1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong xu thế đó, Chính phủ Việt Nam đã có quan điểm và định hướng về phát triển các lĩnh vực thông tin và truyền thông. Trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác phát triển nguồn nhân lực nói chung cũng như nguồn nhân lực thông tin và truyền thông nói riêng. Đây là yếu tố then chốt có ý nghĩAa quyết định đối với việc phát triển, ứng dụng thông tin và truyền thông vào mọi mặt của đời sống xã hội. Nhưng phát triển nguồn nhân lực thông tin và truyền thông phải đảm bảo chất lượng, đồng bộ, chuyển dịch nhanh về cơ cấu theo hướng tăng nhanh tỷ lệ nguồn nhân lực có trình độ cao, tăng cường năng lực công nghệ thông tin và truyền thông quốc gia. Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông (sau đây gọi tắt là Trường); Trường thực hiện chức năng: tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tham gia quản lý, hoạt động trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; tập huấn, phổ biến kiến thức pháp luật về lĩnh vực thông tin và truyền thông; tổ chức nghiên cứu và ứng dụng các cơ chế chính sách, tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ, khoa học quản lý trong các lĩnh vực (báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình; thông tấn, thông tin đối ngoại; thông tin cơ sở hạ tầng .....) thuộc chức năng quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông do Chính phủ qui định. Đối tượng học viên của Trường là các cán bộ công chức, viên chức đã có trình độ chuyên môn. Do nhu cầu của công việc và lĩnh vực đang công tác nên họ cần được học các lớp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ lý luận chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý nhà nước và kiến thức chuyên môn nghiệp vụ. Việc đi học các lớp đào tạo, bồi dưỡng là nhiệm vụ bắt buộc và cũng là để hoàn thiện các văn bằng chứng chỉ nhằm thực hiện tốt việc chuẩn hóa cán bộ, công chức, viên chức. Đặc biệt là việc chuẩn hóa chức danh ngạch Biên tập viên, Phóng viên cho các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực Báo chí, Xuất bản. Theo thống kế thống kê của Vụ Tổ chức cán bộ, Cục Báo chí, Cục Xuất bản Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay lực lượng làm việc trong lĩnh vực báo chí, xuất bản chiếm khá đông trong toàn ngành, cụ thể: Trong lĩnh vực Báo chí: tính đến nay, cả nước có gần 16.000 người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo, hàng ngàn cán bộ, kỹ sư, nghệ sỹ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí và hàng chục ngàn người khác làm cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các công đoạn in ấn tiếp thị quảng cáo, phát hành, sống chủ yếu bằng dịch vụ nghề báo; có trên 720 cơ quan báo chí với trên 800 ấn phẩm, kênh sóng, chương trình, bao gồm: 174 báo (trung ương 73, địa phương 101); trên 470 tạp chí (trung ương 360, địa phương trên 100); 01 hãng thông tấn quốc gia; 02 đài phát thanh, truyền hình quốc gia, 01 đài truyền hình của VTC, 63 đài phát thanh và truyền hình tỉnh, thành phố, trên 500 truyền thanh, truyền hình cấp huyện, hàng ngàn trạm truyền thanh, truyền hình cấp xã; 05 tờ báo điện tử lớn, hàng chục trang báo điện tử là cánh tay nối dài của các báo in, hàng trăm trang thông tin điện tử, hàng ngàn website. Nhìn chung, đội ngũ làm công tác báo chí ở nước ta được đào tạo bồi dưỡng, sử dụng từ nhiều nguồn khác nhau. Khoảng 35% tốt nghiệp các trường đại học về báo chí, số còn lại từ các trường khác. Ở trong các trường đại học có đào tạo ngành báo chí, sinh viên học lý thuyết là chủ yếu, ít có điều kiện thực hành do thiếu nhà xưởng, máy móc và ít thực tập tại các tòa soạn báo, các đài phát thanh, truyền hình. Vốn kiến thức, tri thức về nghề báo còn một khoảng cách khá xa so với thực tiễn đời sống báo chí. Sau khi ra trường, nhiều sinh viên trở thành phóng viên rồi trưởng thành thành biên tập viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, tuy nhiên, họ ít được đào tạo, bồi dưỡng lại hoặc bồi dưỡng nâng cao kiến thức một cách bài bản. 57% còn lại không được đào tạo chính quy về nghề báo. Điểm yếu kém rõ nhất của đội ngũ phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên, đạo diễn, họa sỹ, kỹ thuật viên các báo, đài, tạp chí là nhận thức, tư duy chính trị của khá nhiều người còn đơn giản, sơ sài, bản lĩnh chính trị còn chưa vững vàng, ngại học chính trị, ít am tường về luật pháp; một cố người coi nghề báo chỉ để lập thân thuần túy như các nghề khác. Đối với lĩnh vực xuất bản: đến nay, cả nước có lao động toàn ngành là 5.497 người, trong đó: Trình độ trên đại học: 306 người; trình độ đại học: 2.162 người; Số lượng biên tập viên: 1.233 người, trong đó: trình độ trên đại học: 215 người; trình độ đại học: 1.018 người; có 55 nhà xuất bản, trong đó có một nhà xuất bản thuộc diện Ban bí thư quản lý, 25 nhà xuất bản thuộc các bộ ngành; 10 nhà xuất bản trực thuộc các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp; 7 nhà xuất bản trực thuộc các trườmg đại học; 11 nhà xuất bản trực thuộc chính quyền các tỉnh, thành phố; 01 nhà xuất bản trực thuộc doanh nghiệp. Với đánh giá của các chuyên gia trong ngành thì đội ngũ lao động này mới chỉ đáp ứng được yêu cầu hoạt động của các nhà xuất bản ở mức độ trung bình. Đặc biệt, đội ngũ biên tập viên còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị do hụt hẫng, thiếu vắng những biên tập viên đầu đàn có thực lực, mặc dù chưa bao giờ xét về bằng cấp lại có tỷ lệ đại học và trên đại học cao như hiện nay. 98% biên tập viên các nhà xuất bản có trình độ đại học, trên đại học, nhưng chưa đầy 40% trong số đó được đào tạo đúng chuyên ngành xuất bản. Phần lớn cán bộ cấp phòng, ban và đội ngũ biên tập viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng đúng mức về chuyên môn. Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáo dục, từ thực tiễn quản lý công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nói chung và bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên nói riêng còn nhiều tồn tại, tôi nhận thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông để từ đó đưa ra các biên pháp nâng cao chất lượng công tác này. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông” nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên của Trường. Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác này, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của ngành Thông tin và Truyền thông nói chung và chất lượng quản lý công tác bồi dưỡngchức danh Biên tập viên, Phóng viên của Trường nói riêng.
