1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

120 465 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 7,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠNTỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠNTỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THANH HÒA

QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC

GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠNTỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬChuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THANH HÒA

QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC

GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠNTỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Thu Hương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tintrích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2003

Tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu tôi đã luôn nhận được sựgiúp đỡ, chỉ bảo, đóng góp ý kiến hết sức nhiệt tình và quý báu của PGS.TS.Trần Thị Thu Hương để hoàn thành Luận văn với đề tài đã chọn Tôi vô cùngkính trọng và chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó!

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Ban Giám hiệu, PhòngĐào tạo Sau đại học, khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhânvăn, Đại học quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trongsuốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ,động viên, cổ vũ, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hòa

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

GD - ĐT : giáo dục - đào tạo

GDTX & DN : Giáo dục thường xuyên và dạy nghề

Trang 6

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 7

Chương 1:

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HUYỆN SÓC SƠN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA SAU 15 NĂM ĐỔI MỚI7 1.1 Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn 7

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sóc Sơn 7 1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà Nội về phát triển giáo dục - đào tạo trong công cuộc đổi mới 15

1.2 Thực trạng công tác giáo dục - đào tạo của huyện Sóc Sơn sau 15 năm đổi mới (1986 - 2000) 21

1.2.1 Công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn sau 15 năm đổi mới 21 1.2.2 Vấn đề đặt ra đối với công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn sau

15 năm đổi mới 30

Chương 2:

ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 34 2.1 Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục - đào tạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn từ năm

2000 đến năm 2005 34

2.1.1 Đảng bộ huyện Sóc Sơn cụ thể hóa chủ trương của các cấp bộ Đảng

về phát triển giáo dục - đào tạo từ năm 2000 đến năm 2005 34 2.1.2 Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện phát triển công tác giáo dục - đào tạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn từ năm 2000 đến năm 2005 43

2.2 Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo phát triển giáo dục - đào tạo phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2006 - 2010) 54

Trang 7

2.2.1 Chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ mới

(2006 - 2010) 54

2.2.2 Đảng bộ huyện Sóc Sơn tổ chức chỉ đạo thực hiện phát triển giáo dục - đào tạo (2006 - 2010) 61

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 73

3.1 Nhận xét 73

3.1.1 Thành tựu đạt được 73

3.1.2 Một số hạn chế 81

3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 86

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 102

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh - người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà vănhóa kiệt xuất của dân tộc ta đã đi xa, nhưng Người đã để lại cho dân tộc tanhững di sản vô cùng to lớn, một trong những di sản có tính thời đại sâu sắc

chính là chiến lược “trồng người” Người đã từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết” [59, tr.105]

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản ViệtNam sớm nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo.Đặc biệt, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7/1996) Đảng đã

xác định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [26,

tr.31] Quan điểm này tiếp tục được nâng lên tại Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ IX: “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [24, tr.54].

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới toàn diện ngành giáo dục - đào tạonước ta đã có những chuyển biến đáng kể nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhânlực cho phát triển kinh tế - xã hội

Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước, là đầu não chính trị, hành chínhquốc gia; trung tâm lớn về văn hóa, kinh tế, khoa học, giáo dục và giao dịchquốc tế cả nước Chính vì vậy, phát triển Thủ đô là một trọng điểm trongchiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiệnnay Muốn phát triển được kinh tế - xã hội của Thủ đô thì việc quan tâm đầu

tư không chỉ dành riêng cho khu vực nội thành mà khu vực ngoại thành cũng

Trang 9

cần được quan tâm đầu tư thích đáng nhằm phát huy được các thế mạnh củatừng địa phương, đóng góp vào sự phát triển chung của Thủ đô

Sóc Sơn là một huyện ngoại thành phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, đượccoi như một đô thị vệ tinh của Thành phố Mặc dù là một huyện còn nhiềukhó khăn nhưng trong tương quan so sánh với các địa phương khác của Thànhphố, thì Sóc Sơn có những tiềm năng lớn về tài nguyên, khí hậu, lao động vàđặc biệt là trí tuệ con người Với mục tiêu từng bước phát triển kinh tế - xãhội với tốc độ nhanh, hiệu quả cao, toàn diện và bền vững theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa… không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, trở

thành huyện phát triển của Thủ đô Hà Nội, Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc

Sơn đã rất quan tâm đến công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện nhằmnâng cao dân trí, xây dựng đội ngũ lao động trình độ cao đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội của huyện, đóng góp vào sự phát triển chung củaThủ đô Hà Nội và cả nước

Trong thời kỳ 2000 - 2010, được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp củaTrung ương Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà Nội và Đảng bộ huyện Sóc Sơn,công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến lớn.Bên cạnh đó, công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện cũng gặp nhiềukhó khăn về cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục giữa các ngành học, cấp họccòn chưa đồng đều, cơ cấu đào tạo, chất lượng giáo dục chưa đáp ứng đượcyêu cầu của xã hội về trình độ nhân lực… Chính vì vậy, việc tìm hiểu vai tròlãnh đạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn; quá trình vận dụng quan điểm, đườnglối của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà Nội về phát triển giáo dục -đào tạo trên địa bàn huyện là việc làm có ý nghĩa to lớn Xuất phát từ suy nghĩ

đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Quá trình lãnh đạo công tác giáo dục - đào tạo của Đảng bộ Huyện Sóc Sơn từ năm 2000 đến năm 2010” làm Luận văn

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề giáo dục - đào tạo từ trước tới nay đã nhận được sự quan tâmtìm hiểu, đầu tư nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học, các cơ quan, tổ

Trang 10

chức trong và ngoài nước Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đãđược công bố, có thể kể ra như sau:

Thứ nhất là các công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục - đào tạo nói chung như: Giáo dục 10 năm đổi mới và chặng đường trước mắt của tác giả Trần Hồng Quân, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996; Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI của Gs Phạm Minh Hạc, Nbx Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; Toàn cảnh giáo dục - đào tạo Việt Nam của tác giả Nguyễn Quang Hưng, Nxb Chính trị Quốc, Hà Nội, 2000; Giáo dục phổ thông với chất lượng nguồn nhân lực Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản của tác giả Đặng Thị Thanh Huyền, Nxb Khoa học Xã hội năm 2001; Nhà trường phổ thông qua các thời kỳ lịch sử của tác giả Nguyễn Đăng Tiến, Nxb Viện khoa học giáo dục Việt Nam năm 2001; Suy nghĩ về các giải pháp phát triển giáo dục phổ thông nước ta hiện nay của tác giả Trần Viết Lưu đăng trên Tạp chí Giáo dục số 92 năm 2002; Chiếc lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Viện nghiên cứu phát triển giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Gs Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: Chiến lược phát triển của Đặng Bá Lãm, Nxb Giáo dục, 2003; Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn đề và giải pháp của Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Hồ Chí Minh với công tác giáo dục trong nhà trường, Nxb Lao

động, Hà Nội năm 2010…

Thứ hai là các công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục - đào tạo ở các địa phương cụ thể như: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006, Phạm Thị Hồng Thiết, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo

sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1991 đến năm 2000, Lương Thị Hòe, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2005, Nguyễn

Trang 11

Thị Quế Liên, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2006, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Giáo dục - Đào tạo Phú Thọ: Sự nghiệp “ trồng người” trên mảnh đất cội nguồn của Thu Hà, Việt Cường, Tạp chí Đông Nam Á, số 11 năm 2004; Phát huy truyền thống dạy và học trên vùng đất Tổ của tác giả Phan

Văn Lân, Tạp chí Thương mại số 13 năm 2005…

Thứ ba là các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến huyện Sóc Sơn có các đề tài: Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991 - 2000, Trần Thị Phương Thảo, Khóa luận cử nhân Lịch sử năm 2001; Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở địa phương thời kỳ 1992 - 2000, Lê Tiến Dũng, Khóa luận cử nhân Lịch sử năm 2001; Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 1986 - 2005, Lê Tiến Dũng, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử năm 2007; Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn,

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Sóc Sơn, Hà Nội, 2010… Những công trìnhnêu trên đã đề cập tới một vài khía cạnh trong toàn bộ quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn nhưng chưa có công trình cụ thể nàonghiên cứu về công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện Hầu hết các vấn

đề liên quan đến giáo dục - đào tạo mới chỉ được đề cập đến trong các báo cáotổng kết của các ban ngành chức năng của huyện Chính vì vậy, đề tài đượcthực hiện với mong muốn làm rõ thêm sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện vớicông tác GD - ĐT huyện Sóc Sơn thời kỳ 2000 - 2010 đóng góp vào sự pháttriển kinh tế - xã hội của huyện

3 Muc đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích: Làm sáng tỏ một cách khách quan và toàn diện quá trình

lãnh đạo, chỉ đạo một cách sáng tạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn trong việcvận dụng chủ trương của Đảng về công tác giáo dục - đào tạo trên địa bànhuyện thời kỳ 2000 - 2010, qua đó khẳng định tầm quan trọng của công tác

Trang 12

giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

* Nhiệm vụ:

- Làm rõ những yếu tố tác động tới sự phát triển của giáo dục - đào tạo

của huyện Sóc Sơn từ năm 2000 đến năm 2010

- Hệ thống hóa quan điểm của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thành phố

Hà Nội và sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn trong lãnh đạo,chỉ đạo công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện thời kỳ 2000 - 2010

- Đánh giá những thành tựu đạt được, những hạn chế trong công tácgiáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện từnăm 2000 đến năm 2010, qua đó rút ra một số kinh nghiệm cho công tác giáodục - đào tạo của huyện thời gian tiếp theo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng: Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Sóc Sơn quán triệt

quan điểm, đường lối của Trung ương Đảng và Đảng bộ Thành phố Hà Nộitrong lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục - đào tạo trên địa bànhuyện từ năm 2000 đến năm 2010

