1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÂN TÍCH CÁC QUAN NIỆM VỀ LÝ THUYẾT ĐA NHÂN TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỘ MÁY HỌC CỦA NGƯỜI. TRÊN CƠ SỞ ĐÓ VẬN DỤNG VÀO VIỆC DẠY PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CỦA KHOA MÌNH PHỤ TRÁCH

15 1,7K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 182,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm trí tuệ đa nhân tố (multiple intelligence) Thuyết ba nhăn tố về trí tuệ của Robert Sternberg Thuyết đa trí tuệ của Gardner Thuyết trí tuệ cảm xúc (emitional Intelligence) Cấu trúc của trí tuệ cảm xúc Thuyết trí tuệ sáng tạo (emitional Intelligence)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN MÔN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC

Đề tài:

PHÂN TÍCH CÁC QUAN NIỆM VỀ LÝ THUYẾT ĐA NHÂN TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỘ MÁY HỌC CỦA NGƯỜI TRÊN CƠ SỞ

ĐÓ VẬN DỤNG VÀO VIỆC DẠY PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CỦA KHOA MÌNH PHỤ TRÁCH

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Mai Văn Hưng

Hà Nội - 2015

Trang 2

1 Quan niệm trí tuệ đa nhân tố (multiple intelligence)

Thuyết ba nhăn tố về trí tuệ của Robert Sternberg

Qua quá trình nghiên cứu, Stemberg và các cộng sự (1984) đã xây dựng thuyết 3 nhân tố trí tuệ (Triachic theory of intelligence), thuyết này cho rằng

có 3 loại trí tuệ khác nhau:

- Trí tuệ phân tích (Analytical or Componential Intelligence) là loại trí tuệ giống với loại trí tuệ được thừa nhận trong các lý thuyết truyền thống về trí tuệ Nó phản ảnh chủ yếu năng lực suy luận ngôn ngữ của chúng ta, năng lực

này giúp ích cho hoạt động ở trong nhà trường Người có loại trí tuệ này sẽ làm

tốt các trắc nghiệm đòi hỏi phân tích một vấn đề thành các thành tố của nó

- Trí tuệ sáng tạo (Creative or Experiential Intelligence) là năng lực kết hợp những kinh nghiệm khác nhau theo cách thức sáng tạo để giải quyết những vấn đề mới Loại trí tuệ này phản ánh sự sáng tạo được thể hiện như ở

các nghệ sĩ, các nhà sáng tác âm nhạc hay các nhả khoa học Theo Sternberg,

những thiên tài sáng tạo như Leonardo da Vinci và Albert Einstein đã có những trình độ cao đặc biệt về loại trí tuệ này

- Trí tuệ ngữ cảnh (Contextual Intelligence) là năng lực hoạt động trong các tình huống xã hội thực tiễn, hàng ngày nó phản ảnh sự nhanh nhậy (street smarts), ví dụ như trong việc mặc cả mua bán Những người cỏ loại trí tuệ này thường không được các điểm cao nhất trong các trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa và họ cũng không phải là những người sảng tạo ở mức cần thiết Sternberg cho rằng trí tuệ ngừ cảnh là những cái quan trọng mà bạn không hề được dạy tại nhà

Thuyết ba nhân tố thừa nhận rằng chúng ta có thể hoạt động được trong những hoàn cảnh khác với nhà trường Hơn nữa, chúng ỉa cỏ thể xuất sắc trong một loại trí tuệ này mà không xuất sắc trong hai loại trí tuệ kia ông tin tường rằng mỗi loại trí tuệ trên đều cỏ thể được tăng cường nhờ sự luyện tập

đặc biệt Năm 2000, Sternberg đã xuất bản cuốn sách Dạy trí tuệ thành công:

