1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Giáo dục THPT có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách của học sinh nhằm đạt được “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (khoản 1, Điều 27, Luật Giáo dục năm 2005). Nghị quyết 29-NQ/TW của BCH TW khóa XI cũng đã chỉ rõ mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện của giáo dục trong giai đoạn hiện nay, giáo dục phổ thông cần tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Do vậy, Giáo dục THPT có ý nghĩa quan trọng tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của đất nước; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Đối với công tác giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên có một vai trò đặc biệt quan trọng. Điều 15 Luật giáo dục năm 2005 đã ghi: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học”. Chính vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và của tất cả các nhà trường. Trong đó việc phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông là đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục, tư vấn và định hướng cho sự phát triển của học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông. Người Giáo viên chủ nhiệm lớp được coi là người thay mặt Hiệu trưởng làm công tác quản lý và giáo dục học sinh của một lớp học, là người gần gũi thân mật, là người hướng dẫn, chỉ đạo, khuyên nhủ học sinh mỗi khi các em gặp khó khăn, là người cố vấn tin cậy của chi đoàn lớp. Giáo viên chủ nhiệm lớp có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của tập thể lớp và tác động đến sự phát triển nhân cách của từng học sinh trong lớp đó, chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng giáo dục của lớp mình. Kết quả giáo dục trong những năm gần đây ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều nói riêng và các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung cho thấy vẫn còn có những mâu thuẫn, bất cập, phát triển số lượng học sinh không tỉ lệ thuận với chất lượng giáo dục đạo đức, trí dục và các mặt giáo dục khác, mặc dù chất lượng đầu vào của học sinh là như nhau nhưng sau khi kết thúc mỗi năm học thì chất lượng giáo dục mọi mặt ở các lớp trong cùng khối lại khác nhau... Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những mâu thuẫn, bất cập đó là năng lực của giáo viên chủ nhiệm lớp còn nhiều khó khăn, hạn chế; việc quản lí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm của hiệu trưởng chưa được khoa học, chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay... Mà chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường phụ thuộc phần lớn vào kết quả công tác của từng giáo viên chủ nhiệm đối với lớp mà họ phụ trách. Bởi đây là một mắt xích quan trọng trong giáo dục học sinh. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều, thành phố Hà nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành quản lí giáo dục.
Trang 1_
PHẠM THU TRANG
QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN GIA THIỀU THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2HÀ NỘI - 2014
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn Học viện Quản lý giáo dục, các quý thầy
cô trong Trung tâm Đào tạo Sau đại học và Bồi dưỡng Cán bộ quản lý giáodục đã tạo các điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và bảo vệluận văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo, TS NguyễnTrọng Hậu đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu vàhoàn thành luận văn
Cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Trường THPT Nguyễn GiaThiều và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng, song thời gian nghiên cứu có hạn nên luậnvăn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý, chỉdẫn của các quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoànthiện hơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thu Trang
Trang 4Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
TTGDTX Trung tâm Giáo dục thường xuyên
QLQTDH Quản lý quá trình dạy học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
Trang 5Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ
NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 6
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.2.1 Đội ngũ 7
1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 8
1.2.3 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm lớp 16
1.3 TRƯỜNG THPT TRONG HỆ THỐNG GDQD 23
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ của trường trung học phổ thông 23
1.3.2 Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông 25
1.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 25
1.4.1 Xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp 26
1.4.2 Thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp 27
1.4.3 Chỉ đạo đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện kế hoạch công tác chủ nhiệm 29
1.4.4 Phối hợp các lực lượng trong công tác chủ nhiệm lớp trong trường THPT 30
1.4.5 Kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm lớp trong trường THPT 31
1.5 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GVCN Ở TRƯỜNG THPT 31
1.5.1 Yếu tố chủ quan 31
1.5.2 Yếu tố khách quan 33
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM VÀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN GIA THIỀU, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
2.1 KHÁI LƯỢC VỀ GIÁO DỤC QUẬN LONG BIÊN VÀ TRƯỜNG THPT NGUYỄN GIA THIỀU, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
2.1.1 Khái lược về đặc điểm giáo dục của ngành giáo dục và đào tạo Quận Long Biên 35
Trang 62.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP TẠI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN GIA THIỀU, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 51
2.2.1 Thực trạng số lượng, độ tuổi của GVCN trường THPT Nguyễn Gia Thiều 51
2.2.2 Phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ công tác GVCN của đội ngũ GVCN trường THPT Nguyễn Gia Thiều 53
2.2.3 Thực trạng về năng lực quản lý của GVCN 59
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN GIA THIỀU, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 61
2.3.1 Thực trạng quản lý công tác xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp 61
2.3.2 Thực trạng công tác tổ chức thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp 62
2.3.3 Thực trạng việc chỉ đạo đội ngũ chủ nhiệm lớp và công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GVCN 63
2.3.4 Thực trạng công tác phối hợp giữa GVCN và các lực lượng giáo dục khác 67
2.3.5 Thực trạng về công tác kiểm tra đánh giá công tác của đội ngũ GVCN 69
Tiểu kết chương 2 76
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN GIA THIỀU, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 77
3.1 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BIỆN PHÁP 77
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu giáo dục THPT 77
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 77
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn 77
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 78
3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM 78
3.2.1 Đổi mới công tác lựa chọn và phân công đội ngũ giáo viên chủ nhiệm 78
3.2.2 Tổ chức xây dựng và thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp 83
Trang 73.2.4 Xây dựng và hoàn thiện quy chế phối hợp các lực lượng trong công
tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT 96
3.2.5 Kiểm tra, giám sát và đánh giá công tác giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường THPT 100
3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM 104
3.4 KHẢO SÁT TÍNH CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC NHÓM BIỆN PHÁP 105
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1 Kết luận 109
2 Khuyến nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 8Bảng 2.1: Số lớp và số học sinh của nhà trường theo năm học 38
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh trong 3 năm học gần đây 39
Bảng 2.3: Kết quả xếp loại học lực của học sinh trong 3 năm học gần đây 41
Bảng 2.4: Kết quả thi học sinh giỏi thành phố lớp 12 các môn học 42
Bảng 2.5: Kết quả thi tốt nghiệp THPT và kết quả đỗ vào các trường 44
Đại học Cao đẳng 44
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp về số lượng và trình độ đào tạo của các tổ chuyên môn năm học 2012-2013 45
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp về trình độ đào tạo và bồi dưỡng của Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng 49
Bảng 2.8 : Bảng tổng hợp số lượng, độ tuổi của GVCN trường THPT Nguyễn Gia Thiều 51
Bảng 2.9: Đánh giá thực trạng phẩm chất chính trị của đội ngũ GVCN trường THPT Nguyễn Gia Thiều trong giai đoạn hiện nay 54
Bảng 2.10: Đánh giá thực trạng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ GVCN trường THPT Nguyễn Gia Thiều 56
Bảng 2.11: Đánh giá thực trạng về năng lực quản lý của đội ngũ GVCN 59
trường THPT Nguyễn Gia Thiều 59
Bảng 2.12: Đánh giá việc lựa chọn, bố trí, phân công GVCN của Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Gia Thiều 61
Bảng 2.13 Bảng tổng hợp ý kiến đánh giá về công tác thông qua kế hoạch chủ nhiệm lớp 62
Bảng 2.14: Thực trạng về công tác chỉ đạo hoạt động chủ nhiệm lớp của cán bộ quản lý trường THPT Nguyễn Gia Thiều, thành phố Hà nội 64
Bảng 2.15: Thực trạng về công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GVCN của trường THPT Nguyễn Gia Thiều trong giai đoạn hiện nay 66
Bảng 2.16: Thực trạng công tác phối hợp giữa GVCN và các lực lượng giáo dục khác ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều 67
Bảng 2.17: Thực trạng về công tác kiểm tra đánh giá công tác của đội ngũ GVCN ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều trong giai đoạn hiện nay 69
Bảng 2.18: Đánh giá thực trạng công tác thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ GVCN 71
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 105
Trang 9Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý 14 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ xác định tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 106 Biểu đồ 3.2: Biểu đồ xác định tính khả thi của biện pháp đề xuất 107
Trang 10của BCH TW khóa XI cũng đã chỉ rõ mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện
của giáo dục trong giai đoạn hiện nay, giáo dục phổ thông cần tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Do vậy, Giáo dục THPT có ý nghĩa quan trọng tạo chuyển
biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của đất nước;đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầuhọc tập của nhân dân
Đối với công tác giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên có một vai trò
đặc biệt quan trọng Điều 15 Luật giáo dục năm 2005 đã ghi: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học” Chính vì vậy,
xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ cấpthiết của ngành giáo dục và của tất cả các nhà trường Trong đó việc phát triển
Trang 11đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông là đặc biệt quantrọng trong việc giáo dục, tư vấn và định hướng cho sự phát triển của học sinhsau khi tốt nghiệp phổ thông.