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
QU¶N Lý HO¹T §éNG BåI D¦ìNG CHøC DANH BI£N TËP VI£N, PHãNG VI£N T¹I TR¦êNG §µO T¹O, BåI D¦ìNG C¸N Bé
QU¶N Lý TH¤NG TIN Vµ TRUYÒN TH¤NG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN MẠNH HÙNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2viện Quản lý giáo dục, các Giáo sư - Phó giáo sư, các Tiến sĩ khoa học,Tiến
sĩ, các thầy cô giáo của Học viện Quản lý Giáo dục đã tận tình giảng dạy, đãtạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất giúp đỡ lớp cao học khoá K7Cchuyên ngành QLGD trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường, các phòng, đơn vị, khoachức năng và giảng viên Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin vàTruyền thông đã cung cấp các tư liệu trong quá trình khảo sát, điều tra giúptác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tác giả cảm ơn và bày tỏ lòng nhớ ơn sâu sắc đến thầyGS.TSKH Nguyễn Mạnh Hùng đã mang lại cho tác giả những tri thức, nhữngkinh nghiệm quý báu về phương pháp tư duy, các kiến thức khoa học về quản
lý, đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận vănđúng thời hạn
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên chắcchắn luận văn có nhiều khiếm khuyết Do vậy, tác giả kính mong các thầy,
cô giáo, các đồng nghiệp góp ý, bổ sung để giúp cho luận văn được hoànchỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 3lý Thông tin và Truyền thông
Bộ TT&TT Bộ Thông tin và Truyền thông
QLCSVC Quản lý cơ sở vật chất
QLQTĐT Quản lý quá trình đào tạo
CSVC&TBDH Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Giả thuyết khoa học 5
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG TRONG CÁC TRƯỜNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 14
1.2.1 Quản lý 14
1.2.2 Chức năng của quản lý 18
1.2.3 Biện pháp quản lý 21
1.2.4 Hoạt động bồi dưỡng 22
1.2.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng 25
1.2.6 Biên tập viên 27
1.2.7 Phóng viên 32
1.3 Quản lý hoạt động bồi dưỡng Biên tập viên, Phóng viên 34
1.3.1 Mục tiêu, kế hoạch bồi dưỡng 35
1.3.2 Đối tượng bồi dưỡng 37
1.3.3 Đội ngũ giảng viên 37
1.3.4 Chương trình, nội dung bồi dưỡng 38
1.3.5 Phương pháp, hình thức bồi dưỡng 39
1.3.6 Kết quả kiểm tra, đánh giá công tác bồi dưỡng 40
1.3.7 Chứng chỉ cấp cho học viên, hiệu quả sau khi bồi dưỡng 40
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng bồi dưỡng Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông 41
1.4.1 Yếu tố khách quan 41
1.4.2 Yếu tố chủ quan 43
Kết luận chương 1 45
Trang 5TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN
THÔNG 46
2.1 Sơ lược về Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông, Bộ thông tin và Truyền thông 46
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Trường 47
2.1.2 Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, giảng viên và đối tượng học viên của Trường 47
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Trường 51
2.2 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông 53
2.2.1 Quản lý xây dựng mục tiêu, kế hoạch bồi dưỡng 53
2.2.2 Đối tượng bồi dưỡng 56
2.2.3 Đội ngũ giảng viên 56
2.2.4 Thực trạng nội dung, chương trình, tài liệu bồi dưỡng 56
2.2.5 Quản lý học viên 59
2.2.6 Phương pháp, hình thức bồi dưỡng 59
2.2.7 Kết quả kiểm tra, đánh giá hoạt động đào tạo bồi dưỡng 59
1.3.7 Chứng chỉ cấp cho học viên, hiệu quả sau khi bồi dưỡng 76
2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông 77
2.3.1 Điểm mạnh 78
2.3.2 Hạn chế, nguyên nhân 79
Kết luận chương 2 81
Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHỨC DANH BIÊN TẬP VIÊN, PHÓNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 82
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 82
3.1.1 Đảm bảo tính khoa học 82
3.1.2 Đảm bảo tính khách quan 83
Trang 6Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông
tin và Truyền thông 83
3.2.1 Giải pháp 1: Tập trung kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ nhà trường, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt Nhà trường 83
3.2.2 Giải pháp 2: Chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu và cán bộ viên chức kiêm nhiệm giảng dạy trong các lĩnh vực của Ngành nói chung và của lĩnh vực Báo chí, Xuất bản nói riêng 91
3.2.3 Biện pháp 3: Dự báo xu hướng phát triển của báo chí, xuất bản và nắm bắt được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡngdưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên 95
3.2.4 Giải pháp 4: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá thông qua việc khảo sát, thăm dò ý kiến học viên qua mỗi khóa bồi dưỡng nâng ngạch Biên tập viên, Phóng viên để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng 98
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý công tác bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông 100
3.4 Đánh giá tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường BDCB 101
Kết luận chương 3 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
1 Kết luận: 104
2 Khuyến nghị 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7Bảng 2.1 Hiện trạng quy mô đào tạo về Báo chí (2010 - 2012) 60
Bảng 2.2 Thống kê kết quả đào tạo, bồi dưỡng năm 2005 70
Bảng 2.3 Thống kê kết quả đào tạo, bồi dưỡng năm 2006 71
Bảng 2.4 Thống kê kết quả đào tạo, bồi dưỡng năm 2007 71
Bảng 2.5 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại nước ngoài giai đoạn 2006 - 2008 72
Bảng 3.1: Ý kiến đánh giá tính cần thiết và tính khá thi của các biện pháp đã đề xuất 101
STT 101
Hình 1: Cấu trúc tuổi của nhân lực báo chí, xuất bản giai đoạn 2005 - 2009 63
Hình 2: Cấu trúc các thành phần nhân lực báo chí, xuất bản (2009) 64
Hình 3: Cơ cấu nhân lực báo chí, xuất bản theo trình độ (2005 - 2009) 64
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã chuyển từ xã hội công nghiệpsang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức Trong xuthế đó, Chính phủ Việt Nam đã có quan điểm và định hướng về phát triển cáclĩnh vực thông tin và truyền thông Trong đó đặc biệt chú trọng đến công tácphát triển nguồn nhân lực nói chung cũng như nguồn nhân lực thông tin vàtruyền thông nói riêng Đây là yếu tố then chốt có ý nghĩAa quyết định đốivới việc phát triển, ứng dụng thông tin và truyền thông vào mọi mặt của đờisống xã hội Nhưng phát triển nguồn nhân lực thông tin và truyền thông phảiđảm bảo chất lượng, đồng bộ, chuyển dịch nhanh về cơ cấu theo hướng tăngnhanh tỷ lệ nguồn nhân lực có trình độ cao, tăng cường năng lực công nghệthông tin và truyền thông quốc gia
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông
là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông (sau đây gọi tắt
là Trường); Trường thực hiện chức năng: tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức, viên chức tham gia quản lý, hoạt động trong lĩnh vực thông tin vàtruyền thông; tập huấn, phổ biến kiến thức pháp luật về lĩnh vực thông tin vàtruyền thông; tổ chức nghiên cứu và ứng dụng các cơ chế chính sách, tiến bộ
kỹ thuật, khoa học công nghệ, khoa học quản lý trong các lĩnh vực (báo chí;xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin,điện tử; phát thanh và truyền hình; thông tấn, thông tin đối ngoại; thông tin cơ
sở hạ tầng ) thuộc chức năng quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông doChính phủ qui định
Đối tượng học viên của Trường là các cán bộ công chức, viên chức đã
có trình độ chuyên môn Do nhu cầu của công việc và lĩnh vực đang công tácnên họ cần được học các lớp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ lý luận
Trang 9chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý nhà nước và kiến thức chuyên mônnghiệp vụ Việc đi học các lớp đào tạo, bồi dưỡng là nhiệm vụ bắt buộc vàcũng là để hoàn thiện các văn bằng chứng chỉ nhằm thực hiện tốt việc chuẩnhóa cán bộ, công chức, viên chức Đặc biệt là việc chuẩn hóa chức danhngạch Biên tập viên, Phóng viên cho các đối tượng hoạt động trong lĩnh vựcBáo chí, Xuất bản Theo thống kế thống kê của Vụ Tổ chức cán bộ, Cục Báochí, Cục Xuất bản Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay lực lượng làm việctrong lĩnh vực báo chí, xuất bản chiếm khá đông trong toàn ngành, cụ thể:
Trong lĩnh vực Báo chí: tính đến nay, cả nước có gần 16.000 người
làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo, hàng ngàn cán bộ, kỹ sư, nghệ
sỹ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí và hàng chục ngàn ngườikhác làm cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các công đoạn in ấn tiếpthị quảng cáo, phát hành, sống chủ yếu bằng dịch vụ nghề báo; có trên 720 cơquan báo chí với trên 800 ấn phẩm, kênh sóng, chương trình, bao gồm: 174báo (trung ương 73, địa phương 101); trên 470 tạp chí (trung ương 360, địaphương trên 100); 01 hãng thông tấn quốc gia; 02 đài phát thanh, truyền hìnhquốc gia, 01 đài truyền hình của VTC, 63 đài phát thanh và truyền hình tỉnh,thành phố, trên 500 truyền thanh, truyền hình cấp huyện, hàng ngàn trạmtruyền thanh, truyền hình cấp xã; 05 tờ báo điện tử lớn, hàng chục trang báođiện tử là cánh tay nối dài của các báo in, hàng trăm trang thông tin điện tử,hàng ngàn website
Nhìn chung, đội ngũ làm công tác báo chí ở nước ta được đào tạo bồidưỡng, sử dụng từ nhiều nguồn khác nhau Khoảng 35% tốt nghiệp cáctrường đại học về báo chí, số còn lại từ các trường khác Ở trong các trườngđại học có đào tạo ngành báo chí, sinh viên học lý thuyết là chủ yếu, ít có điềukiện thực hành do thiếu nhà xưởng, máy móc và ít thực tập tại các tòa soạnbáo, các đài phát thanh, truyền hình Vốn kiến thức, tri thức về nghề báo còn
Trang 10một khoảng cách khá xa so với thực tiễn đời sống báo chí Sau khi ra trường,nhiều sinh viên trở thành phóng viên rồi trưởng thành thành biên tập viên, cán
bộ lãnh đạo, quản lý, tuy nhiên, họ ít được đào tạo, bồi dưỡng lại hoặc bồidưỡng nâng cao kiến thức một cách bài bản 57% còn lại không được đào tạochính quy về nghề báo Điểm yếu kém rõ nhất của đội ngũ phóng viên, biêntập viên, phát thanh viên, đạo diễn, họa sỹ, kỹ thuật viên các báo, đài, tạp chí
là nhận thức, tư duy chính trị của khá nhiều người còn đơn giản, sơ sài, bảnlĩnh chính trị còn chưa vững vàng, ngại học chính trị, ít am tường về luậtpháp; một cố người coi nghề báo chỉ để lập thân thuần túy như các nghề khác
Đối với lĩnh vực xuất bản: đến nay, cả nước có lao động toàn ngành là
5.497 người, trong đó: Trình độ trên đại học: 306 người; trình độ đại học:2.162 người; Số lượng biên tập viên: 1.233 người, trong đó: trình độ trên đạihọc: 215 người; trình độ đại học: 1.018 người; có 55 nhà xuất bản, trong đó
có một nhà xuất bản thuộc diện Ban bí thư quản lý, 25 nhà xuất bản thuộc các
bộ ngành; 10 nhà xuất bản trực thuộc các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chứcchính trị - xã hội - nghề nghiệp; 7 nhà xuất bản trực thuộc các trườmg đại học;
11 nhà xuất bản trực thuộc chính quyền các tỉnh, thành phố; 01 nhà xuất bảntrực thuộc doanh nghiệp
Với đánh giá của các chuyên gia trong ngành thì đội ngũ lao động nàymới chỉ đáp ứng được yêu cầu hoạt động của các nhà xuất bản ở mức độ trungbình Đặc biệt, đội ngũ biên tập viên còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp
vụ, trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị do hụt hẫng, thiếu vắng những biêntập viên đầu đàn có thực lực, mặc dù chưa bao giờ xét về bằng cấp lại có tỷ lệđại học và trên đại học cao như hiện nay 98% biên tập viên các nhà xuất bản
có trình độ đại học, trên đại học, nhưng chưa đầy 40% trong số đó được đàotạo đúng chuyên ngành xuất bản Phần lớn cán bộ cấp phòng, ban và đội ngũbiên tập viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng đúng mức về chuyên môn
Trang 11Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáodục, từ thực tiễn quản lý công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nóichung và bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên nói riêng còn nhiềutồn tại, tôi nhận thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng quản lý côngtác bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồidưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông, Bộ Thông tin và Truyềnthông để từ đó đưa ra các biên pháp nâng cao chất lượng công tác này.
Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động bồi dưỡng
chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán
bộ quản lý Thông tin và Truyền thông” nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động
bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên của Trường Từ đó, đề xuấtcác biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác này, góp phần nâng caochất lượng bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của ngành Thông tin vàTruyền thông nói chung và chất lượng quản lý công tác bồi dưỡngchức danhBiên tập viên, Phóng viên của Trường nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóngviên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyềnthông của Bộ Thông tin và Truyền thông tuy đã diễn ra nhiều năm (từ năm
2009 đến nay) nhưng kết quả chưa được như mong muốn Với việc nghiên
cứu đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng
viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông” tôi hy vọng sẽ đưa ra được các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
của công tác bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên của Trường nóiriêng và chất lượng bồi dưỡng cán bộ quản lý của Bộ Thông tin và Truyềnthông nói chung
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại TrườngĐào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên,Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin vàTruyền thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý; quản lý hoạt động bồi dưỡng cánbộ
Nghiên cứu thực trạng hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên,Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin vàTruyền thông hiện nay
Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chức Biên tập viên,Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin vàTruyền thông
5 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóngviên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyềnthông, Bộ Thông tin và Truyền thông hiện nay còn một số hạn chế làm ảnhhưởng đến chất lượng bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên
Vì vậy, nếu đề xuất và thực thi được những biện pháp quản lý hoạtđộng bồi dưỡng có cơ sở khoa học, phù hợp với đặc điểm điều kiện Nhàtrường thì chất lượng bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tạiTrường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông, BộThông tin và Truyền thông sẽ được nâng cao
Trang 136 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập viên,Phóng viên theo chương trình và nhu cầu thực tế của đội ngũ cán bộ biên tậpviên, phóng viên trong lĩnh vực Báo chí, Xuất bản Từ đó sẽ đưa ra các biệnpháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng của công tác này
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên môn của những nhà khoa học đang công táctại các đơn vị như: Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Thông tin và Truyền thông; CụcBáo chí; Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử; Cục Xuấtbản, In và phát hành; Các đơn vị chức năng trực thuộc Đào tạo, Bồi dưỡng cán
bộ quản lý Thông tin và Truyền thông Bộ Thông tin và Truyền thông như:Phòng Đào tạo, Bồi dưỡng; Trung tâm Đào tạo, Tư vấn và Dịch vụ; Khoa bồidưỡng nghiệp vụ chuyên ngành và kỹ năng quản lý của Trường
7.2 Phương pháp thu thập thông tin
Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Nhà nước vàcủa Bộ Thông tin và Truyền thông về công tác bồi dưỡng cán bộ nói chung vàbồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên nói riêng; các tài liệu lý luận
về giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng, các công trình, đề tài,các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.3 Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra chia theo các nhóm: Cán bộ quản lý, giảng viên,học viên trong việc nghiên cứu đánh giá thực trạng và tính khả thi của giảipháp nâng cao công tác bồi dưỡng chức danh Biên tập viên, Phóng viên tạiTrường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông
7.4 Phương pháp thống kê
Trang 14Sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lý các dữ liệu, các thôngtin liên quan trong quá trình nghiên cứu, điều tra thu thập được để xác địnhkết quả một cách khách quan về chất lượng hoạt động bồi dưỡng chức danhBiên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lýThông tin và Truyền thông Bộ Thông tin và Truyền thông.
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụlục, luận văn có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng trong các trường bồi
dưỡng cán bộ
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chức danh Biên tập
viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin vàTruyền thông
Chương 3 Biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng
chức danh Biên tập viên, Phóng viên tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộquản lý Thông tin và Truyền thông
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG TRONG CÁC TRƯỜNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Kinh tế tri thức là mục tiêu then chốt trong chiến lược phát triển kinh
tế, xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi vì tri thức là một sức mạnhkinh tế tạo ra tăng trưởng, phát triển và thay đổi đối với xã hội Tri thức đượcbiểu hiện bởi các yếu tố chính là con người và khoa học công nghệ Trong bốicảnh hiện nay khoa học công nghệ được nghiên cứu và phát triển theo nhiềuhướng, ngành và lĩnh vực khác nhau, trong đó có các lĩnh vực của thông tin
và truyền thông được phát triển và lan truyền rộng rãi trên toàn thế giới
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã chuyển từ xã hội công nghiệpsang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức Có thể kháiquát thông tin và truyền thông bao gồm các lĩnh vực chính là: báo chí; xuấtbản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng;tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình.Trong xu thế đó, Chính phủ Việt Nam đã có quan điểm và định hướng về pháttriển thông tin và truyền thông như sau:
- Công nghệ thông tin và truyền thông là ngành kinh tế mũi nhọn, đượcNhà nước ưu tiên, quan tâm hỗ trợ và khuyến khích phát triển Phát triển côngnghệ thông tin và truyền thông góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế,thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác cùng phát triển, tăng cường năng lực quốcgia trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Thông tin và truyền thông là công cụ hàng đầu để thực hiện mục tiêuthiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 16là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xãhội và tăng năng suất, hiệu quả lao động.
Bên cạch đó, Chính phủ Việt Nam rất chú trọng kế hoạch phát triểnnguồn nhân lực nói chung cũng như nguồn nhân lực thông tin và truyền thôngnói riêng Phát triển nguồn nhân lực thông tin và truyền thông là yếu tố thenchốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng thông tin vàtruyền thông Phát triển nguồn nhân lực thông tin và truyền thông phải đảmbảo chất lượng, đồng bộ, chuyển dịch nhanh về cơ cấu theo hướng tăng nhanh
tỷ lệ nguồn nhân lực có trình độ cao, tăng cường năng lực công nghệ thông tin
và truyền thông quốc gia
Nhiều chương trình, đế án, kế hoạch phát triển quốc gia của Việt Nam
về thông tin và truyền thông cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồnnhân lực thông tin và truyền thông đã được thông qua, cụ thể như:
- Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Namđến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định
số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ)
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của chính phủ về ứngdụng CNTT trong cơ quan nhà nước
- Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng chính phủ
về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đếnnăm 2020
- Đề án tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về công nghệthông tin
Trong ngành Thông tin và Truyền thông nói chung, sự xuất hiện củabáo chí, xuất bản nói riêng là do nhu cầu khách quan về thông tin của conngười và chúng có vai trò to lớn trong đời sống chính trị - xã hội của mọiquốc gia Báo chí, xuất bản luôn gắn bó với nhau và là vũ khí đấu tranh giai
Trang 17cấp, công cụ sắc bén trong cuộc đấu tranh cách mạng và xây dựng xã hội mới.