Tăng cường việc học vả thành tích của học sinh (To increase student learning

Trang 3

and achievement, Arlington Heights, II: Merrill - Prentice Hall) Sternberg

cho rằng thứ trí tuệ được đo bằng các trắc nghiệm IQ lả một thứ tri tuệ chết -không dẫn đến hành động có mục đích Tử đó, ông đưa ra khải niệm Trí tuệ thành công (successful intelligence) Đó là toại trí tuệ được dùng để đạt được

những mục đích quan trọng của cá nhân hay của xã hội Sternberg đã phát

biểu: Không có gì sai khi có những điểm trắc nghiệm tốt, những điểm trắc nghiệm tốt không loại trừ thành công nhưng chúng cũng không đảm bảo được cho nó Một số người có điểm trắc nghiệm tốt lại trở nên say mê với các điểm

số đó đến nỗi họ không bao giờ phát triển được các kĩ năng khác mà chúng sẽ

cân để có được trí tuệ thành công (Sternberg, 1997) Chính quan điểm như vậy của Sternberg làm cho lý thuyết của ông có khả năng áp dụng một cách

có tính chất xuyên văn hỏa cao - vì cái được coi là trí thông minh cao trong xã hội này lại không thể cỏ giá trị gì trong một xã hội khác Trí tuệ phải được hiểu trong một ngữ cảnh văn hóa và xã hội nhất định

Thuyết đa trí tuệ của Gardner

Lý thuyết của Robert Sternberg được dựa trên cơ sở nghiên cứu về việc chế biến thông tin thì thuyết đa trí tuệ (theory of multiple Intelligence) của Howard Gardner (1983) dựa trên hoạt động của nào bộ Gardner cho rằng: Não bộ đã tạo ra các hệ thống riêng biệt cho những năng lực tương ứng khác

nhau mà ông gọi là các trí tuệ Theo Gardner có 7 kiều loại trí tuệ khác nhau

và mỗi kiểu được phát triển đến một mức độ khác nhau trong mãi con người

- Trí tuệ ngôn ngữ (Linguistic Intelligence) là năng lực diễn tả ngôn

ngữ dễ dàng bằng cách nói hay viết Các nhà thơ, nhà văn, nhà báo là những thi dụ rõ nhất về loại trí tuệ ngôn ngữ Họ rất nhạy cảm với âm thanh, nhịp điệu và nghĩa của các từ, nhạy cảm với những chức năng khác nhau của ngôn ngữ Trí tuệ ngôn ngữ nằm ở phần não trái: Thùy trán trái kiểm soát các khả năng nói, còn thùy thái dương trái điều khiển sự hiểu biết ngôn ngữ

- Trí tuệ logic - toán học (Logical - Mathematical Intelligence): là

năng lực tính toán phức tạp và lý luận sâu sắc Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là

Trang 4

các nhà toán học và các nhà khoa học nói chung Các nhà khoa học lớn cỏ tài nhìn thấu suốt vấn đề phức tạp vả cảm nhận được giải pháp trước khi đưa ra bằng chứng Trí tuệ nảy nằm trong bản cầu não trái nhưng không có liên hệ chuyên biệt với một vùng nào cả Cho nên, nó dễ bị ảnh hưởng do sự suy thoái toàn bộ hơn là các tổn thương, tai biến của não Trường hợp những người chậm phát triển trí tuệ lại có thể thực hiện các phép toán với tốc độ cực nhanh

- Trí tuệ âm nhạc (Musical Intelligence): Đó là năng lực tạo ra và

thưởng thức các nhịp điệu, cung bậc (của nốt nhạc), âm sắc, biết thưởng thức các dạng biếu cảm của âm nhạc Loại trí tuệ này độc lập rõ hơn các loại khác

Một người tẩm thường về âm nhạc có thể đặc biệt xuất sắc ở các lĩnh vực

khác Một số trẻ tự kỷ lại có khả năng chơi một loại nhạc cụ nào đó Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là các nhà soạn nhạc, các nghệ sĩ biểu diễn violong Đây

có lẽ là loại trí tuệ phát triển sớm nhất ở trẻ con Loại trí tuệ này chủ yếu nằm

ở bán cầu não phải, nhưng khu trú kém chính xác hơn ngôn ngữ và có thể mất

đi do những tổn thương ở não

- Trí tuệ không gian (Spatial Intelligenceị: Bao gồm các khả năng tiếp

nhận thể giới thị giác không gian một cách chỉnh xác và khả năng thực hiện những biến đổi với sự trì giác ban đầu của mình Nó cho phép tưởmg tượng hình dạng của các sự vật với góc nhìn khác với người khác Loại trí tuệ này cần thiết cho việc định hướng và trí nhớ thị giác của chúng ta, đặc biệt là sự định hướng trừu tượng trong không gian Người cỏ loại trí tuệ này có thể diễn