* Phạm vi: Khảo sát trường học trên địa bàn huyện Sóc Sơn từ năm

2000 đến năm 2010

5 Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tài liệu

Tài liệu gốc: Các văn kiện của Đảng, Nhà nước, HĐND, UBND Thành

phố Hà Nội và Huyện Sóc Sơn về công tác giáo dục – đào tạo; Các bài phátbiểu, các tác phẩm, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đãđược xuất bản hoặc in trên các tạp chí (Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Giáodục ); Các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, Kế hoạch, Chươngtrình, Đề án…của Đảng bộ Thành phố, Đảng bộ huyện Sóc Sơn về giáo dục –đào tạo; Các báo cáo tổng kết năm học của Phòng Giáo dục huyện Sóc Sơn

Tài liệu tham khảo: các công trình nghiên cứu của các cá nhân, tập thể

đã được xuất bản thành sách hoặc đăng trên các tạp chí về công tác giáo dục –

Trang 13

đào tạo; Các khóa luận, Luận văn, Luận án của các tác giả đã được công nhận

về công tác giáo dục - đào tạo

* Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng tưtưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam về giáo dục - đào tạo

- Sử dụng phương pháp lịch sử nhằm mô tả đúng sự thật lịch sử đã diễn

ra, kết hợp phương pháp logic, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổnghợp sự kiện lịch sử, kết hợp khảo sát thực tiễn tại địa phương nghiên cứu

6 Đóng góp của Luận văn

- Tái hiện một cách tương đối toàn diện, cụ thể các chủ trương, biệnpháp thực hiện cũng như kết quả thực hiện của Đảng bộ huyện và nhân dânSóc Sơn về công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện từ năm 2000 đếnnăm 2010

- Từ những thành công, hạn chế của công tác giáo dục - đào tạo trong

10 năm (2000 - 2010) luận văn góp phần cung cấp các dữ liệu lịch sử cho quátrình bổ sung về chủ trương thực hiện công tác giáo dục - đào tạo của Đảng

bộ huyện trong thời gian tiếp theo

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,nội dung chính của Luận văn chia thành 3 chương, 6 tiết

Chương 1: Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục - đào tạo huyệnSóc Sơn và những vấn đề đặt ra sau 15 năm đổi mới

Chương 2: Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo công tác giáo dục - đàotạo từ năm 2000 đến năm 2010

Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Trang 14

Chương 1 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HUYỆN SÓC SƠN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA SAU 15 NĂM ĐỔI MỚI 1.1 Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sóc Sơn

* Vị trí địa lý và lịch sử

Sóc Sơn là một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội, nằm cách trungtâm thành phố khoảng 35km về phía Bắc, giới hạn từ 22043’ đến 22o46’ vĩ độBắc, 105075’ đến 105097’ kinh độ Đông

Phía Tây huyện giáp huyện Mê Linh (ngoại thành Hà Nội) Phía Bắchuyện giáp huyện Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) với ranh giới tự nhiên là dòngsông Công Phía Đông huyện giáp 2 huyện là Hiệp Hòa (Bắc Giang) và YênPhong (Bắc Ninh) với ranh giới tự nhiên là dòng sông Cầu và sông Cà Lồ.Phía Nam huyện giáp huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội) với ranh giới tựnhiên là dòng sông Cà Lồ

Ngày 5/7/1977 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 178 - QĐ/ CP,hợp nhất các huyện theo vùng quy hoạch của tỉnh Vĩnh Phúc Theo Quyếtđịnh đó, huyện Sóc Sơn được hình thành trên cơ sở hợp nhất hai huyện ĐaPhúc và Kim Anh Đến ngày 1/4/1979, sau khi chiến tranh biên giới kết thúc,Chính phủ ra Quyết định chuyển huyện Sóc Sơn của tỉnh Vĩnh Phúc về trựcthuộc Thành phố Hà Nội Kể từ thời điểm đó, huyện Sóc Sơn bao gồm 25 xã

và 1 Thị trấn (trung tâm Thị trấn đặt trên địa bàn của 2 xã là Phù Linh và TiênDược); địa giới này được giữ nguyên cho tới ngày nay với tổng diện tích tựnhiên là 30 651,24ha

Huyện Sóc Sơn là cửa ngõ của Thủ đô đi Tây Bắc - Việt Bắc, trở thànhđầu mối giao thông quan trọng nối liền Thủ đô Hà Nội với các vùng côngnghiệp, các trung tâm dịch vụ lớn trong khu vực tam giác kinh tế thông quacác tuyến đường lớn: Đường Quốc lộ 3 (đi lên Việt Bắc); Đường Quốc lộ 2(lên Tây Bắc); Đường Đò Vát (sang Bắc Giang); Đường Cao tốc Bắc Thăng

Trang 15

Long - Nội Bài (nối huyện Sóc Sơn với Thủ đô Hà Nội); Đường 18 (nối liềnvành đai kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh)

Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có Cảng hàng không Sân bay Quốc tếNội Bài, tuyến đường quốc lộ 3 - đường giao thông huyết mạch nối các tỉnhphía Bắc với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền trong, đường sắt Hà Nội - TháiNguyên chạy qua ga Đa Phúc và ga Trung Giã nằm ở hai đầu của huyện,nhiều khu công nghiệp lớn đã và sẽ hình thành Tất cả những yếu tố đó tạocho Sóc Sơn những điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hộihuyện Sóc Sơn nói riêng và Thủ đô Hà Nội nói chung

Theo quy hoạch phát triển Thủ đô Hà Nội, với vị trí địa lý quan trọngnhư vậy, trong tương lai Sóc Sơn là một trong những hướng quan trọng đểphát triển và mở rộng Thủ đô lên phía Bắc, lấy sông Hồng làm trung tâm Đây

là điều kiện thuận lợi để Sóc Sơn trao đổi, giao lưu kinh tế, văn hóa, mở rộngthị trường, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước tạo cơ sở nền tảng vànhững tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội

Sóc Sơn thuộc vùng trung du phía Tây Nam của dãy Tam Đảo, địa hình

đa dạng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia thành 3 vùng rõ rệt.Vùng gò đồi (phía Tây Bắc) bao gồm 5 xã: Bắc Sơn, Nam Sơn, Hồng Kỳ,Minh Trí, Minh Phú; đây là vùng đất có nhiều đồi núi xen kẽ những cánhđồng nhỏ hẹp, đất xói mòn, chua và bạc màu nặng: vùng này có diện tích tựnhiên là 12.587,61ha Vùng đất bằng gồm 8 xã: Tân Minh, Tân Dân, QuangTiến, Hiền Ninh, Phù Linh, Trung Giã, Mai Đình, Tiên Dược và Thị trấn SócSơn; tổng diện tích đất tự nhiên của vùng này là 7.578,63ha Vùng đất trũngven sông bao gồm 12 xã: Thanh Xuân, Phù Lỗ, Việt Long, Kim Lũ, XuânGiang, Phú Minh, Phú Cường, Đông Xuân, Đức Hòa, Tân Hưng, Xuân Thu,Bắc Phú; tổng diện tích đất tự nhiên của vùng này là 10.485ha Như vậy, diệntích đất tự nhiên của toàn huyện là 30.651,24ha Với diện tích đất tự nhiên lớnnhư vậy, không những cho phép phát triển nền kinh tế đa dạng về loại hình

Trang 16

mà đó còn là cơ sở, là nền móng để tiến hành xây dựng các công trình hạ tầng

cơ sở phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện

Huyện Sóc Sơn được bao bọc bởi 4 con sông: Sông Cà Lồ (hay tronglịch sử còn gọi là sông Như Nguyệt) ở phía Nam với chiều dài 56km; sôngCông ở phía Bắc với chiều dài 11km; sông Cầu ở phía Đông với chiều dài tựnhiên 13km và phía Tây là con sông Đại Lạn Tổng chiều dài của 4 dòng sôngkhoảng 90km Sông không chỉ cung cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp, diệntích mặt nước để nuôi trồng thủy sản…mà các dòng sông chảy qua địa bànhuyện còn tạo ra tuyến giao thông đường thủy quan trọng và thuận tiện choviệc đi lại, trao đổi buôn bán và giao lưu văn hóa giữa các vùng Chính vì vậy,lãnh đạo huyện cần phải có những biện pháp thiết thực và cụ thể để khai thácnguồn lợi từ những dòng sông này phục vụ có hiệu quả cho việc phát triểnkinh tế - xã hội trên địa bàn huyện

Có thể nói, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên kể trên, huyện Sóc

Sơn có những thế mạnh cần được đầu tư khai thác hiệu quả hơn để phục vụcho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Tuynhiên, để các yếu tố đó thực sự phát huy có hiệu quả cần phải có nguồn nhânlực chất lượng cao, có trình độ để có thể khai thác hết những tiềm năng màđiều kiện ấy mang lại Điều đó có nghĩa là sự nghiệp GD – ĐT cần phải đượcquan tâm chỉ đạo của Trung ương và của Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ huyệncũng cần có những chương trình hành động, những quy hoạch cụ thể, quantâm đúng mức và đầu tư kịp thời, đúng hướng nhằm nâng cao dân trí, đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã

đề ra, phấn đấu đưa huyện Sóc Sơn trở thành huyện phát triển của Thủ đô

* Tình hình kinh tế

Điều kiện tự nhiên phong phú cùng với địa hình đa dạng đã tạo ranhững tiềm năng to lớn cho huyện Sóc Sơn phát triển nền kinh tế đa dạng vềloại hình