Người Giáo viên chủ nhiệm lớp được coi là người thay mặt Hiệutrưởng làm công tác quản lý và giáo dục học sinh của một lớp học, là ngườigần gũi thân mật, là người hướng dẫn, chỉ đạo, khuyên nhủ học sinh mỗi khicác em gặp khó khăn, là người cố vấn tin cậy của chi đoàn lớp Giáo viên chủnhiệm lớp có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của tập thể lớp vàtác động đến sự phát triển nhân cách của từng học sinh trong lớp đó, chịutrách nhiệm trước nhà trường về chất lượng giáo dục của lớp mình
Kết quả giáo dục trong những năm gần đây ở trường THPT NguyễnGia Thiều nói riêng và các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội nóichung cho thấy vẫn còn có những mâu thuẫn, bất cập, phát triển số lượng họcsinh không tỉ lệ thuận với chất lượng giáo dục đạo đức, trí dục và các mặtgiáo dục khác, mặc dù chất lượng đầu vào của học sinh là như nhau nhưngsau khi kết thúc mỗi năm học thì chất lượng giáo dục mọi mặt ở các lớp trongcùng khối lại khác nhau Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đếnnhững mâu thuẫn, bất cập đó là năng lực của giáo viên chủ nhiệm lớp cònnhiều khó khăn, hạn chế; việc quản lí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm của hiệutrưởng chưa được khoa học, chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới của giáo dụchiện nay Mà chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường phụ thuộc phầnlớn vào kết quả công tác của từng giáo viên chủ nhiệm đối với lớp mà họ phụtrách Bởi đây là một mắt xích quan trọng trong giáo dục học sinh
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều, thành phố Hà nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên
ngành quản lí giáo dục
Trang 122 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn đề xuất các biện pháp quản lýđội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáodục toàn diện ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều, thành phố Hà nội
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1- Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều,thành phố Hà nội
3.2- Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT Nguyễn GiaThiều, thành phố Hà nội trong giai đoạn hiện nay
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc quản lý đội ngũ GVCN ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều hiệntại còn chưa phù hợp, làm hạn chế chất lượng giáo dục toàn diện của nhàtrường Do vậy, tìm ra những biện pháp phát triển đội ngũ GVCN ở trườngTHPT Nguyễn Gia Thiều theo lý thuyết phát triển nhân lực sẽ tạo ra chuyểnbiến quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ GVCN và đảm bảo
sự phát triển bền vững của trường THPT nguyễn Gia Thiều trong giai đoạnhiện nay
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
lớp ở trường THPT
5.2 - Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác chủ nhiệm lớp
và thực trạng việc quản lý công tác chủ nhiệm ở trường THPT Nguyễn Gia Thiềutrong giai đoạn hiện nay
5.3 - Đề xuất các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở THPT
Nguyễn Gia Thiều, thành phố Hà nội trong giai đoạn từ năm 2012-2014
Trang 136 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài giới hạn nghiên cứu thực trạng Hoạt động quản lý công tác chủnhiệm lớp ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều, thành phố Hà nội trong giaiđoạn từ năm 2012 - 2014
7 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng 3 nhóm phươngpháp nghiên cứu:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Áp dụng nghiên cứu Luật giáo dục năm 2005, các văn kiện của Đảng,Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà nội, vànghiên cứu sách báo, tạp chí, tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài: Quản
lý GVCN ở trường THPT
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Quan sát qua các giờ sinh hoạt lớp, giờ học ngoài giờ lên lớp, giờchào cờ
+ Khảo sát thực tế bằng cách phân tích các ý kiến của cán bộ quản lý,của giáo viên chủ nhiệm và các ý kiến của chính các em học sinh
+ Phân tích các văn bản là chỉ đaọ của BGH đến GVCN, các báo cáo vàcác số liệu trong bảng tổng kết kết quả giáo dục hàng năm của nhà trường
+ Tổng kết kinh nghiệm quản lý CBQL, của GVCN lớp giỏi
+ Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: nhằm đánh giá các biện phápđược đề xuất có tính khả thi hay không
7.3 Phương pháp nghiên cứu bổ trợ
- Sử dụng phương pháp thống kê để phân tích các số liệu, trên cơ sở đó
có thể đề xuất các biện pháp
- Sử dụng lí thuyết toán học.