tả tư tưởng và dự định của mình dưới dạng kí họa Điển hình cho loại trí tuệ này là các nhà hàng hải, các kỳ thủ, họa sĩ vả nhà điêu khắc Loại trí tuệ này chủ yếu nằm ờ phía sau bán cầu não phải Sự tồn thương của vùng não này có thể làm người bệnh không nhận ra được người thán vả nơi chốn rất quen thuộc trước đây

- Tri tuệ vận động cơ thể (body - Kinesthetic Intelligence): Gồm các

thành tố cơ bản lá các năng lực kiểm soát vận động của cơ thể mình và cần

Trang 5

nắm chắc các đối tượng một cách khéo léo Ở đây, cơ thể tham gia trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề, thường nhanh hơn cả trí óc, nhất là trong các tình huống nguy hiểm và trong khỉ chơi thể thao Điển hình cho loại trí tuệ này là các nghệ sĩ múa, các nhà thể dục dụng cụ, các nghệ sĩ kịch câm Loại tri tuệ này nằm ở trung khu vận động của bán cầu não trái (đối với phần cơ thể bên phải) và bán cầu não phải (đổi với phần cơ thể bên trải) Các tổn thương nào bộ thường chỉ ảnh hưởng đến sự chi huy một phần cơ thể

- Trí tuệ về bản thân (Intrapersonal Intelligence): Bao gồm những

năng lực đánh giá các cảm xúc của bàn thân mình, Dăng lực phân biệt giữa các cảm xúc ấy và đưa chúng vào hướng dẫn hành vi Sụ hiểu biết về những điểm mạnh vả điểm yếu của bản thân, về những thèm muốn và trí thông minh của mình Người có trí tuệ loại này là những người hiểu biết về bản thân minh một cách cặn kẽ và chính xác Tuy nhiên, loại trí tuệ nảy có ở mọi người với các cường độ và mức độ khác nhau Trùy trán lả trung tâm của loại trí tuệ này, tổn thương ở phần dưới thùy trán dần đến sự kích thích hay hưng phấn, tổn thương ờ phần trên thùy trán thì tạo ra thờ ơ và vô cảm

- Trí tuệ về người khác (Interpersonal Intelligence): Bao gồm những

năng lực nhận thức rõ ràng và đáp ứng lại các tâm trạng, khí chất, động cơ và các thèm muốn của người khác một cách thích hợp Người có trí tuệ loại này

có khả năng xâm nhập vào tư tưởng của người khác, có khả năng khích lệ và nâng đỡ người khác Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là những nhà trị liệu, người bán hàng, các linh mục, nhà sư phạm Thùy trán cũng có vai trò quan trọng đối với loại trí tuệ này Các tồn thương ở thùy trán có thể làm mất khả năng thấu hiểu người khác và làm thay đổi hoàn toàn nhân cách Sự lão hóa có khả năng làm mất đi tất cả mọi khả năng xã hội của con người

- Trí tuệ tự nhiên ( Naturalist Intelligence): Đây là loại trí tuệ thử 8 mà

sau này Gardner mới nêu ra và bổ sung thêm vào 7 loại trí tuệ trước đây Đó

là năng lực phân biệt một cách tinh tế giữa hệ thực vật và hệ động vật của thể

Trang 6

giới tự nhiên hoặc giữa các mẫu vật và những thiết kế do con người tạo ra Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là các nhà thực vật, người đầu bếp vv

