận 71 bàn thu đổi trực tiếp, nâng tổng số bàn hiện đang hoạt động thu ở đây lên 392 bàn với doanh số thu đổi đạt hơn 902 triệu USD

Tại Hà Nội có 250 bàn thu đổi ngoại tệ đợc phép hoạt động với doanh số thu đổi trong năm đạt 210 triệu USD, tăng 17.5% so với năm trớc Trong đó có

110 bàn đại lý thu đổi đợc trên 40 triệu USD và 140 bàn thu đổi của các NHTM

đạt doanh số 170 triệu USD, tăng 30.7% so với năm trớc Đồng thời chi nhánh NHNN ở Hà Nội cũng cấp 1200 giấy phép chuyển ngoại tệ ra nớc ngoài cho

ng-ời c trú là công dân Việt Nam với doanh số 15 triệu USD Điều này đã chứng tỏ dân chúng và ngay cả khách du lịch cũng tìm đến đổi ngoại tệ tại các bàn thu đổi hợp pháp ngày càng tăng lên Trong 2 năm qua, tổng dự trữ ngoại hối quốc gia tăng nhanh, quỹ dự trữ ngoại hối năm 2002 là 4414 triệu USD tăng 19.84% so với năm 2001 Đây là kết quả của chính sách nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng của NHNN Theo ớc tính của IMF, đến năm 2006 VN cần 6341 triệu USD

để cân bằng cán cân thanh toán của mình

Trang 9

Chơng III : Những vấn đề tồn tại và

kiến nghị.

I - Những tồn tại cần khắc phục.

Mặc dù năm 2002 và nửa đầu năm 2003, NHNN đã đạt đợc rất nhiều thành công trong công tác quản lý ngoại hối nhng bên cạnh đó vẫn không tránh khỏi một số hạn chế Đó là:

- Cha có những biện pháp, cơ chế chính sách để thu hút vốn đầu t nớc ngoài, cha

có giải pháp để luồng ngoại tệ từ nớc ngoài chảy về nớc ta tăng lên

- Tỉ lệ cho vay bằng ngoại tệ thấp

- Hệ thống văn bản chính sách về quản lý ngoại hối vẫn cha rõ ràng, có hiệu lực cha cao Một số văn bản không cập nhật, không đáp ứng đợc yêu cầu của thị tr-ờng

II - kiến nghị.

1 Thiết lập cơ chế điều hành tỷ giá hợp lý.

Hiện nay, cơ chế tỉ giá đang đợc NHNN áp dụng để điều hành chính sách tiền tệ là cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết Khi sử dụng chính sách này, NHNN

có thuận lợi là có thể kiểm soát đợc sự biến động thất thờng của tỷ giá nhng lại gặp phải khó khăn là tỷ giá không phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trờng làm cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng không linh hoạt

và kém hiệu quả Trong tơng lai NHNN cần thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá theo hớng gắn liền với các quy luật của nền kinh tế thị trờng Nói cách khác, NHNN cần mở rộng biên độ xác định tỷ giá kinh doanh, xoá bỏ dần sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính lên tỷ giá nh: kết hối, khống chế tỷ giá kỳ hạn, hoán đổi tiền tệ tiến đến thực hiện cơ chế thả nổi, trong đó NHNN chỉ có thể tác động gián tiếp đến tỷ giá thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng Tỷ giá đợc điều chỉnh linh hoạt hơn sẽ khuyến khích kiểm soát nhập khẩu trên cơ sở an toàn, tạo điều kiện tiếp tục hớng công tác điều hành tỷ giá theo đúng quy luật cung cầu của thị trờng

2 Tiếp tục đổi mới bộ máy quản lý

Một số nghị định ban hành năm 1998, 1999 là giai đoạn sau khi khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nay không còn phù hợp với xu hớng phát triển nền kinh tế khu vực và thế giới Yêu cầu cần phải minh bạch hoá chính sách và cải cách hành chính đang đặt ra phải có một văn bản pháp lý ở cấp cao hơn (Luật hoặc pháp lệnh về ngoại hối) Thêm vào đó, việc Chính phủ quy định lại cơ cấu, chức năng của NHNN đã tạo điều kiện cho NHNN mở rộng thẩm quyền của

Trang 10

mình trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngân hàng Chính vì thế mà NHNN nên sử dụng triệt để lợi thế của mình đối với một công tác trọng yếu nh công tác quản lý ngoại hối Để thực hiện điều này, NHTƯ cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống văn bản chính sách về quản lý ngoại hối theo một số yêu cầu cụ thể; phân công công việc cho các chi nhánh, phòng ban thật cụ thể, rõ ràng, nhằm tránh khỏi sự chồng chéo nhau khi giải quyết công việc; đổi mới trong quy trình làm việc sao cho tiết kiệm đợc chi phí và thời gian một cách có hiệu quả nhất Năm nay, NHNN đang nghiên cứu và cho áp dụng thêm một số công cụ của thị trờng

nh Quyền chọn và hoàn thiện các công cụ đã có gồm giao dịch kỳ hạn và giao dịch hoán đổi cho phù hợp với thông lệ quốc tế là một việc làm đáng mừng và cần phải phát triển hơn nữa

3 NHNN là ngời mua bán cuối cùng.

Trong thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng rất dễ xảy ra sự mất cân đối trong giao dịch Nếu thừa ngoại tệ thì tất cả các ngân hàng thành viên đặt lệnh bán Nếu thiếu ngoại tệ, mọi ngân hàng đều đặt lệnh mua Đúng ra NHNN phải can thiệp thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ nhng NHNN lại không thực hiện

đ-ợc nhiệm vụ này Điều đó làm cho niềm tin của các ngân hàng thành viên vào thị trờng giảm dần, dẫn đến việc các NHTM trực tiếp kinh doanh với nhau không thông qua thị trờng hậu quả là không chỉ tồn quỹ ngoại hối bị giảm bớt mà còn làm suy yếu vai trò điều tiết của NHNN Vì vậy, để thực hiện tốt chức năng điều tiết thị trờng, trớc hết NHNN phải sẵn sàng thoả mãn mọi nhu cầu hợp lý của thị trờng, ngợc lại theo tác động hai chiều của giao dịch, NHNN có thể mua đợc ngoại tệ từ các NHTM Hiển nhiên vấn đề này chỉ đợc thực hiện khi NHNN xây dựng cơ chế tỷ giá thích hợp, quản lý tốt tài khoản tiền gửi ngoại tệ, quỹ dự trữ ngoại hối dồi dào

4 Về nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ.

a) Giao dịch của nghiệp vụ giao ngay.

Thờng thì giao dịch giao ngay đợc thực hiện trong vòng hai ngày làm việc sau ngày đàm phán Nên để khuyến khích các NHTM mua bán ngoại tệ thì NHNN cần đẩy nhanh tốc độ thị trờng bằng cách nối mạng thanh toán bù trừ liên ngân hàng cho tất cả các định chế đợc phép kinh doanh ngoại tệ Nếu thời gian

xử lý chứng từ đợc giảm bớt, các NHTM không chỉ tiết kiệm đợc thời gian mà còn tận dụng đợc nhiều cơ hội kinh doanh

b) Đề nghị ký quỹ trong các giao dịch hối đoái kỳ hạn.

Bản chất của hợp đồng kỳ hạn là một giao dịch song phơng giữa ngời mua

và bán kỳ hạn nên việc thực hiện hợp đồng phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí và

Ngày đăng: 12/04/2013, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w