Trang 17

Nguồn tài nguyên đất đai canh tác, tài nguyên nước, khí hậu, sông ngòithuận lợi tạo điều kiện để phát triển nghề nông nghiệp trồng lúa nước Môhình kinh tế trang trại cũng đang được hình thành và đi vào phát triển: hìnhthành các vùng sản xuất tập trung (vùng cây ăn quả, vùng sản xuất rau tậptrung, vùng sản xuất chè, ); chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp(chương trình Sind hóa đàn bò, phát triển đàn gia cầm…) Huyện đã chỉ đạocho các xã lập dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên cơ sở quyhoạch phát triển ngành nông nghiệp của huyện nhằm giảm dần diện tích câylương thực, tăng diện tích rau an toàn, hoa, cây cảnh, hỗ trợ kinh phí cho các

mô hình chăn nuôi

Bên cạnh đó, Sóc Sơn là địa phương có rừng với diện tích 6.630ha,nhiều hồ, đập có khả năng trữ nước tưới cho cây trồng đồng thời có khả năngphát triển du lịch sinh thái Trên địa bàn huyện đã có nhiều di tích lịch sử vănhóa được Nhà nước xếp hạng: Đền Sóc Sơn, chùa Non nước, chùa ThanhNhàn, Núi Đôi, Việt Phủ Thành Chương…

Công nghiệp và Thủ công nghiệp do huyện quản lý đạt tốc độ tăngtrưởng khá, hình thành những ngành tương đối tập trung, phát huy được lợithế của địa phương như: sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến chè, sản xuấtbia, thép… Quy mô đầu tư cho các ngành này ngày càng mở rộng, máy móccông nghệ được đổi mới, sử dụng nhiều lao động, các cơ sở công nghiệp quy

mô và hiện đại đã thể hiện ưu thế vượt trội so với các địa phương khác Khucông nghiệp Nội Bài thu hút được 13 dự án của các đơn vị, đang có 11 doanhnghiệp tập trung hoạt động và một số công ty liên doanh như: YAMAHA,DAIHATSU… Trên địa bàn huyện còn có một số công ty TNHH chế biếnchè xuất khẩu (Kim Anh, Thăng Long…)

Thương mại và dịch vụ trên địa bàn huyện cũng ngày càng được đẩymạnh, chủ yếu là hình thức kinh doanh bán lẻ, hệ thống chợ được mở rộng (từchợ làng, đến chợ huyện, chợ trung tâm) Các mặt hàng phong phú, nhiều

Trang 18

hình thức khác nhau Nhìn chung, do xu hướng đô thị hóa, đòi hỏi chuyển đổi

cơ cấu kinh tế theo hướng chung khiến cho hoạt động thương mại và dịch vụcũng trở nên phong phú và sôi nổi Tuy nhiên, mạng lưới thương mại và dịch

vụ của huyện còn mang tính tự phát, tự đáp ứng nhu cầu tối cần thiết củangười dân, chưa thực sự đi sâu vào phát triển đa dạng các mặt hàng, nâng caochất lượng phục vụ, chưa khai thác được hết tiềm năng phát triển của huyện

* Dân cư và lao động

Là huyện ngoại thành xa trung tâm Thủ đô, có diện tích lớn 314km2,địa hình và các điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phú song cũng có nhiềukhó khăn Tính đến cuối năm 2003, tổng dân số trên địa bàn huyện khoảng258.099 người, phân bố trên 25 xã và 1 Thị trấn Toàn huyện có khoảng149.697 người trong độ tuổi lao động, độ tuổi trung bình của lao động rất trẻ

Tỉ lệ sinh và số khẩu bình quân/hộ của huyện còn khá cao, trong những nămgần đây, tỉ lệ sinh có giảm đi song công tác kế hoạch hóa gia đình của huyệncần phát huy hơn nữa nhằm giảm tỉ lệ sinh con thứ 3 góp phần ổn định đờisống của nhân dân

Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1991 – 1995 là 1,35%; giaiđoạn 1996 – 2000 là 1,4%; và giai đoạn 2001 – 2003 là 1,25% Tỉ lệ tăng dân

số tự nhiên qua các giai đoạn có xu hướng giảm đều Trong giai đoạn này,Sóc Sơn ít chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa nên tỉ lệ tăng dân số cơhọc còn thấp Đến năm 2005 – 2010, dân số của huyện không có sự đột biến

về tốc độ tăng, đồng thời số dân nông nghiệp cũng giảm đi cùng với quá trình

đô thị hóa diễn ra trên địa bàn huyện

Theo điều tra của Sở Lao động thương binh xã hội, năm 2000 tỉ lệ hộnghèo ở huyện Sóc Sơn cao nhất thành phố, với 23,9% Toàn huyện có tớikhoảng 88% dân số làm lao động nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp chỉchiếm 12% Số lao động nông nghiệp trong những lúc nông nhàn thường phải

đi làm thuê trong khi các nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn của huyện vẫn

Trang 19

phải sử dụng một số công nhân không có hộ khẩu thường trú tại huyện Nóicách khác, việc đào tạo công nhân, thợ lành nghề đáp ứng kịp thời nhu cầu vàđòi hỏi ngày càng cao của các doanh nghiệp, nâng cao thu nhập ổn định đờisống nhân dân đang trở thành vấn đề cấp thiết của huyện Sóc Sơn

Nhìn chung, trong lĩnh vực lao động và công tác cán bộ, huyện Sóc Sơnđang đứng trước nhiều vấn đề mà nổi bật là:

Cơ cấu lao động phân bổ trong các ngành không đều, chưa hợp lý, laođộng trong ngành sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn chiếm chủ yếu, các ngànhkhác chiếm tỉ lệ ít hơn

Chất lượng lao động thấp, số lao động được đào tạo chỉ chiếm 15,62%,

số không qua đào tạo chiếm 84,38% trên tổng số lao động của huyện

Số lao động của huyện được tuyển chọn vào làm việc tại các dự áncông nghiệp có đầu tư nước ngoài còn thấp

Cán bộ có nhiệt tình, song tỉ lệ cán bộ có trình độ chuyên nghiệp vàkinh nghiệm quản lý theo cơ chế thị trường không cao

Chế độ đào tạo và đãi ngộ cán bộ cũng như lao động trên địa bàn huyệnvẫn chưa có ưu đãi so với các địa phương khác trong Thủ đô, chưa tạo độnglực khuyến khích nâng cao trình độ cán bộ hoặc thu hút nhân lực trình độ caotrở về hoặc bám trụ địa bàn

Những vấn đề nổi bật kể trên cho thấy nhiệm vụ đặt ra cho ngành GD –

ĐT của huyện Sóc Sơn là không nhẹ Nó đòi hỏi cần phải nhận được sự quantâm chỉ đạo và đầu tư của Trung ương, của Thành phố và của ngay Đảng bộhuyện Sóc Sơn nhằm đào tạo nguồn lao động chất lượng cao, đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội, thực hiện các mục tiêu đã đề ra

Về tổng thể có thể nói, huyện Sóc Sơn có nhiều thuận lợi, nhiều triểnvọng to lớn để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng đứng trước không ítkhó khăn và vấn đề đặt ra Những điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đócũng đã tác động không nhỏ tới sự phát triển GD - ĐT của huyện

Trang 20

* Về thuận lợi và triển vọng phát triển

Trước hết đó là nguồn lực to lớn về đất đai, địa hình phong phú, đa dạng, thuận lợi cho phát triển đa dạng các ngành kinh tế (công nghiệp, nông

nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương mại, dịch vụ) Chính vì vậy, GD

-ĐT luôn được quan tâm phát triển, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, mởrộng cả không gian và quy mô mạng lưới GD - ĐT (từ giáo dục mầm non, tớigiáo dục phổ thông, đào tạo nghề…) Giáo dục phổ thông của huyện luôn đạt

tỉ lệ học sinh đến trường, tỉ lệ thi đỗ tốt nghiệp THPT, đỗ Đại học - Cao đẳngnguyện vọng 1 hàng năm cao

Thứ hai, Sóc Sơn là vùng đất có bề dày lịch sử, nhân dân nơi đây có truyền thống hiếu học, truyền thống ấy có từ lâu đời và tiếp tục được phát huy

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Trong khoảng

5 thế kỷ (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX), huyện Sóc Sơn đã có 12 người thi đỗđại khoa (thời Lê Sơ, thời Mạc, thời Lê - Trịnh) và đều được ghi danh tại BiaTiến sĩ (Văn Miếu - Quốc Tử Giám), nhiều người trong số đó đã làm quancho triều đình Tiếp nối truyền thống hiếu học ấy, hiện nay học sinh các xãtrên địa bàn huyện đều ra sức học tập đạt kết quả cao, đặc biệt là các xã vùngsâu, vùng xa học sinh luôn luôn tìm cách vượt khó, vươn lên trong học tập.Tiêu biểu là tại trường THPT Trung Giã - một ngôi trường làng nằm ở phíaBắc của huyện, học sinh theo học tại trường chủ yếu là các xã vùng núi củahuyện (Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, Trung Giã) nhưng ở các em học sinhnày có tinh thần vươn lên vượt khó, đạt thành tích cao trong học tập TrườngTHPT Trung Giã là một ngôi trường có bề dày thành tích trong dạy và học, tỷ

lệ học sinh thi đỗ Đại học hàng năm cao, đứng thứ nhất, nhì trong số cáctrường THPT trên địa bàn huyện, có nhiều em thi đỗ thủ khoa Đại học