Quan điểm của Gardner đã được đánh giá cao nhưng cũng bị phê phán

Mô hình của ông được đánh giá cao vì đã thừa nhận ngữ cảnh văn hóa của trí tuệ, đà tính đến nhiều năng lực của con người và hệ thống cơ bản (khung) của

nó, đã quan tám đến việc phân tích trí tuệ ở nhà trường và các môi trường ứng dụng khoa học khác Một so nhà sư phạm chấp nhận lý thuyết của Gardner và

sử dụng một sổ bắc nghiệm truyền thống để đánh giá một số loại trí tuệ như trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic - toán học, trí tuệ không gian Hiện tại vẫn chưa

có cách nào chứng minh sự on định và tính ứng nghiệm của việc thực hiện các trắc nghiệm đối với các trí tuệ mới (Ulric Neisser, 1996) Có những quan điểm cho ràng các trí tuệ mà Gardner trình bày này thực chất là các tài năng (talent) chứ không phải là các trí tuệ (Sandra Scair,1985) Một số quan điềm khác cho rằng các loại trí tuệ của Gardner tưcrag quan với nhau rất cao, về cơ bản là đo lường một loại tri tuệ giống nhau, nhưng một sổ loại quan điểm khác lại cho rằng các loại trí tuệ này có vè giống như một bảng liệt kê các phong cách học tập và phong thái nhân cách chứ không phải là những năng lực hay trí tuệ Cũng có những quan điểm khác cho rằng 8 loại trí tuệ của Gardner chỉ là sự mô tả các năng lực vả dẫn đến 8 điểm sổ trắc nghiệm IQ chứ không phải là một điểm sổ (Lester A Lefton, 2000)

Thuyết trí tuệ cảm xúc (emitional Intelligence)

Trong quá trình hoạt động, con người luôn uyển chuyển, cởi mở và linh hoạt nên đòi hỏi phải có sự kết hợp của trí tuệ với các cảm xúc của con người, đặc biệt khi con người tin tưởng và hợp tác với những người khác để giải quyết những vấn đề vả nắm bắt các vận hội Như vậy, có một người rất thông minh nhưng chưa chắc đủ đảm bảo cho sự thành đạt của mỗi người Muốn thành đạt thì con người cần cỏ một hệ số cảm xúc nhất định (EQ - Emotional Quotient)

Trang 7

Trong mô hình của Gardner đã nói đến nói đến toại trí tuệ này tuy nhiên

không thể hiện được một cách rõ ràng, chúng có tác động rất tích cực đến hoạt

động thích ứng trí tuệ của con người Vào năm 1990, Peter Salovey và John

Mayer là người dầu tiên đưa ra thuật ngữ Trí tuệ cảm xúc và cho rằng trí tuệ

cảm xúc là khả năng kiểm soát và điều chỉnh các cảm xúc của mình và của người khác, khả năng sử dụng cảm xúc để dẫn dắt ỷ nghĩ và hành động (Salovey,P & Mayer,J,D,1990 - Emotional Intelligence.lmagination, Congnition and Personality) Từ sau năm 1995, Daniel Goleman đã xuất bản

cuốn sách Trí tuệ cảm xúc và được bán rất chạy tại Mỹ và từ đó vấn đề trí tuệ

cảm xúc càng ngày càng dược quan tâm nhiều hơn Daniei Goleman cho rang: mọi quan niệm về bản chất con người mà bỏ qua quyền năng của các cảm xúc thì đều thiếu sáng suốt chúng ta dã cường điệu giá trị vả tầm quan trọng của

lý trí thuần túy được đo bằng IQ trong đời sống con người Chúng ta có hai hình thức khác nhau của trí tuệ là trí tuệ lý trí và tri tuệ cảm xúc Cách chúng ta hướng dẫn cuộc sống của mình được quyết định bởi hai thứ trí tuệ ấy, trí tuệ cảm xúc cũng quan trọng như IQ Trên thục tế, không có trí tuệ cảm xúc thì trí

tuệ lý trí không thể hoạt động một cách thích đáng Trong cuốn sách Làm việc

với cảm xúc ( Working with Emotional Intelligence) xuất bản 1998, Daniel

Goleman đã định nghĩa: Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết các cảm xúc

của mình và của người khác, năng lực tự thúc đẩy và năng lực điều hành tốt các cảm xúc trong bản thân mình và trong các mối liền hệ với người khác.