Xã hội ngày càng văn minh, con người càng phát triển thì nhu cầu thông tincàng cao Vai trò chi phối thông tin là một trong những tiêu chí đánh giá sựphát triển của xã hội
Vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh trong quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, tạo điều kiệncho báo chí xuất bản phát triển Hiện nay, việc nắm vững đường lối chínhsách của Đảng và Nhà nước ta đối với báo chí, xuất bản là yêu cầu kháchquan và rất cần thiết nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân,tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước va hội nhập quốc
tế vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”
Công tác báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạtđộng của Đảng ta, là yếu tố cầu thành hoạt động tư tưởng, lý luận Không chỉ
là yếu tố cấu thành hữu cơ, báo chí là vũ khí xung kích trên mặt trận tư tưởng,
lý luận Báo chí có vai trò quan trọng đối với công tác tư tưởng, lý luận và tổchức Quan điểm này đã được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động của Mác-Ănghen, Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như trong lịch sử đấu tranhcách mạng của Đảng ta Báo chí là bộ phận hữu cơ và đặt dưới sự lãnh đạotoàn diện và trực tiếp của Đảng Là người sáng lập ra báo chí, xuất bản cáchmạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định báo chí là một bộ phậncủa sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén của Đảng và Nhà nước để gópphần “Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền chođộc lâp dân tộc và chủ nghĩa xã hội” Báo chí thực chất là hoạt động chính trị,thông tin trên báo chí quan trọng nhất là thông tin chính trị Để đảm bảo tính
tư tương, tính đảng của báo chí thì trong đó phải thể hiện được tính chiến đấu,tính giáo dục và tính quần chúng của báo chí Báo chí, xuất bản là lĩnh vực
Trang 18đặc biệt quan trọng trong tử tưởng vì đều gắn bó chặt chẽ với hiện thực đờisống, cùng coi thực tiễn là cái gốc, là tiêu chuẩn, thước đo đánh giá chấtlượng, hiệu quả hoạt động của mình, chi phối tác động đến đời sống xã hộihàng ngày.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định báo chí là mặt trận, người làm báo làchiến sĩ, cây bút trang giấy là vũ khí, bài báo là tờ hịch cách mạng để tập hợp,hướng dẫn nhân dân đấu tranh, Bác đã căn dặn những người làm báo chí, xuấtbản – Biên tập viên, Phóng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cáchmạng, trau dồi tư tưởng, học tập chính trị để nắm vững chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động,phải luôn nâng cao trình độ văn hóa, rèn giũa nghiệp vụ, mài sắc ngòi bút củamình trong sự nghiệp “phò chính, trừ tà” Mỗi nhà báo là một cán bộ hoạtđộng trong lĩnh vực công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng, là nhà truyềnthông - vận động xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước.Nhà báo là chủ thể tích cực trong quá trình họat động báo chí cũng như quản
lý nhà nước về báo chí Nhiệm vụ của người làm báo chí, xuất bản là quantrọng và vẻ vang Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tậpchính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phảinâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình
Chính vì vậy, vấn đề quản lý giáo dục nói chung và đặc biệt là vấn đềbồi dưỡng theo chuyên ngành, nghiệp vụ đã được Đảng và Nhà nước ta chútrọng, quan tâm và chỉ đạo sát sao Hiện nay đã có nhiều công trình nghiêncứu đã đề cập tới vấn đề quản lý giáo dục, bồi dưỡng theo chuyên ngànhnghiệp vụ như:
- Công trình “Cơ sở khoa học quản lý” của tá giả Nguyễn Minh Đạo;
“Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang; “Quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng
Trang 19Quốc Bảo; “Đường lối chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước về báo
chí, xuất bản” và “Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí, xuất bản” do
Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành;
- Đề tài cấp Bộ năm 2010 “Nghiên cứu xây dựng kế hoạch đào tạo, bồidưỡng cán bộ quản lý thông tin và truyền thông giai đoạn 2010-2015”, Mã số79-10-KHKT-RD của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin
và Truyền thông đã cho thấy thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng củaNgành Thông tin và Truyền thông trong thời gian trước năm 2010, và đưa ra
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý thông tin và truyền thông giaiđoạn 2010 – 2015 cho Bộ Thông tin và Truyền thông
- Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020( Ban hành kèm theo Quyết
định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ) với mục tiêu
tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục được đổi mới căn bản và toàn diện theohướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế;chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện “Kế hoạch hành độngquốc gia giáo dục vì sự phát triển bền vững Việt Nam” (2010-2014) tập trungđẩy mạnh các sáng kiến và chương trình giáo dục phát triển bền vững, huyđộng thêm nguồn lực để biến nhận thức thành hành động, tạo ra sự thay đổitrong lối sống và cùng chung tay xây dựng một tương lai bền vững Đây làcác văn bản vừa mang tính định hướng cao, vừa là yếu tố pháp lệnh bắt buộcmọi cơ quan giáo dục phải thực hiện Trong chiến lược dài hạn (10 năm)chúng ta phải xây dựng các kế hoạch trung hạn và ngắn hạn để thực hiện khảthi các bước trong lộ trình phát triển, đạt được mục tiêu giáo dục
- Đề tài luận văn thạc sỹ “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng tạiTrường đào tạo cán bộ lê Hồng Phong thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn ThịDiệu Hà, năm 2013 Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và đưa ra được những biện
Trang 20pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc quản lý về hoạt động bồi dưỡng tạiTrường đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong của thành phố Hà Nội.
Hầu hết các tác giả của các công trình nghiên cứu đều là những sảnphẩm có giá trị mang tính lý luận cao, đã đưa ra cơ sở lý luận quản lý, về cácbiện pháp quản lý hoạt động giáo dục Việc nghiên cứu của các công trình đềunhằm thực hiện mục đích cuối cùng là làm thế nào để đưa giáo dục nói chung
và công tác bồi dưỡng ở nước ta ngày một tốt hơn
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thông tin và truyền thông
có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong giaiđoạn hiện nay Đặc biệt khi mà thị trường lao động của chúng ta được xácđịnh là dồi dào về lao động giản đơn nhưng lao động kỹ thuật cao thì vừathiếu vừa yếu Chúng ta vẫn thiếu lao động công nghệ thông tin và truyềnthông thành thạo chuyên môn, giỏi ngoại ngữ; thiếu chuyên gia giỏi có trình
độ tư vấn, thiết kế hệ thống lớn, cung cấp giải pháp tổng thể và quản lý dự án;chưa hình thành đủ đội ngũ cán bộ lãnh đạo công nghệ thông ở các cấp; thiếucác chuyên gia làm cầu nối giữa thông tin và truyền thông với các ngành kinh
tế khác;…
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Quyết định số 534/QĐ-BTTTT ngày 14/4/2010của Bộ Thông tin và Truyên thông về việc ban hành chương trình khung bồidưỡng chức danh Biên tập viên, phóng viên Để nhằm tiêu chuẩn hóa cán bộ,công chức, viên chức ngành Thông tin và Truyền thông nói chung và côngchức, viên chức hoạt động trong lĩnh vực báo chí, xuất bản nói riêng, TrườngĐào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông đang ngày mộthoàn thiện trong việc thực hiện nhiệm vụ, triển khai công tác bồi dưỡng độingũ cán bộ quản lý của Ngành và đặc biệt là quản lý hoạt động bồi dưỡngchức danh Biên tập viên, Phóng viên
Trang 21Đây là việc quan trọng và cấp bách nhằm chuẩn hóa, cụ thể hóa cáckiến thức, kỹ năng quản lý về báo chí xuất bản; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năngquản lý về báo chí, xuất bản; góp phần xây dựng đội ngũ, nâng cao năng lựcquản lý nhà nước về báo chí, xuất bản; bồi dưỡng kiến thức lý luận chính trị
và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng cho độingũ biên tập viên, phóng viên các báo, đài, nhà xuất bản trên toàn quốc đểthực hiện các tiêu chuẩn chức danh và nâng cao trình độ lý luận chính trị vàđồng thời bảo đảm quyền lợi cho các Biên tập viên, Phóng viên trong việcchuyển ngạch, bậc lương
1.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo họcsuốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu.Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ,nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Như vậy, có baonhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích vềquản lý
Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểunhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lý luận và nghiên cứu quản lýhọc Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trìhay phụ trách một công việc nào đó
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữanghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ,nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thiacsh, lý giải khác nhau Cùngvới sự phát triển của phương thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trongnhân thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệmquản lý càng trở nên rõ rệt
Trang 22Quản lý theo định nghĩa của các trường phái quản lý học
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giảtrong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Chođến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từthế kỷ 21, các quan niệm về quản lý
lại càng phong phú Các trường phái
doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó
gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểmsoát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểmsoát ấy”
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúpcon người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"
- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nókhông nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sựlogic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"
- Peter F Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môitrường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản
lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công"
Trang 23- Mary Parker Follett, 1936: “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành côngviệc thông qua những người khác”.