Trang 148 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở
trường trung học phổ thông
Chương 2 : Thực trạng công tác chủ nhiệm và quản lý đội ngũ giáo viên chủ
nhiệm ở trường THPT Nguyễn Gia Thiều, thành phố Hà Nội
Chương 3: Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường
THPT Nguyễn Gia Thiều, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Khi đề cập đến công tác chủ nhiệm đã có một số tài liệu, công trìnhnghiên cứu , tìm hiểu , phân tích mà có thể kể đến các công trình như sau :
+ Giáo dục học 2004 (chương XVI, Người GVCNL) của Phạm ViếtVượng
+ Phương Pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường trunghọc phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại Học QuốcGia Hà Nội, 2004
Trong các tài liệu này đã cơ bản đề cập khá chi tiết về vị trí, vai trò,chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp công tác của người giáo viênchủ nhiệm lớp ở trường THPT
Trong quá trình học tập và nghiên cứu ở trình độ thạc sĩ, đã có một sốtác giả nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT như: tác giả
Nguyễn Xuân Tuyên (2004) với đề tài "Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay" Tác giả Ngô Thị Chuyên (2008) với đề tài “Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông huyện Mạc Đĩnh Chi quận Dương Kinh” Tác giả Trần Thị Phương Mai (2009)
“Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng thương mại
và du lịch Hà Nội”… Các luận văn này đã đề cập đến vị trí, vai trò, chức
năng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp công tác của người giáo viên chủnhiệm lớp ở trường THPT…và đưa ra các biện pháp quản lý nhằm nâng caochất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT song mới chỉdừng lại ở mức khái quát chung công tác quản lý đội ngũ GVCNL của Hiệu
Trang 16trưởng, chưa đi sâu phân tích vai trò và nhấn mạnh các biện pháp quản lý độingũ làm công tác GVCN ở trường THPT Vấn đề quản lý đội ngũ làm côngtác GVCN trong trường THPT thường được Hiệu trưởng các trường THPTquan tâm, song nó chỉ tồn tại ở dạng những kinh nghiệm trên báo cáo sơ kết,tổng kết năm học của các nhà trường.
Như vậy, cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có được vẫncòn thiếu những công trình đề cập đến các biện pháp quản lý đội ngũ làmcông tác GVCN một cách đầy đủ và hệ thống
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xácđịnh cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biệnpháp quản lý đội ngũ GVCN góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện trong trường THPT Nguyễn Gia Thiều đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dụchiện nay
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Đội ngũ
Trong Từ điển Tiếng Việt, “đội ngũ là khối đông người cùng chức
năng, nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng” [34, tr
328]
Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu, “Đội ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống (tổ chức)” [10, tr.12].
Với các quan niệm như trên, đội ngũ của một tổ chức chính là nguồnnhân lực trong tổ chức Nói đến đội ngũ là tính đến số lượng, cơ cấu, trình độ,phẩm chất, năng lực của một tập thể người trong tổ chức đó
Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường trung học phổ thông làmột nhóm giáo viên được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thựchiện chức năng giúp hiệu trưởng quản lý các hoạt động giáo dục ở các lớp họctrong trường nhằm thực hiện mục tiêu và nguyên lý giáo dục
Trang 171.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.
1.2.2.1 Khái niệm quản lý
Bản thân khái niệm “quản lý” có tính đa nghĩa, lại do sự khác biệt của thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên “quản lý” cũng có nhiều cách giải
thích, cách hiểu khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất
và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và
lý giải khái niệm “quản lý” càng trở nên phong phú, đa dạng
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Theo F.W.Taylor (1856-1915), “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [12, tr.327]
Tác giả H.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lự hoạt động cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12, tr.327]
Theo C.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” [18, tr.350].
Theo ông: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiếnhành trên quy mô tương đối lớn, ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo đểđiều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phátsinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khíquan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình,còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng [18, tr.350]
Theo từ điển Tiếng Việt: thuật ngữ “Quản lý” được xác định là: “Trông
coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [34, tr 329]
Tác giả Đặng Quốc Bảo, xem xét theo nghĩa Hán Việt: Quản lý = Quản
+ lý, là sự duy trì + sự đổi mới Trong “Quản” (giữ) có “Lý” (chỉnh sửa) trong
Trang 18“Lý” (chỉnh sửa) có “Quản” (giữ), quản lý là quá trình có tính thống nhất biện chứng hai vấn đề “Quản” và “Lý” Trong “Quản” phải có “Lý” thì toàn bộ hệ thống, tổ chức mới phát triển được, trong “Lý” phải có “Quản” thì sự phát
triển đó mới ổn định bền vững Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽvới nhau thì toàn hệ mới đạt thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợptrong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài [4, tr 1]
Quản lý mang tính lịch sử- xã hội cao, các quan niệm, mô hình, tínhchất phương thức quản lý chuyển đổi theo sự phát triển của đời sống xã hội
“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các danh mục trên đề ra một cách hiệu quả nhất” [12, tr.328].
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: Hoạt độngquản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngườiquản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Các tác giả cũng khẳng
định, hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn là : “Quản lý
là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [21, tr.1].
Như vậy, hoạt động quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành
vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động cần có mục đích của hành
vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó để hình thành nên hoạt độngquản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đócần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì, cần xác định mục đích quản lý:quản lý vì cái gì? Đồng thời trong bất cứ hoạt động quản lý nào cũng khôngphải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiệnnhất định nào đó Quản lý trong hoàn cảnh nào ?
Trang 19Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đềugặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điềukiện) sau :
+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và
ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thểquản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thểquản lý tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
+ Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủthể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
+ Tác động của chủ thể phải có kế hoạch và có tính mục đích
+ Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể làmột hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội)
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cầnphải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mụcđích của mình
Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.
Quản lý vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, quản lý được xem làmột nghề nhằm dẫn dắt trong một hoàn cảnh nhất định, một nhóm người, đểđạt được các mục tiêu phù hợp với mục đích của tổ chức do vậy mà ngườiquản lý cần phải hội tụ đầy đủ các yếu tố về kiến thức quản lý, về kỹ năng,nghiệp vụ quản lý, vừa như một nhà quân sự, vừa như một nhà tâm lý, mộtnhà sư phạm mẫu mực, một nghệ sĩ sân khấu, vừa phải có một trái tim
“nóng”, vừa phải có một cái đầu “lạnh”
Trang 201.2.2.2 Quản lý giáo dục (QLGD)
Khái niệm QLGD có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
P.V.khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD và ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đặc biệt
sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo dục của sự phát triển cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em” [12, tr.341]
Quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằmđẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội" [1, tr.10]
Tác giả Trần Kiểm khẳng định QLGD được phân chia thành hai cấp:
quản lý vĩ mô và quản lý vi mô Đối với cấp vĩ mô: "Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục" Đối với cấp vi mô: "Quản lý giáo dục được hiểu
là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường" [19, tr.14]
Cũng như quản lý nói chung, QLGD là hệ thống các tác động có mụcđích, có kế hoạch của chủ thể QLGD lên đối tượng nhằm đạt mục tiêu giáo
Trang 21dục đề ra Nhưng QLGD không đơn thuần là những tác động theo một hướng.QLGD trọng tâm là quản lý hoạt động dạy và hoạt động học, do đó những tácđộng của nó lên hệ thống phải là những tác động kép Tác động lên hoạt độngdạy, đồng thời chuyển hoá hoạt động dạy thành hoạt động học để đạt tới mụctiêu giáo dục, và chính trong quá trình thực hiện sự chuyển hoá đó, nó sẽ phảiđiều hành, phối hợp tác động của các lực lượng khác, nhằm tạo ra một sứcmạnh tổng hợp tác động đến hoạt động giáo dục và đào tạo
Các quan điểm trên tuy có sự diễn đạt khác nhau, nhưng đều toát lênbản chất của QLGD đó là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản
lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện
có hệ quả mục tiêu giáo dục đề ra
Các quá trình giáo dục thường được diễn ra trong thời gian dài, nhữngphẩm chất nhân cách của HS mà giáo dục đang đào tạo ngày nay phải đápứng được những yêu cầu của hiện tại và tương lai khi người học đã rời ghếnhà trường
Các hiện tượng giáo dục bao giờ cũng là các hiện tượng đặc biệt phứctạp, chính vì vậy QLGD đòi hỏi vừa phải có tính cụ thể, vừa phải có tính toànvẹn sâu sắc
Quản lý để giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của phát triểnphải lấy điểm tựa dựa vào nhà trường các chủ trương chính sách quản lý phải
Trang 22xuất phát từ đời sống nhà trường, coi trọng tính đặc thù của nhà trường.QLGD phải lấy nhà trường làm cơ sở là thể hiện tinh thần dân chủ hoá xã hộikhi đất nước không phải chỉ có một thiểu số dân cư đi học mà là 100% dân cư
đi học, là giúp đỡ cho nhà trường đề ra được kế hoạch phát triển với mục tiêuphát triển cộng đồng và mục tiêu chung của đất nước Nhà trường tổ chứcđược quy trình GD&ĐT làm gia tăng được chất lượng nguồn nhân lực của
cộng đồng, để thế hệ trẻ của cộng đồng “được học”, “học được” và “được phát triển tài năng”.