Như vậy, Daniel Goleman dã bổ sung 5 năng lục cảm xúc và xà hội cơ bán lả: Năng lực tự ỷ thức, năng lực tự điều chỉnh, năng lực thúc đẩy, năng lực đồng cảm và các kĩ năng xã hội Tuy nhiên trong hai bài báo công bố sau

đó (2001), Golcman đưa ra cấu trúc trí tuệ cảm xúc gồm 2 loạt đúp (2x2) các hoạt động tạo ra năng lục tổng thể nhằm nhận biết và điều khiển cảm xúc của mình và ở người khác

Trang 8

Cấu trúc của trí tuệ cảm xúc

Năng lực cá nhân (quan hệ với mình) Năng lực xã hội (quan hệ với người

khác)

- Nhận biết xúc cảm của mình

- Đánh giá mình chỉnh xác

- Tự tin

- Đồng cảm

- Định hướng sự phục vụ

- Biết cách tổ chức

Tự kiếm soát, quản lý mình Quản lý điều khiển các mối quan

hệ xã hội

- Kiểm soát xúc cảm của mình

- Có lòng tin

- Tự ý thức

- Thích ứng

- Động co thành đạt

- Sáng tạo

- Phát triển người khác

- Tạo ảnh hưởng

- Giao tiếp

- Kiểm soát xung đột

- Lãnh đạo có tầm nhìn, khôn ngoan

- Xúc tác để thay đổi

- Xây dựng các mối quan hệ

- Tinh thần đồng đội và sự hợp tác Vào năm 1995, nhà tâm lý học Israel Reuvan Bar - On, viện trường viện nghiên cứu quốc tế về trí tuệ ứng dụng (International Institute of Applied Intelligence) tại Đan Mạch đã tạo ra thuật ngữ EQ (Emotional Quotient) và đã xuất bản tập EQ - i (Emotional Quotient Inventory, 1997) - trắc nghiệm đầu tiên về trí tuệ cảm xúc Reuvan Bar - On cho rằng EQ không thay thế IQ và chúng ta nên quan tâm đến cả hai phép đo để hiểu tốt hon về con người và tiềm năng của họ đối với sự thành công trong các mặt khác nhau của đời sống, vả tác giả hy vọng vào thể ki 21, sẽ có sự trang bị một phổ rộng hơn và giầu mạnh hơn về kiến thức nghề nghiệp được dựa trên cái mà chúng ta đã biết về trí tuệ nhận thúc (cognitive intelligence) và cái mà chủng ta đã bắt dầu học được về trí tuệ cảm xúc

Việc nghiên cứu và hoàn thiện về trí tuệ cảm xúc đang được thực hiện mạnh mẽ Các phát hiện mới về chức năng của hai bán cầu nào cũng đã ủng

Trang 9

hộ cho quan niệm về trí tuệ cảm xóc Người ta cho ràng: bán cầu não phải có chức năng xử lý các quan hệ nghe và nhìn trong không gian - gọi là bán cầu biểu tượng (representational hemisphere), còn bán cầu não trải có chức Răng ngôn ngừ và phân tích - gọi là bán cầu minh bạch (sequential analysis, catergorical hemisphere) Bán cầu ưu thế có chức năng trí tuệ với các dấu hiệu tương bung (symbol) là lời nói và chữ viết, còn bán cầu gọi là không ưu thé không có nghĩa là kém hoạt động tri tuệ, mả ngược lại nó có hiệu lực trí tuệ khi phân tích các hiện tượng mà ý nghĩa của nỏ thề hiện bằng tín hiệu (signal) nghe và nhìn trực tiếp truyền cảm: tượng thanh, tượng hỉnh

Thuyết trí tuệ sáng tạo (emitional Intelligence)