- Stoner, 1995: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo vàkiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lựcsẵn ó để đạt được các mục tiêu của tổ chức”
Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ
là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quanđiểm không giống nhau Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ rang, đúngđắn nhưng chưa đầy đủ Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như một hiện tượngchứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của nó Vậy làm thế nào để khái quát kháiniệm quản lý một cách đơn giản và tương đối toàn diện nhất?
Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã làhành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động Tiếp theo cần có mụcđích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nênhoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quảnlý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xácđịnh mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có 3 yếu tố trên nghĩa là có đượcđiều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý Đồng thời cần chú ýrằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nócần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó
Trong một tập thể lao động hay một tổ chức thì không thể thiếu yếu tốquản lý, như K.Mác đã từng nói: Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao độngchung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đếnmột sự chỉ đạo để điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện nhữngchức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với
sự vận động của những cơ quan độc lập của nó Như vậy, quản lý đã trở thành
Trang 24một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và nó liênquan tới mọi người.
Nhìn chung, quản lý có liên quan tới việc đạt được các mục tiêu của tổchức Quản lý có nghĩa là lên kết hoạch, tổ chức trao đổi, kiểm tra và đánhgiá; là giải quyết các xung đột trong quá trình thực hiện nhằm đạt mục tiêu.Quản lý còn là tác động tương hỗ của chủ thể và đối tượng quản lý Để duy trìđược năng suất người lao động, các điều kiện làm việc tối ưu, tận dụng tối đacác nguồn lực; thông qua các quy trình, kỹ thuật, công đoạn quản lý nhằmhướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức; đồng thời quản lý cũng baogồm cả việc dự đoán các vấn đề và giải quyết được các vấn đề đó
Có thể hiểu đơn giản: Quản lý là sự tác động có ý thức thông qua kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với điều kiện khách quan.
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, xuất bản cũng như bất kỳdạng quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổchức cao, được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mangtính đặc thù quản lý tư tưởng văn hóa
Công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản mang tính quyền lực nhànước, lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu, nhằm đáp ứng kịp thời thông tinphục vụ đời sống cá nhân, xã hội ngày càng cao, đảm bảo trật tự quản lý vàquyền công dân trong lĩnh vực báo chí, xuất
Căn cứ theo Luật Báo chí năm 1999 (sửa đổi), Luật Xuất bản 2012: thìnội dung quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản phải đảm bảo: Ban hành và tổchức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí, xuất bản; xâydựng chế độ, chính sách về báo chí, xuất bản; tổ chức thông tin cho báo chí;quản lý thôn tin của báo chí; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị,
Trang 25nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ báo chí, xuất bản;
… Như vậy, ngoài quản lý báo chí, xuất bản chủ yếu bằng pháp luật, quản lýnhà nước trong lĩnh vực này còn thể hiện bằng trách nhiệm công dân, đạo đức
và dư luận xã hội với báo chí, xuất bản
1.2.2 Chức năng của quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thểngười nhằm thực hiện mục tiêu quản lý Về bản chất, tách để gọi thành chứcnăng quản lý là nhóm công việc quản lý khi chúng có tính chất, công nghệthực hiện giống hoặc gần giống nhau để tổ chức chuyên môn hóa thức hiện.Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích củachủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý Là tập hợp các nhiệm vụkhác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Như vậythực chất của các chức năng quản lý là do tồn tại các hoạt động quản lý
Do vậy, quản lý là loại hoạt động vô cùng phức tạp nên chỉ riêng việc kểhết và đảm bảo không trùng lặp các công việc quản lý đã là khó khăn Trong
lý luận và thực tế người ta chia (hoặc nhóm) các công việc quản lý theo cácdấu hiệu đối tượng, dấu hiệu công nghệ, theo tính chất giai đoạn của quá trìnhquản lý rồi lại xếp đặt chúng bên cạnh nhau, trên cơ sở đó thiết lập bộ máyquản lý
Đã từ lâu, Gulick đã nêu thành 5 chức năng của quản lý, đó là: Kế hoạchhóa (Planing); Tổ chức (Organizing); Đảm bảo nhân lực (Staffing); Điều hành(Directing) và Phối hợp (Coordinating) Sau này trong khoa học quản lý cácchức năng quản lý được nêu mỗi lúc, mỗi nơi có khác nhau nhưng có thể nêuchung lại như sau: Lập kế hoạch; Tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ (Tổchức); Điều hành – Phối hợp (Điều phối); Kiểm tra (Kiểm soát) Trong đó:
- Chức năng lập kế hoạch: – nền tảng của quản lý đó là việc xây dựng
các định hướng và đưa ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất
Trang 26định của tổ chức Chức năng kế hoạch bao gồm việc xác định sứ mệnh, dựbáo tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập thông tin về thực trạng của tổchức, từ đó xác định mục tiêu dựa trên việc tính toán các nguồn lực, các giảipháp với mục đích là lựa chọn một đường lối hành động mà một tổ chức nào
đó và một bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổchức đã đề ra Nói cách khác “lập kế hoạch hoạt động afl quá trình nghiêncứu, xem xét, tính toán, cân nhắc, lựa chọn trước làm gì với quy mô cụ thể, sửdụng những gì với mức độ tiến bộ cụ thể, ở đâu cụ thể, vào lúc nào cụ thể,bằng phương cách nào cụ thể, người chủ trì cụ thể, tổng kinh phí à lấy từ đâu
cụ thể Đây là quá trình xác định mục tiêu, xác định các bước đi để đạt đượcmục tiêu
- Chức năng tổ chức: Thực hiện chức năng tổ chức chủ yếu là thiết kế cơ
cấu tổ chức và cơ cấu nhân lực nhằm tạo ra những đảm bảo, cơ sở cho việcđiều hành thực hiện những gì đã được hoạch định Nhiều nhà khoa học đãthống nhất với nhau rằng, chức năng tổ chức bao gồm hai lại công việc chính
đó là: lựa chọn, hình thành và không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức quảnlý; Xác định và không ngừng nâng cao chất lượng của cơ cấu nhân lực
- Chức năng điều phối: Điều phối là cho vận hành, phối hợp tất cả các
hoạt động bộ phận trong tổ chức đã được thiết kế nhằm thực hiện những gì đãhoạch định Trong chức năng này có nội dung sau: Lập kế hoạch tiến độ; Giaonhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận, cá nhân; Đảm bảo điều kiện vật chất cầnthiết cho các bộ phận, cá nhân thực hiện, hoàn thành các công việc; Hướngdẫn, đôn đốc các bộ phận, cá nhân thực hiện, hoàn thành các công việc theotiêu chuẩn chất lượng và tiến độ…;Kiểm tra, đánh giá, thưởng (phạt) các bộphận, cá nhân Và khi thực hiện chức năng điều phối phải đáp ứng các yêucầu: bám sát mục đích, các mục tiêu, các yêu cầu về chất lượng, thời hạn, sảnlượng… đã được hoạch định, nhất trí thông qua; Giảm thiểu trục trặc, trở ngại
Trang 27và khắc phục chúng nhanh nhất, ít tốn kém nhất; tạo được các điêu kiện, tiền
đề cho tái sản xuất mở rộng, cho phát triển hiệu quả trong tương lai,…
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là quá trình xem xét, phát hiện những sai
lệch so với những gì đã hoạch định, đã thiết kế để kịp thời xử lý, điều chỉnh.Khi tiến hành kiểm tra trong quản lý phải đảm bảo các bước cơ bản như sau:
+ Bước 1: Chính thức lựa chọn các đối tượng, chuẩn mốc, cách thức tiến
hành kiểm tra;
+ Bước 2: Tiến hành kiểm tra, tìm kiếm, phát hiện sai khác (sai lệch) so
với những gì đã được hoạch định, đã thiết kế, đã quyết định;
+ Bước 3: Tìm kiếm, thẩm định, khẳng định các nguyên nhân của những
sai lệch (sai khác);
+ Bước 4: Xử lý các trường hợp theo thẩm định.