1.2.2.3 Chức năng quản lý giáo dục.
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thôngqua đó chủ thể tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhấtđịnh
Các nhà nghiên cứu về quản lý đã đưa ra nhiều đề xuất về nội dung củacác chức năng quan lý như :
Tác giả Henry Fayol (1841 – 1925) đưa ra năm chức năng của quản lý :
Kế hoạch hóa - tổ chức - chỉ huy - phối hợp - kiểm tra
Theo tài liệu tập huấn cán bộ giáo dục của UNESCO đề ra 8 chức nănglà: xác định nhu cầu – thẩm định và phân tích dữ liệu – xác định mục tiêu - kếhoạch hóa – triển khai công việc – điều chỉnh – đánh giá – sử dụng liên hệngược và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo
Theo tác giả G.Kh.Pôpốp, các chức năng của quản lý là : Quản lý sơ bộ(xác định mục tiêu, dự đoán, kế hoạch hóa) – Quản lý cụ thể (tổ chức, ra lệnh,chỉ huy) – Kiểm tra (kiểm kê – phân tích – liên hệ ngược)
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí : quản lý là
hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá (planning); tổ chức(organizing); lãnh đạo/chỉ đạo (Leading) và kiểm tra (controlling)
Trang 23Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý
Trong bốn chức năng quản lý, chức năng kế hoạch hóa là nền tảng củaquản lý Bởi vì đó là việc xây dựng các định hướng và đưa ra quyết định tổchức thực hiện trong thời gian nhất định của tổ chức Chức năng kế hoạch hóabao gồm việc xác định sứ mệnh, dự báo tương lai của tổ chức trên cơ sở thuthập thông tin về thực trạng của tổ chức từ đó xác định mục tiêu dựa trên việctính toán các nguồn lực, các giải pháp Mục đích của việc lập kế hoạch là lựachọn một đường lối hành động mà một tổ chức nào đó và mọi bộ phận của nóphải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức đã đề ra
Chức năng tổ chức là việc sắp xếp, tuyển chọn xác định một cơ cấuđịnh trước về các vai trò của từng con người đảm đương trong một cơ sởthông qua việc phân tích công việc, đề ra nhiệm vụ để lựa chọn người vàoviệc và cả việc tính toán phân bổ nguồn lực khác để xây dựng cơ chế làm việcthích hợp Như vậy tổ chức là một công cụ của quản lý
Để tổ chức cơ sở hoạt động có hiệu quả, người quản lý cần thực hiệnchức năng chỉ đạo Đây là quá trình tác động điều khiển con người làm cho họnhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức Ngườiquản lý phải ra quyết định, có thông báo, hướng dẫn để động viên mọi thànhviên trong tập thể hăng hái làm việc
Kế hoạch hóa
Chỉ đạo
Tổ chức
Tin QL
Trang 24Chức năng kiểm tra là việc đánh giá và điều chỉnh các hoạt động nhằmđạt tới các mục tiêu của tổ chức đã đề ra Kiểm tra là đánh giá kết quả củaviệc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạnchế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo Để công tác kiểm trađánh giá chính xác, sử dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi cần xây dựng cáctiêu chí (chuẩn) để thực hiện kiểm tra đánh giá, sử dụng các phương pháp phùhợp, thu thập thông tin đầy đủ, sau đó phân tích thông tin để đánh giá
Các chức năng quản lý gắn bó mật thiết với nhau, đan xen lẫn nhau, tạothành một chu trình quản lý và có mối quan hệ biện chứng, tạo sự kết nối giữacác chu trình theo hướng phát triển Trong đó thông tin thông tin QLGD đóngvai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như là “mạch máu” của hoạt độngquản lý luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện cácchức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định trong quản lý
1.2.2.4 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD Nhà trường chính là nơidiễn ra các quá trình giáo dục có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhómdân cư nhất định nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, là tổ chứcgiáo dục mang tính quyền lực nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáodục - đào tạo thế hệ trẻ thành những người có tri thức, sức khoẻ, nhân cách.Giáo dục nhà trường giữ vai trò trọng yếu tạo ra sức lao động mới cho xã hộiđặc biệt là đòi hỏi hàm lượng chất xám trong lao động ngày càng cao
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế vừa có tính sư phạm, vừa có tính kinh tế Các vấn đề tổ chức - sư phạm
và
kinh tế - xã hội lồng ghép vào nhau” [3, tr.40].