Thứ ba, huyện Sóc Sơn đã có chính sách quan tâm tới công tác giáo dục - đào tạo: vấn đề luân chuyển trường của giáo viên THCS, vấn đề xây

dựng cơ sở hạ tầng và đầu tư cơ sở vật chất giáo dục cho các trường học…

Trang 21

Đặc biệt là công tác khuyến học rất được quan tâm: các trường phổ thông trênđịa bàn huyện có nhiều hình thức để động viên tinh thần học tập cho thế hệtrẻ; lãnh đạo huyện Sóc Sơn cũng rất quan tâm tới sự nghiệp trồng người,hàng năm vẫn tổ chức Lễ Tuyên dương tài năng trẻ trên địa bàn huyện, traohọc bổng cho những học sinh học giỏi, có kết quả thi Đại học - Cao đẳng cao.Chính sách khuyến học của huyện đã có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ tinhthần học tập cho các em học sinh phổ thông, đặc biệt là các em học sinh cóhoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập

* Những khó khăn, thách thức đối với GD - ĐT huyện Sóc Sơn

Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn, dân cư sống chủ yếu bằng nghề nông, thu nhập thấp, đời sống nhân dân lại

gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn chưa cao, vì vậy nhận thức của họ về

sự nghiệp giáo dục - đào tạo còn nhiều hạn chế, thậm chí không đủ điều kiệncho con đi học THCS hay THPT, do đó mức độ đóng góp của nhân dân choviệc học tập của con chưa cao, việc đầu tư cho con đi học còn hạn chế hoặckhông có, trông chờ vào nhà trường Đây là trở ngại không nhỏ cho sự nghiệpphát triển giáo dục trên địa bàn huyện

Vẫn còn những học sinh do điều kiện gia đình mà phải bỏ học sớm đilàm phụ giúp bố mẹ, hoặc có những học sinh không có tiền đóng học phí mà

bỏ học sớm Số học sinh này không nhiều nhưng lại là nguy cơ tiềm tàng làmnghèo các hộ dân khi số học sinh này lớn lên làm chủ hộ

Thứ hai, do đặc trưng địa hình bán sơn địa, chia thành 3 vùng khác

nhau (vùng núi, vùng đồng bằng và vùng trũng ven sông) đã ảnh hưởng đến

sự phân bố dân cư của huyện Sóc Sơn, dân cư tập trung đông đúc ở thị trấn vàvùng trung tâm là chủ yếu, ở vùng núi và vùng trũng do điều kiện tự nhiênkhó khăn dân cư ít tập trung, sống thưa thớt hơn, nền kinh tế cũng kém pháttriển Ở các vùng xa, vùng sâu, nhiều xã có diện tích rộng, nhiều rừng đồi nên

Trang 22

thực tế cú những em phải đi học rất xa (từ 7 - 10km), chớnh vỡ vậy cú lớp họcchỉ cú 5 học sinh, 8 học sinh gõy ra khú khăn cho việc tổ chức dạy và học

1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà Nội về phỏt triển giỏo dục - đào tạo trong cụng cuộc đổi mới

Tại Đại hội lần thứ VI (thỏng 12 năm 1986), Đảng đó khởi xướng đườnglối đổi mới toàn diện, trong đú cú đổi mới giỏo dục - đào tạo Mục đớch của đổi

mới đối với giỏo dục - đào tạo là: “Nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động

có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào đổi mới quản lý kinh tế và xã hội” [26, tr.89 - 90] Quỏn triệt

quan điểm chỉ đạo của Đảng, nhõn dõn cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, thựchiện đổi mới đồng bộ, toàn diện cỏc ngành kinh tế - xó hội nhằm mục tiờu thoỏtkhỏi khú khăn, xõy dựng đất nước Việt Nam xó hội chủ nghĩa

Thỏng 6 năm 1991 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng

Cộng sản Việt Nam đó họp Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI(thỏng 12 năm 1986) Trờn cơ sở đú, Đại hội đề ra phương hướng, mục tiờu,nhiệm vụ chủ yếu cho 5 năm (1991 - 1995) và thụng qua Cương lĩnh về thời

kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội ở nước ta, thụng qua chiến lược ổn định vàphỏt triển kinh tế - xó hội đến năm 2000

Trờn cơ sở đỏnh giỏ chung thực trạng cụng tỏc giỏo dục - đào tạo từ sau

Đại hội VI, Đại hội VII đó đề ra mục tiờu giỏo dục và đào tạo như sau: “Mục tiờu giỏo dục và đào tạo nhằm nõng cao dõn trớ, đào tạo nhõn lực, bồi dưỡng nhõn tài, hỡnh thành đội ngũ lao động cú tri thức và cú tay nghề, cú năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sỏng tạo, cú đạo đức cỏch mạng, tinh thần yờu nước, yờu chủ nghĩa xó hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và cú năng lực chuyờn mụn sõu, cú ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng húa nhiều thành phần” [26, tr.21].

Trang 23

Để thực hiện mục tiêu ấy, nhiệm vụ của 5 năm (1991 - 1995) là “tiếp tục đổi mới, ổn định phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Coi trọng chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức cho học sinh và sinh viên; hiện đại hóa một bước nội dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hóa nhà trường và quản lý giáo dục; đa dạng hóa các loại hình đào tạo và loại hình trường lớp, từng bước hình thành những trường bán công, dân lập, tư thục, dạy nghề, phát triển loại hình vừa học vừa làm…” [26, tr.21].

Báo cáo cũng nêu rõ nhiệm vụ phải “Tập trung thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát triển cấp II, cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế Củng cố và phát triển trường phổ thông trẻ em có tật… Tăng cường đầu tư cho giáo dục ở miền núi và dân tộc thiểu số, mở rộng các trường nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc” [26, tr.22].

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng tại Đại hội VII đối với giáo dục,

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa VII) đã được tổ chức

(tháng 1/1993) Hội nghị đã phân tích về tình hình giáo dục đào tạo Việt Namgiai đoạn đã qua, khẳng định và tự hào về thành tựu giáo dục của nhân dân ta,

đội ngũ giáo viên và học sinh đã đạt được Đồng thời “nhìn thẳng vào sự thật”, nhận thức rõ yếu kém của công tác giáo dục, đòi hỏi phải tiếp tục đẩy

mạnh công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo Hội nghị đã đề ra cácquan điểm chỉ đạo cũng như các chủ trương, chính sách và biện pháp để pháttriển giáo dục - đào tạo trong tình hình mới Đây là Hội nghị Trung ương đầu

tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra một Nghị quyết riêng Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo (14/1/1993) Đây là Nghị quyết

đáp ứng lòng mong đợi từ lâu của toàn Đảng, toàn dân ta, nhất là đội ngũ giáoviên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh trong cả nước, về việc xác địnhquan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp tiếp tục phát triển mạnh mẽ sựnghiệp “trồng người” đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng

Trang 24

CNXH của nước ta Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) đã và đang soi sángcho quá trình tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà.

Rút kinh nghiệm từ 5 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, quán triệt

Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, tại Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ Đảng

bộ Thành phố Hà Nội khóa XI (1991 - 1996), Báo cáo chính trị trình Hội nghị

có nêu rõ: “Tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục theo các mục tiêu đã đề ra Bảo đảm đủ các điều kiện tối thiểu phục vụ dạy và học, sửa chữa các trường lớp dột nát, hư hỏng, chấm dứt các lớp học ca 3; trang

bị thêm và từng bước hiện đại hóa thiết bị dạy và học…” [7, tr.50] Đảng bộ

Thành phố cũng nhấn mạnh cần phải sắp xếp lại hệ thống giáo dục - đào tạotheo hướng gắn dạy chữ với dạy người, dạy nghề; đào tạo, nghiên cứu phảigắn với sản xuất Phải thực hiện xã hội hóa giáo dục: nhà nước và nhân dâncùng đầu tư cho giáo dục; xây dựng chính sách khuyến khích học sinh giỏi vàhọc sinh có năng khiếu

Giai đoạn 1996 - 2000 được coi là một bước rất quan trọng trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhận thức tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo, Đại hội VIII của Đảng (tháng 7 năm 1996) đã xác định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo… lấy việc phát triển nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”

[26, tr.36] Như vậy, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đã trở thành

“khâu đột phá” của thời kỳ cách mạng mới Giáo dục phải đi trước một bước

hợp lý so với phát triển kinh tế; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quantrọng nhất, không chỉ về tài chính mà là đầu tư về mọi mặt

Trang 25

Để thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp

hành Trung ương Đảng đã họp (tháng 12/1996) và ra Nghị quyết số 02-NQ/TW “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”

Hội nghị đã phân tích sâu sắc thực trạng giáo dục và đào tạo, vạch ra

những nguyên nhân khách quan, chủ quan và nhận định: “Hiện nay sự nghiệp giáo dục - đào tạo đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phát triển nhanh quy mô giáo dục - đào tạo, vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế” [12, tr.60] Trên cơ sở đó Hội nghị đã đề ra những định hướng

chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

Nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục phổ thông thời kỳ 1996

-2000 được tập trung vào 10 chữ: “chấn chỉnh”, “sắp xếp”, “củng cố”, “nâng cao” và “phát triển” Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục phổ thông toàn

diện: đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục, ở tất cả các bậc học Hết sức coi trọnggiáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lựcthực hành cho người học

Để thực hiện những mục tiêu đó, nhiều biện pháp tích cực đã được đề

ra, cụ thể:

- Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục: coi đầu tư cho giáo dục là

đầu tư phát triển, đầu tư cơ bản quan trọng nhất Kết hợp giáo dục xã hội, giáodục gia đình và giáo dục nhà trường, xây dựng môi trường giáo dục lànhmạnh Thể chế hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục

- Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học:

Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục nói chung và đặc biệt

là giáo dục phổ thông Giáo viên phải có đủ đức, đủ tài Thực hiện chươngtrình bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa, nâng cao phẩm chất và

Trang 26

năng lực cho đội ngũ giáo viên để đến năm 2000 có ít nhất 50% giáo viên phổthông đạt tiêu chuẩn quy định

- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp và tăng cường cơ sở vật chất thiết bị trường học Rà soát lại và đổi mới một bước sách giáo khoa, loại bỏ

những nội dung không thiết thực

Khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo củangười học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiệnđại vào quá trình dạy - học

Chấm dứt tình trạng lớp học 3 ca, ban hành chuẩn quốc gia về trườnghọc Tất cả các trường phổ thông đều có tủ sách, thư viện và các trang thiết bịtối thiểu để chấm dứt tình trạng “dạy chay”, “học chay”

- Đổi mới công tác quản lý: Đối với ngành giáo dục phổ thông, cần

nhanh chóng cải tiến các hình thức thi và đánh giá Những tiêu cực trong giáodục phải được xử lý nghiêm

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục: các cấp Đảng ủy

phải kiểm tra công tác tư tưởng chính trị trong trường học, phải phát hiện vàkhắc phục các biểu hiện tiêu cực trong giáo dục

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII)

mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển giáo dục nước ta Đây chính là mốcquan trọng của sự phát triển giáo dục, mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ chấnhưng nền giáo dục nước nhà

Có thể nói, bước vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước Đảng ta đã đặc biệtquan tâm tới công tác giáo dục - đào tạo, coi GD - ĐT tạo là “quốc sách hàngđầu”, là “khâu đột phá” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Quán triệt quan điểm của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà

Nội khóa XII (nhiệm kỳ 1996 - 2000) cũng đã khẳng định mục tiêu và động

lực phát triển của đất nước, của Thủ đô là vì con người và do con người.Chính vì vậy, mỗi bước tiến về kinh tế phải đi đôi với việc nâng cao đời sống

Trang 27

văn hóa, giáo dục của nhân dân Giáo dục của Thủ đô trong giai đoạn này làphải đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; phải đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài; đẩy mạnh đào tạo lại, đào tạo mới lực lượng khoahọc các ngành hiện đại mà Thủ đô đang cần Để làm được như vậy, Đảng bộThành phố cũng nêu rõ cần phải sắp xếp lại mạng lưới trường học, phát triển

đa dạng các loại hình trường lớp của các cấp học, ngành học Xây dựng hệthống trường chuyên, trường trọng điểm, lớp chọn Tập trung xây dựng hệthống trường công đồng thời cũng phải có chính sách hỗ trợ để phát triển cáctrường phổ thông bán công, dân lập, tư thục Xây dựng trường mẫu giáo tưthục Thành lập Trung tâm giáo dục thường xuyên ở mỗi quận, huyện Thànhlập Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, dạy nghề

Thành phố đã đặt ra chỉ tiêu: “Đến năm 2000, đảm bảo 100% trẻ 5 tuổi được hưởng chương trình giáo dục mầm non trước khi vào trường Tiểu học, 70% trẻ trong độ tuổi vào nhà trẻ, mẫu giáo Phổ cập 100% THCS ở ngoại thành, phổ cập 60% THPT ở nội thành và 30% THPT ở ngoại thành Phổ cập nghề, ngoại ngữ, tin học cho 80% thanh niên học sinh, đưa dần ngoại ngữ vào các lớp cuối tiểu học, thí điểm dạy song ngữ” [8, tr.86].

Để đạt được các chỉ tiêu ấy, Đảng bộ Thành phố đã đưa ra giải pháp:tập trung mọi cố gắng để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nghiên cứukhoa học - công nghệ và khoa học giáo dục của thế giới và trong nước để tiếnhành đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục - đào tạo phùhợp với yêu cầu CNH, HĐH Tiếp tục xây dựng chính sách, biện pháp khuyếnkhích học sinh giỏi, ưu tiên bồi dưỡng và sử dụng thanh thiếu niên có tàinăng Coi trọng hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lýgiáo dục Quan tâm cải thiện cho giáo viên bằng nhiều nguồn lực Huy độngmọi lực lượng tham gia xây dựng cơ sở vật chất nhà trường - đẩy mạnh xã hộihóa giáo dục Nêu cao trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoànthể đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo

Trang 28

Thành ủy Hà Nội cũng đã xây dựng Kế hoạch số 10/KH - TU ngày3/4/1997 đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, các giải pháp phát triểngiáo dục đào tạo của Thủ đô đến năm 2000 và những năm tiếp theo nhằm tập

trung vào xây dựng kỷ cương, nền nếp quản lý; quy hoạch trường lớp; thực hiện chính sách thu hút và phát triển nguồn lực, xã hội hóa GD - ĐT, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong trường học. Để thực hiện mục tiêu đó,Thành phố chủ trương đầu tư 18,2 % ngân sách cho giáo dục, trong đó kinhphí xây dựng và sửa chữa trường học là 160 tỷ đồng; kinh phí chi thườngxuyên cho giáo dục chiếm 24,9% chi phí thường xuyên toàn thành phố

Những quan điểm chỉ đạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ Thànhphố Hà Nội về công tác giáo dục - đào tạo đã trở thành kim chỉ nam cho hànhđộng của Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn khắc phục khó khăn kinh tế -

xã hội, cùng nhân dân cả nước bước vào thời kỳ đổi mới

1.2 Thực trạng công tác giáo dục - đào tạo của huyện Sóc Sơn sau 15 năm đổi mới (1986 - 2000)

1.2.1 Công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn sau 15 năm đổi mới

Ngay sau khi có quyết định thành lập huyện mới (5/7/1977), Đại hội Đảng bộ huyện Sóc Sơn lần thứ nhất đã khai mạc ngày 7/5/1978 và thông qua

Nghị quyết, nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ công tác của Đảng bộ nhiệm kỳ

1978 - 1979: “Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường…đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, giáo dục, xây dựng con người mới…đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN và cải thiện đời sống nhân dân” [6, tr.76] Có thể thấy, mặc dù là huyện mới thành

lập, song Đảng bộ huyện Sóc Sơn cũng đã có chủ trương quan tâm tới côngtác giáo dục - đào tạo của huyện nhằm đào tạo con người XHCN phục vụ chocông cuộc xây dựng CNXH của đất nước Năm 1977, về cơ sở vật chất giáodục - đào tạo, toàn huyện chỉ có 26 trường Tiểu học và Trung học cơ sở, có 2trường THPT, không có trường tầng, trường kiên cố nhưng công tác giáo dục

Trang 29

- đào tạo của huyện vẫn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo huyện Sự quantâm này được thể hiện rõ nét hơn trong các giai đoạn sau

Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, Đại hội Đảng bộ huyện Sóc Sơn lần thứ III (1983 - 1985) đã đề ra phương châm “Nhà nước và

nhân dân cùng làm”, huyện đã đầu tư 96 triệu đồng (trong đó vốn ngân sách

là 18 triệu đồng) cho xây dựng công trình thủy lợi, mạng lưới điện lực, trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa, thể dục thể thao… Có thể nói,

ngay từ khi thành lập, Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn đã gặp không ítkhó khăn Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Sóc Sơn cũng ra sức khôiphục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, cải thiện đời sống của nhân dân;công tác giáo dục - đào tạo vì vậy cũng đã nhận được sự quan tâm nhằm đàotạo con người XHCN phục vụ cho công cuộc xây dựng huyện Sóc Sơn giàuđẹp, phồn vinh, trở thành pháo đài quân sự vững chắc ở phía Bắc của Thủ đô

Hà Nội Mặc dù khó khăn chồng chất, thiên tai, mất mùa vẫn diễn ra, songĐảng bộ huyện chưa khi nào quên đầu tư cho công tác giáo dục - đào tạo

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III (1983 - 1985),

giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa về số lượng hàng năm vẫn tăng; chấtlượng được giữ vững, có mặt được nâng lên; giáo dục hướng nghiệp đã đượcchú ý và thu được kết quả bước đầu Công tác bồi dưỡng tập huấn cho đội ngũcán bộ về quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ có nhiều cố gắng Có thể nói, được sựquan tâm của lãnh đạo huyện, sự nghiệp giáo dục phát triển từng bước, cơ sở

vật chất được tăng cường đáng kể Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” ở tất cả các xã đã có trường cấp 1, cấp 2, cả huyện đã có 3 trường

cấp 3, 1 lớp bổ túc văn hóa (sau này là Trung tâm giáo dục thường xuyên), 1lớp dạy nghề (sau này là Trung tâm dạy nghề) Đảng bộ huyện đã chỉ đạo xâydựng nhà 2 tầng kiên cố thay cho nhà cấp 4 dột rát ở các trường Tiểu học; một

số trường đã được xây dựng 2 tầng kiên cố như trường cấp III Sóc Sơn (tách

ra từ phân hiệu của trường cấp III Kim Anh) trường cấp II Tiên Dược, rồi lần

Trang 30

lượt đến các trường Phú Minh, Phù Linh Toàn huyện có 34 nhà trẻ, thu hút35% các cháu trong độ tuổi đi học đến trường

Cùng với những khó khăn về kinh tế - xã hội của huyện, công tác giáodục - đào tạo huyện Sóc Sơn lúc này nhìn chung còn hạn chế về chất lượng;giáo dục mầm non đạt kết quả thấp; cơ sở vật chất phục vụ dạy và học vẫncòn thiếu thốn và nhiều nơi rách nát, chưa được các cấp, các ngành quan tâmđầu tư thỏa đáng, số lượng giáo viên không đủ khiến cho nhiều trường cònphải học ca 3

5 năm đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đề ra (1986

1991), Đảng bộ huyện Sóc Sơn đã trải qua 2 kỳ Đại hội (khóa IV (1986 1989) và khóa V (1989 - 1991)), tại Đại hội, Đảng bộ huyện đã nêu lên nhiệm

-vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện, kiên định đi theo con đường đổi mớicủa Đảng, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, ổn định vàcải thiện một bước đời sống của nhân dân… Muốn đạt được mục tiêu kể trên,Đảng bộ huyện đã quán triệt sâu sắc quan điểm đổi mới giáo dục - đào tạo của

Đảng ta: “Nâng cao chất lượng giáo dục, văn hóa, y tế, thể dục thể thao; xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh; con người mới XHCN, giác ngộ về chính trị, lao động có kỹ thuật”[1, tr.14] Lúc này bên cạnh việc chuyển đổi

cơ cấu kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, thì cơ sở hạ tầng đầu

tư cho giáo dục - đào tạo cũng được Đảng bộ huyện quan tâm

Trong thời kỳ này, kinh tế còn thấp kém, thiếu đói, đời sống văn hóa

-xã hội của nhân dân bị ảnh hưởng nhiều chiều, song công tác “trồng người”

vẫn được Huyện ủy quan tâm, công tác giáo dục có chuyển biến rõ rệt Mặc

dù là huyện nghèo nhưng Sóc Sơn vẫn có số vốn đầu tư đáng kể cho việc xâydựng trường học, Đảng bộ huyện vẫn dành 25% vốn đầu tư cho xây dựng vàsửa chữa trường học, các công trình văn hóa Đảng bộ huyện đã nhấn mạnh

đối với công tác giáo dục - đào tạo cần chú trọng số lượng và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện tốt nguyên lý học đi đôi với hành, nhà

Trang 31

trường gắn liền với xã hội Phấn đấu để đảm bảo hầu hết các em trong độ tuổi

đều được theo học phổ thông, 80% được học mẫu giáo Đồng thời Đảng bộ

huyện cũng yêu cầu đẩy mạnh phong trào bổ túc văn hóa để phổ cập chương trình cơ sở cho nhân dân và chương trình Trung học, có một bộ phận Đại học

cho cán bộ chủ chốt Mặt khác cần đầu tư thỏa đáng cho việc xây dựng cơ sở

vật chất, mua sắm thêm trang bị cho việc dạy và học với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”; coi trọng đào tạo, bồi dưỡng để có một đội ngũ giáo viên thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Có thể nói, sự nghiệp “trồng người” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn đã được Đảng bộ và

nhân dân Sóc Sơn ra sức thực hiện Đường lối đổi mới giáo dục của Đảngđược Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn đưa vào hiện thực ngay từ những nămđầu Đảng bộ huyện không chỉ quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng cho giáo dục mà

đã bước đầu thực hiện xã hội hóa giáo dục, kêu gọi sự đồng tình giữa nhân

dân với Nhà nước để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục - đào tạo

Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ huyện, giáo dục - đào tạo trên

địa bàn Sóc Sơn đã có những chuyển biến đáng kể Trong năm 1987 đã “sửa chữa 26 phòng học, cải tạo 247 phòng học, đóng mới 1.400 bộ bàn ghế cho học sinh và giáo viên, tu sửa được 160 gian nhà ở cho giáo viên” [1, tr.5].

Năm 1988, trường THPT Đa Phúc và 4 trường THCS đã xây dựng xong Năm

1990, 10 xã và trường THPT Kim Anh được xây dựng trường 2, 3 tầng kiên

cố với tổng số vốn trên 2 tỷ đồng Việc xóa nạn mù chữ, phổ cập cấp 1 đạt kếtquả tốt Có thể nói, Đảng bộ huyện không chỉ quan tâm sửa chữa, nâng cấp cơ

sở hạ tầng cho giáo dục mà đã bước đầu quan tâm đến đời sống cho giáo viên

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, do tổng thu nhập quá thấp, donhân dân còn thiếu đói nên chất lượng dạy và học có chiều hướng giảm sút,giáo viên còn thiếu, đạo đức học trò sa sút; cơ sở vật chất của nhiều trường lại

bị xuống cấp, còn tình trạng học ca 3 Những tồn tại này, đòi hỏi trong thời

Trang 32

gian tới, Đảng bộ và nhân dân huyện phải tiếp tục khắc phục để hoàn thànhmục tiêu đổi mới của đất nước

Tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới, Đảng bộ huyện Sóc Sơn nhiệm kỳ VI (1991 - 1996) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho giai đoạn này: “Không ngừng tiếp thu khoa học - công nghệ đẩy mạnh phát triển kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật…”.

Huyện ủy đã quan tâm đầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất trường học, nângcao đời sống của giáo viên

Trong 5 năm 1991 - 1995, chất lượng dạy và học trên địa bàn huyện đãđược nâng cao hơn trước; đội ngũ giáo viên được tăng cường: huyện đã bổsung thêm 450 thầy cô giáo dạy ngoại ngữ và văn hóa, khắc phục tình trạng

thiếu giáo viên “Tỉ lệ học sinh bỏ học đã giảm xuống so với năm 1992; đặc biệt là so sánh năm học 1990 - 1991 với năm học 1994 - 1995 tỉ lệ học sinh cấp 2 bỏ học từ 0,6% xuống còn 0,4%, tỉ lệ học sinh cấp 1 bỏ học là 1,2% xuống còn 0,25% Số lượng học sinh cấp 2 tăng lên: năm 1991 là hơn 2000

em đến năm 1995 đã đạt hơn 3500 em” [6, tr.124 - 125] Huyện cũng đã hoàn

thành chương trình phổ cập giáo dục cấp 1 và xóa nạn mù chữ ở 100% xã vàthị trấn; có 8 cơ sở đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục cấp 2

Để phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội, các trường trên địa

bàn huyện cũng đã tổ chức lớp chọn, lớp chuyên, phát triển phong trào học ngoại ngữ, học tin học Học sinh các trường cấp 3 cũng ngày càng tăng lên về

cả số lượng và chất lượng giáo dục Tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường trung học, cao đẳng, đại học hàng năm đều tăng lên Các Trung tâm dạy nghề,

Trung tâm giáo dục thường xuyên đã phát huy được tác dụng trong việc dạyvăn hóa và dạy nghề cho các em

Đồng thời, trong thời gian này, UBND huyện đã đề ra “Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1992 - 1995 - 2000” nhằm nêu lên các giải pháp

phát triển nhanh kinh tế - xã hội của huyện, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới

Trang 33

đất nước Bản Quy hoạch đã nêu rõ: “Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng: thủy lợi, giao thông, các cơ sở phúc lợi trường học, y tế…phấn đấu đến năm 1995, tất cả các trường cấp 2 đều được xây dựng 2 tầng và một bộ phận trường cấp

1 được xây dựng lại phù hợp với điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục”

[83, tr.3] Để thực hiện mục tiêu đó, quy hoạch cũng đã đưa ra giải pháp cơ

bản, nêu rõ phải đầu tư cơ sở hạ tầng có bước đi hợp lý trong điều kiện còn

nhiều khó khăn Phải tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của Nhà nước, của các tổchức quốc tế, phấn đấu đến năm 1995, toàn bộ các trường cấp 2 xây dựng 2tầng, một số trường cấp 1 xây dựng 2 tầng đảm bảo điều kiện học tập cho họcsinh, xây dựng Trung tâm dạy nghề Quy hoạch này được coi là chương trìnhhành động cho Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn nhằm đẩy mạnh sự phát triểnkinh tế - xã hội Trên cơ sở đó, các ngành cần căn cứ vào đó để xây dựng các

phương án phát triển ngành của mình Giáo dục - đào tạo cũng như vậy

Được sự quan tâm của lãnh đạo huyện, từ năm 1991 đến năm 1995, cơ

sở hạ tầng phục vụ cho dạy và học đã được đầu tư xây dựng: huyện đã xâydựng được 30 trường học 2 tầng, hơn 55% số phòng học được xây dựng caotầng và mái bằng; xây dựng thêm một trường mẫu giáo nâng tổng số từ 33trường lên 34 trường, trong đó hệ thống nhà trẻ - mẫu giáo của 2 xã Mai Đình

và Tiên Dược được xây dựng nhà 2 tầng Xây dựng thêm được 3 trường cấp 1(năm học 1992 - 1993 có thêm 2 trường, năm học 1994 - 1995 có thêm 1trường được đưa vào sử dụng) Xây dựng được thêm 2 trường cấp 2, khôngxây dựng thêm trường cấp 3 Điều đáng nói là tất cả các xã đều có trường họcđược xây dựng 2 tầng, 3 tầng kiên cố Cơ sở vật chất phục vụ dạy - học đãtừng bước hoàn thiện hơn

10 năm đầu tiến hành đổi mới theo chủ trương của Đảng, Đảng bộhuyện Sóc Sơn đã quan tâm nhiều hơn để hoàn thành các công trình xây dựngtrường học kiên cố; không chỉ quan tâm tới số lượng mà còn đầu tư hơn tớichất lượng giáo dục, đặc biệt là công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ;

Trang 34

hơn thế nữa công tác xã hội hóa giáo dục đã được đẩy mạnh cùng với việcquan tâm đến đời sống cũng như chất lượng đội ngũ giáo viên Tất cả những

nỗ lực đó chứng tỏ rằng giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn đã có bước tiếnmới, tạo tiền đề cho các giai đoạn sau này; đồng thời cũng đã khẳng định sựtrưởng thành và thế đi lên vững chắc của giáo dục huyện Sóc Sơn, để từ đóĐảng bộ và nhân dân Sóc Sơn cùng với Thủ đô Hà Nội vững vàng và tự tinbước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đại hội Đảng bộ huyện khóa VII đã họp từ ngày 06 đến ngày 09/2/1996

tại Hội trường UBND huyện nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 1996

- 2000: “Giữ vững và phát huy Đảng bộ huyện vững mạnh, tập trung khai thác các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế…” [2, tr.3].