Dự kiến và thực tế tiến hành kiểm tra hợp lý bao giờ cũng tạo ra sức éptích cực đối với người thừa hành, đối với tất cả mọi người Khi bị sức ép củakiểm tra con người phải lo chuẩn bị và làm việc nghiêm túc, toàn tâm, toàn ý
để đảm bảo các yêu cầu của tổ chức về chất lượng, tiến độ, … đối với mình
Vì nếu không nổ lực, cố gắng thì sự kém cỏi, sự vi phạm sẽ bị phát hiện,người khác sẽ biết và lợi ích, danh dự của bản thân sẽ bị ảnh hưởng Kiểm tra
vì thế rất có tác dụng đối với sự chấp hành, hoạt động của cấp dưới, của ngườithừa hành Kiểm tra làm cho hiệu lực quản lý được đảm bảo và tăng cườngđồng thời giúp cho chúng ta phát nhiện kịp các sai lệch cụ thể để có cơ sở sửađổi, chấn chỉnh, xử lý cần thiết nhằm đảm bảo cho toàn bộ hoạt động đượcdiễn ra liên tục, nhịp nhàng, đạt hiệu quả cao nhất có thể
Như vậy, trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên đều có mốiliên hệ mật thiết với nhau, bổ sung, phối hợp để tạo nên sự kết nối trong quản
lý theo chiều hướng phát triển Và xuyên suốt, thông tin luôn là yếu tốt quantrọng không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở
Trang 28cho việc ra quyết định trong quản lý Bốn chức năng này giúp cho các nhàquản lý thực hiện “xứ mệnh”.
1.2.3 Biện pháp quản lý
Khái niệm Biện pháp: Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Biện pháp là cáchlàm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” Trong Giáo dục học, biện pháp giáodục là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp giáodục Tùy theo từng trường hợp cụ thể thì phương pháp và biện pháp có thểchuyển hóa lẫn nhau
Xây dựng và phát triển một nền báo chí chuyên nghiệp, hiện đại, thựchiện tốt chức năng là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội và diễn đàn của nhân dân, có đủ khả năng đáp ứng nhu cầuthông tin phục vụ sự nghiệp phát triến đất nước, nâng cao dân trí, xây dựng xãhội dân chủ, công bằng, văn minh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa Phát triển lĩnh vực xuất bản theo hướng độc lập, tự chủ, tiêntiến, hiệu quả, đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầuhưởng thụ xuất bản phẩm ngày càng cao của mọi tầng lóp nhân dân, phổ biếnđược nhiều tác phẩm có giá trị của Việt Nam với thế giới
Để thực hiện các nhu cầu trên thì phải thực hiện các giải pháp như: Đổimới cơ chế, chính sách về phát triển nhân lực; Đổi mới chương trình, nộidung, mở rộng quy mô và nâng cao chât lượng đào tạo nhân lực; phát triển,nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng viên và các cơ sở đàotạo; Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước; Tăng cường đầu
tư cho phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo bồi dưỡng chuyên mônnghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp; Họp tác quốc tế đào tạo bồi dưỡng pháttriển nhân lực; Danh mục các dự án đào tạo bồi dưỡng ưu tiên và Dự kiếnkinh phí
Trang 29Có thể hiểu đơn giản: Biện pháp quản lý chính là cách thức tổ chức xử lýcông việc hoặc cách thức tổ chức để xử lý vấn đề.
1.2.4 Hoạt động bồi dưỡng
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bảnlĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhândân là nhiệm vụ trọng tâm và luôn được ưu tiên hàng đầu trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức được xác định là hoạt động quan trọng nhằm trang bị kiến thức,nâng cao năng lực để đội ngũ này hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (1995), Nghị quyết Hộinghị Trung ương 5 khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước đã đặt ra yêu cầu: “đổi mới phươngthức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức sátvới thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công
vụ, nâng cao kỹ năng hành chính” Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyếtđịnh số 03/2004/QĐ-TTg ngày 7/01/2004 phê duyệt định hướng đào tạo, bồidưỡng cán bộ xã đến năm 2010, Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg ngày15/02/2006 phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giaiđoạn 2006 – 2010 Ngày 13/11/2008, Luật Cán bộ, công chức được Quốc hộiKhóa XII thông qua đã quy định rõ về cán bộ, công chức trong hệ thống chínhtrị nước ta, đồng thời luật hóa việc “Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý côngchức có trách nhiệm xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồidưỡng để tạo nguồn và nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụcủa công chức” qua đó tạo điều kiện đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức Ngày 12/8/2011 Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyếtđịnh 1347/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ,công chức giai đoạn 2011 – 2015
Trang 30Đào tạo được cho là quá trình tác động đến con người làm cho người
đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng kỹ xảo một cách có hệthống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhậnmột sự phân công lao động nhất định Đào tạo được xem như là một quá trìnhlàm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhấtđịnh”, là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thôngqua việc học tập và việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục,hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch Bồidưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặcphẩm chất” Xét về mặt thời gian, đào tạo có thời gian dài hơn, thường là từmột năm học trở lên, về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấp chứng chỉ, chứngnhận trình độ được đào tạo, còn bồi dưỡng thường chỉ có chứng chỉ chứngnhận đã học qua khoá bồi dưỡng Việc tách bạch khái niệm đào tạo, bồidưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích cặn kẽ sự giống và khác nhaugiữa đào tạo và bồi dưỡng Ở đây chúng ta cần đưa ra một định nghĩa chungcho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức (sau đây gọi tắt là cánbộ)
Theo định nghĩa của Uỷ ban Nhân lực của Anh, đào tạo bồi dưỡng cán
bộ được xác định như là: một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ,
kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực
cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan.
Đảng, Nhà nước ta thực hiện mục tiêu xây dựng hành chính dân chủ,trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực,hiệu quả Để thực hiện được mục tiêu đó, việc xây dựng – đào tạo bồi dưỡngđội ngũ cán bộ cũng được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và chú trọng
Trang 31Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: đào tạo bồi dưỡng cán bộ là công việcgốc của Đảng phải được tiến hành thường xuyên Người yêu cầu học tập vàđào tạo cán bộ: Học phải thiết thực, lấy tự học làm cốt, học phải đi đôi vớihành, lý luận phải gắn với thực tế
Đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là cán bộ làm việc trong tổ chức Đào tạo bồi dưỡng tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ
Đào tạo bồi dưỡng xét theo ý nghĩa của một hoạt động trong tổ chức, làquá trình làm thay đổi hành vi người học một cách có kế hoạch, có hệ thốngthông qua các sự kiện, chương trình và hướng dẫn học tập, cho phép cá nhânđạt được các trình độ kiến thức, kỹ năng và năng lực để thực hiện công việccủa họ có hiệu quả Học tập được quan niệm như sau:
- “Học tập là một quá trình liên tục nhưng cũng là kết quả
- Học tập có thể chứng minh được người ta biết những gì mà họ khôngbiết trước đây.(Kiến thức)
- Học tập có thể chứng minh được người ta có thể làm được những gì
mà họ không thể làm được trước đây (Kỹ năng)
- Học tập có thể chứng minh được sự thay đổi trong thái độ.(Thái độ)”Theo nghiên cứu của David Kolb về quá trình học tập của cán bộ chothấy đây là quá trình chuyển từ kinh nghiệm sang hình thành quan điểm để sửdụng trong việc hướng dẫn lựa chọn những kinh nghiệm mới Để học tập cóhiệu quả, cá nhân mỗi người luôn phải thay đổi cách tiếp cận trong quá trìnhhọc tập Có khi họ phải là những người quan sát xem các học viên học tập
Trang 32như thế nào, hoặc trực tiếp tham gia vào phân tích một vấn đề một cách cóchủ định Việc quan sát và phản ánh sẽ giúp hình thành những quan điểm từthực tiễn và tiếp theo là quá trình thử nghiệm chủ động, là đưa vào thí điểmcác quan điểm, ý tưởng mới trong những tình huống mới Tiếp tục phát triểnđưa ra kinh nghiệm cụ thể mới và chu kỳ lại tiếp tục Mô hình về chu kỳ họctập chủ động của D Kolb được mô tả như sau:
1.2.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng
Quản lý hoạt đông bồi dưỡng chính là quá trình tổ chức thực hiện đàotạo bồi dưỡng để đạt được mục tiêu của nó Thông thường người ta cho rằngquy trình đào tạo bồi dưỡng bao gồm các thành tố sau đây:
Trang 33Một cách đơn giản hơn, quy trình đào tạo bồi dưỡng dựa trên cơ sởnăng lực thực hiện công việc bao gồm 4 thành tố cơ bản sau:
- Xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng nhằm trả lời các câu hỏi chínhnhư: Những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí công việc? Những kiếnthức, kỹ năng cần thiết mà cán bộ hiện có? Những kiến thức, kỹ năng cònthiếu của cán bộ đối với vị trí công việc? Làm cách nào để xác định đúngnhững thiếu hụt đó? Những khóa học nào cần tổ chức để khắc phục nhữngthiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho cán bộ?
- Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi chínhnhư: Mục tiêu kế hoạch? Nội dung là gì? Ai thực hiện? thời gian và địa điểmtiến hành? Cách thức thực hiện? Kinh phí? Kiểm tra đánh giá như thế nào? Để
Trang 34dễ nhớ, người ta dùng kỹ thuật 5W, 2H, 2C: Why, what, who, when, where,how, how much, control, check.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi
cơ bản như: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân công phối hợp như thế nàocho có hiệu quả? Tổ chức sao cho chi phí phù hợp để kết quả cao? Để thựchiện kế hoạch Đào tạo bồi dưỡng cần phân tích kế hoạch đào tạo bồi dưỡngthành các công việc cụ thể: từ ra quyết định tổ chức khóa học, triệu tập họcviên, in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chươngtrình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá, báo cáo
sơ tổng kết, thanh quyết toán
- Đánh giá đào tạo bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi chính như: đào tạobồi dưỡng có đạt mục tiêu không? Nội dung có phù hợp không? Chương trình
có phù hợp không? Giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của chương trình đàotạo bồi dưỡng không? Học viên có tham gia vào quá trình đào tạo bồi dưỡngkhông? Công tác tổ chức có tốt không? Học viên học được những gì và họ ápdụng được những điều đã học vào thực tế công việc không? Hiệu quả củachương trình đào tạo bồi dưỡng?
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng
là việc thực hiện các chức năng quản lý trong quá trình tổ chức bồi dưỡng, từ việc xác định nhu cầu đào tạo cán bộ, lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡn, thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cho tới việc đánh giá đào tạo bồi dưỡng đạt mục tiêu và hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng.
1.2.6 Biên tập viên
Trong tòa soạn truyền thống của một tờ báo ngày, có khá nhiều loạibiên tập viên: biên tập viên văn bản, biên tập viên là trưởng ban, là thư ký tòasoạn, tổng thư ký tòa soạn, phó tổng biên tập chuyên trách nội dung, tổng biêntập Mỗi người đều có nhiệm vụ riêng Nếu mở rộng ra khỏi báo ngày, qua
Trang 35báo mạng, đài phát thanh, đài truyền hình thì số lượng biên tập viên sẽ tănglên gấp bội phần.
Tuy nhiên, nhiệm vụ của các biên tập viên này đều có những điểmtương đồng Sự phân biệt chức danh đôi khi chỉ là hình thức, không phải dựatrên nội dung công việc Chẳng hạn, người phụ trách tòa soạn, tại báo này cóchức danh tổng thư ký tòa soạn nhưng ở báo khác lại là thư ký tòa soạn hoặctrưởng ban biên tập Và nhiệm vụ của những người có chức danh khác nhau
đó là hoàn toàn giống nhau
Các biên tập viên cũng thường khác nhau về trình độ, kinh nghiệm vàmức độ chịu trách nhiệm Nhưng họ đều chia sẻ một trách nhiệm chung: lên
kế hoạch, tổ chức thực hiện và bảo đảm chất lượng của tin tức
Vậy các biên tập viên thực hiện quy trình tạo ra tin tức như thế nào?Dưới đây là một ví dụ:
Vào 3 giờ chiều hôm qua, tòa soạn một tờ báo ngày nhận được tin mộtngân hàng bị cướp và ngay lập tức đã cử một phóng viên đến hiện trường.Người phóng viên sẽ nói chuyện với các nhân chứng vụ cướp (khách hàng,nhân viên ngân hàng, người qua đường) và cảnh sát điều tra
Không lâu sau đó lại xảy ra sự kiện thứ hai: hai người được cho là cướp
đã bị bắt cách trụ sở của ngân hàng không xa, sau khi đấu súng với cảnh sát
Trở về tòa soạn, người phóng viên viết lại những thông tin đã thu thậpđược và chuyển bài viết cho một biên tập viên Biên tập viên này sẽ kiểm trathông tin và sau đó báo cho người trực tòa soạn rằng bài báo đã được hoànthành và cần có chỗ trên số báo ra ngày mai Nhờ đó, bạn đọc sẽ được biếtngày hôm qua đã xảy ra một vụ cướp ngân hàng trong thành phố
Thông tin trên có thể đã được kiểm tra và được cho là chính xác Tuynhiên, những người biên tập luôn hiểu rằng chính xác không có nghĩa là đầyđủ
Trang 36Như đã nói ở trên, hai người bị tình nghi thực hiện vụ cướp đã bị bắt,sau khi đấu súng với cảnh sát không xa trụ sở ngân hàng Người phóng viêncũng đã quay về tòa soạn để viết bài về cướp ngân hàng và nộp bài cho biêntập viên Người biên tập báo với thư ký tòa soạn và thư ký tòa soạn sẽ dànhchỗ để đăng bài báo Đó là nói một cách tóm tắt.
Còn quy trình thực sự của bài báo này (và của hầu hết các bài báo thờisự) ra sao?
Thứ nhất, ai quyết định cử chính phóng viên đó đi làm tin về vụ cướp
ngân hàng? Đó là trưởng ban thời sự hoặc trưởng ban nội chính
Thứ nhì, phóng viên đó phải ngưng công việc mình đang làm dở để đi
làm tin này Vậy công việc đang dở dang của anh hoặc chị ta sẽ ra sao?Trưởng ban thời sự hoặc trưởng ban nội chính sẽ quyết định việc này, có thểgiao công việc dở dang đó lại cho người khác hoặc đơn giản hơn: chỉ thị tạmgát công việc đó lại
Tiếp đến, việc hai nghi can cướp ngân hàng bị bắt sẽ do ai tường thuật,
sẽ là bài riêng hay tổng hợp với bài về cướp ngân hàng? Nếu đây là một bàibáo do một phóng viên khác viết thì việc này cũng do trưởng ban thời sự hoặctrưởng ban nội chính ra lệnh Chắc chắn đây sẽ là một bài riêng vì là tin tứchấp dẫn; không phải ngày nào cũng có đấu súng trong thành phố
Theo thông lệ, các trưởng ban sẽ họp với nhau và bàn thảo thêm về tintức vào buổi chiều Các tòa soạn báo ngày họp 2 lần mỗi ngày vào lúc 7 giờhoặc 8 giờ sáng và 4 giờ hoặc 5 giờ chiều Cuộc họp buổi chiều thường khôngkéo dài, chỉ để duyệt lại tin tức, bài vở và bổ sung tin tức mới nếu có Và bài
về vụ cướp và vụ đấu súng – tin tức mới – được quyết định tại cuộc họp này
Thứ tư, có hình ảnh gì đi kèm hai bài báo nói trên không? Nếu có, ai sẽ
đi chụp hình? Một phóng viên ảnh được trưởng ban ảnh cử đi theo đề nghịcủa trưởng ban thời sự hoặc trưởng ban nội chính
Trang 37Thứ năm, bài báo có cần thêm bảng biểu hay đồ họa và ai sẽ thực hiện
việc này? (Giờ các báo như Tuổi Trẻ, Thanh Niên đều có người chuyên trách
đồ họa; trước đây thì không có) Thông tin để làm đồ họa sẽ được lấy từ đâu?Một nhân viên đồ họa được giao nhiệm vụ này và sẽ dựa trên thông tin dophóng viên đi làm tin cung cấp Trưởng ban đồ họa cũng sẽ làm việc theo sựgợi ý của trưởng ban thời sự hoặc trưởng ban nội chính
Thứ sáu, một biên tập viên đã đọc bài để xem bài có chính xác không
nhưng như vậy vẫn chưa đủ Ai sẽ là người đảm bảo bài viết được viết đúngngữ pháp và rõ ràng, dễ hiểu? Đó là một biên tập viên văn bản hoặc phòngbiên tập Trưởng ban thời sự hoặc trưởng ban nội chính chỉ sửa sơ qua hai bàirồi chuyển chúng cho họ
Tiếp đến, ai sẽ quyết định bài được đăng ở trang nhất, trang 2 hoặc
trang khác? Thư ký tòa soạn hay tổng thư ký tòa soạn quyết định Hoặc cũng
có thể các biên tập viên tham gia cuộc họp buổi chiều cùng nhau quyết định
Về vấn đề tít, ai sẽ quyết định tít lớn cỡ nào? Phóng viên sẽ viết tít vàtrưởng ban sẽ sửa và biên tập viên văn bản có thể sửa thêm Thư ký tòa soạnhay tổng biên tập cũng có thể làm việc này Họ sẽ cho chạy tít lớn nếu muốnthu hút độc giả đến với tin đó
Thứ chín, ai quyết định ảnh và đồ họa to hay nhỏ? Vấn đề này cũng
được thực hiện theo quy trình ở trên Thư ký tòa soạn, trưởng ban ảnh hayngười phụ trách thiết kế tờ báo có thể quyết định chuyện này
Thứ mười, tờ báo có tiếp tục theo đuổi chủ đề cướp ngân hàng vào
những ngày kế tiếp nữa hay không? Các biên tập viên luôn giả định bạn đọc
sẽ muốn biết thêm nhiều hơn vì đây là một sự kiện hấp dẫn Trong nhữngngày sau đó sẽ có những bài báo khác về chủ đề này, với góc nhìn khác (dựatrên phỏng vấn cảnh sát điều tra, ban lãnh đạo ngân hàng, v.v.) Chắc chắn
Trang 38phóng viên đã làm tin đó cũng sẽ tham gia gợi ý cùng với các trưởng bantrong buổi họp tin sáng hôm sau khi đã đăng tin về vụ cướp và đấu súng.