Nghĩa là cần phải đào tạo HS trở thành người lớn có trách nhiệm tự lậpvới ba giấy thông hành đi vào đời: cơ bản giấy thông hành học vấn (người học
Trang 25có tri thức cơ bản thích ứng với bước tiến của văn hoá chung giấy thông hành
kỹ thuật nghề nghiệp (có kỹ năng nghề phổ thông để tự lập được) Giấy thônghành kinh doanh (có tư duy kinh tế, có khả năng tham gia lao động, kinhdoanh có hiệu quả)
Quản lý theo nghĩa hẹp có thể hiểu là quản lý tất cả các hoạt động trongnhà trường như QLQTDH, giáo dục, tài chính, nhân lực, hành chính, môitrường giáo dục, trong đó quản lý DH - giáo dục là trọng tâm
Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm 2 loại quản lý:Một là: quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm địnhhướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển (cáccấp quản lý nhà nước và sự hợp tác, giám sát của xã hội, cộng đồng)
Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổchức chỉ đạo và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra(thực hiện các chức năng quản lý của một tổ chức)
Mục tiêu quản lý của nhà trường thường được cụ thể hoá trong kếhoạch năm học là nhiệm vụ chức năng mà nhà trường sẽ thực hiện suốt trongnăm học
Quản lý nhà trường phải bao quát mười vấn đề trong kế hoạch pháttriển nhà trường Mười vấn đề đó là: Mục tiêu, nội dung phương pháp, thày-lực lượng, trò-đối tượng, hình thức, điều kiện, môi trường, bộ máy và quy chếđào tạo [3, tr.43]
Tác giả Trần Khánh Đức đã khái quát “Quản lý trường học là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội”
[12, tr.374]
1.2.3 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm lớp
Trang 26Để tìm hiểu về vị trí, vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trước hết cần
xác định về các thuật ngữ giáo viên, giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường
học
1.2.3.1 Giáo viên :
Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam năm 2005, Điều 70 nêu rõ:
Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường
và trong các cơ sở giáo dục Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên ở các cơ sở đại học được gọi là giảng viên
Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dụctrong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáoviên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thưhoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn) đối với trường trung học có cấp THPT,giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đốivới trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS)
* Đặc thù lao động sư phạm của giáo viên trung học phổ thông là:
- Lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao
- Đối tượng của lao động sư phạm là học sinh phần lớn từ 15 đến 18 tuổi
- Phương tiện lao động chủ yếu của giáo viên là phương tiện tinh thần
- Thời gian lao động trên lớp của giáo viên khó tách bạch khỏi thời gianlao động ngoài giờ lên lớp Bất cứ lúc nào, người giáo viên vẫn có thể nghĩ vềcông việc sư phạm của mình
- Mặt kinh tế của lao động sư phạm gắn chặt với mặt giáo dục
- Hiệu quả là hiệu suất lao động của người giáo viên, là chất lượng thực
hiện mục tiêu đào tạo [12, tr.37]
1.2.3.2 Nhiệm vụ của giáo viên
Trang 27Hiện nay, nhiệm vụ của giáo viên trường trung học được quy định cụthể theo Điều 31 - Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổthông và trường phổ thông có nhiều cấp học, trong các nhiệm vụ cơ bản đượcquy định cụ thể như sau:
(1) Giáo viên bộ môn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạchdạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng BộGiáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục
do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu tráchnhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sưphạm ứng dụng;
b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng cácphương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sángtạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh;
d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng,chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trướchọc sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo
vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồngnghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác,
Trang 28g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
(2) Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 củaĐiều này, còn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nộidung, phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm họcsinh, với hoàn cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp
và của từng học sinh;
b) Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng;
c) Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các giáo viên bộ môn,Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ ChíMinh, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập,rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh lớp mình chủ nhiệm và góp phần huyđộng các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường;
d) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học; đềnghị khen thưởng và kỷ luật học sinh; đề nghị danh sách học sinh được lênlớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ
hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ học sinh;
đ) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng
1.2.3.3 Giáo viên chủ nhiệm lớp.
Theo tác giả Hà Nhật Thăng, người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trườngphổ thông với những quan niệm cụ thể như sau:
Trong nhà trường phổ thông, lớp học là một đơn vị hành chính cơ bản,một tế bào hữu cơ của hệ thống nhà trường Mỗi lớp học gồm một số lượnghọc sinh ổn định, có lứa tuổi và trình độ nhận thức tương đương, cùng nhautiến hành các hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ thểdục thể thao, vui chơi, giải trí…Các hoạt động giáo dục và dạy học của nhàtrường chủ yếu diễn ra theo đơn vị lớp học Vì thế, sự trưởng thành của mộtlớp học gắn liền với sự trưởng thành và phát triển của mỗi thành viên trong
Trang 29lớp học và những thành tích của nhà trường.Xây dựng một tập thể lớp vữngmạnh là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường phổ thông Do tầm quan trọngcủa lớp học đối với sự hình thành nhân cách của học sinh, các trường phổthông đều cử ra một giáo viên chủ nhiệm – Người chịu trách nhiệm quản lý
và giáo dục, người điều khiển và phối hợp mọi hoạt động của các thành viêntrong lớp cũng như tổ chức các mối quan hệ giữa lớp học với nhà trường, giađình và xã hội.Nói cách khác:” giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông làngười thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện một lớp học” [28, Tr.179]
Như vậy, giáo viên chủ nhiệm lớp là người thay mặt hiệu trưởng, đượchiệu trưởng cử ra làm công tác quản lý và giáo dục học sinh trong lớp học cụthể và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh trongtập thể đó.Có thể nói, người GVCNL là cầu nối, người giữ mối liên lạcthường xuyên giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường, giữa giáo dụcnhà trường với gia đình và các tổ chức xã hội khác
Giáo viên chủ nhiệm lớp là người góp phần quyết định sự thành cônghay thất bại trong công tác giáo dục của nhà trường nên những giáo viên cókinh nghiệm, có uy tín , được các em quý trọng mới được cử làm giáo viênchủ nhiệm lớp Giáo viên chủ nhiệm lớp là người có vị trí đặc biệt quan trọngtrong công tác quản lý giáo dục nhà trường Giáo viên chủ nhiệm lớp là nhânvật trung tâm, là linh hồn của lớp học, tập hợp đoàn kết học sinh trong tập thểlớp Giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò to lớn trong tổ chức mọi hoạt độngnhằm giáo dục học sinh
Giáo viên chủ nhiệm lớp là người thay mặt và đại diện cho quyền lợichính đáng của tập thể học sinh, thay mặt học sinh giải quyết một số vấn đề
có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ hợp lí của các em Giáo viên chủnhiệm cũng là người phản ánh với hiệu trưởng, vời giáo viên bộ môn, các lựclượng giáo dục trong và ngoài nhà trường các nguyện vọng chính đáng củacác em để các lực lượng giáo dục này có cách giải quyết phù hợp Giáo viên
Trang 30chủ nhiệm là người đại diện cho tập thể lớp họp bàn về quyền lợi và tráchnhiệm của tập thể học sinh, đại diện cho lớp đề nghị khen thưởng hay kỉ luậthọc sinh thuộc lớp mình phụ trách, họ cũng có quyền biểu quyết trong hộiđồng khen thưởng hay kỷ luật khi các hội đồng này giải quyết các vấn đề cóliên quan trực tiếp đến học sinh lớp mình đảm nhận.