Riêng về giáo dục - đào tạo, Đảng bộ huyện đã nêu rõ mục tiêu: “Thực hiện chương trình giáo dục toàn diện, không ngừng cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng học sinh Hình thành hệ thống trường chuyên, lớp chọn, xây dựng quỹ hỗ trợ tài năng trẻ Tăng cường đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên Nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học Phấn đấu 70% số trường đạt nhà cấp 3 trở lên Đa dạng hóa các loại hình nhà trẻ, mầm non, để hầu hết các cháu được qua mẫu giáo lớn trước khi vào lớp 1 Đẩy mạnh công tác bổ túc văn hóa, không để hiện tượng tái mù chữ Hoàn thành 100% phổ cập THCS và 30% phổ cập THPT vào năm 2000” [2, tr.7] Các chỉ tiêu mà Đảng bộ huyện đưa ra về công tác giáo

dục -đào tạo không chỉ quán triệt đúng chỉ tiêu Đảng bộ Thành phố giao cho

mà còn nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồidưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước

Cùng nhân dân cả nước bước vào thời kỳ CNH, HĐH, Đảng bộ vànhân dân huyện Sóc Sơn nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình trongthời kỳ mới, đã ra sức thực hiện các nhiệm vụ mà Đại hội VII Đảng bộ huyện

Trang 35

đã nêu lên Trong đó, công tác giáo dục - đào tạo vẫn được quan tâm Ngaytrong năm đầu tiên của giai đoạn 1996 - 2000, tư tưởng phát triển giáo dục -

đào tạo của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VII đã được cụ thể hóa

nhanh chóng trong thực tiễn và đem lại kết quả bước đầu:

- Việc duy trì số lượng học sinh, đa dạng hóa các loại hình lớp học,công tác xóa mù chữ, phổ cập cấp 1, phổ cập cấp 2 được tích cực triển khai,

đã hoàn thành phổ cập cấp 2 ở 11 đơn vị xã - thị trấn

- Chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn đều được nâng lên, đào tạonghề cho học sinh được chú ý hơn Năm 1996 là năm có học sinh thi đỗ vàocác trường Đại học, Cao đẳng và THCN cao nhất so với các năm trước, cónhững học sinh thi đỗ 2 trường Đại học với số điểm cao

- Đội ngũ giáo viên tiếp tục được bồi dưỡng, đào tạo bổ sung Giáoviên Tiểu học cơ bản đủ so với yêu cầu, giáo viên THCS còn thiếu chủ yếu ởcác môn năng khiếu (âm nhạc, mĩ thuật) Ban giám hiệu các trường họcnhiệm kỳ 1996 - 2000 đều được kiện toàn

- Công tác đào tạo nghề, ngoại ngữ cho học sinh và lực lượng lao độngtrẻ của huyện được chú ý nhằm đáp ứng nguồn lao động phục vụ cho nhu cầutrên địa bàn huyện Năm 1996 Trung tâm dạy nghề và Trung tâm giáo dụcthường xuyên huyện đã mở nhiều lớp học đào tạo nghề cho khoảng 3000người (so với năm 1995 đã tăng hơn 42%)

Như vậy, ngay từ năm đầu thực hiện CNH, HĐH (1996), Đảng bộ vànhân dân huyện Sóc Sơn đã quán triệt Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII),quan tâm đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo của địa phương, coi

“đầu tư cho giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ là đầu tư tiềm lực cho

sự nghiệp CNH, HĐH” Những kết quả đạt được trong năm 1996 là cơ sở, là

tiền đề cho phép chúng ta tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạocủa Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn nhất định giành được nhiều thắng lợi, gópphần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của Thủ đô Hà Nội

Trang 36

Kết thúc 5 năm (1996 - 2000) triển khai thực hiện Nghị quyết TW2(khóa VIII) công tác giáo dục - đào tạo của huyện Sóc Sơn đã phát triển toàndiện trên tất cả các ngành học, cấp học cả về quy mô và chất lượng dạy - học

Về cơ sở hạ tầng: Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học hàng năm được quan tâm đầu tư (Phụ lục bảng 1.1)

Đến năm 2000, toàn huyện có 107 trường học các cấp và dạy nghề vớitổng số 2.270 lớp học, đạt bình quân 23 lớp/trường Mạng lưới trường họcđược Thành phố quan tâm đầu tư cho xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất vớitổng số vốn đầu tư là 51,7 tỷ đồng

Hệ thống giáo dục của huyện đã có nhiều khởi sắc: tất cả các trườngTiểu học, THCS, THPT và bổ túc văn hóa đều có cơ sở vật chất riêng biệt, cócổng kín, tường rào, sân gạch sạch sẽ, chấm dứt tình trạng học ca 3, số phònghọc cấp 4 giảm đáng kể (chỉ còn 689 phòng = 25%), số phòng học kiên cố đạt75%, xây mới được 140 phòng học mầm non, 140/182 thôn làng đã có lớphọc mầm non khang trang sạch đẹp

Về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục: trước năm 1995, đội

ngũ giáo viên không chỉ thiếu về số lượng mà còn yếu cả về trình độ chuyênmôn (giáo viên mầm non trình độ văn hóa hết cấp 2, cấp 3; giáo viên tiểu học

số ít có trình độ 10+2, còn lại là 7+1…) Trong 5 năm 1996 - 2000, ngành

giáo dục - đào tạo đã được đầu tư để bồi dưỡng và đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Có thể nói, hầu hết đội ngũ giáo viên của huyện

đến năm 2000 có thể so sánh với các quận, huyện khác của Thủ đô, theothống kê của Phòng GD - ĐT huyện thì: Mầm non: đào tạo tại huyện được

534 giáo viên có trình độ Trung cấp tại chức mẫu giáo; Tiểu học: đào tạo vàbồi dưỡng 905 giáo viên có trình độ Trung học hoàn chỉnh, Cao đẳng sưphạm khoa tiểu học; THCS: bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho 553 giáo viên

có bằng Cao đẳng sư phạm và 82 giáo viên có bằng Đại học sư phạm Có 187

Trang 37

giáo viên học xong chương trình quản lý giáo dục, 4 thạc sĩ giáo dục và 11giáo viên học trung cấp lý luận

Về chất lượng giáo dục - đào tạo: chất lượng đại trà và chất lượng mũi

nhọn không ngừng tăng lên so với các giai đoạn trước: cơ bản không còn họcsinh bỏ học; số lượng các cháu đến trường mẫu giáo đạt tỉ lệ cao (98%);100% các cháu 6 tuổi vào học lớp 1; 100% học sinh tốt nghiệp Tiểu học (phổcập xong giáo dục Tiểu học); nhiều học sinh thi học sinh giỏi cấp Thành phốđạt thứ hạng cao; tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp và đỗ các trường Đại học,Cao đẳng, THCN ngày càng cao

Sóc Sơn đã có nhiều trường được Thủ tướng tặng Bằng khen, được BộGiáo dục và đào tạo khen thưởng, trường mầm non Hương Đình của xã MaiĐình được công nhận là trường chuẩn quốc gia - trường tiên tiến xuất sắc củaThành phố - điển hình về giáo dục mầm non nông thôn

Công tác đào tạo, dạy nghề được chú trọng, trong 5 năm đã mở được

130 lớp cho 12.500 lao động Tiến hành phổ cập THPT cho lãnh đạo các xã,thị trấn Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh

1.2.2 Vấn đề đặt ra đối với công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn sau

15 năm đổi mới

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn, được sự quan tâm chỉđạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ Thành phố Hà Nội, bên cạnh nhữngkết quả đạt được, sự nghiệp GD - ĐT của huyện vẫn còn nhiều mặt hạn chế

mà trong thời gian tới cần phải khắc phục:

- So với các quận, huyện khác của Thành phố, huyện Sóc Sơn có quỹđất dành cho giáo dục có phần dồi dào hơn, nhưng nhìn chung cơ sở vật chấtphục vụ dạy và học còn sơ sài, cần tiếp tục được đầu tư trong thời gian tới

(Xem phụ lục bảng 1.2).

Chỉ tính riêng cấp Tiểu học, đến năm 2000, toàn huyện có 34 trường(kể cả trường trẻ em khuyết tật) đặt ở các xã - thị trấn, với tổng số học sinh là

Trang 38

28.173, trên tổng diện tích đất 499.681m2, đạt bình quân là 17,7m2/học sinh,chia thành 1.005 lớp học Trong khi đó, toàn huyện chỉ có 653 phòng học(439 phòng kiên cố, vẫn còn 214 phòng cấp 4), đạt tỷ lệ trung bình 1,54lớp/phòng học Những con số trên cho thấy, quỹ đất của cấp giáo dục tiểu họcdồi dào song cơ sở vật chất của các trường vẫn còn thiếu thốn nhiều, hệ số sửdụng phòng học còn cao

Về cấp THCS trên địa bàn huyện có 27 trường với 20.044 học sinh, cótổng diện tích đất là 224.726m2, đáp ứng nhu cầu cho 608 lớp học, đạt bìnhquân 9,6m2/học sinh Trên thực tế, toàn huyện chỉ có 459 phòng học (349phòng kiên cố, 110 phòng cấp 4), đạt tỉ lệ 1,32 lớp/phòng học, như vậy hệ số

sử dụng phòng học cũng cao tương đương cấp Tiểu học trong khi cấp nàycũng có quỹ đất dồi dào