Thứ mười một, sau khi bài được đăng, nếu phát hiện sai sót ai sẽ viết
đính chính? Thư ký tòa soạn sẽ quyết định việc đính chính Tùy thuộc vàotính trầm trọng của lỗi trong bài báo sẽ có người ra quyết định ở cấp cao hơn
Và cuối cùng: Ai sẽ đi làm tin về việc hai người bị tình nghi cướp ngân
hàng được đưa ra xét xử; phóng viên đã làm tin về vụ cướp hay phóng viênchuyên về pháp luật? Việc này sẽ do trưởng ban thời sự, trưởng ban nội chínhhay thư ký tòa soạn quyết định Phóng viên tòa án thường được cử đi làm tinnày; đôi khi, phóng viên làm tin về vụ cướp cũng có thể được cử đi
Những công đoạn trên cho thấy công việc hậu trường của quy trình sảnxuất một bài báo Và cho thấy rõ rằng, sau mỗi bài báo đều có bàn tay của cácbiên tập viên Họ có mặt ở khắp mọi nơi Nhiều khi họ làm việc một mình,nhưng nhiều khi họ hoạt động tập thể, có lúc chỉ cần gặp nhau một chút đểcùng đưa ra quyết định Họ cũng có thể họp bất thường (ngoài 2 cuộc họpchính sáng chiều của một tờ báo ngày)
Như vậy, các biên tập viên là người chịu trách nhiệm về tin tức Họ tổ
chức việc thực hiện Họ giám sát, thẩm định, hướng dẫn, hỗ trợ cho phóngviên Họ quyết định bài báo được trình bày như thế nào và hình thức viết bài.Biên tập viên tham gia nhiều vào việc sửa chữa bài vở, cân nhắc việc dùngảnh hay đồ họa như thế nào cho phù hợp với bài báo Biên tập viên tạo ra môitrường để sản phẩm báo chí được ra đời một cách tốt nhất Họ tổ chức cáctrang báo để làm sao cho các bài báo trở nên hấp dẫn đối với bạn đọc Họquan tâm đến mọi chi tiết, từ nhỏ đến lớn và cả tầm của bài báo Đối với biêntập viên chuyên nghiệp yêu nghề, họ luôn nghĩ đến tương lai làm sao để mìnhbiên tập tốt hơn
Trang 39Nhưng nói như thế không có nghĩa là vai trò của người phóng viên viết
và phóng viên ảnh bị hạ thấp Phóng viên luôn là tai là mắt của bất kỳ phươngtiện truyền thông đại chúng nào Họ gặp các nguồn tin để viết nên các bài
báo Tuy nhiên, biên tập viên mới là người đưa sản phẩm của phóng viên đến
với người đọc, người xem đài, nghe đài.
1.2.7 Phóng viên
Phóng viên hay nhà báo là người làm việc trong một tòa soạn, một hãngthông tấn, một đài truyền hình hoặc đài phát thanh Đôi khi có những phóngviên tự do không trực thuộc một cơ quan nào nhưng cũng hoạt động tronglĩnh vực báo chí Công việc của phóng viên là thực hiện các bài viết, bản tin,phỏng vấn, hình ảnh hoặc phóng sự về một hay nhiều vấn đề của xã hộiđương đại
Nhà báo là khái niệm dùng để chỉ những người tiến hành các loại hìnhlao đông trong quá tình thu thập, xử lý và chuyển tải thông tin Đó là lao động
tổ chức và quản lý, lao động biên tập, lao động tác giả và lao động kỹ thuật dịch vụ
-Trong hệ thống chính trị của nước ta, nhà báo không chỉ là chủ thể hoạtđộng báo chí bị quản lý với tư cách là khách thể, mà còn là thành tố tham giatích cực vào quá trình quản lý nhà nước về báo chí Nhà báo không chỉ cóquyền hạn và nghĩa vụ thực hiện tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chícủa công dân, mà còn tham gia giám sát xã hội bảo đảm cho quá trình quản lýđạt được hiệu quả; góp phần tuyên truyền pháp luật, giáo dục ý thức chấphành pháp luật cho nhân dân cũng chính là góp phần tham gia quản lý nhànước về báo chí
“Tìm đến ngọn nguồn của sự thật” là mục tiêu lớn nhất mà một phóng viên
(nhà báo) phải theo đuổi Đó cũng có thể coi là phẩm chất cao quý nhất củaphóng viên Cũng có thể coi phóng viên là “nhà sử học” Bởi lẽ, xã hội, nhân
Trang 40dân, lịch sử yêu cầu, mong mỏi và bắt buộc nhà báo-nhà sử học phải tôn trọng sựthật, phản ánh đúng sự thật khách quan như “nó” vốn có và đã diễn ra
Phóng viên phải có khát khao cháy bỏng và trong tình huống không thểtránh được, dám trả giá nào đó để không hổ thẹn với nghề Sự trả giá ấykhông thể so với những khốc liệt của chiến tranh trước đây, nhưng đủ đểngười ta vẫn gọi là nghề báo với cái tên “nghề nguy hiểm”
Vũ khí của người làm báo là khả năng đưa thông tin đến cho mọi người.Thông tin về cái tốt và về cái xấu Thông tin về những gì chưa rõ sẽ là tốt hayxấu Thông tin chân thực, có trách nhiệm Thông tin trung thực chỉ có mộtkhuôn mặt Nếu thông tin của bạn có ích cho xã hội, nhưng lại động chạm đếnlợi ích của những nhóm người nào đó, thì từ khi đó, bạn cũng sẽ là đối tượngcủa thông tin Thông tin về bạn, về động cơ của bạn, về khả năng của bạn, vềphẩm chất của bạn Thông tin này lại có nhiều khuôn mặt Để chống lại bạ,không nhất thiết người ta phản đối những gì bạn viết Không phải lúc nào độcgiả hay khan giả yêu quý bạn, cũng có thể bên cạnh bạn, bảo vệ bạn Vì dẫukhác xưa nhiều thì bây giờ xã hội chúng ta đang sống vẫn chưa có một cơ chếhoàn hảo để luôn phân biệt rõ trắng đen trong các luồng lạch thông tin
Phóng viên là những người giữ một trong những người giữ một trongnhững công việc quan trọng nhất trong bất cứ một xã hội nào Hoàn cảnh làmviệc của các phóng viên khác nhau tùy từng quốc gia Tại một vài nước, chínhphủ hay các chính đàng làm chủ ngành thông Tại một số nước, ngành truyềnthông gồm cả hai loại Nhưng cho dù hoàn cảnh của họ ra sao đi nữa, thì tất
cả các phóng viên giỏi đều có cùng chung một mục đích cơ bản
Công việc của phóng viên là “lấy tin” Nhưng trong một ngày có biết baonhiêu sự kiện xẩy ra, Không phải tất cả đều đáng tường thuật Như vậy,những gì là tin tức? Độc giả muốn biết và cần biết những tin như thế nào?Đây là điều các phóng viên phải quyết định hàng ngày Trước khi săn tin về