Giáo viên chủ nhiệm lớp là người tổ chức, phối hợp, và thống nhất cáclực lượng giáo dục và tác động giáo dục tới tập thể học sinh Chính giáo viênchủ nhiệm là người tạo ra sự thống nhất giữa các tác động giáo dục trong nhàtrường, giữa các giáo viên bộ môn đến tập thể học sinh, sự thống nhất giữacác đoàn thể, các tổ chức xã hội và gia đình trong công tác quản lí và giáo dụchọc sinh
Như vậy, có thể khái quát về giáo viên chủ nhiệm lớp:
* Dưới góc độ thông tin trong quản lí thì GVCNL được xem như là mộttrong những nút thông tin quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống thông tintrong nhà trường với các chức năng thu nhận và xử lí, truyền đạt thông tin
* Dưới góc độ giáo dục học thì GVCNL là một chủ thể giáo dục gần gũi,thân thiết nhất với đối tượng giáo dục (tập thể học sinh và từng học sinh) vớinhiệm vụ là giáo dục mỗi cá nhân học sinh thông qua việc xây dựng tập thể họcsinh, giáo dục cá nhân học sinh bằng tập thể và trong tập thể
* Dưới góc độ quản lý thì GVCNL là nhà quản lý thực hiện các chứcnăng quản lý đối với các hoạt động của tập thể lớp và từng học sinh, khai thác
và phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng giáo dục như: giáo viên bộmôn, đoàn thanh niên, hội phụ huynh học sinh, cộng đồng xã hội trong việcgiáo dục học sinh
1.2.3.4 Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp.
Tác giả Hà Nhật Thăng cũng khẳng định giáo viên chủ nhiệm, ngoàicác nhiệm vụ của một giáo viên còn có những nhiệm vụ sau đây:
Trang 31 Tập hợp học sinh của lớp vào một tập thể, biến lớp học mới tập hợpđầu năm thành một tập thể mạnh, biết đoàn kết yêu thương giúp đỡ lẫnnhau để cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung, thành một môi trường
và một phương tiện để giáo dục học sinh
Tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng cho tập thể học sinh bằngcác cuộc thi đua học tập và tu dưỡng, bằng các hoạt động văn hóa vănnghệ, thể dục thể thao, tham quan du lịch, đưa học sinh vào guồng máyhoạt động tích cực
Phối hợp với các giáo viên bộ môn tiến hành các hoạt động giảngdạy.Giáo viên chủ nhiệm là người thiết kế và thực thi các kế hoạch phốihợp giáo dục trong năm học
Giáo viên chủ nhiệm là người chủ động đưa ra các kế hoạch phối hợpvới chi đoàn Thanh niên trong lớp để giáo dục học sinh
Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường(như Hội cha mẹ học sinh, các đoàn thể và chính quyền địa phương,các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn…) tạo nên một sức mạnh giáodục [28, tr 182]
1.2.3.5 Quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm lớp.
Điều 32, Điều lệ trường THPT quy định: Giáo viên chủ nhiệm ngoàicác quyền hạn được quy đinh của giáo viên giảng dạy còn có những quyềnsau đây:
a) Được dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp mình;b) Được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng và Hội đồng kỷ luật khigiải quyết những vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp mình;
c) Được dự các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm;d) Được quyền cho phép cá nhân học sinh nghỉ học không quá 3 ngày;
đ) Được giảm giờ lên lớp hàng tuần theo quy định khi làm chủ nhiệm lớp
Trang 321.2.3.6 Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp:
a/ Đội ngũ được hiểu là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặcnghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống (tổ chức nhấtđịnh)
b/ Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp bao gồm các giáo viên được Hiệutrưởng phân công làm công tác chủ nhiệm lớp
Trong trường THPT, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thườngđược tổ chức thành tổ chủ nhiệm, dưới tổ chủ nhiệm là các khối chủ nhiệmnhư khối chủ nhiệm khối lớp 10, khối chủ nhiệm khối lớp 11,… hay khối chủnhiệm khối lớp chuyên ban khoa học tự nhiên, chuyên ban khoa học xã hội…
1.3 TRƯỜNG THPT TRONG HỆ THỐNG GDQD.
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ của trường trung học phổ thông.
1.3.1.1 Vị trí của trường trung học phổ thông.
Trường trung học phổ thông là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thốnggiáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng
1.3.1.2 Nhiệm vụ của trường trung học phổ thông
Giáo dục THPT trực tiếp góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội,tiếp tục phát triển và hoàn thiện nhân cách HS, nên giáo dục THPT có vai tròđặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông nói chung, đặc biệttrong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, đang trong thời đại của khoa học kỹ thuật công nghệ vàthông tin thì việc giáo dục HS có đầy đủ những kiến thức khoa học, kỹ năng
cơ bản, năng động sáng tạo sẵn sàng thích ứng nhanh được với sự thay đổicủa xã hội mà không làm mất đi truyền thống văn hoá dân tộc, không bị suyđồi về đạo đức, lối sống là vô cùng cần thiết Trên cơ sở, nền tảng những kiếnthức, kỹ năng HS đã được học ở các lớp dưới, giáo dục THPT tiếp tục củng
Trang 33cố, phát triển kết quả của giáo dục THCS, hoàn thành tiếp học vấn phổ thông,cung cấp những hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp, phát triển
và hoàn thiện nhân cách HS Giáo dục THPT còn được coi như là giữ vai trò
“bản lề” của cả một đời người
Mục tiêu giáo dục THPT được xác định rõ trong Luật Giáo dục năm
2005 là “Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [31, tr.21-22].
Việc thực hiện mục tiêu giáo dục THPT cần quan tâm đặc biệt đến cácvấn đề:
+ Hình thành và củng cố các giá trị về tư tưởng, đạo đức, lối sống phùhợp với mục tiêu chung của giáo dục phổ thông gồm tình yêu gia đình, quêhương, đất nước, tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức giữ gìn và phát huy các giátrị văn hoá, truyền thống dân tộc, có lòng nhân ái, hiểu biết pháp luật, có vănhoá trong ứng xử giao tiếp
+ Củng cố và phát triển những nội dung đã học ở THCS, có những hiểubiết cần thiết về kỹ thuật và hướng nghiệp Có kỹ năng vận dụng kiến thứcvào các tình huống học tập mới vào thực tiễn sản xuất và đời sống
+ Hiểu biết và có kỹ năng rèn luyện thân thể thường xuyên, có khảnăng cảm thụ, đánh giá cái đẹp trong cuộc sống và văn học nghệ thuật, sốnghoà hợp với thiên nhiên và XH
Muốn làm được điều đó đòi hỏi giáo dục THPT phải đổi mới một cáchtích cực và phù hợp tạo đà cho sự phát triển của HS ở các bậc học cao hơnhoặc có thể tham gia lao động sản xuất hoặc bảo vệ tổ quốc
Trang 341.3.2 Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông
Điểu 27 Luật Giáo dục năm 2005 qui định mục tiêu giáo dục trung họcphổ thông như sau:
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển nănglực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bịcho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong đó, Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố
và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấnphổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp,
có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tụchọc đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
1.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trong nhà trường phổ thông, Hiệu trưởng là người đại diện chức tráchhành chính, là người quản lý và lãnh đạo cộng đồng giáo dục, có trách nhiệm
và thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn, chịu trách nhiệm trướcnhà nước và nhân dân, tổ chức và quản lý mọi hoạt động của nhà trường theođường lối giáo dục của Đảng
Với tư cách là nhà quản lý, người Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lýmọi hoạt động của nhà trường, quản lý mọi tổ chức trong nhà trường Hoạtđộng giáo dục của nhà trường chỉ có kết quả cao khi Hiệu trưởng biết huyđộng sự tham gia đồng bộ, nhịp nhàng ăn khớp của các bộ phận trong trườngtrong đó có đội ngũ GVCN Sự phát triển của nhà trường, chất lượng giáo dục
Trang 35và đào tạo toàn diện của nhà trường phải kể đến sự đóng góp đáng kể của độingũ GVCN.