Cấp THPT còn nhiều khó khăn hơn, toàn huyện có 4 trường công lập

và 1 trường ngoài công lập với tổng diện tích 36.631m2 và 7.665 học sinh, đạtbình quân 4,8m2/học sinh Trên thực tế toàn huyện có 73 phòng học (có 3phòng cấp 4), đạt trung bình 105 học sinh/phòng học (khoảng 2,34 lớp/phònghọc) chứng tỏ hệ số sử dụng phòng học ở cấp THPT là rất cao, cao hơn nhiều

so với cấp Tiểu học và THCS

Những số liệu nêu trên cho thấy, hầu hết các cơ sở trường lớp ở các cấphọc đều chưa đảm bảo đúng theo chuẩn đã đề ra: thiếu phòng học, hoặc phònghọc chật hẹp, không đảm bảo diện tích, vẫn còn phòng học cấp 4 (khoảng25% số phòng học), hệ số sử dụng phòng học của một số trường còn cao (nhất

là các trường THPT) Thực tế đó đòi hỏi, Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn cầnnhận được sự quan tâm đầu tư hơn nữa của Trung ương và của Thành phố HàNội để tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng phục vụcho hoạt động dạy và học trên địa bàn huyện

- Mặc dù chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện đã được nâng lênnhiều so với thời kỳ mới hình thành, song so với mặt bằng chung của Thành

Trang 39

phố chất lượng giáo dục của huyện Sóc Sơn chưa cao, còn thấp hơn so vớicác quận, huyện khác của thành phố Tính đến năm 2000, tổng số học sinhcấp THCS toàn huyện là 23.309 học sinh nhưng tổng số học sinh cấp THPTchỉ có 7.665 học sinh, điều đó cho thấy có sự chênh lệch rất lớn giữa số họcsinh THCS và số lượng học sinh THPT Trong khi đó tỉ lệ học sinh THCS bỏhọc không cao, ngày càng giảm, điều đó nói lên rằng tỉ lệ học sinh sau khi tốtnghiệp THCS thi đỗ vào học THPT còn rất thấp, một phần do tỉ lệ thi đỗ củacác em chưa cao, phần khác do điều kiện kinh tế và hoàn cảnh gia đình, nhiềuhọc sinh chỉ có thể học hết THCS rồi nghỉ học phụ giúp gia đình, không cóđiều kiện học lên THPT Điều này trở thành đáng lo ngại khi số học sinh họchết THCS tham gia lao động giúp đỡ gia đình sẽ trở thành lực lượng lao độngtrình độ thấp (thấp cả về dân trí và thấp cả về trình độ chuyên môn), gây ra trởngại lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm tại chỗ của địa phương.

- Như trên đã nêu, hệ quả tất yếu của chất lượng giáo dục chưa cao đó

là gây khó khăn cho việc giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động phổ thôngtrên địa bàn Huyện Sóc Sơn có nhiều khu công nghiệp, khu du lịch và nhàmáy trên địa bàn có thể thu hút số lượng lớn lao động phổ thông của địaphương như: khu công nghiệp Nội Bài, khu công nghiệp Quang Minh, khu dulịch di tích Đền Sóc, nhà máy YAMAHA,… Trên thực tế, rất nhiều dự ánphát triển kinh tế được triển khai ở Sóc Sơn nhưng lại không giải quyết đượcviệc thu nhận lao động địa phương vào làm việc Nguyên nhân chính là do laođộng địa phương không có đủ trình độ học vấn cần thiết, cũng như trình độchuyên môn không đáp ứng được yêu cầu của các chủ dự án Một trongnhững điều kiện tiên quyết để có thể thu hút được lao động tại chỗ vào cáckhu công nghiệp trên địa bàn là nguồn lao động phải có đủ trình độ chuyênmôn cần thiết, lực lượng lao động trẻ phải được đào tạo để đi tắt đón đầuchuẩn bị tham gia vào lĩnh vực công nghiệp Điều này có nghĩa là giáo dục -đào tạo của huyện Sóc Sơn cần được nâng cao hơn nữa về chất lượng Song

Trang 40

song với dạy học phổ thông, công tác hướng nghiệp, dạy nghề cũng cần đượcchú ý quan tâm đầu tư hơn trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượngnguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

* *

*

Có thể nói sau 15 năm đổi mới (1986 - 2000), được sự quan tâm giúp

đỡ đầu tư của Trung ương và Thành phố, bằng tinh thần tự lực tự cường vớinhững nỗ lực vượt bậc, Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn đã đạt được nhữngthành tựu lớn trong công tác giáo dục - đào tạo, trình độ dân trí từng bước đãđược nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện Những thành tựu đó là kếttinh giữa trí tuệ và công sức của Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn, là cơ

sở nền móng vững chắc để Đảng bộ và nhân dân Sóc Sơn tự tin bước vào thế

kỷ XXI, bước vào thời kỳ tăng tốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiêncông tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn còn đứng trước bộn bề khó khăn,thách thức Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra cho Đảng bộ huyện Sóc Sơn trongchủ trương phát triển kinh tế - xã hội khi bước vào thế kỷ mới - thế kỷ XXI

Ngày đăng: 24/07/2015, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Sóc Sơn (2010), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn (1930 - 2010), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn (1930 - 2010)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Sóc Sơn
Năm: 2010
12. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1996), Nghị quyết số 02 - NQ/TW “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 1996
20. Ban Tuyên giáo Huyện ủy Sóc Sơn (2012), Sóc Sơn 35 năm xây dựng và trưởng thành (1977 - 2012), Nxb Chính trị - hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sóc Sơn 35 năm xây dựng và trưởng thành (1977 - 2012)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Huyện ủy Sóc Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị - hành chính
Năm: 2012
21. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông - những vấn đề chung, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông - những vấn đề chung
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
22. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Quyết định số 20/ 2005/ QĐ - BGDĐT ngày 24/6/2005, Về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giai đoạn 2005 - 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/ 2005/ QĐ - BGDĐT ngày 24/6/2005, Về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giai đoạn 2005 - 2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Các Nghị quyết của Trung ương Đảng (1996- 1999), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng (1996- 1999)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Các Nghị quyết của Trung ương Đảng (2001- 2004), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng (2001- 2004), Nxb Chính trị Quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia"
Năm: 2004
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
28. Phạm Minh Hạc (2002), Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
29. Phạm Minh Hạc (2010), Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỉ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỉ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
30. Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009), Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2006, Luận văn thạc sĩ lịch sử, Lưu tại trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2006
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Năm: 2009
31. Trương Thị Hoa (2007), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phát triển (1975 - 2005), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Lưu tại trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phát triển (1975 - 2005)
Tác giả: Trương Thị Hoa
Năm: 2007
58. Nguyễn Quang Hưng (2000), Toàn cảnh giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh giáo dục Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
59. Nguyễn Thị Quế Liên (2007), Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1986 đến năm 2005, Luận văn thạc sĩ Đại học KHXH và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1986 đến năm 200
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Liên
Năm: 2007
60. Phan Ngọc Liên (2007), Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về giáo dục
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2007
61. Hồ Chí Minh (1990), Về vấn đề giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
78. Quốc hội (2004), Nghị quyết số 40/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Công báo, số 7, tháng 2/2001 tr. 401- 708 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 40/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2004
80. Thành ủy Hà Nội (2006), Các văn bản chủ yếu của Thành ủy Hà Nội khóa XIII nhiệm kỳ 2001 - 2005, tập 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản chủ yếu của Thành ủy Hà Nội khóa XIII nhiệm kỳ 2001 - 2005
Tác giả: Thành ủy Hà Nội
Năm: 2006
83. Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội khóa 1998, Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI, Nxb Chính Trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tổng hợp cơ sở vật chất hệ thống giáo dục huyện Sóc Sơn   đến năm 2000. - QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC  GIÁO DỤC  ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ  HUYỆN SÓC SƠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Bảng 1.1 Tổng hợp cơ sở vật chất hệ thống giáo dục huyện Sóc Sơn đến năm 2000 (Trang 110)
Bảng 1.2: Tổng hợp một số chỉ tiêu tính bình quân về cơ sở vật chất - QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC  GIÁO DỤC  ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ  HUYỆN SÓC SƠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Bảng 1.2 Tổng hợp một số chỉ tiêu tính bình quân về cơ sở vật chất (Trang 111)
Bảng 2.2: Số lượng học sinh và giáo viên các cấp học trên địa bàn   huyện Sóc Sơn giai đoạn 2001 - 2005. - QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC  GIÁO DỤC  ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ  HUYỆN SÓC SƠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Bảng 2.2 Số lượng học sinh và giáo viên các cấp học trên địa bàn huyện Sóc Sơn giai đoạn 2001 - 2005 (Trang 112)
Bảng 2.3: Hoạt động đào tạo bồi dưỡng tại Trung tâm dạy nghề   huyện Sóc Sơn giai đoạn 2001 - 2005. - QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC  GIÁO DỤC  ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ  HUYỆN SÓC SƠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Bảng 2.3 Hoạt động đào tạo bồi dưỡng tại Trung tâm dạy nghề huyện Sóc Sơn giai đoạn 2001 - 2005 (Trang 114)
Bảng 2.5: Kế hoạch xây dựng trường chuẩn Quốc gia trên địa bàn   huyện Sóc Sơn đến năm 2010 - QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC  GIÁO DỤC  ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ  HUYỆN SÓC SƠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Bảng 2.5 Kế hoạch xây dựng trường chuẩn Quốc gia trên địa bàn huyện Sóc Sơn đến năm 2010 (Trang 115)
Bảng 2.7: Tổng hợp kết quả một số chỉ tiêu về giáo dục - đào tạo huyện Sóc   Sơn giai đoạn 2005 - 2010 - QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC  GIÁO DỤC  ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ  HUYỆN SÓC SƠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Bảng 2.7 Tổng hợp kết quả một số chỉ tiêu về giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn giai đoạn 2005 - 2010 (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w