Nghiên cứu trí tuệ sáng tạo đã được tiến hành rộng rãi và đa dạng và được tiên hành dưới nhiều góc độ khác nhau như: Nghiên cứu trí tuệ sáng tạo dưới góc độ quá trình hoạt dộng sảng tạo, góc độ nhân cách sáng tạo, góc độ văn hóa, dưới góc độ phân tích sản phẩm, góc độ sinh lý thần kinh, qua các lý thuyết sảng tạo Các hướng nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm khác nhau

về tính sáng tạo, tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu Tính sảng tạo trở thành một thuộc tính nhân cách tồn tại như một tiềm năng ờ con người Tiềm năng sáng tạo có ở mọi người bình thường và được huy động trong từng hoàn cảnh sổng

cụ thể Khi tạo ra cái mới cho cá nhân, trong kinh nghiệm của một người thi sáng tạo đó được xem xét trên bình diện cá nhân, còn tạo ra cái mới liên quan đán cả một nền văn hoá thì sáng tạo đó được xem xét trên bình diện xã hội

Sự khác nhau giữa bình diện cá nhân và bình diện xã hội là mức độ của sự sáng tạo và nhìn chung sáng tạo ở góc độ xã hội thường được đánh giá cao hơn ở góc độ cá nhân Sáng tạo cá nhân có ỷ nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân cách cụ thể và là tiền dề của sáng tạo xả hội - điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của một xã hội, một nền văn hoá

Việc đánh giá tính sáng tạo là dựa trên các thành phần của tính sáng tạo Có các nhận định khác nhau về thành phần của tinh sáng tạo, nhìn chung tính sáng tạo có các thành phần sau:

Trang 10

- Thành phần tính mềm dẻo, linh hoạt (flexibility): Tính mềm dẻo là

khả năng chủ thể biển đổi thông tin, kiến thức đã tiếp thu được một cách dễ đàng, nhanh chỏng tù góc độ, quan niệm này sang góc độ và quan niệm khác Chủ thể chuyển đổi sơ đổ tư duy có sẵn trong đầu sang một bệ tư duy khác, chuyển đổi từ phương pháp cũ sang hệ thống phương pháp mới, chuyển đổi từ hành động trở thành thói quen sang một hành động mới, gạt bỏ sự cứng nhắc

mà con người đã có để thay đổi sự nhận thức dưới một góc độ mới, thay đổi

cà những thải độ đã cổ hữu trong hoạt động tinh thần, trí tuệ

- Thành phần tính lưu loát, trôi chảy (fluency): Thảnh phần tính Lưu

loát, trôi chảy là năng lực tổ hợp, tạo ý tưởng mới, kết họp các yếu tổ riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, sự vật nhanh chóng Nhiều khỉ năng lực này là sự nhớ được nhanh, tái hiện nhanh các từ, cấu trúc thành ngũ, hoặc những liên tưởng đã có trong đầu, từ đó hình thành giả thuyết mới và nhanh chóng sàn sinh ra ỷ tưởng mới

• Thành phần Tính độc đáo (originality): Tính độc đáo là năng lực tư

duy độc lập trong quá trình giải quyết vắn đề, nó cho phép con người nhìn nhận các sự vật, hiện tượng, vấn đề theo cách khác, mới lạ so với những cách trước

- Thành phần Tạo cấu trúc mới (elaboration): Tạo cấu trúc mới nghĩa

là tù các thông tin đã biết, từ những ý tưởng đã có vv chủ thể xây dựng được một cấu trúc mới, một kế hoạch mới với các bước tổ chức, bành động liên tiếp

và phù hợp, phối hợp các ý tường, các câu nói, các cử động w

- Thành phần Tính nhạy cảm (sensitivity): Tính nhạy cảm là năng lực

nhanh chỏng phát hiện sai lầm, mâu thuẫn, thiếu hụt hoặc hay thiểu logic, thiếu ngăn gọn, chưa tối ưu vv nắm bắt dễ dàng nhanh chóng các vấn đề, nhận ra các ý nghĩa mới của sự vật từ những thông tin còn thiếu hụt của bản thân Từ đó nảy sinh ý tường cấu trúc lại sự vật, hiện tượng cho hợp lý hơn, hoàn hảo và thích hợp hơn để tạo ra cái mới Tính nhạy cảm vấn đề được thể hiện ở sự cởi mở, thái độ thông thoáng khi tiếp xúc với ngoại giới

Ngày đăng: 24/07/2015, 17:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w