Đội ngũ GVCN là lực lượng nòng cốt trong công tác giáo dục, là độingũ trợ lý quan trọng, trực tiếp quản lý toàn diện các lớp học sinh; Báo cáocho hiệu trưởng những thông tin cần thiết về học sinh, về tập thể lớp, về cáchoạt động giáo dục theo định kỳ và đột xuất Chính họ biết khai thác và pháthuy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông
Việc quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng tập trung vàocác nội dung sau:
1.4.1 Xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp.
Ngay từ đầu năm học, song song với việc lập kế hoạch thực hiện nhiệm
vụ năm học, căn cứ vào qui mô nhà trường: số học sinh, số lớp, số giáo viên hiệncó , căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành Hiệutrưởng trường THPT thực hiện công tác xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệmlớp Công việc này thường được thể hiện qua các nội dung như:
Phân loại và xếp lớp học sinh
Rà soát đội ngũ GVCN năm trước về số lượng, năng lực từ đó thựchiện điều chỉnh và bổ sung đội ngũ
Phân lớp chủ nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm: Việc phân lớp phải ưutiên cho giáo viên có giờ dạy trên lớp, ưu tiên môn có nhiều giờ Lưu ýđến tính liên tục, cố gắng đảm bảo cho GVCN theo liên tục ba năm liềnđối với một lớp, trường hợp đặc biệt mới thay GVCN Đối với lớp mũinhọn của nhà trường phải bố trí GVCN là người có chuyên môn vữngvàng, phải dạy môn được chú ý đầu tư ở lớp đó Đối với những lớp có
học sinh "cá biệt", có nhiều học sinh yếu thì bố trí GVCN cứng rắn, giàu
Trang 36kinh nghiệm trong công tác giáo dục, có những phẩm chất như : nhiệttình, chu đáo, tỉ mỉ…
1.4.2 Thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp.
Để giúp cho các giáo viên chủ nhiệm lớp chủ động thực hiện các nhiệm
vụ và đạt được mục tiêu giáo dục chung của nhà trường, hiệu trưởng nhàtrường cần tổ chức hoạt động xây dựng và thông qua kế hoạch công tác chủnhiệm với tất cả các giáo viên chủ nhiệm lớp, bao gồm các bước: (1) Xác địnhmục tiêu và giao chỉ tiêu giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm; (2) Hướng dẫngiáo viên chủ nhiệm lập kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp; (3) Ban hành cácquy định hội họp và quy chế phối hợp trong quy chế phối hợp trong công tácchủ nhiệm; (4) Duyệt và thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp
1.4.2.1 Xác định mục tiêu và giao chỉ tiêu giáo dục cho GVCN.
Để giúp cho người GVCN có định hướng đúng đắn và hoàn thành tốtchức năng, nhiệm vụ quản lý học sinh của mình ở mỗi lớp, người cán bộ quản lýnhà trường phải đề ra mục tiêu chung cho công tác GVCN của toàn trường đốivới từng năm học Động viên toàn trường hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học
1.4.2.2 Hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm lập kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp
Hiệu trưởng hướng dẫn GVCN xây dựng nội dung công tác GVCNL, coitrọng hình thức, nội dung sinh hoạt, hoạt động tự quản; xây dựng tập thể lớp, chiđoàn vững mạnh toàn diện…Những nội dung thi đua thật cụ thể, chi tiết chotừng hoạt động, cho từng thời kỳ, từng nội dung thi đua Hiệu trưởng cần xâydựng được những chỉ tiêu, tiêu chí, lượng hoá tối đa các nội dung cho cả nămhọc, cho từng kỳ, cho từng đợt thi đua phù hợp với đối tượng học sinh ở các khốilớp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá chính xác, công bằng
+ Có kế hoạch chung của nhà trường về các hoạt động ngoại khoá, laođộng, văn nghệ, thể dục thể thao để GVCN chủ động đề ra kế hoạch hoạtđộng của lớp mình
Trang 37+ Tạo điều kiện cho GVCN được được rèn luyện về chuyên mônnghiệp vụ Những yêu cầu công việc của người quản lý đưa ra phải có tínhthực tế và cái đích cuối cùng của mọi công việc là phải có tác dụng giáo dụccao
1.4.2.3 Xây dựng và quán triệt thực hiện các quy chế hội họp, quy chế phối hợp của đội ngũ GVCN với nhà trường và với các lực lượng giáo dục khác.
Việc giáo dục toàn diện học sinh không chỉ là công việc của riêngGVCNL mà là công việc chung của nhà trường và các lực lượng giáo dụckhác, vì thế để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục học sinh thì rất cầnthiết có sự phối hợp giữa GVCN với nhà trường và các lực lượng giáo dụckhác Để sự phối hợp này ngày càng chuyên môn hóa, càng ăn khớp với nhauhơn thì rất cần thiết có những quy chế về hội họp, quy chế về sự phối hợp Nếu thực hiện tốt điều này thì việc quản lý đội ngũ GVCN của Hiệu trưởngcũng sẽ thuận lợi, sâu sát, chuyên nghiệp hơn
1.4.2.4 Thông qua kế hoạch chủ nhiệm lớp
Hiệu trưởng duyệt và thông qua kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp của độingũ chủ nhiệm lớp vào tháng đầu tiên của năm học Hiệu trưởng hướng dẫn độingũ GVCN xây dựng nội dung công tác GVCN, coi trọng hình thức, nội dungcác tiết sinh hoạt, hoạt động tự quản; xây dựng tập thể lớp, chi đoàn vững mạnhtoàn diện…Yêu cầu GVCN đưa ra những nội dung thi đua thật cụ thể, chi tiếtcho từng hoạt động, cho từng thời kỳ, từng nội dung Hiệu trưởng cần xây dựngđược những chỉ tiêu, tiêu chí, lượng hoá tối đa các nội dung cho cả năm học, chotừng kỳ, cho từng đợt thi đua phù hợp với đối tượng học sinh ở các khối lớp đểtạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá chính xác, công bằng
+ Thông qua kế hoạch chung của nhà trường về các hoạt động ngoạikhoá, lao động, văn nghệ, thể dục thể thao…để GVCN chủ động đề ra kếhoạch hoạt động của lớp mình
Trang 38+ Tạo điều kiện cho GVCN được được rèn luyện về chuyên môn nghiệp
vụ qua các hoạt động thực tế của nhà trường
1.4.3 Chỉ đạo đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện kế hoạch công tác chủ nhiệm
Trong chỉ đạo, Hiệu trưởng phải biết thu thập thông tin nhanh, chínhxác để xử lý kịp thời Mặt khác phải nhanh nhạy phát hiện những chỗ mạnh,chỗ yếu của từng GVCNL trong công tác quản lý lớp để kịp thời uốn nắn,nhắc nhở, phát huy…
Việc chỉ đạo đội ngũ GVCNL của Hiệu trưởng được thực hiện thôngqua các hình thức sau:
1.4.3.1 Thông qua cuộc họp định kỳ :
Nhà trường tổ chức các cuộc họp định kì như họp giao ban, họp hộiđồng giáo dục, sơ kết học kì, tổng kết năm học, họp định kì tổ chủ nhiệm, hộinghị cha mẹ học sinh trên cơ sở thông qua các kế hoạch thực hiện nhiệm vụhàng tuần, hàng tháng, hàng kì và cả năm học Hiệu trưởng thường xuyêndành thời gian để kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ của đội ngũGVCNL để từ đó thu thập thông tin về việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũnày đề từ đó có các biện pháp chỉ đạo và xử lí tình huống nảy sinh như chỉđạo công tác quản lí lớp, việc thu các khoản đóng góp, việc phát hiện và giáodục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt
1.4.3.2 Thông qua các tổ chức giáo dục :
Mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp thường cũng là các giáo viên bộ môn, vìthế họ không chỉ sinh hoạt chuyên môn ở tổ chủ nhiệm mà còn tham gia sinhhoạt chính ở các tổ chuyên môn, Công Đoàn Hoạt động của các tổ chức nàykhông chỉ chuyên sâu về chuyên môn của mình mà còn coi việc thực hiệnnhiệm vụ GVCNL làm một trong những tiêu chí đánh giá thi đua, đánh giánăng lực của các thành viên, vì thế Hiệu trưởng thông qua việc chỉ đạo Hoạtđộng của các tổ chức này để chỉ đạo nâng đội ngũ GVCNL
Trang 391.4.3.3 Thông qua việc tổ chức các hoạt động, phong trào :
Xuyên suốt năm học thường xuyên phát động các phong trào thi đua theophát động của ngành, thi đua lập thành tích chào mừng những ngày lễ lớn, cáchoạt động ngoại khóa Để nâng cao được hiệu quả của phong trào này từ đónâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh, Hiệu trưởng phải bám sátphong trào để chỉ đạo sâu sát đội ngũ GVCNL, kịp thời uốn nắn những lệch lạc,sai sót và có biện pháp giúp đỡ, hỗ trợ các GVCNL khi họ gặp khó khăn
1.4.3.4 Thông qua tổ chức trao đổi kinh nghiệm về công tác GVCNL.
Để nâng cao hiệu quả công tác của đội ngũ GVCNL, giúp họ ngày càng
có nhiều kinh nghiệm hơn, chuyên nghiệp hơn trong công tác, Hiệu trưởngcần thiết tổ chức các cuộc họp trao đổi kinh nghiệm cho đội ngũ GVCNL Cóthể tổ chức thông qua nhiều hình thức đa dạng như: viết tham luận về côngtác chủ nhiệm lớp, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm giữa các khối chủ nhiệm vàgiao lưu với các đơn vị giáo dục khác
1.4.4 Phối hợp các lực lượng trong công tác chủ nhiệm lớp trong trường THPT.
Hiệu quả của công tác chủ nhiệm lớp không phải là thành quả giáo dụcriêng của mỗi cá nhân giáo viên chủ nhiệm lớp mà đó là kết quả của một tậpthể các lực lượng giáo dục trong và cả ngoài nhà trường như: giáo viên bộmôn, đoàn thể, gia đình, xã hội
Nhằm nâng cao được hiệu quả giáo dục toàn diện của đội ngũ GVCNL,Hiệu trưởng phải tranh thủ sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng giáodục trong và ngoài nhà trường Thông qua các việc chỉ đạo hoạt động của các
tổ chuyên môn, thông qua quy chế phối kết hợp hoạt động của nhà trường vớicác tổ chức như Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Công Đoàn, Hội Cha Mẹ họcsinh, Chính quyền sở tại…một trong những nội dung cần phối kết hợp thựchiện chính là mảng công tác chủ nhiệm lớp Việc tranh thủ sức mạnh tập thể
Trang 40này không chỉ nâng tầm công tác chủ nhiệm lớp lên thành một công việcchính quy hơn, mà còn giúp đội ngũ GVCNL hoàn thành công việc của mìnhthuận lợi hơn vì nhận được sự giúp đỡ chia sẻ của tất cả các lực lượng giáodục trong và ngoài nhà trường, giúp việc quản lí đội ngũ của Hiệu trưởngcũng nhẹ nhàng và hiệu quả hơn.
1.4.5 Kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm lớp trong trường THPT
Việc kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác GVCNL của Hiệu trưởngdiễn ra thường xuyên và không chỉ có tính định kì hàng tuần, hàng tháng màcòn thông qua hồ sơ, các loại sổ sách, báo cáo hàng tháng, học kỳ Và việckiểm tra đột xuất là vô cùng cần thiết Việc kiểm tra này không chỉ giúp hiệutrưởng đánh giá, xếp loại thi đua GVCN một cách khá chính xác mà còn giúpHiệu trưởng nắm vững tình hình, kịp thời uốn nắn những sai sót, khen thưởng
kỉ luật một cách khách quan, thu thập được nhiều thông tin để kịp thời điềuchỉnh các nội dung, các biện pháp quản lí cho phù hợp, từ đó xây dựng ngàycàng hợp lí các nội dung quản lí của Hiệu trưởng về công tác chủ nhiệm lớp
1.5 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GVCN Ở TRƯỜNG THPT
1.5.1 Yếu tố chủ quan
(1) Năng lực đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp
Giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi chưa hẳn đã phải là một giáo viên dạygiỏi mà phải là một giáo viên có kĩ năng quản lí (Kỹ năng nắm vững học sinh
và tập thể học sinh một cách toàn diện; kỹ năng ứng sử, giao tiếp ; năng lựccảm hoá, thuyết phục, xây dựng uy tín; kỹ năng kế hoạch hoá công tácGVCNL; kỹ năng tổ chức lãnh đạo mọi hoạt động tập thể; kỹ năng phối hợpvới các lực lượng giáo dục học sinh ) Thực tế cho thấy không phải GVCNLnào cũng đáp ứng được những phẩm chất này, hơn nữa công tác GVCNL lạikhông được đào tạo một cách bài bản mà chủ yếu được đúc rút từ những kinh